Về mặt kinh tế xã hội, ước khoảng 60 triệu người sống trong phạm vi lưu vực sông, mà phầnlớn trong số họ đều phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào nguồn lợi thuỷ sản của sông Mê kông,chủ
Trang 1Phân tích mối liên quan giữa điều kiện phát triển Kinh tế xã
hội vùng Dự án và tình hình phát triển thuỷ sản
1.Mô tả chung: 3
1.1.Bối cảnh chung của lưu vực sông Mê kông 3
1.2.Về Dự án cải tạo tuyến giao thông thuỷ trên sông Lan Thương - thượng nguồn sông Mê kông 4
2.Đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi thuỷ sản vùng Dự án và hạ lưu Dự án 4
2.1 Trung Quốc 4
2.2 CHDCND Lào 6
2.3 Myanmar 7
2.4 Thái Lan 7
2.5 Campuchia 8
2.6 Đồng bằng sông Cửu Long-Việt Nam 8
2.6.1 Tài nguyên sinh vật vùng sinh thái nước ngọt 9
2.6.2 Tài nguyên sinh vật vùng cửa sông ven biển 9
2.6.3 Hệ sinh thái vùng triều 10
2.6.4 Các đặc trưng sinh vật vùng cửa sông 10
2.6.4.1 Thực vật phù du (Phytoplankton) 10
2.6.4.2 Động vật phù du (Zooplankton) 11
2.6.4.3 Động vật đáy (Zoobenthos) 12
2.6.4.4 Khu hệ cá (Fish fauna) 13
3 Đặc tính di cư của nguồn lợi cá trong lưu vực sông Mê kông 14
3.1 Đặc điểm di cư của cộng đồng cá sông Mê Kông 14
3.2 Các hệ sinh thái quan trọng đối với sự di cư của cá trong sông Mê kông .15
3.2.1 Các vùng nước sâu và ghềnh thác trong phạm vi dòng chảy chính của sông Mê kông 15
3.2.2 Các đồng bằng cửa sông do nước lũ tạo thành 16
4 Đặc điểm kinh tế xã hội liên quan đến phát triển thuỷ sản vùng Dự án và hạ lưu Dự án 17
4.1 Trung Quốc 18
4.2 CHDCND Lào 19
4.3 Thái Lan 22
4.4 Campuchia 24
4.6 Việt Nam 28
5 Sơ bộ phân tích một số ảnh hưởng của Dự án cải tạo giao thông thuỷ đối với nguồn lợi thuỷ sản của sông Mê kông và các điều kiện phát triển kinh tế xã hội nghề cá ở lưu vực sông Mê kông 30
5.1 Ảnh hưởng của dự án tới tốc độ dòng chẩy và nguồn lợi cá của sông 31
5.2 Ảnh hưởng lên tính nhậy cảm sinh thái của dòng sông 31
5.3 Ảnh hưởng về mặt kinh tế xã hội 33
6 Kết luận và Kiến nghị 35
Trang 27 Tài liệu tham khảo 36
Trang 31 Mô tả chung:
1.1 Bối cảnh chung của lưu vực sông Mê kông
Xuất phát từ cao nguyên Tây Tạng của Trung quốc, sông Mê kông chẩy qua sáu quốc gia củachâu Á, bao gồm Trung Quốc, Myanmar, Lào, Thái lan, Campuchia và Việt nam Với diện tích lưuvực 2,330,000 m2, hàng năm sông Mê kông trở 475.000 tấn phù sa ra biển Đông và có vai trò quantrọng về mặt đa dạng sinh học cũng như hỗ trợ phát triển kinh tế xã hội của các cộng đồng dân cưven sông
Như vậy, với tổng chiều dài 4.880 km, sông Mê kông là một tuyến liên kết tự nhiên, đường đilại và hành lang kinh tế của nhiều dân tộc, nối liền các cộng đồng, các nền kinh tế và văn hoá củasáu nước ven sông Đây là lưu vực sông giàu về các nguồn tài nguyên như nguồn lợi thuỷ sản, lâmnghiệp, tài nguyên cho phát triển du lịch, thuỷ điện, khoáng sản và vận tải thuỷ Trong đó, pháttriển vận tải thuỷ là nguồn đầu tư tiềm năng và mang lại hiệu quả kinh tế cao, nhưng đồng thờicũng gây ảnh hưởng lớn đến nguồn lợi tự nhiên ở sông và lưu vực sông, đặc biệt là nguồn lợi thuỷsản
Về nguồn lợi thuỷ sản, lưu vực sông Mê kông là nơi sinh sống của khoảng 1.200 loài cá, rấtnhiều loài trong số này vẫn đang ở trong giai đoạn phân loại loài Về mặt đa dạng sinh học (tínhtrên một đơn vị diện tích), sông Mê kông là nơi có thành phần đa dạng sinh học lớn nhất so với cáclưu vực sông khác
Trong thực tế, sông Mê kông không chỉ đặc trưng về mặt đa dạng sinh học mà lưu vực của nócòn là nơi tạo ra ngành khai thác thuỷ sản nội địa có quy mô lớn nhất trên thế giới Tổng sản lượngđánh bắt hàng năm của lưu vực sông Mê kông (bao gồm Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam)được ước lượng vào khoảng 1 tỷ tấn mỗi năm (Jensen, 1996)
Về mặt kinh tế xã hội, ước khoảng 60 triệu người sống trong phạm vi lưu vực sông, mà phầnlớn trong số họ đều phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào nguồn lợi thuỷ sản của sông Mê kông,chủ yếu trong việc tạo thu nhập và đảm bảo an ninh lương thực cho các cộng đồng này
Như vậy, dự án cải tạo tuyến giao thông thuỷ trên thượng nguồn sông Lan Thương do 4 quốcgia thượng nguồn thực hiện (Trung Quốc, Myanmar, Lào và Thái Lan) sẽ loại bỏ một số ghềnh thác
và bãi cát ngầm dọc theo dòng sông, từ cột mốc 243 biên giới Trung Quốc-Myanmar tới bản HoueiSai của Lào, để tạo thuận lợi cho tàu thuyền 100 – 500 tấn vận chuyển bên cạnh việc giúp phátđường giao thông kinh tế giữa các quốc gia ven sông, sẽ gây ra các ảnh hưởng đáng chú ý đếnnguồn lợi thuỷ sản, sự phát triển của ngành thuỷ sản và qua đó sẽ ảnh hưởng đến các điều kiện kinh
Trang 4tế xã hội của các cộng đồng dân cư của các quốc gia ven sông Bởi vậy, báo cáo này sẽ tập trungphân tích các điều kiện kinh tế xã hội và sự phát triển của ngành thuỷ sản của các quốc gia lưu vựcsông và phân tích sơ bộ các ảnh hưởng của dự án lên các điều kiện dòng chẩy của sông cũng nhưlên nguồn lợi thuỷ sản và qua đó ảnh hưởng lên điều kiện phát triển kinh tế thuỷ sản cũng như kinh
