1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thu hút FDI vào phát triển nghành công nghiệp thép ở Việt Nam

41 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 275,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong thời đại ngày nay , sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều liên hệ và phụ thuộc vào quốc gia khác.Sự gắn bó giữa các quốc gia thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau.Một trong những hình thức đó là các bên chuyển vốn đầu tư và các bên nhận vốn đầu tư.Nghành thépvới công nghệ cũ kỹ lạc hậu , thiếu đầu tư vào chiều sâu chỉ sản xuất được những sản phẩm đơn giản phục vụ cho tiêu dùng trong nước chưa có những mặt hàng có chất lượng tốt để có thể xuất khẩu ra thị trường các nước trong khu vực.Nguyên nhân cơ bản là do thiếu nguồn vốn để có thể trang bị những máy móc mới, Thiết bị công nghệ chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của các nước trên thế giới do vậy nghành thép vẫn còn giậm chân tại chỗ ở những quy mô nhỏ và vừa.Vậy đâu là bài toán cho nghành công nghiệp thép tìm lối thoát về vốn cho mình? Từ những vấn đó tôi chọn đề tài “ Thu hút FDI vào phát triển nghành công nghiệp thép ở Việt Nam” là chuyên đề phân tích của mình.Qua những thông tin tôi đọc được tôi sẽ cố gắng làm rõ vấn đề đó ở quy mô nghành công nghiệp thép ở trong đề tài của mình Phạm vi nghiên cứu: Nghành công nghiệp thép Kết cấu đề tài: Tên đề tài: Thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép ở Việt nam Chương 1: Thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép ở Việt Nam

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thời đại ngày nay , sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia đều liên

hệ và phụ thuộc vào quốc gia khác.Sự gắn bó giữa các quốc gia thể hiện quanhiều hình thức khác nhau.Một trong những hình thức đó là các bên chuyểnvốn đầu tư và các bên nhận vốn đầu tư.Nghành thépvới công nghệ cũ kỹ lạchậu , thiếu đầu tư vào chiều sâu chỉ sản xuất được những sản phẩm đơn giảnphục vụ cho tiêu dùng trong nước chưa có những mặt hàng có chất lượng tốt

để có thể xuất khẩu ra thị trường các nước trong khu vực.Nguyên nhân cơ bản

là do thiếu nguồn vốn để có thể trang bị những máy móc mới, Thiết bị côngnghệ chưa bắt kịp với xu hướng phát triển của các nước trên thế giới do vậynghành thép vẫn còn giậm chân tại chỗ ở những quy mô nhỏ và vừa.Vậy đâu

là bài toán cho nghành công nghiệp thép tìm lối thoát về vốn cho mình? Từnhững vấn đó tôi chọn đề tài “ Thu hút FDI vào phát triển nghành côngnghiệp thép ở Việt Nam” là chuyên đề phân tích của mình.Qua những thôngtin tôi đọc được tôi sẽ cố gắng làm rõ vấn đề đó ở quy mô nghành côngnghiệp thép ở trong đề tài của mình

Phạm vi nghiên cứu: Nghành công nghiệp thép

Kết cấu đề tài:

Tên đề tài: Thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép ở Việt nam

Chương 1: Thu hút vốn FDI vào phát triển công nghiệp ở Việt Nam Chương 2: Thực trạng thu hút FDI vào phát triển công nghiệp thép ở Việt Nam Chương 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường khả năng thu hút FDI vào

phát triển công nghiệp thép ở Việt Nam

Trang 2

CHƯƠNG 1: THU HÚT FDI VÀO PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP

Ở VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về FDI và các hình thức thu hút FDI

1.1.1 Khái niệm về FDI

Đầu tư trực tiếp nước ngoài( Foreign direct investment-FDI) là loại

hình đầu tư dài hạn mà trong đó chủ đầu tư là người nước ngoài đưa vốn vàotròng một nước khai thác và tham gia trực tiếp vào việc quản lý sử dụng vốntheo quy định của luật đầu tư nước sở tại, nhằm mục tiêu thu lợi nhuận caoTheo quỹ tiền tệ quốc tế IMF, FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tưvới những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chứ trong một nền kinh thế (nhàđầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nềnkinh tế khác Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởngtrong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế khác đó Hội nghị LiênHợp Quốc về TM và Phát triển UNCTAD cũng đưa ra một doanh nghiệp vềFDI Theo đó, luồng vốn FDI bao gồm vốn được cung cấp (trực tiếp hoặcthông qua các công ty liên quan khác) bởi nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài chocác doanh nghiệp FDI, hoặc vốn mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài nhậnđược từ doanh nghiệp FDI FDI gồm có ba bộ phận: vốn cở phần, thu nhập táiđầu tư và các khoản vay trong nội bộ công ty

Các nhà kinh tế quốc tế định nghĩa : đầu tư trực tiếp nước ngoài là người

sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác

Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nướcngoài để có ảnh hưởng quyết định đổi với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêmquyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “Đầu

tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Namvốn bằng tiền nước ngoái hoặc bất kì tài sản nào được chính phủ Việt Namchấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xínghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy địnhcủa luật này”

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đưa ra khái niệm: “ mộtdoanh nghiệp đầu tư trực tiếp là một DN có tư cách pháp nhân hoặc không có

tư cách pháp nhân trong đó nhà đầu tư trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếuthường hoặc có quyền biểu quyết Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp là chủđịnh thực hiện quyền kiểm soát công ty” Tuy nhiên không phải tất cả các QG

Trang 3

nào đều sử dụng mức 10% làm mốc xác định FDI Trong thực tế có nhữngtrường hợp tỷ lệ sở hữu tài sản trong doanh nghiệp của chủ đầu tư nhỏ hơn10% nhưng họ vẫn được quyền điều hành quản lý doanh nghiệp, trong khinhiều lúc lớn hơn nhưng vẫn chỉ là người đầu tư gián tiếp.

Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về đầu tư trựctiếp nước ngoài như sau: “đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI tại một quốc gia làviệc nhà đầu tư ở một nươc khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nàovào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soátmột thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiên tối đa hoá lợi ích của mình”.Tài sản trong khái niệm này, theo thông lệ quốc tế, có thể là tài sản hữu hình(máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, bát động sản, các loại hợp đòng vàgiáy phép có giá trị …), tài sản vô hình (quyền sở hữu tí tuệ, bí quyết và kinhnghiệm quản lý…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấyghi nợ…) Như vậy FDI bao giờ cũng là một dạng quan hệ kinh tế có nhân tốnước ngoài Hai đặc điểm cơ bản của FDI là: có sự dịch chuyển tư bản trongphạm vi quốc tế và chủ đầu tư (pháp nhân, thể nhân) trực tiếp tham gia vàohoạt động sử dụng vốn và quản lí đối tượng đầu tư

1.1.2 Các hình thức thu hút vốn FDI Doanh nghiệp liên doanh

Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài gọi tắt là liên doanh là hìnhthức được sử dụng rộng rãi nhất của đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới

từ trước đến nay Nó công cụ để thâm nhập vào thị trường nước ngoài mộtcách hợp pháp và có hiệu quả thông qua hoạt động hợp tác Khái niệm liêndoanh là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính chất quốc tế, hình thành từnhững sự khác biệt giữa các bên về quốc tịch, quản lý, hệ thống tài chính, luậtpháp và bản sắc văn hoá; hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên vềvốn, quản lí lao động và cùng chịu trách nhiệm về lợi nhuận cũng như rủi ro

có thể xảy ra; hoạt động của liên doanh rất rộng, gồm cả hoạt động sản xuấtkinh doanh, cung ứng dịch vụ, hoạt đọng nghiên cứu cơ bản và nghiên cứutriển khai

