Tuy nhiên, chất lượng con giống cá Rô phi đỏ đang trong tình trạng thoái hóa do các cơ sở sản xuất giống chọn cá bố mẹ từ nguồn cá thương phẩm và do đặc tính mắn đẻ của loài nên hiện nay
Trang 1_
Võ Thanh Phương
ĐÁNH GIÁ VẬT LIỆU BAN ĐẦU
TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 2TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HỒ CHÍ MINH
_
Võ Thanh Phương
ĐÁNH GIÁ VẬT LIỆU BAN ĐẦU
TĂNG TRƯỞNG TẠI VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS NGUY ỄN TƯỜNG ANH
TS NGUY ỄN VĂN SÁNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2012
Trang 3Để có được kết quả này là nhờ các tập thể và các cá nhân đã giúp đỡ tôi trong
thời gian tôi học tập và làm đề tài nghiên cứu khoa học này
Đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Văn Sáng và PGS
TS Nguyễn Tường Anh đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn để tôi hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Tôi có được kiến thức như ngày nay là nhờ công ơn to lớn của quý thầy cô đã
tận tình giảng dạy tôi Nhân đây, tôi xin gửi lời tri ân đến tất cả quý thầy cô đã cung
cấp cho tôi kiến thức
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Ban lãnh đạo Sở GD - ĐT Bạc Liêu và Ban giám
hiệu Trường THPT Lê Thị Riêng đã quan tâm, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi được học Cao học và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến cán bộ, quý thầy cô Khoa Sinh học và Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận
lợi cho tôi suốt 2 năm học Cao học tại đây
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể anh, chị em Trung tâm Quốc gia Giống
Thủy sản Nước ngọt Nam bộ thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian tôi làm đề tài nghiên cứu ở đây
Nhân đây tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn sự giúp đỡ và động viên của cha mẹ, anh chị em ở hai bên gia đình và tất cả các bạn bè, đồng nghiệp trong thời gian tôi học Cao học và làm luận văn này
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu của đề tài 2
3 Nội dung nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Nguồn gốc và phân loại cá rô phi 3
1.2 Đặc điểm sinh học cá rô phi 5
1.3 Tình hình nuôi cá Rô phi đỏ 8
1.4 Một số chương trình chọn giống trên cá rô phi 9
1.5 Hiện trạng về vật liệu chọn giống cá rô phi đỏ 10
1.6 Phương pháp thành lập quần thể ban đầu cho các đối tượng chọn giống thủy sản 12
1.7 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cá 14
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 18
2.2 Vật liệu nghiên cứu 18
2.3 Phương pháp nghiên cứu 18
Chương 3 KẾT QUẢ - THẢO LUẬN 35
3.1 Kết quả nuôi vỗ để lai hỗn hợp giữa 4 dòng cá nhập nội 35
3.2 Kết quả ghép cặp – lai hỗn hợp tạo 16 tổ hợp lai 36
3.3 Kết quả ương cá con của 16 tổ hợp lai 38
3.4 Kết quả cân, đo khi đánh dấu để nuôi tăng trưởng ở môi trường nước ngọt và nước lợ mặn 38
3.5 Kết quả thuần dưỡng ở độ mặn và nuôi tăng trưởng trong môi trường lợ mặn – quy mô thí nghiệm 41
3.6 Kết quả nuôi so sánh tăng trưởng của 16 tổ hợp lai trong môi trường nước ngọt và lợ mặn 41
3.7 Kết quả khảo sát ưu thế lai của các tính trạng trên các dòng cá rô phi đỏ nuôi ở 2 môi trường nước ngọt và lợ mặn 46
K ẾT LUẬN – ĐỀ NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Đề nghị 50