tế xã hội của các cộng đồng dân cư ven sông
1.2 Về Dự án cải tạo tuyến giao thông thuỷ trên sông Lan Thương - thượng nguồn sông Mê kông
Dự án cải tạo giao thông thuỷ trên sông Lan Thương - thượng nguồn sông Mê kông với nộidung loại bỏ một số thác, ghềnh trên sông để tạo điều kiện cho tàu thuyền tải trọng 100 - 500 tấnqua lại được thực hiện dựa trên cơ sở của Hiệp định 4 bên về Giao thông thuỷ thương mại trên sôngLan Thương, ký bởi Bộ Giao thông Vận tải của 4 quốc gia ven sông Trung Quốc, Miến Điện, TháiLan và CHĐCN Lào ngày 20 tháng 4 năm 2000 Theo điều 2 của Hiệp định quốc tế này, thì saungày ký 1 năm, tàu thuyền các nước tham gia được quyền đi lại tự do giữa cảng Si-Mao của TrungQuốc và cảng Luang Prebang của Lào theo quy định của Hiệp định 4 bên và theo các quy định vàluật lệ thông thường thích hợp được các bên tham gia áp dụng Ngay sau khi Hiệp định được kýkết, 4 nước đã lập nhóm chuyên viên kỹ thuật để giúp triển khai Hiệp định và Dự án cải tạo luồnglạch trên sông Lan Thương để tạo thuận lợi cho giao thông thuỷ được triển khai Nội dung chínhcủa Dự án là cải tạo 11 ghềnh đá và 10 bãi đá ngầm trong đoạn sông dài 331 km (từ cột mốc 243biên giới Trung Quốc-Miến Điện đến bản Huai-xay thuộc Lào), để đảm bảo cho tàu, thuyền 150tấn hoạt động theo chuẩn tắc luồng lạch thiết kế (chiều rộng luồng 30 m, chiều sâu dòng chẩy 1,5
m và bán kính cong 260 m) Dự án được chia làm 3 giai đoạn, và hiện nay đã hoàn thành xong giaiđoạn 1 (tức là cải tạo luồng lạch để đảm bảo cho tầu thuyền cỡ 100 – 150 tấn đi lại) Dự án đã gâynên những tranh cãi về các tác động của nó tới nguồn lợi thuỷ sản và môi trường trong sông cũngnhư các ảnh hưởng tới các quốc gia ở hạ lưu sông như Campuchia và Việt nam
2 Đặc điểm tự nhiên và nguồn lợi thuỷ sản vùng Dự án và hạ lưu Dự án
Trang 5180 sông, suối lớn nhỏ, trong đó có các sông suối thuộc hệ thống sông Lan Thương-Mê Kông.Sông Lan Thương được tiếp nước bởi 96 nhánh nhỏ, lưu tốc dòng chẩy trung bình là 1803,9m3/giây.
Về nguồn lợi cá: Sông Lan Thương là một hệ thống sông đặc hữu của tỉnh Vân Nam, hiệntại có khoảng 153 (??) loài và phân loài cá trong phạm vi sông này, trong đó có 28 loài đặc hữu,chiếm 70% số loài đặc hữu của cả tỉnh Nguồn lợi cá của sông Mê kông – Lan Thương thuộc 18 họ
và 54 chi, chiếm khoảng 69% trong tổng số các loài của tỉnh Vân Nam Trong phạm vi 18 họ cá, họ
cá trôi (Cyprinidae) và Loach là những họ lớn nhất: Họ Cyprinidae bao gồm 27 chi và 52 loài; họ
cá Loach bao gồm 5 chi và 13 loài Các loài khác thuộc họ Akysis, Siluridae,…
Các loài di cư chủ yếu bao gồm Cyprinidae, Loach (Botia sp.), Danio (Daino pulcher),
Hemibagrus bocourti, các loài thuộc nhóm cá tra, cá trê Các loài cá có giá trị kinh tế bao gồm Tor
tor sinensis Wu, Abeo dyocheilus, Bagarius yarrelli Sykes, Pseudechenis sulcatoldes Zheuetchn và Wallago attu Các loài cá quý hiếm bao gồm: Macrochirichthys sp và Puntioplites sp thuộc họ
Cyprinidae, Gyrinocheilus sp của họ Gyrinocheilindae và Pangasius sanitwangsei Smith của họ Pangasiidae Đặc biệt là loài Pangasius sanitwangsei Smith của họ Pangasiidae được gọi là cá Vua
trong sông Lan Thương - Mê Kông, và rất hiếm xuất hiện vì loài cá này chỉ di cư ngược dòng khimức nước sông lên cao vào thời kỳ đỉnh lũ
Mặc dù, trong sông Lan Thương - Mê Kông có tới 153 loài cá, nhưng hầu hết các loài nàyđều cư trú ở các nhánh sông nhỏ và các vùng lõm sâu Thời điểm di cư ngược dòng để sinh sản củacác loài cá là: từ tháng Tư đến tháng Sáu, và di cư xuôi dòng là từ tháng 9 đến tháng 10
Thực vật nổi: Trong sông Mê kông có khoảng 10 ngành thực vật nổi với 126 loài, mật độtrung bình 0.37 mg/lít Trong đó, nhóm tảo đỏ có 16 họ, chiếm 12.7% trong tổng số các loài thựcvật nổi, với số lượng 405.6 cá thể/lít Nhóm tảo silic có 58 họ, chiếm 46% của tổng số các loài sinhvật nổi, nhóm tảo lục có 36 họ, chiếm 28,6% của tổng số, nhóm tảo lam có 6 họ, số lượng khôngđáng kể Các loài tảo khác như tảo đỏ, tảo vàng, … rất hạn chế về số lượng
Động vật nổi trong sông có 23 họ và 51 loài với mật độ trung bình 1361,8 cá thể/lít, rotifer
có 7 họ và 28 loài, chiếm 26.7% tổng số loài và 12.6% về mặt số lượng cá thể, các loài bọ nướcbao gồm 3 họ, với mật độ 31,25 cá thể/lít Các loài thực động vật nổi nhỏ khác chỉ gồm có 7 họ,với mật độ trung bình 100.7 mg/lít
Theo nghiên cứu của FAO (1995) Trung Quốc có tiềm năng lớn cho phát triển nuôi trồngthuỷ sản nước ngọt với tổng diện tích các loại hình mặt nước ngọt là 173330 km2, trong đó 39770km2 đã được đưa vào sử dụng: 14720 km2 là ao, hồ nhỏ, 7010 km2 là các diện tích hồ tự nhiên,
3210 km2 sông suối và 14260 km2 hồ chứa Riêng loại hình mặt nước sông, suối chủ yếu được đưa