Đối với nước tiếp nhận đầu tư;

Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, giúp đa dạng hoá sảnphẩm, đổi mới Công nghệ, tạo ra thị trường mới và tạo cơ hội cho người laođộng làm việc và học tập kinh nghiệm quản lí của nước ngoài

Nhược điểm: mất nhiều thời gian thương thảo vác vấn đề liên quan đến

dự án đầu tư, thường xuất hiện mâu thuẫn trong quản lý điều hành doanhnghiệp; đối tác nước ngoài thường quan tâm đến lợi ích toàn cầu, vì vậy đôi

Trang 4

lúc liên doanh phải chịu thua thiệt vì lợi ích ở nơi khác thay đổi nhân sự ởcông ty mẹ có ảnh hưởng tới tương lai phát triển của liên doanh.

Đối với nhà dầu tư nước ngoài:

Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của đối tác nước sởtại; được đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh dễ thu lời, lĩnh vực bị cấmhoặc hạn chế đối với hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài; thâmnhập được những thị trường truyền thống của nước chủ nhà Không mất thờigian và chi phí cho việc nghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan

hệ Chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư

Nhược điểm: khác biệt về nhìn nhận chi phí đầu tư giữa hai bên đối tác,mất nhiều thời gian thương thảo mọi vấn đề liên quan đến dự án đầu tư, địnhgiá tài sản góp vốn giải quyết việc làm cho người lao động của đối tác trongnước, không chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp, dễ bị mất cơ hộikinh doanh khó giải quyết khác biệt vè tập quán, văn hoá

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài cũng là một hình thức doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng ít phổ biến hơn hình thức liên doanhtrong hoạt động đầu tư quốc tế

Khái niệm doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là một thực thể kinhdoanh có tư cách pháp nhân, được thành lập dựa trên các mục đích của chủđầu tư và nước sở tại

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoạt động theo sự điều hành quản

lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng vẫn phải tuỳ thuộc vào các điều kiện vềmôi trường kinh doanh của nước sở tại, đó là các điều kiện về chính trị, kinh

tế luật pháp văn hoá mức độ cạnh tranh…

Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân là 1 thự thểpháp lý độc lập hoạt động theo luật pháp nước sở tại Thành lập dưới dạngcông ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần

Đối với nước tiếp nhận:

Ưu điểm: nhà nước thu được ngay tiền thuê đất, tiền thuế mặc dù DN bị

lỗ, giải quyết được công ăn việc làm mà không cần bỏ vốn đầu tư, tập trungthu hút vốn và công nghệ của nước ngoài vào những linh vực khuyến khíchxuất khẩu, tiếp cận được thị trường nước ngoài

Nhược điểm: khó tiếp thu kinh nghiệm quản lý và công nghệ nước ngoài đênâng cao trình độ cán bộ quản lý, cán bộ kĩ thuật ở các doanh nghiệp trong nước.Đối với nhà đầu tư nước ngoài

Trang 5

Ưu điểm: chủ động trong quản lý điều hành doanh nghiệp thực hiệnđược chiến lược toàn cầu của tập đoàn; triển khai nhanh dự án đầu tư; đượcquyền chủ động tuyển chọn và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu pháttriển chung của tập đoàn.

Nhược điểm: chủ đầu tư phải chịu toàn bộ rủi ro trong đầu tư, phải chiphí nhiều hơn cho nghiên cứu tiếp cận thị trường mới, không xâm nhập đượcvào những lĩnh vực có nhiều lợi nhuận thị trường trong nước lớn, khó quan hệvới các cơ quan quản lý Nhà nước nước sở tại

Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh:

Hình thức này là hình thức đầu tư trong đó các bên quy trách nhiệm vàphân hia kết quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh màkhông thành lập pháp nhân mới

Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được kí kết giứa đại diện cóthẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, quy định rõviệc thực hiện phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên

Đặc điểm là các bên kí kết hợp đồng hợp tác kinh doanh, trong qúa trìnhkinh doanh các bên hợp doanh có thể thành lập ban điều phối để theo dõi,giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh Phân chia kết quả kinhdoanh: hình thức hợp doanh không phân phối lợi nhuận và chia sẻ rủi ro màphân chia kết quả kinh doanh chung theo tỷ lệ góp vốn hoặc theo thoả thuậngiữa các bên Các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nhànước sở tại một cách riêng rẽ Pháp lý hợp doanh là một thực thể kinh doanhhoạt động theo luật pháp nước sở tại chịu sự điều chỉnh của pháp luật nước sởtại quyền lợ và nghĩa vụ của các bên hơp doanh được ghi trong hợp đồng hợptác kinh doanh

Đối với nước tiếp nhận:

Ưu điểm: giúp giải quyết tình trạng thiếu vốn, thiếu cnghệ, tạo ra thịtrường mới nhưng vấn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm được quyềnđièu hành dự án

Nhược điểm: khó thu hút đầu tư ,chỉ thực hiện được đối với một số ítlĩnh vực dễ sinh lời

Đối với nước đầu tư:

Ưu điểm: tận dụng được hệ thống phân phối có sẵn của dối tác nước sởtại vào được những linh vực hạn chế đầu tư thâm nhập được nhưng thị trườngtruyền thống của nước chủ nhà, không mất thời gian và chi phí cho việcnghiên cứu thị trường mới và xây dựng các mối quan hệ, không bị tác động

Trang 6

lớn do khác biệt về văn hoá, chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư Nhược điểm: không được trực tiếp quản lý điều hành dự án, quan hệ hợp tácvới đối tá nước sở tại thiếu tính chắc chắn làm các nhà đầu tư e ngại.

Đầu tư theo hợp đồng BOT:

BOT (xây dựng - vận hành - chuyển giao) là một thuật ngữ để chỉ một số

mô hình hay một cấu trúc sử dụng đầu tư tư nhan để thực hiện xây dựng cơ sở

hạ tầng vẫn được dành riêng cho khu vực nhà nước Trong một dự án xâydựng BOT, một doanh nhân tư nhân được đặc quyền xây dựng và vận hànhmột công trình mà thường do chính phủ thực hiện Công trình này có thể lànhà máy điện, sân bay, cầu, cầu đường… Vào cuối giai đoạn vận hành doanhnghiệp tư nhân sẽ chuyển quyền sở hữu dự án về cho chính phủ Ngoài hợpđồng BOT còn có BTO, BT