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 51
PH Ụ LỤC i
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái [6] 7
Bảng 2.1 Các cấp độ thành thục của cá rô phi cái và thời gian tương ứng đến khi cá đẻ [32] 20
Bảng 2.2 Phép lai tạo nên 16 tổ hợp cá từ bốn dòng cá rô phi đỏ 21
Bảng 2.3 Thức ăn cho cá nuôi cộng đồng của 16 tổ hợp lai 30
Bảng 3.1 Kết quả nuôi vỗ để cho lai hỗn hợp của 4 dòng cá rô phi đỏ 35
Bảng 3.2 Kết quả ghép cặp – lai hỗn hợp tạo 16 tổ hợp lai 36
Bảng 3.3 Kết quả ấp trứng của 16 tổ hợp lai 37
Bảng 3.4 Kết quả cân, đo khi đánh dấu của 16 tổ hợp lai để nuôi tăng trưởng ở môi trường nước ngọt 39
Bảng 3.5 Kết quả cân, đo khi đánh dấu của 16 tổ hợp lai để nuôi tăng trưởng ở môi trường nước lợ mặn 40
Bảng 3.6 Kết quả nuôi so sánh tăng trưởng của 16 tổ hợp lai ở môi trường nước ngọt 42
Bảng 3.7 Kết quả nuôi so sánh tăng trưởng của 16 tổ hợp lai ở môi trường nước lợ mặn 43
Bảng 3.8 Kết quả LSMEANS (Least Squares Means) của một số tính trạng khảo sát trên 16 tổ hợp lai ở môi trường nước ngọt 44
Bảng 3.9 Kết quả LSMEANS (Least Squares Means) của một số tính trạng khảo sát trên 16 tổ hợp lai ở môi trường nước lợ mặn 45
Bảng 3.10 Kết quả khảo sát ưu thế lai (H%) của các tính trạng trên các dòng cá Rô phi đỏ nuôi ở môi trường nước ngọt 46
Bảng 3.11 Kết quả khảo sát ưu thế lai (H%) của các tính trạng trên các dòng cá Rô phi đỏ nuôi ở môi trường nước lợ mặn 47
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Bàn đo cá 14
Hình 1.2 Các loại dấu từ và máy dò dấu cầm tay 17
Hình 2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ trong giai đặt dưới ao 19
Hình 2.2 Cho cá sinh sản trong bể xi măng 21
Hình 2.3 Ấp trứng cá Rô phi đỏ bằng bình ấp 23
Hình 2.4 Giai đoạn cá bột của cá rô phi đỏ 24
Hình 2.5 Các tổ hợp lai được ương trong giai đặt dưới ao 25
Hình 2.6 Cá được chuẩn bị để đánh dấu 26
Hình 2.7 Dấu PIT dùng để đánh dấu cá Rô phi đỏ 27
Hình 2.8 Cân, đo cá khi đánh dấu 27
Hình 2.9 Đánh dấu cá Rô phi đỏ 28
Hình 2.10 Nuôi cộng đồng 16 tổ hợp lai tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam bộ 29
Hình 2.11 Dò dấu PIT trong xoang bụng cá 33
Hình 2.12 Cân, đo cá khi thu hoạch 33
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cá Rô phi đỏ (Oreochromis spp.) có tên gọi thông thường là cá Điêu hồng
Đây là kiểu hình cá đang được các nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam ưa chuộng và đang được phát triển nuôi rộng rãi với hình thức nuôi đa dạng như nuôi đơn trong ao đất; trong lồng, bè hay nuôi ghép với các loài cá khác Điểm nổi bật của cá Rô phi đỏ là vảy trên thân có màu vàng đậm hoặc nhạt, hay màu đỏ hồng
Cũng có thể gặp những cá thể có vảy màu vàng, màu hồng xen lẫn những vảy màu đen
Cá Rô phi đỏ được quan tâm và phát triển có lẽ do màu sắc của nó thu hút người tiêu dùng, đặc biệt là người Hoa Ngoài màu đỏ được ưa chuộng, cá Rô phi
đỏ còn có một ưu điểm khác là phía trong thành bụng không có màu đen như những
cá rô phi thuần chủng [1] Cá Rô phi đỏ thường được bán cao giá hơn cá rô phi vằn
hoặc cá rô phi đen [20], [23], [27], [31] Do vậy cá Rô phi đỏ được nuôi phổ biến tại châu Á, Trung và Nam Mỹ Tại Việt Nam, cá Rô phi đỏ là đối tượng nuôi phổ biến