Trang 6vào để khai thác, đánh bắt cá, tôm tự nhiên và nuôi cá theo hình thức lồng bè Tổng sản lượng nuôitrồng thuỷ sản Trung Quốc năm 1992 là 7.760.000 tấn
2.2 CHDCND Lào
Đất nước Lào nằm trong vùng khí hậu gió mùa nhiệt đới với khí hậu được chia ra 2 mùa rõrệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô và lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 2năm sau Nhiệt độ giữa các vùng có sự biến động lớn, nhiệt độ lớn nhất trong sông Mê Kông có thểlên đến 40oC vào tháng 4 hàng năm, trong khi ở vùng núi cao nhiệt độ có thể xuống dưới 50C.Lượng mưa trung bình đạt 1 780 mm/năm
Sông Mê kông chẩy qua đất nước Lào từ Bắc đến Nam, qua hai vùng đồng bằng lớn là ViênChăn và Savanakhet Dòng sông chính và các nhánh của nó chia cắt vùng phía Bắc của Lào thànhcác khu vực, tạo ra các vùng lưu vực sông bao phủ 1/3 diện tích lãnh thổ của đất nước Lào (tươngđương 1.987 km) Đoạn sông Mê Kông chẩy qua Lào được tiếp nước từ các sông nhánh với lượngnước tương đương 25% lượng nước trong sông chính Mùa nước lũ bắt đầu từ tháng 5 và tháng 6với sự xuất hiện của gió mùa Nước lũ lớn nhất từ tháng Tám đến tháng Chín, mùa nước cạn bắtđầu từ tháng 12 và giảm chậm dần trong mùa khô cho tới cuối tháng 4 Do Lào là nước nội địa,không có biển nên sông Mê kông đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế cũng như xã hội củaquốc gia Khoảng 4/5 dân số Lào (4,5 triệu người) sinh sống dọc theo sông Mê kông, khai thácnước sông phục vụ cho thuỷ lợi nông nghiệp và khai thác nguồn lợi thuỷ sản phục vụ nhu cầu thựcphẩm và tạo thu nhập (FAO, 1995)
Các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản của Lào chủ yếu được thực hiện ở các ao, hồ nhỏ và nuôikết hợp với cấy lúa Bởi vậy, chất lượng nguồn nước cung cấp cho các khu vực sản xuất nôngnghiệp và các khu vực nuôi trồng thuỷ sản ao hồ nhỏ đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trìhoạt động nuôi có hiệu quả Các sông lớn ở Lào như sông Mê kông là những nguồn cung cấp nướcchính Theo nghiên cứu của FAO (1995), các đối tượng nuôi chủ yếu của Lào thường là những loàinhập nội (từ Ấn Độ hoặc từ Trung Quốc) như cá trôi, cá rô phi Các loài nuôi bản xứ bao gồm
Probarbus jullieni, Morulius chrysophekadion, Trichogaster pectoralis, Osphronemus goramy, Osteochilus prosemion, Puntius gonionotus, Anabas testudineus, Cirrhinus microlepis, Notopterus chitala, Notopterus notopterus và Pangasius pangasius Hiện nay, nuôi trồng thuỷ sản nội địa đang
ngày càng được mở rộng và phát triển Tuy nhiên, sản lượng khai thác thuỷ sản nội địa ở các sônglớn như sông Mê kông lại có xu hướng giảm xút Qua Hội thảo của FAO (1995) đã cho thấy sảnlượng cá khai thác từ sông Mê kông tại các cảng cá ở Viên Chăn, Savannakhet và Pakse bị giảmkhoảng 20% trong những năm 1990s Nguyên nhân chủ yếu của hiện tượng này là do sự khai thác
Trang 7quá mức và sử dụng các phương tiện huỷ diệt trong khai thác, cũng như việc đánh bắt các loài cá di
cư trong mùa sinh sản với quy mô lớn ở nhiều điểm di cư quan trọng trên sông Mê kông
2.3 Myanmar
Myanmar là một quốc gia có diện tích tự nhiên lớn trong khu vực Đông Nam Á với đặctrưng địa hình đồi núi Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, Myanmar có 3 mùa đặc trưng:mùa hè, mùa lạnh và mùa mưa Mùa mưa bắt đầu từ giữa tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng
10 đến giữa tháng 1 năm sau và mùa hạ từ tháng 1 đến đầu tháng 5 Nhiệt độ trung bình năm từ 20
- 250C Quốc gia này có một số hệ thống sông lớn như Ayeyarwady, Chindwin, Thanlwin vàSittoung Các sông này tạo nên những vùng đồng bằng châu thổ và lưu vực sông rộng Diện tích hồchứa và hồ tự nhiên của nước này khoảng 59.130 ha, tổng chiều dài sông trên toàn quốc là 4684
km Đây là những tiềm năng quan trọng cho việc phát triển nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản nội địacủa Myanmar
Nguồn lợi cá sông của Myanmar tương đối lớn, chủ yếu cung cấp cho nhu cầu tiêu dùng nộiđịa Sản lượng khai thác của Myanmar trong những năm 1990 vào khoảng 600.000 tấn
Nhìn chung, ngành thuỷ sản đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế của Myanmar.Đây là ngành xuất khẩu, thu nhập ngoại tệ lớn thứ tư của nước này (sau gỗ, khai khoáng và gạo)
Về mặt tiêu dùng nội địa, cá đóng góp một phần đáng kể vào nguồn dinh dưỡng Protein của ngườidân Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của Myanmar những năm 1992 và 1993 ước khoảng 53000 tấn
và 64.500 tấn
Các loài cá nuôi và khai thác phổ biến bao gồm: Clarias sp., Catla catla, Cirrhinus
mrigala, Ctenopharyngodon idellus, Cyprinus carpio, Hypophtholmichthys molitrix, Hypophtholmichthys nobilis, Oreochromis mossambica, Oreochromis niloticus, Labeo rohita và
một số loài nhuyễn thể nước ngọt Macrobrachium rosenbergii.