Hợp đồng BOT là văn bản kí kết giữa các nhà đầu tư nước ngoài với cơquan có thẩm quyền của nước chủ nhà để đầu tư xây dựng công trình kết cấu

hạ tầng (kể cả mở rộng, nâgn cấp, hiện đại hoá công trình) và kinh doanhtrong một thời gian nhất định để thu hồi vốn và có lợi nhuận hợp lý, sau đóchuyển giao không bồi hoàn toàn bộ công trình cho nước chủ nhà.Hợp đồng xây dựng chuyển giao kinh doanh BTO và hợp đồng xây dựngchuyển giao BT, được hình thành tương tự như hợp đồng BOT nhưng có điểmkhác là: đối với hợp đồng BTO sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tưnước ngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chinh phủ nước chủnhà dành cho quyền kinh doanh công trình đó hoặc công trình khác trong mộtthời gian đủ để hoàn lại toàn bộ vốn đầu tư và có lợi nhuận thoả đáng về côngtrình đã xây dựng và chuyển giao

Đối với hợp đồng BT, sau khi xây dựng xong công trình nhà đầu tư nướcngoài chuyển giao lại cho nước chủ nhà và được chính phủ nước chủ nhàthanh toán bằng tiền hoặc bằng tài sản nào đó tương xứng với vốn đầu tư đã

bỏ ra và một tỉ lệ lợi nhuận hợp lí

Doanh nghiệp được thành lập thực hiện hợp đòng BOT, BTO, BT mặc

dù hợp đồng dưới hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp100% vốn nước ngoài nhưng đối tác cùng thực hiện hợp đòng là các cơ quanquản lí nhà nước ở nước sở tại Lĩnh vực hợp đồng hẹp hơn các doanh nghiệpFDI khác, chủ yếu áp dụng cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng; đượchưởng các ưu đãi đầu tư cao hơn sơ với các hình thức đầu tư khác và điểmđặc biệt là khi hết hạn hoạt đọng, phải chuyển giao không bồi hoàn công trình

cơ sở hạn tầng đã được xây dựng và khai thác cho nước sở tại

Trang 7

Đối với nước chủ nhà:

Ưu điểm: thu hút được vốn đầu tư vào những dự án có cơ sở hạ tầng đòihỏi vốn đầu tư lớn, do đó giảm được sức ép cho ngân sách nhà nước, đồngthời nhanh chóng có được công trình kết cấu hạ tầng hoàn chỉnh giúp khơidậy các nguồn lực trong nước và thu hút thêm FDI để phát triển kinh tế Nhược điểm: khó tiếp nhận kinh nghiệm quản lí và khó kiểm soát côngtrình Mặt khác, nhà nước phải chịu mọi rủi ro ngoài khả năng kiểm soát củanhà đầu tư

Đối với đầu tư nước ngoài:

Ưu điểm: hiệu quả sử dụng vốn được bảo đảm; chủ động quản lí, điềuhành và tự chủ kinh doanh lợi nhuận, hông bị chia sẻ và được nhà nước sở tạiđảm bảo, tránh những rủi ro bất thường ngoài khả năng kiểm soát Nhược điểm: việc đàm phán và thực thi hợp đồng BOT thương gặp nhiềukhó khăn tốn kém nhiều thời gian và công sức

Đầu tư thông qua mô hình công ty mẹ và con (Holding company):

Holding company là một trong những mô hình tổ chức quản lí được thừa nhậnrộng rãi ở hầu hết các nước có nền kinh tế thị trường phát triển.Holding company là một công ty sở hữu vốn trong một công ty khác ở mức

đủ để kiểm soát hoạt động quản lí và điều hành công ty đó thông qua việc gâyảnh hưởng hoặc lựa chọn thành viên hợp đồng quản trị

Holding company được thành lập dưới dạng công ty cổ phần và chỉ giớihạn hoạt động của mình trong việc sở hữu vốn, quyết định chiến lược và giámsát hoạt động quản lí của các công ty con, các công ty con vẫn duy trì quyềnkiểm soát hoạt động kinh doanh của mình một cách độc lập, tạo rất nhiềuthuận lợi:

Cho phép các nhà đầu tư huy động vốn để triển khai nhiều dự án đầu tưkhác nhau mà còn tạo điểu kiện thuận lợi cho họ điều phối hoạt động và hỗtrợ các công ty trực thuộc trong việc tiêps thị, tiệu thụ hàng hoá, điều tiết chiphí thu nhập và các nghiệp vụ tài chính

Quản lí các khoản vốn góp của mình trong công ty khác như một thểthống nhất và chịu trách nhiệm về vịec ra quyết định và lập kế hoạch chiếnlược điều phối các hoạt động và tài chính của cả nhóm công ty

Lập kế hoạch, chỉ đạo, kiểm soát các luồng lưu chuyển vốn trong danhmục đầu tư Holding company có thể thực hiện cả hoạt động tài trợ đầu tư chocác công ty con và cung cấp dịch vụ tài chính nội bộ cho các công ty này.Cung cấp cho các công ty con các dịch vụ như kiểm toán nội bộ, quan hệ đốingoại, phát triển thị trường, lập kế hoạch, nghiên cứu và phát triển (R&D)…

Trang 8

cá nhân với số lượng tối đa không hạn chế, nhưng phải đáp ứng yêu cầu về số

cổ đông tối thiểu Đặc trưng của công ty cổ phần là nó có quyền phát hànhchứng khoán ra công chúng và các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổphần của mình cho người khác

Cơ cấu tổ chức, công ty cổ phần phải có đại hội cổ đông, hội đồng quảntrị và giám đốc Thông thường ở nhiều nước trên thế giới, cổ đông hoặc nhóm

cổ đông sở hữu trên 10% số cổ phiếu thường có quyền tham gia gimá sát quản

lý hoạt dộng của cty cổ phần Đại hôi cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyềnbiểu quyết là co quan quyết định cao nhất của cty cổ phần

Ở một số nước khác, cty cổ phần hữu hạn có vốn đầu nước ngoài đượcthành lập theo cách: thành lập mới, cổ phần hoá doanh nghiệp FDI (doanhnghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài) đang hoạt động,mua lại cổ phần của doanh nghiệp trong nước cổ phần hoá

Hình thức chi nhánh công ty nước ngoài:

Hình thức này được phân biệt với hình thức cty con 100% vốn nước ngoài

ở chỗ chi nhánh không được coi là một pháp nhân độc lập trong khi cty conthường là một pháp nhân độc lập Trách nhiệm của cty con thường giới hạntrong phạm vi tài sản ở nước sở tại, trong khi trách nhiệm của chi nhánh theoquy định của 1 số nước, không chỉ giới hạn trong phạm vi tài sản của chi nhánh,

mà còn được mở rộng đến cả phần tài sản của công ty mẹ ở nước ngoài.Chi nhánh được phép khấu trừ các khoản lỗ ở nước sở tại và các khoản chiphí thành lập ban đầu vào các khoản thu nhập của công ty mẹ tại nước ngoài.Ngoài ra chi nhánh còn được khấu trừ một phần các chi phí qunả lý của công

ty mẹ ở nước ngoài vào phàn thu nhập chịu thuế ở nước sở tạiViệc thành lập chi nhánh thường đơn giản hơn so với việc thành lập công tycon Do không thành lập 1 pháp nhân độc lập, việc thành lập chi nhánh khôngphải tuân thủ theo các quy định về thành lập công ty, thường chỉ thông quaviệc đăng kí tại các cơ quan có thẩm quyền của nước chủ nhà

Hình thức công ty hợp danh:

Công ty hợp danh là doanh nghiệp phải có ít nhất hai thành viên hợpdanh, ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn Thành

Trang 9

viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, có uy tín nghề nghiệp

và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về nghĩa vụ của côngty; thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công tytrong phạm vi số vốn đã góp vào công ty Công ty hợp danh không được pháthành bất kì loại chứng khoán nào Các thành viên hợp danh có quyền ngangnhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty, còn thành viên góp vốn cóquyền được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định tại điều lệ công ty nhưng khôngđược tham gia quản lý công ty và hoạt động kinh doanh nhân danh công ty.Khác với doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoàihình thức đầu tư này mang đặc trưng của công ty đối nhân tiền về thân nhântrách nhiệm vô hạn, cơ cấu tổ chức gọn nhẹ Hình thức đầu tư này trước hếtrất phù hợp với các doanh nghiệp nhỏ, nhưng vì có những ưu điểm rõ rêt nêncũng được các doanh nghiệp lớn quan tâm

Việc cho ra đời hình thức cty hợp danh ỏ các nước nhăm tao thêm cơ hộicho nhà đầu tư lựa chọn hình thức đầu tư cho phù hợp với yều cầu, lợi ích của

họ Thực tế cho thấy một số loại hình dịch vụ như tư vấn pháp luật, khámchữa bệnh, thiết kế kiến trúc đã và đang phát triển nhanh chóng Đó là nhữngdịch vụ mà người tiêu dùng không thể kiểm tra được chất lượng cung ứngtrước khi sử dụng, nhưng lại có ảnh hưởng đến sức khỏe tính mạng và tài sảncủa người tiêu dùng khi sử dụng Việc thành lập công ty hợp danh là hìnhthức thức đầu tư phù hợp trong việc phát triển và cung cấp các dịch vụ nêutrên Trong đó những người có vốn đóng vai trò là thành viên góp vốn và chịutrách nhiệm hữu hạn còn các nhà chuyên môn là thàn viên hợp danh tổ chứcđiều hành, cung ứng dịch vụ và chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sảncủa họ

Hình thức đầu tư mua lại và sáp nhập (M&A- mergers and acquisitions):

Phần lớn các vụ M&A được thực hiện giữa các tập đoàn lớn nhỏ ,tập trungvào các lĩnh vự công nghiệp ô tô, dược phẩm, viễn thông và tài chính ở cácnước phát triển

Mục đích chủ yếu:

Khai thác lợi thế của thị trương mới mà hoạt động thương mại quốc tếhay đầu tư mới theo kênh truyền thống không mang lại hiệu quả mong đợi.Hoạt động M&A tạo cho các công ty cơ hội mở rộng nhanh chóng hoạt động

ra thị trường nước ngoài

Bằng con đường M&A, các tập đoàn lớn nhỏ có thể sáp nhập các công tycủa mình với nhau hình thành một công ty khổng lồ hoạt độg trong nhiều lĩnh

Trang 10

vực hay các công ty khác nhau cùng hoạt động trông một lĩnh vực có thể sápnhập lại nhằm tăng khả năng cạnh tranh toàn cầu của tập đoànCác công ty vì mục đích quốc tế hoá sản phẩm muốn lấp chỗ trống trong hệthống phân phối của họ trên thị trường thế giới

Thông qua cong đường M&A các ty có thể giảm chi phí từng lĩnh vựcnghiên cứu và phát triển sản xuất, phân phối và lưu thông

M&A tao điều kiện thuận lợi cho việc tái cấu trúc các ngành công nghiệp

và cơ cấu ngành công nghiệp ở các quốc gia, do đó, hình thức này đóng vaitrò quan trọng trong sự phát triển công nghiệp ở mọi quốc gia

Hoạt động phân làm 3 loại:

M&A theo chiều ngang xảy ra khi 2 công ty hoạt động trong cùng 1 lĩnhvực sản xuất kinh doanh muốn hình thành 1 công ty lớn hơn để tăng khả năngcạnh tranh, mở rộng thị trường của cùng 1 loại mặt mà trước đó 2 công tycùng sản xuất

M&A theo chiều dọc diễn ra khi 2 công ty hoạt động ở 2 lĩnh vự khácnhau nhưng cùng chịu sự chi phối của 1 công ty mẹ, loại hình MA này thườngxảy ra ở các công ty xuyên quốc gia

M&A theo hướng đa dạng hoá hay kết hợp thường xảy ra khi các ty lớntiến hành sáp nhập với nhau với mục tiêu tối thiểu hoá rủi ro và tránh thiệt hạikhi 1 công ty tự thâm nhập thị trường

So với đầu tư truyền thống, từ quan điểm của nước tiếp nhận đầu tư.Về

bổ sung vốn đầu tư trong khi hình thức đầu tư truyền thống bổ ngày mộtlượng vốn FDI nhất định cho đầu tư phát triển thì hình thức M&A chủ yếuchuyển sở hữu từ các doanh nghiệp đang tồn tại ở nước chủ nhà cho các công

ty nước ngoài Tuy nhiên, về dài hạn, hình thức này cũng thu hút mạnh đượcnguồn vốn từ bên ngoài cho nước chủ nhà nhờ mở rộng quy mô hoạt động củadoanh nghiệp

Về tạo việc làm, hình thức đầu tư truyền thống tạo ngay được việc làmcho nước chủ nhà, trong khi hình thức M&A không những không tạo được việclàm ngay mà còn có thể làm tăng thêm tình trạng căng thẳng về việc làm (tăngthất nghiệp) cho nước chủ nhà Tuy nhiên về lâu dài, tình trạng này có thể đượccải thiện khi các doanh nghiệp mở rông quy mô sản xuất

Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, đầu tư truền thống tác động trựctiếp dến thay dổi cơ cấu kinh tế thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mớitrong khi đó M&A không có tác động trong giai đoạn ngắn hạn

Về cạnh tranh và an ninh quốc gia, trong khi đầu tư truyền thống thúc đẩy cạnh

Trang 11

tranh thì M&A không tác động đáng kể đến tình trạng cạnh tranh về mặt ngắnhạn nhưng về dài hạn có thể làm tăng canh tranh độc quyền Mặt khác, M&A

có thể ảnh hưởng đến an ninh của nước chủ nhà nhiều hơn hình thức đư truyềnthống vởi vì tài sản của nước chủ nhà được chuyển cho người nước ngoài

1.2:Sự cần thiết và những nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI

1.2.1: Sự cần thiết của FDI

1.2.1.1: Nhu cầu vốn FDI cho nghành công nghiệp

Những năm qua thực sự là nghành công nghiệp vẫn còn rất nhiều nhữngkhó khăn về vốn, để có thể mạnh dạn đầu tư lớn vào chuyên sâu cho nghành ,thiếu vốn doanh nghiệp không dám mở rộng quy mô sản xuất cũng như mởrộng thị trường kinh doanh, mà chỉ bó hẹp ở những quy mô nhỏ và vừa, sảnphẩm thì đơn giản , vì thiếu vốn nên có những doanh nghiệp công nghiệp chỉdám tận dụng những công nghê cũ kỹ sẵn , không có vốn để mua máy mócthiết bị mới cho doanh nghiệp của mình.Nói như thế để thấy rắng FDI thực sựquan trọng với nghành công nghiệp nói riêng và các nghành khác của ViệtNam nói riêng