2.4 Thái Lan
Thái Lan nằm ở vùng mũi phía Nam của vùng Đông Nam Á, trải dài 1770 km từ Bắc xuốngNam, 800 km từ Đông sang Tây với địa hình đồi núi phức tạp Thái Lan có khí hậu nhiệt đới giómùa, chia thành 2 mùa: mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ biến động giữa các vùng và các mùa, từ 13
- 330C Lượng mưa cũng biến động lớn, lượng mưa trung bình năm là 1520 mm ở vùng phía Tây,
2540 mm ở mũi Malay và 1270 mm ở cao nguyên Korat Thái Lan có nguồn lợi cá phong phú, gồmnhững loài snake head, alking catfish, Climbing perch, Thai carp, Tilapia, Common carp, Sepat
Trang 8siam, Pangasius, Swamp eel, Macrobracium, Shrimp Ngành thuỷ sản đóng góp một tỷ lệ đáng kểtrong nền kinh tế quốc gia Sản lượng thuỷ sản những năm 1990 vào khoảng 3,1 tấn, bao gồm tôm,các loại cá nước ngọt và cá biển
Do lưu vực sông Mê kông chiếm phần lớn diện tích lãnh thổ của Campuchia nên sự hìnhthành của các loại hình diện tích ngập nước (tiềm năng cho phát triển thuỷ sản) phụ thuộc rất nhiềuvào chế độ lũ của dòng sông này Vào mùa lũ, diện tích ngập nước thường lớn hơn nhiều so vớimùa khô Cụ thể: trong mùa lũ, diện tích ngập nước lên tới 23400 km2, nhưng đến mùa khô, chỉkhoảng 22490 km2 diện tích các loại hình đất nước có khả năng phát triển thuỷ sản Trong đó, hệsinh thái rừng và cây bụi ngập nước do các sông và hồ lớn tạo ra là 17208 km2, chiếm khoảng 77%tổng diện tích mặt nước
Về mặt nguồn lợi thuỷ sản: Campuchia có nguồn lợi cá nước ngọt phong phú Khoảng 500loài cá nước ngọt đã được xác định ở Campuchia, trong đó có khoảng 100 loài đang được khai thácphổ biến trong khu vực lưu vực của hồ Tonle Sap (Van Zalinge và CTV, 2000b) Sự đa dạng củacác loài cá được giải thích là do sự đa dạng của các loài hình sinh thái ngập nước như đã trình bày
ở trên Các hệ sinh thái giầu dinh dưỡng này đã cung cấp thức ăn và bãi đẻ cho các loài động vậtthuỷ sinh, đặc biệt là những khu vực có năng suất sinh học cao đã trở thành nhưng bãi đẻ và sinhtrưởng quan trọng của rất nhiều loài cá di cư
2.6 Đồng bằng sông Cửu Long-Việt Nam
Khu vực đồng bằng sông Cửu Long Việt nam được hình thành và bồi đắp nhờ hai nhánhsông chính trong hệ thống sông Mê kông là sông Tiền và sông Hậu Hệ thống sông Cửu Long đổ rabiển bằng 9 cửa ở khu vực đồng bằng này đã tạo ra tính đa dạng và phong phú của nguồn lợi và tàinguyên thuỷ sản cả trong nước ngọt và vùng triều cửa sông
Trang 92.6.1 Tài nguyên sinh vật vùng sinh thái nước ngọt
Toàn vùng sinh thái nước ngọt khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 250 loài thựcvật phù du, 49 loài động vật phù du và 47 loài động vật đáy Mật độ thực vật phù du đã thống kêđược lên tới 29.950-674.670 tế bào/lít, mật độ động vật phù du đạt được 885-8.662 tế bào/m3 vàsinh vật lượng động vật đáy đã tính toán được biến động trong khoảng 3,5-25,8g/m2
Nguồn sinh vật lượng phong phú chủ yếu từ sinh vật phù du, động vật đáy, là cơ sở thức ăn
tự nhiên thích hợp cho nhiều loài động vật ở bậc dinh dưỡng tiếp theo, là cơ sở cho sự đa dạng vềthành phần loài và giàu có về sản lượng của các loài cá nơi đây
Khu hệ cá nước ngọt Đồng bằng sông Cửu Long đã định loại được 225 loài thuộc 43 họ,
130 giống trong đó có 55 loài cá có giá trị kinh tế cao (chiếm 24,4% tổng loài) Trong số 43 họ cá
nước ngọt thì Cyprinidae là họ có mức độ đa dạng sinh học cao nhất, với 83 loài (chiếm 36,8% tổng loài) Về mặt sinh thái, các họ Cyprinidae, Schibeidae, Siluridae và Bagridae thường được tìm
thấy phân bố trong các thủy vực nước chảy như sông lớn và các phụ lưu của chúng, trong khi đó
các loài thuộc họ Ophicephalidae, Anabantidae và Claridae lại thường xuất hiện trong các thuỷ
vực nước tĩnh, vùng có độ pH và DO thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên vàrừng tràm
Riêng đối với hệ sinh thái rừng tràm U Minh đã tìm thấy có 14 loài cá, trong đó có các loài
có giá trị kinh tế như cá lóc (Ophiocephalus siviatus), trê vàng (Clarias macrocephalus), cá dày (Ophiocephalus lucius), cá rô (Anabas testudineus), cá sặc rằn (Tricogaster pectoralis).
2.6.2 Tài nguyên sinh vật vùng cửa sông ven biển
Vùng ven cửa sông, ven biển có tính chất đặc trưng là môi trường luôn biến động theo cảkhông gian và thời gian Thông số môi trường của hệ sinh thái này có tính chất quyết định lên đờisống sinh vật đó là độ muối Về mặt thời gian, độ muối biến động, có lúc ngọt (vào mùa lũ), có lúcmặn (vào mùa kiệt) Nếu cố định biến thời gian, độ muối lại biến đổi theo không gian, tăng theophương từ cửa sông ra biển, theo chiều từ trên xuống dưới
Kết quả là, nhiều nhóm loài sinh vật khác nhau đã thay nhau tồn tại và phát triển thịnhvượng trong vùng cửa sông, tạo nên một hệ sản xuất có năng suất sinh học cao Chúng bao gồmnhóm sinh vật nước ngọt (khi vùng bị hoàn toàn ngọt hoá vào mùa lũ), sinh vật nước lợ (khi tươngtác sông biển tương đối cân bằng), sinh vật nước mặn (khi quá trình xâm nhập mặn xảy ra vào mùa
Trang 10khô) và cuối cùng là nhóm loài sinh vật rộng sinh thái, đặc biệt là rộng muối đã thích nghi hoàntoàn với môi trường đầy biến động đó.