1.2.1.2:Vai trò FDI trong phát triển công nghiệp

FDI có ưu điểm hơn các hình thức huy động vốn nước ngoài khác, phù hợpvới các nước đang phát triển Các doanh nghiệp công nghiệp nước ngoài sẽ xâydựng các dây chuyền sản xuất tại nước sở tại dưới nhiều hình thức khác nhau.Điều này sẽ cho phép các nước đang phát triển tiếp cận công nghệ tiên tiến, kỹnăng quản lý hiện đại Tuy nhiên, việc có tiếp cận được các công nghệ hiện đạihay chỉ là các công nghệ thải loại của các nước phát triển lại tuỳ thuộc vào nướctiếp nhận đầu tư trong việc chủ động hoàn thiện môi trường đầu tư hay không.FDI là nguồn vốn bổ sung quan trọng phục vụ cho chiến lược thúc đẩytăng trưởng kinh tế cao, đặc biệt là với các nước đang phát triển Các nướcđang phát triển vốn là những nước còn nghèo, tích luỹ nội bộ thấp, nên để cótăng trưởng kinh tế cao thì các nước này không chỉ dựa vào tích luỹ trongnước mà phải dựa vào nguồn vốn tích luỹ từ bên ngoài, trong đó có FDI FDI có tác động làm năng động hoá nền kinh tế, tạo sức sống mới cho cácdoanh nghiệp thông qua trao đổi công nghệ Với các nước đang phát triển thìFDI giúp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phá vỡ cơ cấu sản xuất khépkín theo kiểu tự cấp tự túc

FDI cho phép các nước đang phát triển học hỏi kinh nghiệm, kỹ năngquản lý dây chuyền sản xuất hiện đại, nâng cao trình độ chuyên môn cũngnhư ý thức lao động công nghiệp của đội ngũ công nhân trong nước

Trang 12

1.2.2:Những nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI trong công nghiệp

Có 2 quan điểm trong thu hút FDI vào Việt Nam Quan điểm thứ nhấtcho rằng tăng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài về mặt số lượng, bất kể vàolĩnh vực nào quy mô bao nhiêu, miễn là đầu tư, quan điểm thứ hai cho rằng đãđến lúc chúng ta phải tăng thu hút FDI về mặt chất lượng, ưu đãi đối vớinhững lĩnh vực công nghệ kỹ thuật cao, những lĩnh vực sản xuất tư liệu sảnxuất Quan điểm thứ nhất hiện nay là phổ biến, hầu như các tỉnh, thành phốđều tập trung mọi cố gắng thu hút FDI vào địa bàn của mình bất kể ngànhnào, sản phẩm gì, vì vậy FDI quá tập trung vào các ngành chế biến lương thực

- thực phẩm: rượu, bia, nước giải khát, các ngành sản xuất hàng tiêu dùng,chưa có sự đầu tư thích đáng vào ngành sản xuất tư liêu sản xuất, chỉ đầu tưlắp ráp cơ khí điện tử

Cần chú trọng phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, song điều

đó không có nghĩa là không chú trọng thu hút FDI vào phát triển các ngànhsản xuất tư liệu sản xuất, công nghiệp nặng để đảm bảo sản xuất hiệu quả,nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trong hội nhập kinh tế quốc tế.Bài học quan trọng nhất của các nước NIC trong những năm qua là phải xâydựng được một cơ cấu sản phẩm hợp lý, một cơ cấu sản phẩm phải tự sảnxuất các tư liệu sản xuất cung cấp cho toàn bộ nền kinh tế, tập trung thu hútFDI vào các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật, vốn cao do các sản phẩm côngnghiệp nhẹ sử dụng nhiều lao động mất khả năng cạnh tranh quốc tế, sức laođộng không còn là lợi thế nữa

Cần có chính sách ưu tiên phát triển ngành trong từng tỉnh và khu côngnghiệp mà vừa qua chúng ta còn chưa có Trước hết cần coi trọng và nâng caohiệu quả đầu tư nước ngoài dựa trên lợi thế của từng tỉnh và khu công nghiệp.Đối với một số vùng cần nêu bật định hướng thu hút FDI vào một số ngành,các ngành sản xuất tư liệu sản xuất, các ngành công nghiệp có hàm lượngkhoa học và vốn cao, các ngành hỗ trợ và liên quan

Thứ hai: Chính sách nội địa hóa chưa thỏa đáng Đáng lẽ cần phải tăngcường nội địa hóa thì chính sách của Việt Nam còn chưa chú trọng, chính vì lẽ

đó đã làm cho sản phẩm của FDI ở Việt Nam đắt hơn ở Thái Lan và các nướckhác Ví dụ chính sách nội địa hóa của ta đối với ngành công nghiệp ô tô xemáy ít tham vọng hơn các quốc gia khác trong ASEAN như Thái Lan,Malaysia,… Đối với việc lắp ráp hoàn tất, Việt Nam đòi hỏi 5% vào năm thứ

5, là 30% vào năm thứ 10, Thái Lan đòi hỏi 60% vào năm thứ 5 Chính sách

Trang 13

đó ảnh hưởng quan trọng đến sự phát triển các ngành liên quan và hỗ trợ, cácngành này phát triển rất ít và rất chậm trong thời gian qua và phải nhập phụtùng linh kiện từ bên ngoài, do đó làm tăng giá thành sản phẩm, giảm khảnăng cạnh tranh

Chính sách nội địa hóa của ta cần phải tích cực hơn và phải được giảiquyết từ đầu từ gốc, thể hiện khi duyệt các dự án đầu tư nước ngoài và quyđịnh thời gian nội địa hóa ngắn Vừa qua Bộ tài chính đưa ra chính sách tỷ lệnội địa hóa càng cao, thuế suất càng giảm Tỷ lệ nội địa hóa trên 65-80% thìthuế nhập khẩu phụ tùng chỉ còn 5-7% và trên 80% thì thuế nhập khẩu chỉ còn3-5%, 40% thì thuế nhập khẩu linh kiện là 15% Khuyến khích nội địa hóatrong khi chính sách nội địa hóa đối với FDI đưa ra tỷ lệ thấp, mặt khác nănglực sản xuất phụ tùng, máy móc để lắp ráp xe máy của doanh nghiệp trongnước còn yếu, giá thành cao thì cũng vẫn chỉ tiếp tục làm nẩy sinh gian lận.Thứ ba: VN không có chính sách chuyển giao công nghệ như các nướcTrung Quốc , Hàn Quốc… Vì vậy sau 10 năm nước ta có nhiều hãng ô tô nổitiếng thế giới đầu tư nhưng các chuyên gia kêu rằng có lẽ VN vĩnh viễn sẽkhông có ngành công nghiệp ô tô Để có ngành CN ôtô phải đạt tỷ lệ nội địahóa 40%, giá thành của ô tô sản xuất trong nước cao hơn khu vực khá lớn là

do tỷ lệ nội địa hóa quá thấp, đến nay tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp ô

tô từ 2-10% Tham gia WTO năm 2005 nếu không đạt tỷ lệ nội địa hóa thấpnhất là 20% thì công nghiệp ô tô VN sẽ khó có

Cần phải có chính sách chuyển giao công nghệ đối với các dự án đầu tưtrực tiếp nước ngoài, nếu không chúng ta sẽ chỉ là một thị trường tiêu thụkhổng lồ với dân số 80 triệu dân cho các nước