2.6.3 Hệ sinh thái vùng triều
• Bãi triều lầy có thuỷ văn nước mặn: Đây là một dạng sinh cảnh phổ biến Bãi triều
lầy có thực vật nước mặn ở Đồng bằng sông Cửu long rất phát triển với các loài câynước mặn có kích thước lớn, cao, có giá trị khai thác gỗ Nhìn chung bãi triều lầy vùngcưả sông hình phễu tương đối ổn định, thực vật nước mặn phát triển
• Bãi triều thấp không có rừng ngập mặn: Các bãi triều thấp bằng phẳng từ 0 hải đồ
đến mực nước trung bình Cảnh quan này bị ngập nước thường xuyên vào những ngàynước kém Đây là sinh cảnh có rất nhiều nhóm động vật vùng triều phân bố và là nơi cógiá trị để phát triển nghề nuôi các động vật thân mềm
• Cảnh quan vùng cát trên vùng triều cửa sông: Cảnh quan này rất phổ biển ở cửa
sông Tiền và sông Hậu Các nguồn cát do sông đưa ra và do tác động của sóng và dòngven bờ di chuyển về hai phía Bắc và Nam các cưả sông hình thành nhiều hệ cồn cátsong song với bờ như ở Trà Vinh, Tiền Giang Trung bình các cửa sông có 3 – 5 cồn cátlấn ra biển Cảnh quan kiểu này cũng là nơi sinh sống của động vật thân mềm và là bãi
đẻ của nhiều nhóm tôm, cua, cá và nhuyễn thể
• Bãi triều lầy nhiều dừa nước: Cảnh quan này phát triển chủ yếu ở các bãi triều cao
dọc theo hai bên bờ sông và kênh rạch, chịu sự chi phối của cả nước ngọt và nước mặn.Khu vực này là môi trường thuận lợi cho nhiều nhóm thuỷ sản nước lợ và hải sản
• Cảnh quan hệ lạch triều: Hệ lạch triều của các kênh dẫn và trao đổi nước của biên độ
triều Chúng có ý nghĩa là kênh truyền tải nguồn dinh dưỡng, cung cấp nguồn giống từ
cả sông và biển cho các hệ sinh thái vùng triều
2.6.4 Các đặc trưng sinh vật vùng cửa sông
2.6.4.1 Thực vật phù du (Phytoplankton)
Đến nay, khu hệ tảo vùng cửa sông ven biển thuộc Đồng bằng sông Cửu Long đã định danh
được 383 loài thuộc 7 ngành tảo, trong đó tảo Silic (Bacillarophyta) chiếm tới 68,4% Hai ngành tảo lục (Chlorophyta) và tảo mắt (Euglenophyta) là các ngành tảo nước ngọt, xuất hiện chủ yếu vào
thời kỳ mùa lũ, khi vùng cửa sông bị ngọt hoá hoàn toàn
Nhóm loài cơ bản tạo nên khu hệ tảo cửa sông gồm nhiều loài, trong đó có đại diện của tảo
Silic lông chim (Pennateae), tảo Silic trung tâm (Centriceae) chiếm lĩnh ở các phần có độ muối khác nhau, thay nhau phát triển, tạo nên mật độ sinh khối cao như Chaetoceros pseudocurvisetus,
Ch Compressus, Ch Affinis, Skeletonema costatum, Leptocylindrus dannicus, Thalassionema nitzchioides, Thalassiothrix frauenfldi
Trang 11Tuy sự hiển diện về số loài thực vật nổi tại mọi vùng cửa sông ven biển nước ta phong phúnhưng sinh vật lượng chung của thực vật nổi vùng cửa sông ven biển thường giới hạn trong 15-20
loài thuộc các giống như Skeletonema, Coscinodiscus, Chaetoceros, Thallassiothrix, Nitzschia,
Ditylum, Biddulphia trong đó Skeletonema costatum gặp phổ biến ở mọi băng muối và thường
chiếm 40-45% số lượng tế bào trong mẫu Vùng cửa sông ven biển Đồng bằng sông Cửu Longcũng không phải là một hệ ngoại lệ
Bảng 1: Mật độ tế bào thực vật nổi một số vùng cửa sông cửu long (ĐV:tb/m 3 )
Nguồn: Vũ Trung Tạng, 1994 (trích trong báo cáo Quy hoạch của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản)
Ghi chú: 1 - Coscinodiscus, 2- Skeletonema, 3-Biddulphia, 4-Ditylum, 5- Thalassionema, 6- Rhizosolenia, Chaetoceros, 8-Nitzschia, 9-Asterionella, 10 Pleurosigma
Trang 12tổng số loài động vật phự du của vựng Vào mựa mưa, do cú sự phỏt triển mạnh mẽ của khu hệđộng vật phự du nước ngọt, nờn tổng số loài cú mặt tại vựng cửa sụng ven biển tăng cao hơn trongmựa khụ Mật độ cỏ thể động vật phự du cũng biến động theo mựa và theo từng phõn vựng khỏcnhau.
Bảng 2: Mật độ động vật đáy vùng cửa sông ven biển ĐB sụng Cửu Long
T
T Vựng Mật độ trong mựa mưa (tế bào/m3)
Mật độ trong mựa khụ (tế bào/m3)
Chỳ thớch : Vựng 1 từ Soài Rỏp đến đụng mũi Cà Mau, nam cửa Bồ Đề; vựng 2 từ đụng mũi Cà Mau đến
cửa Đồng Cựng; vựng 3 từ cửa sụng Bảy Hỏp đến cửa Hà Tiờn;
- chưa thống kờ.
2.6.4.3 Động vật đỏy (Zoobenthos)
Khu hệ động vật đỏy vựng cửa sụng ven biển Đồng bằng sụng Cửu Long đó xỏc định được
375 loài thuộc 9 ngành Ngành chõn khớp (Arthropoda) cú số loài phong phỳ nhất (138 loài, chiếm 36,8% tổng loài), ngành thõn mềm (Mollusca) cú mức độ đa dạng sinh học đứng thứ 2 (116 loài, chiếm 30,93% tổng loài), tiếp theo là ngành giun đốt (Annelida)
Mức độ đa dạng sinh học cũng chỉ tập trung vào một số lớp nhất định (xem bảng trước)
như, lớp giỏp xỏc (Crustacea) của ngành chõn khớp (arthopoda), lớp giun nhiều tơ (Polychaeta) thuộc ngành giun đốt (Annelida), lớp thõn mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), lớp thõn mềm chõn bụng (Gastropoda) thuộc ngành thõn mềm (Mollusca) Cỏc ngành động vật đỏy khỏc, mỗi ngành phổ
Trang 13g/m2 (tương ứng 172 con/m2) vào mùa mưa và 120,2 g/m2 (tương ứng với 204 con/m2) vào mùakhô Sinh vật lượng của động vật đáy thấp nhất cũng đạt 53,65 g/m2, trung bình đạt 393,7 g/m2 vàcao nhất lên tới 3.982,07 g/m2 Trong khi đó, sinh vật lượng động vật đáy vùng cửa sông ven biểnĐồng bằng sông Cửu Long trung bình chỉ đạt được 27,363 g/m2, tương ứng với mật độ 21,53con/m2 Sinh vật lượng động vật đáy vùng triều chủ yếu thuộc về các loài thuộc ngành thân mềm
(Mollusca), chiếm 68,59% về sinh khối và 88,53% về mật độ.
Xu thế biến đổi chung là vào mùa khô, sinh vật lượng động vật đáy thường cao hơn thời kỳmùa mưa Trung bình, sinh vật lượng động vật đáy Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô đạt33,6 g/m2, tương ứng với mật độ 386,3 con/m2, trong mùa mưa đạt 21,06 g/m2
Qui luật về sự biến đổi sinh vật lượng theo mùa luôn đúng với mọi vùng triều cửa sông Cácnghiên cứu đã chỉ ra rằng nguyên nhân chính làm suy giảm sinh vật lượng vào mùa mưa là do độmuối giảm xuống quá thấp, các loài sinh vật đáy vùng triều trong đó chủ yếu là thân mềm với khảnăng di động kém, đã không thích nghi được và bị chết Ngoài ra, nhiều nghiên cứu khác cho thấy,sinh vật đáy chết nhiều vào mùa mưa còn do sự biến động của nền đáy, độ đục tăng lên quá cao.Qua đó thấy rằng, sinh vật lượng của vùng tuy không bằng các vùng khác như tại cửa sông Hồng,cửa sông ven biển vùng Hải Phòng, Quảng Ninh, song thay vào đó, nơi đây lại đặc biệt giàu cónguồn mùn bã hữu cơ do tảo và thực vật ngập mặn đem lại Chỉ tính riêng lượng mùn bã do thựcvật ngập mặn cung cấp trung bình đã đạt được 0,973-5,545 g/m2/ngày Nguồn vật liệu này chính làđộng lực cho sự phát triển của thuỷ sinh vật trong vùng
2.6.4.4 Khu hệ cá (Fish fauna)
Các khảo sát đã chỉ ra rằng, khu hệ cá cửa sông Cửu Long gồm 155 loài, thuộc 58 họ, 15
bộ Cấu trúc nên khu hệ cá này gồm chủ yếu là các loài cá có nguồn gốc biển, trước hết là các loàithuộc bộ cá vược, sau đó đến bộ cá trích, cá bơn, cá đối (bảng dưới)
Phần lớn các loài cá gặp trong vùng cửa sông là những loài rộng nhiệt và rộng muối Các
loài tạo nên sản lượng khai thác cao như cá khoai (Harpodon nehereus), cá đối (Mugil), cá nhụ (Polynemtus), cá bống (Glossogobius, Tripauchen), cá bơn (Cynoglossus), cá lẹp (Thrissa), cá lành canh (Coilia) Có thể kết luận rằng thế mạnh về nuôi trồng thuỷ sản nước lợ của Đồng bằng sông
Cửu Long là đối tượng tôm và các loài nhuyễn thể, các loài thuỷ sản ưa nước lợ
Bảng 4: Số lượng các bộ, các họ và các loài cá vùng cửa sông ven biển Đồng bằng sông Cửu Long
Trang 14Nguồn : Vũ Trung Tạng, 1994, (trích trong báo cáo Quy hoạch của Viện Kinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản)
3 Đặc tính di cư của nguồn lợi cá trong lưu vực sông Mê kông
3.1 Đặc điểm di cư của cộng đồng cá sông Mê Kông
Sự di cư của các cộng đồng cá trên sông là một chỉ tiêu và cấu trúc quan trọng trong hệ sinhthái sông của hầu hết các dòng sông nhiệt đới
Về mặt khoảng cách di cư: Các cộng đồng cá trong sông thường thực hiện các chuyến di cưdài hàng trăm km để đến được các bãi sinh sản phù hợp, giàu dinh dưỡng (Bayley, 1973), trongmột số trường hợp đặc biệt, sự di cư này có thể diễn ra ở những khoảng cách hàng nghìn cây số(Barthem và Goulding, 1997) Theo nghiên cứu của UB sông Mê kông (2003), trong hệ thống sông
Mê kông, 2 hình thức di cư chủ yếu của các cộng đồng cá đã được phát hiện Thứ nhất, sự di cưdiễn ra trong phạm vi của dòng sông chính và các nhánh sông thường được gọi là sự di cư theochiều dọc Ngược lại, sự di cư của cá từ dòng sông chính và các dòng sông nhánh vào trong cáckhu đồng bằng châu thổ trong mùa lũ và sau đó quay trở lại dòng sông chính trong mùa khô đượcgọi là sự di cư theo chiều ngang hoặc di cư sang bên
Ngoài ra, một dạng di cư khác của các cộng đồng cá sông Mê kông cũng được xác định, đó
là sự di cư bị động, xuôi theo dòng nước hay sự trôi dạt của các loại ấu trùng cá Trong mùa lũ, ấutrùng của một số loài cá có thể trôi dạt hàng trăm km từ các bãi đẻ ở thượng nguồn xuống các bãi
nở trứng ở hạ lưu trong các cánh đồng châu thổ Tất cả các xu hướng di cư khác nhau này là mộtchuỗi trong vòng đời tự nhiên của các loài cá sông Rất nhiều loài, tại các thời điểm và giai đoạnkhác nhau trong vòng đời, đã thực hiện tất cả các loại di cư như vừa liệt kê ở trên Ví dụ, với nhiềuloài, sự di cư theo chiều dọc trong phạm vi dòng sông chính thường xảy ra tiếp theo sự di cư theochiều ngang từ các đồng bằng châu thổ quay trở về các dòng sông chính Về bản chất, những sự di
cư này thể hiện sự thích nghi của các cộng đồng cá sông đối với cuộc sống trong các dòng nước
Trang 15chẩy Trong phạm vi mỗi hệ thống sông, cá đã thích nghi với các điều kiện thuỷ văn đặc trưng của
di cư, lưu vực sông Mê kông có chức năng như là một hệ sinh thái lớn
Trong sông Mê kông, sự di cư của cá có những ảnh hưởng nhất định đến ngành thuỷ sản bởi
vì một phần sản lượng quan trọng của ngành thuỷ sản được dựa trên việc đánh bắt các loài cá di cư
Ví dụ, sản lượng đánh bắt cá di cư trên sông Mê kông bằng đăng (lot) ở Campuchia đã đóng góp
một phần quan trọng trong sản lượng khai thác thuỷ sản ở nước này (Lieng và CTV, 1995); hoặchoạt động khai thác nguồn lợi cá di cư trên sông Mê kông tại khu vực thác Khone của Lào là mộttrong những lĩnh vực và địa điểm khai thác thuỷ sản quan trọng của nước này (Baird, 1998;Singanouvong và CTV, 1996a và 1996b) Tuy nhiên, các hình thức khai thác này cũng là một trongnhững nguyên nhân gây suy giảm nguồn lợi thuỷ sản của sông Mê kông, do đã đánh bắt cả cácđoàn ấu trùng cá trôi nổi trong dòng nước, gây thiệt hại cho nguồn lợi cá di cư Ví dụ, trong khu
vực đồng bằng sông Mê kông của Việt nam, hàng triệu ấu trùng của cá tra (Pangasianodon
hypophthalmus) đã bị bắt hàng năm để đưa vào nuôi trong các ao hoặc lồng (MRC, 2003).