Thứ tư : Chính sách giá chưa hợp lý, chi phí đầu tư vào VN còn quá cao,làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm VN, làm nản lòng các nhà đầu

tư Theo JETRO Nhật bản cho biết cước phí viễn thông, chi phí lưu thônggiao nhận, điện hiện nay tại VN quá cao Cước điện thoại quốc tế của VNcao gấp khoảng 7 lần so với Singapore, gần 6 lần so với Malaysia, 4 lần sovới Jakarta, khoảng 3 lần so với Bangkok và gần 2 lần so với Trung Quốc.Chi phí lưu thông giao nhận nếu gửi hàng container thì cao gần gấp 3 lần sovới Singapore, khoảng 2,5 lần so với Kuala Lumpur, khoảng 2 lần Jakarta,Thượng Hải Các chi phí và lệ phí liên quan đến giao nhận tại các cảng biển

và sân bay quá cao Có 12 loại phí và lệ phí bất hợp lý mà doanh nghiệp phảinộp như phí lưu kho sân bay 1.200 đ/kg, phí an ninh 230 đ/kg, phí lao vụ 0,06USD/kg, phụ phí xăng dầu 30 USD/container 20 feet, 60 USD/container 40

Trang 14

feet, hàng lẻ 2,5 USD/m3, phí nâng hạ 300.000-360.000 đ/container 20 feet,thu phí đường bộ 80.000 đồng/ lượt đối với xe tải 18 tấn trở lên Giá điện caohơn 50%, giá nước cao hơn 71% so với ASEAN, Trung Quốc.

Để giảm chi phí đầu vào, mà hiện nay chủ yếu là do các doanh nghiệpnhà nước nắm, cần ngăn chặn việc biến độc quyền nhà nước thành độc quyềndoanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nhà nước Cần xây dựng Luật cạnhtranh và nhanh chóng thông qua

Thứ năm : Chi phí cho đất đai ngày càng tăng Từ năm 1996 trở lại đâythị trường kinh doanh đất sôi động Đất đai ngày càng giá cao Giá đất lớn,giá đền bù lớn, giá san lấp mặt bằng lớn Giá cả đất đai của thành phố VN caohơn so với các nước trong khu vực, giá thuê đất TP.HCM gấp 4-6 lần TrungQuốc, 6 lần Thái Lan Tình hình này ảnh hưởng lớn đến thu hút đầu tư trựctiếp nước ngoài

Chính phủ cần kiểm soát chặt thị trường bất động sản do thị trường bấtđộng sản là một thị trường không hoàn hảo, dễ dẫn đến những độc quyềntrong cạnh tranh, tạo nên cơn sốt giá, nâng giá đất giả tạo, làm cho chi phí đầu

tư của FDI nước ta cao hơn so với các nước trong khu vực

Thứ sáu: Ngoài ra quan điểm nới lỏng đầu vào quản lý chặt đầu ra, hậukiểm thay thế tiền kiểm như các nhà đầu tư nước ngoài từng nói chính phủ

VN chỉ khuyến khích đầu tư không khuyến khích sản xuất, tiền hậu bất nhấtkhông nhất quán Đó là một trong những nguyên nhân làm cho thu hút FDIcủa ta giảm Bài học Trung Quốc là trước cho, sau lấy có tính làm ăn lâu dài

là những kinh nghiệm trong thu hút FDI

Tóm lại nguyên nhân chủ yếu khiến môi trường đầu tư VN giảm thu hútđầu tư nước ngoài là do giá đầu vào như nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu còncao, chi phí cơ sở hạ tầng như cước viễn thông quốc tế, tiền thuê đất, chi phílưu thông hàng hóa cao, thuế thu nhập của người nước ngoài cao nhất tại khuvực ASEAN Ngoài ra môi trường đầu tư VN thiếu hệ thống pháp luật hoànchỉnh, không nhất quán và không minh bạch ª

1.3:Xu hướng đầu tư và những kinh nghiệm thu hút vốn FDI của một số nước

1.3.1: Những xu hướng đầu tư trực tiếp trên thế giới

Xét tổng thể, các nước đang phát triển vẫn là những địa chỉ hút vốn đầu

tư nhiều nhất, nhưng đồng thời các nhà đầu tư cũng đang hướng đầu tư vàocác nước và khu vực giàu tài nguyên, như châu Phi, Mỹ Latinh và Caribê.Bên cạnh đó, các nhà kinh tế cảnh báo chiều hướng hạn chế FDI ở nhiều nước

Trang 15

có thể cản trở đà tăng trưởng kinh tế toàn cầu và sự phục hồi của các thịtrường vốn trên thế giới

Các nhà phân tích nhận định rằng, các nước đang phát triển đang thu hútnhiều vốn FDI hơn bao giờ hết Ngân hàng Thế giới (WB) mới đây cho hay

kể từ năm 2000, luồng vốn FDI vào các nước đang phát triển đã tăng mạnh từ165,5 tỷ USD lên 470,8 tỷ USD năm 2008, chiếm trên 1/4 tổng luồng vốnFDI toàn cầu, khoảng 1.700 tỷ USD Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc vàNam Phi chiếm 50-60% luồng vốn FDI vào các nước đang phát triển

Theo WB, trong số các nước đang phát triển thì Trung Quốc vẫn là nước tiếpnhận luồng vốn FDI lớn nhất với 84 tỷ USD trong năm 2008 Tuy vậy, tỷ trọngFDI của Trung Quốc lại đang giảm tương đối so với các nước khác, với FDI chỉchiếm 18% tổng số FDI vào các đang phát triển, thấp hơn mức 30% 5 năm trước Đứng sau sau Trung Quốc về mặt hút vốn FDI là Nga, Brazil, Mêxicô,

Ấn Độ, Chilê và Thổ Nhĩ Kỳ Nhu cầu cũng như cơn sốt giá năng lượng tăngbùng nổ khiến cho các luồng vốn đầu tư đang đua nhau đổ vào Nga bất chấpcác quy định cản trở đầu tư nước ngoài ở nước này đang gia tăng Mêhicô làđịa chỉ thu hút đầu tư lớn thứ tư trong số các nước đang phát triển, tiếp nhận23,2 tỷ USD năm 2008

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) dự báo, FDI từ các nướcOECD đã tăng 50% lên mức cao kỷ lục 1.820 tỷ USD trong năm 2008, so với1.200 tỷ USD năm 2007, nhưng dự báo sẽ giảm mạnh trong năm 2008 Nếutình hình mua bán và sáp nhập (M&A) chậm lại trong 6 tháng đầu năm 2008tiếp tục tiếp diễn thì luồng vốn FDI từ tổ chức này cả năm có thể giảm xuống1.140 tỷ USD Đồng thời, FDI vào các nước OECD năm 2008 ước đoán sẽgiảm xuống 1.035 tỷ USD, sau khi đã đạt mức cao 1.370 tỷ USD năm 2008.FDI từ các nước OECD giảm chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến các nước đangphát triển Dựa trên mối liên hệ truyền thống giữa luồng vốn FDI chảy vàocác nước đang phát triển và FDI từ OECD, dự báo việc FDI từ OECD giảm30% sẽ dẫn đến sự sụt giảm khoảng 40% FDI vào các nước đang phát triển,xuống còn 276 tỷ USD trong năm 2008