3.2 Các hệ sinh thái quan trọng đối với sự di cư của cá trong sông Mê kông
3.2.1 Các vùng nước sâu và ghềnh thác trong phạm vi dòng chảy chính của sông Mê
Mê kông về nguồn lợi cá di cư, năm 2003, hầu hết các ngư dân dọc sông được hỏi đều nhận thức
Trang 16được tầm quan trọng của các vũng, hồ sâu và các thác, ghềnh này đối với nguồn lợi cá đã cung cấpthực phẩm và thu nhập cho họ Bởi vậy, đa số họ đều biết rất rõ vị trí của các ghềnh, thác cũng nhưcác vùng nước sâu trong sông và thậm chí họ còn biết được mức độ sâu của từng nơi Bởi vậy, việcloại bỏ các ghềnh, thác này trên thượng nguồn sông Lan Thương-Mê kông trong Dự án cải tạo giaothông thuỷ (do 4 quốc gia thượng nguồn thực hiện) như đã đề cập ở trên sẽ gây nên các ảnh hưởngbất lợi cho nguồn lợi cá di cư, cũng như ảnh hưởng lên điều kiện sinh sống và thu nhập của cáccộng đồng ngư dân sống ven sông, đặc biệt là các cộng đồng người nghèo có thu nhập phụ thuộcchủ yếu vào nghề khai thác thuỷ sản trên sông.
3.2.2 Các đồng bằng cửa sông do nước lũ tạo thành
Với một vài ngoại lệ, các loài cá di cư của sông Mê kông thường có đời sống phụ thuộc vàocác khu vực ngập nước lũ trong một số giai đoạn trong vòng đời của chúng, đặc biệt là ở giai đoạn
ấu trùng hoặc giai đoạn cá con Như đã đề cập ở trên, sự di cư theo chiều ngang trong sông Mêkông xuất hiện như là một biểu hiện của sự thích ứng của cá đối với dòng chẩy để đảm bảo rằngcác con cái của các loài cá di cư này cuối cùng cũng đi đến được các khu vực đồng bằng sinh sốngmàu mỡ, ngập nước lũ Như vậy, các khu vực đồng bằng ngập nước trong mùa lũ có năng suất sinhhọc cao là những nơi sinh cư rất quan trọng của ấu trùng hoặc cá con trong quần đàn cá di cư, đó lànơi các cộng đồng cá di cư sinh sống một quãng đời nhất định của chúng Trong lưu vực sông Mêkông, các loại cánh đồng này tập trung chủ yếu ở khu vực trung và hạ nguồn sông, đặ biệt ở phíaNam của Campuchia và khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi dòng chẩy đổ vào tại thời điểmđầu mùa lũ và dòng chẩy chẩy ra khi đến mùa kiệt Cấu trúc dòng chẩy này là một đặc trưng quyếtđịnh dạng hình di cư của hầu hết các loài cá di cư của khu vực này
Đặc tính của các cánh đồng ngập lũ này có sự khác nhau giữa vùng hạ lưu và trung lưu củasông Mê kông Ở vùng hạ lưu (bao gồm phần phía Nam của Campuchia, hồ Tonle Sap và đồngbằng sông Cửu Long của Việt Nam), vùng đồng bằng ngập lũ có mối liên hệ trực tiếp với dòngsông chính, trong khi đó ở phía trung lưu, các cánh đồng này lại liên hệ với các nhánh của sông Mêkông Bởi vậy, ở vùng trung lưu của sông Mê kông, cộng đồng cá di cư chỉ có thể tới được cáccánh đồng ngập nước thông qua các nhánh sông và các dòng suối nhỏ Sự di cư ở vùng trung lưusông này xuất hiện ngay tại thời điểm nước lũ bắt đầu lên - khi mức nước của các nhánh sông nhỏ
và các dòng suối tăng lên, nhờ vậy, các cộng đồng cá này mới có thể tiến tới được các cánh đồngngập lũ Ngược lại, ở vùng hạ lưu sông, sự di cư của cá tới các cánh đồng này diễn ra khá dễ dàng,đơn giản chỉ là sự chuyển động xuôi dòng nước cho tới khi tới được các phần ngập của khu vựcđồng bằng
Trang 17Như vậy, bản chất di cư của cộng đồng cá ở lưu vực sông Mê kông chính là sự thích nghicủa chúng đối với các sự thay đổi của các yếu tố thuỷ văn học, đặc biệt là sự thay đổi của tốc độdòng chẩy và mức độ ngập nước của các hệ sinh thái giữa các mùa khô và lụt Hai thời điểm chủyếu của sự di cư (xuôi dòng và ngược dòng) chính là hai thời điểm nước lên và nước xuống củamùa lụt (thời điểm bắt đầu của mùa lụt và bắt đầu của mùa khô) Dự án cải tạo giao thông thuỷ trênthượng nguồn sông Mê kông sẽ làm thay đổi mức độ ngập nước của dòng sông cũng như thời điểmxuất hiện của các mốc quan trọng này, nên sẽ gây nên các ảnh hưởng đối với hoạt động di cư sinhsản và dinh dưỡng của các cộng đồng cá di cư này.