Theo OECD, Mỹ vẫn là nhà đầu tư số một, đồng thời là nước thụ hưởngđầu tư hàng đầu của OECD, với số vốn đầu tư ra nước ngoài và số vốn đầu tưtiếp nhận theo thứ tự lên tới 333 tỷ USD và 238 tỷ USD Sau Mỹ là Anh,Pháp, Tây Ban Nha và Nhật Bản

Theo các nhà kinh tế, đang xuất hiện hai xu hướng của dòng vốn FDI:

Trang 16

đầu tư vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nhiều nước bắt đầu hạn chếvốn FDI do những hệ lụy từ nguồn vốn FDI đối với nền kinh tế đất nước.Không thể phụ nhận việc giá hàng hóa thế giới (nông sản, khoáng sản )không ngừng tăng mạnh và hệ quả của nó là mang lại đà tăng trưởng khả quancho nền kinh tế cũng như lợi nhuận công ty của các nước giàu tài nguyên ởchâu Phi, Mỹ Latinh và Caribê đang góp phần biến những nơi này trở thànhđiểm nóng đầu tư

FDI vào châu Phi giàu tài nguyên năm 2007 đứng ở mức cao chưa từng

có, 36 tỷ USD và triển vọng năm 2008 vẫn khả quan với sự hỗ trợ của các thịtrường hàng hóa toàn cầu tiếp tục tăng bùng nổ Các hoạt động mua bán vàsáp nhập trong ngành khai thác, ngành dịch vụ liên quan, và ngành ngân hàng

ở châu Phi cũng là nguồn đóng góp đáng kể vào FDI của châu lục này Trongkhi đó, Mỹ Latinh và Caribê thu hút được lượng FDI cao kỷ lục, lần đầu tiênvượt ngưỡng 100 tỷ USD trong năm 2007

Một chiều hướng đang được nhắc tới là nhiều nước trên thế giới đangtìm cách hạn chế FDI Những nước này đã thông qua hoặc đang cân nhắcnghiêm túc luật hạn chế đầu tư nước ngoài hay giám sát chặt chẽ hơn bằngcác quy định của chính phủ Trong số những nước kể trên có 11 nước - trong

đó có Mỹ, Nga, Canađa, Trung Quốc và Đức - hiện tiếp nhận tới 40% FDI củathế giới

Trong khi đó, các nhà kinh tế vẫn khẳng định “tự do hóa đầu tư” là độnglực lớn nhất thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trên toàn thế giới Ngược lại, xuhướng tăng cường bảo hộ có thể khiến cho cuộc khủng hoảng trên các thịtrường vốn toàn cầu trầm trọng thêm và làm giảm đà tăng trưởng kinh tế toàncầu trong những năm tới Hạn chế đầu tư nước ngoài sẽ dẫn đến tổn thất đáng

kể cho hệ thống kinh tế toàn cầu, làm giảm lợi ích của các nhà đầu tư, “nướcđầu tư và cả “nước tiếp nhận”

1.3.2: Những kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển công nghiệp của một số nước trong khu vực

Thái Lan:

Từ một nước phát triển nông nghiệp là chủ yếu, Thái Lan đã trở thànhmột nước công nghiệp mới nhờ vai trò quan trọng của chính sách thu hút vốnnước ngoài thích hợp và hiệu quả trong giai đoạn đầu

Chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài được ban hành vàonăm1954, đến năm 1972 ban hành luật đầu tư nước ngoài và sau đó sửa đổivào năm 1986, 1989 Luật đầu tư nước ngoài không cho phép người nước

Trang 17

ngoài đầu tư vào nghành trồng lúa, nghề khai thác muối (muối mỏ), buôn bánnông sản trong nước, buôn bán bất động sản, xây dựng…

Thời kỳ 1961-1971: là thời kỳ nền kinh tế thiếu cả vốn lẫn kỹ thuật đểphát triển kinh tế trong nước Vì thế trong giai đoạn này chính sách đầu tư tậptrung khuyến khích phát triển các liên doanh với nước ngoài

Thời kỳ 1972-1986: là thời kỳ thực thi chính sách giảm nhập khẩu, chỉcho phép nhập khẩu chủ yếu là máy móc, trang thiết bị và nguyên vật liệuchưa sản xuât được trong nước Trong giai đoạn này, chính sách đầu tư tậptrung vào khuyến khích các dự án làm hàng xuất khẩu, các dự án phải tạo ra80% sản phẩm phục vụ xuất khẩu

Thời kỳ 1987-1997: là thời kỳ khuyến khích mạnh mẽ các dự án sản xuấthàng xuất khẩu Những công ty có 50% sản phẩm làm ra để xuất khẩu thì cácnhà đầu tư nước ngoài có thể chiếm phầm lớn cổ phần, còn các công ty có100% sản phẩm phục vụ xuất khẩu thì có quyền bỏ 100% vốn để mua cổ phầncông ty đó Giảm bớt các dự án tập trung ở Bangkok, đồng thời cũng chophép các nhà tư bản Thái Lan đầu tư ra nước ngoài Năm 1989, đầu tư ra nướcngoài của Thái Lan đạt 492 triệu USD và con số đó ngày một gia tăng

Indonesia:

Là một nước công nghiệp, tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng lại thiếuvốn để khai thác, do đó đường lối phát triể kinh tế của nước này cũng phảiđưa vào nguồn vốn nước ngoài Năm 1991, nợ nứoc ngoài của nước này đãlên đến 57,5 tỷ USD Luật đầu tư nước ngoài ra đời năm 1967, trong đó điềuđáng chú ý là:

Thời gian hoạt động của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài có thể lênđến 30 năm;

Khuyến khích hình thức liên doanh, trong đó phần góp vốn của các chủđầu tư trong nước tối thiểu là 20% vốn pháp định vào thời điểm thành lậpcông ty và trong vòng 15 năm sau khi hoạt động được phép tăng vốn ít nhấttới 51%;

Được miễn thuế nhập khẩu và thuế doanh thu đối với hàng nhập khẩudùng cho mục đích góp vốn đầu tư

Malaysia:

Trang 18

Trong các nước đang phát triển, Malaysia được đánh giá là nước thành côngtrong thu hút FDI để thực hiện công nghiệp hóa Từ một nước nông nghiệplạc hậu, đa sắc tộc, tích luỹ nội địa thấp, Malaysia luôn coi trọng nguồn vốnFDI đối với sự phát triển nền kinh tế đất nước vì coi đây là yếu tố then chốt đẻthực thiện công nghiệp hóa Do quan điểm như vậy Malaysia đã luôn tích cựccải thiện môi trường đầu tư của mình để thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ đó,dòng FDI đổ vào Malaysia ngày càng tăng và đã đóng góp to lớn tạo ra sựtăng trưởng “thần kỳ” cả nền kinh tế nước này trong nhiều năm qua.Nhờ vào chính sách đầu tư thông thoáng, đầu tư nước ngoài của Malaysianăm1991 đạt 6,4 tỷ USD và đến năm 1996 chiếm hơn ½ tổng số vốn đầu tưtrong cả nước Các nước đầu tư lớn nhất vào Malaysia là Nhật Bản, ĐoàiLoan, tương ứng đạt 7,02 tỷ USD và 2,29 tỷ USD.