4 Đặc điểm kinh tế xã hội liên quan đến phát triển thuỷ sản vùng Dự
án và hạ lưu Dự án
Từ xa xưa, các cộng đồng dân cư dọc sông Mê kông, đặc biệt là ở vùng hạ lưu sông Mêkông ở 4 nước Việt nam, Campuchia, Lào và Thái Lan đã thể hiện một sự phụ thuộc lâu dài và sâusắc vào nguồn lợi thuỷ sản trong sông Cá và các sản phẩm từ cá ở vùng hạ lưu sông thể hiện giá trịkinh tế và dinh dưỡng cao cho các cộng đồng dân cư dọc sông Đây là nguồn dinh dưỡng quantrọng thứ hai sau lúa nước trong bữa ăn hàng ngày của người dân nơi đây, và là nguồn cung cấpdinh dưỡng Protein chủ yếu - tỷ lệ Protein được cung cấp từ cá là 40 – 80% trong bữa ăn hàng ngàycủa người dân (Caldwell, 1972 được trích dẫn trong FAO, 1976) Lượng cá tiêu thụ bình quân hàngnăm đầu người dao động từ 12 – 22 kg/năm/người trong cả 4 quốc gia Xét trên phương diện tổngthu nhập quốc nội của các quốc gia ven sông, ngành khai thác thuỷ sản trên sông Mê kông đã đónggóp từ 2 – 8% vào tổng sản phẩm quốc nội của các quốc gia này trong những năm 1970s (FAO,1976)
Những năm gần đây, mặc dù sự phát triển của công nghiệp thực phẩm và tiến bộ khoa học
kỹ thuật đã có ảnh hưởng tích cực đến đời sống và chế độ dinh dưỡng của người dân nông thôn,nhưng các sản phẩm thuỷ sản vẫn có vai trò nhất định đến đời sống dinh dưỡng và nghề nghiệp củacác cộng đồng dân cư các quốc gia ven sông Sverdrup-Jensen (2002 được trích trong FAO, 2002)
đã thống kê cho thấy sản lượng sản phẩm thuỷ sản tiêu thụ ở khu vực lưu vực sông Mê kông vàokhoảng 2,033 triệu tấn hàng năm cho một cộng đồng dân cư khoảng 56,3 triệu người Như vậy,bình quân tiêu thụ các sản phẩm thuỷ sản trên đầu người là 36 kg/người/năm, mức dao động là 10 –
89 kg/người/năm.Nghiên cứu của Kent G.Hortle và Simon R Bush (trích trong FAO, 2002) lại chothấy, sản lượng thuỷ sản tiêu thụ tại các cộng đồng dân cư ven sông Mê Kông cao hơn, khoảng 3triệu tấn/năm Điều này đã thể hiện được tầm quan trọng của nguồn lợi thuỷ sản trong các hệ sinhthái của sông Mê kông tới đời sống kinh tế và xã hội của người dân trong vùng lưu vực Bởi vậy,bất cứ một tác động tiêu cực nào tới nguồn lợi này đều sẽ dẫn đến các ảnh hưởng tiêu cực tới nghề
Trang 18cá sông và qua đó sẽ ảnh hưởng đến các cộng đồng dân cư này Sản lượng tiêu thụ của các cộngđồng dân cư ở một số quốc gia ven sông được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 5 : Mức tiêu thụ thuỷ sản bình quân đầu người ở các cộng đồng dân cư ven sông
(kg/người/năm)
Các cộng đồng dân cư Bình quân tiêu thụ các
sản phẩm thuỷ sản Bình quân tiêu thụ nhuyễn thể Bình quân tiêu thụ cá
Nguồn: Sverdrup-Jensen và Simon R Bush, 2002, trích trong FAO, 2002
Ngoài nguồn thực phẩm cho người dân, nguồn lợi cá sông Mê kông còn là nguồn xuất khẩucung cấp ngoại tệ cho các quốc gia ven sông Đặc biệt, các sản phẩm xuất khẩu của khu vực hạ lưusông Mê kông như cá tra, cá ba sa đông lạnh của Việt Nam sang Mỹ, Nhật, EU và cá ba sa, cá tratươi sống của Campuchia sang Thái Lan và các nước khác đã đóng góp đáng kể vào nguồn thungoại tệ của các quốc gia này
Đặc điểm kinh tế-xã hội của ngành thuỷ sản nội địa, đặc biệt là nghề cá sông của các quốcgia lưu vực sông Mê kông sẽ được phân tích trong phần tiếp theo để có thể thấy rõ được các mốiliên hệ giữa các điều kiện phát triển kinh tế này với sự phát triển ngành thuỷ sản của các quốc gia
4.1 Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có lịch sử phát triển ngành thuỷ sản lâu đời trong khu vực.Hoạt động sản xuất thuỷ sản nội địa đã xuất hiện cách đây trên 3000 năm Hiện nay, sản xuất thuỷsản nước ngọt (trong ao, hồ, sông suối) đặc biệt là nuôi trồng thuỷ sản đã có những bước tiến đáng
kể và đạt đến trình độ sản xuất tiến bộ Từ năm 1991, sản lượng nuôi trồng thuỷ sản trong các thuỷvực nước ngọt tăng rất nhanh so với khai thác nội địa Theo số liệu của FAO (1995), tổng sảnlượng nuôi trồng thuỷ sản Trung Quốc năm 1992 mới đạt 7,76 triệu tấn Loại hình mặt nước sông,suối chủ yếu được đưa vào để khai thác, đánh bắt cá, tôm tự nhiên và nuôi cá theo hình thức lồng
bè Đến năm 1999, tổng sản lượng thuỷ sản của Trung Quốc đã tăng lên 41 triệu tấn, trong đó có16,5 triệu tấn từ thuỷ sản nước ngọt với 2,28 triệu tấn từ đánh bắt nước ngọt (chủ yếu từ các sông,suối, hồ lớn) và 14,2 triệu tấn từ nuôi nước ngọt (FAO, 2002) Từ số liệu thống kê năm 1999, cáchoạt động nuôi trong các ao, hồ nhỏ chiếm khoảng 30% trong sản lượng nuôi thuỷ sản nước ngọtnội địa, khoảng 28% là nuôi cá kết hợp trong các cánh đồng lúa và 22% là từ các hồ chứa