Mới 20 năm trước đây, Malaysia vẫn còn là nước xuất khẩu dầu thô, đầuthực vật, cao su, chì, gỗ và các nguyên liệu khác, tỷ lệ của hàng công nghiệptrong tổng kim ngạch xuất khẩu chỉ đạt 22% vào những năm 1980 Nhưng từnăm 1996, tỷ lệ đó đã lên 80 % và hiện nay Malaysia là một trong nhữngtrung tâm sản xuất điện tử cao cấp trên thế giới

Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của Malaysia chủ yếu tập trung vào:Xây dựng hệ thống chính trị ổn định và đoàn kết dân tộc;

Hệ thống giáo dục vững mạnh;

Hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại;

Có kế hoạch phát triển kinh tế ngắn hạn và dài hạn với mục tiêu rõ ràng;

Có chương trình khuyến khích đầu tư tích cực cho cả người đầu tư trong

và ngoài nước

Tóm lại, Việt Nam là nước đi sau trong quá trình thu hút đầu tư trực tiếpnước ngoài nên chúng ta có cơ hội tiếp cận bài học kinh nghiệm của nhữngnước đi trước, đặc biệt là những nước Đông Nam Á, vì có những điểm tương

tự với nước ta Từ đó, có thể học cái hay từ những chính sách của họ và tránh

đi những sai lầm mà các nước này đã mắc phải để có thể thu hút và quản lý cóhiệu quả hoạt động đầu tư nước ngoài

Trang 19

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN FDI VÀO PHÁT TRIỂN

CÔNG NGHIỆP THÉP Ở VIỆT NAM

2.1:Tình hình phát triển công nghiệp thép ở Việt Nam( kể từ khi có luật đầu tư nước ngoài ra đời)

Luật đầu tư nước ngoài Việt Nam được Nhà nước ta ban hành từ năm

1987 nhưng cho đến hết năm 1988 nghành công nghiệp thép mới thu hútđược 12 triệu USD vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), vào loại trungbình trong cả nước tại thời điểm đó Thế nhưng, chỉ 3 năm sau, đến cuối năm

1990 nghành đã tổng số 20 dự án cho cả giai đoạn 1988-1990 có tổng vốnFDI đăng ký là 27 triệu USD, trong đó ngay từ năm 1988-1989 đã là tỉnh đầutiên trong cả nước tiếp nhận 05 dự án FDI

Từ đó đến nay, càng những năm gần đây tình hình thu hút các nguồn vốnFDI Đặc biệt, mới đây nhất là chỉ trong 3 tháng quí I /2008 nghành thép đãthu hút được hơn 2,1 tỷ USD vốn FDI, gần bằng cả năm 2006 (2,2 tỷ USD) và

đã vượt xa so với năm 2007 (1,4 tỷ USD)

Thực trạng đó cho thấy đã có sự tăng trưởng rất nhanh của lượng vốnFDI đã thu hút được qua từng năm Sự tăng trưởng rất nhanh này không chỉthể hiện ở tổng lượng vốn đã thu được mà còn thể hiện ở cả số lượng các dự

án, và một điều nữa là càng ngày càng có thêm nhiều dự án có quy mô lớn vàrất lớn về tổng số vốn đăng ký Ở những nét khái quát nhất về thực trạng đó,

có thể nêu ra một số đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, về tổng số các dự án FDI (tính đến hết quý I/2008) nghành

thép đã có 207 dự án còn hiệu lực, với tổng số vốn đầu tư trên 9,7 tỷ USD.Trong đó, chỉ tính riêng hai năm gần đây 2007 và 2008, có thể nói rằngnghành đã ‘bội thu” vốn FDI, đã thu được tới 3,69 tỷ USD đặc biệt nhất như

đã nêu trên chỉ trong 3 tháng đầu năm nay nghành thép đã thu hút đượclượng vốn FDI rất lớn, hơn 2,1 tỷ USD, còn hơn cả năm 2007 và gần bằngnăm 2008 là năm đã đạt “kỷ lục” đứng đầu trong cả nước về thu hút vốn đầu

tư nước ngoài

Thứ hai, về khả năng thực hiện các dự án, tính đến hết quý I/ 2008, đã

có khoảng 61% trong tổng số 207 dự án đã đăng ký và còn hiệu lực đã triểnkhai góp vốn thực hiện, đạt 3,52 tỷ USD, chiếm khoảng 36,1% so với tông

số vốn đầu tư đã đăng ký là 9,75 tỷ USD Nhìn chung, tiến độ giải ngân vốnđầu tư thực hiện tăng cao qua hàng năm, nhất là từ năm 2000 đến nay (năm2000: 25 triệu USD; năm 2002: 716 triệu US; năm 2007: 420 triệu USD; quý

I năm nay: khoảng 110 triệu USD

Trang 20

Thứ ba, về động thái thu hút FDI trong nghành thép đã có đặc điểm là

càng những năm gần đây càng diễn ra sôi động và khả quan hơn Đặc biệt

nghành thép đã thực sự là điểm sáng nổi bật trong cả nước kể từ năm 2006

đến nay Năm 2006 nghành thép đã thu hút được nhiều vốn đầu tư nướcngoài nhiều nhất so với hàng năm trước đó và đã trở thành nghành đứng đầu

cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài , với tổng số vốn đầu tư đăng kýnăm đó là hơn 2,2 tỷ USD Năm 2007 với lượng vốn đầu tư nước ngoài hơn1,4 tỷ USD thu hút được tuy không còn ở vị trí thứ nhất, song vẫn nằm trongTop 5 hàng đầu về thu hút vốn đầu tư nước ngoài của năm đó

Bước sang năm 2008, tính đến hết quý I vừa qua, tình hình đã rất sôiđộng, khả quan hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước Đã có thêm 14 dự ánmới được cấp giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn lên tới trên 2,1 tỷ (gầnbằng cả năm 2006 là năm nghành thép đứng thứ nhất về thu hút vốn FDI như

1992 là 2%, năm 1996 là 7,6% thì năm 1999 là 10,3%, năm 2000 chiếm13,3% GDP, năm 2002 chiếm 13,5%, năm 2003 khoảng 14% Nguồn vốn nàycũng góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt hơn hệthống cơ sở hạ tầng giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, hình thành cáckhu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, góp phần thực hiện côngnghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá các khu vực phát triển, hình thành cáckhu dân cư mới, tạo việc làm cho hàng vạn lao động tại các địa phương.Những vấn đề trên cho thấy tác dụng và ảnh hưởng quan trọng của FDI đốivới sự phát triển kinh tế của đất nước

Trong các năm qua, FDI tại Việt Nam có tăng lên, song mức tăng đượcđánh giá là khá khiêm tốn so với một số nước trong khu vực Vấn đề đặt ra làlàm thế nào để thu hút nguồn lực quan trọng này để phục vụ phát triển kinh tếđất nước

Ngày đăng: 05/10/2018, 06:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2) GS.TS Nguyễn Thành Độ( 2003) “Phát triển khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển khu vực kinh tế có vốnđầu tư nước ngoài
1) Nguyễn Duy Lợi-FDI 2007 trang 32- Thời báo tài chính Khác
3) PGS.TS Lê Biên Giới( 2004)” Các giải pháp thu hút vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam” Khác
4) TS.Nguyễn Trọng Xuân- Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam-Thực trạng giải pháp Khác
5) Đoàn Ngọc Phúc(2006)” FDI vào Việt Nam-Thực trạng những vấn đề đặt ra và triển vọng” Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w