ở Nam Bộ, có lẽ chỉ sau cá tra [10] Tuy nhiên, chất lượng con giống cá Rô phi đỏ đang trong tình trạng thoái hóa do các cơ sở sản xuất giống chọn cá bố mẹ từ nguồn
cá thương phẩm và do đặc tính mắn đẻ của loài nên hiện nay giống cá Rô phi đỏ tại đây có tốc độ tăng trưởng thấp và khả năng kháng bệnh kém, do đó làm tăng chi phí sản xuất Thêm vào đó, cá có màu sắc không thuần nhất, đôi khi lẫn nhiều đốm đen
đã làm giảm giá trị của sản phẩm
Để phát triển nghề nuôi cá Rô phi đỏ một cách có hiệu quả và bền vững, ngoài
việc giải quyết vấn đề thị trường tiêu thụ thì việc tạo con giống có chất lượng cao để tăng năng suất, hạ giá thành, tăng tính cạnh tranh là rất cần thiết Để có được con giống có chất lượng cao thì cần phải chọn giống Trước khi tiến hành chọn giống, nhà chuyên môn cần phải thành lập quần thể ban đầu với độ da dạng di truyền cao,
có tính trạng quan tâm tốt Qua đó, nhà chuyên môn phải đánh giá được vật liệu ban
đầu để phục vụ cho công tác chọn giống lâu dài
Trang 8Đề tài “Đánh giá vật liệu ban đầu phục vụ chọn giống cá Rô phi đỏ
(Oreochromis spp.) theo tính trạng tăng trưởng tại Việt Nam” nhằm tạo ra con
giống có chất lượng cao để cung cấp cho người nuôi Đề tài luận văn Cao học này là
một nội dung của đề tài cấp Nhà nước - “Đánh giá các thông số di truyền và hình
thành vật liệu ban đầu cho chọn giống cá Rô phi đỏ (Oreochromis spp.), 2010 – 2012” thuộc đề án phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học trong lĩnh vực thủy sản đến năm 2020 được thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
2 Mục tiêu của đề tài
Nâng cao tốc độ sinh trưởng của cá Rô phi đỏ (Oreochromis spp.) nuôi trong
môi trường nước ngọt và lợ mặn
3 N ội dung nghiên cứu
Đánh giá biểu hiện của các tính trạng (tốc độ tăng trưởng, màu sắc và tỷ lệ sống) của các 16 tổ hợp lai từ 4 dòng cá Rô phi nhập nội
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Nguồn gốc và phân loại cá rô phi
1.1.1 Nguồn gốc cá rô phi
So với các loài cá khác, cá rô phi sớm gần gũi với con người hơn Hình ảnh cá
rô phi đã có ở các bức khắc trên đá trong các kim tự tháp ở Ai Cập Cá rô phi cũng được con người đưa vào nuôi đầu tiên vào năm 1924 và sau đó được nuôi rộng rãi trên thế giới vào những năm 1940 - 1950, nhất là ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, thậm chí chỉ vài chục năm gần đây nghề nuôi cá rô phi mới thực sự phát triển
mạnh mẽ, trở thành một ngành nuôi có qui mô công nghiệp, cho sản lượng thương
phẩm lớn và đạt hiệu quả kinh tế cao Nói chung, cá rô phi có nguồn gốc từ châu Phi [13]
1.1.2 Phân loại cá rô phi
Năm 1964, người ta mới biết khoảng 30 loài cá rô phi, đến nay con số đã lên đến khoảng 80 loài, trong đó chỉ có trên 10 loài có giá trị kinh tế trong nuôi trồng
thủy sản Loài cá rô phi bé nhất là Tilapia grahami ở hồ Magadi của Kênya (châu
Phi), khi thành thục cá chỉ dài 5cm và nặng 13 gam Loài cá rô phi có cỡ lớn nhất là
rô phi vằn Oreochromis niloticus, gốc ở hồ Rudol (nằm ở ranh giới giữa 3 nước:
Kênya, Êtiôpi và Suđăng) cá có thể đạt chiều dài trên 64cm và nặng tới 7 kg [13]
Cá rô phi thuộc Bộ cá vược (Perciformes), họ cá Rô phi (Cichlidae) Cá rô phi
đã được đổi tên gọi nhiều lần Cho đến năm 1968, tất cả những loài cá rô phi có một
chấm đen ở cuối vây lưng (chấm tilapia) đều được xếp chung vào một giống Tilapia
và đến năm 1973, Trewavas đề nghị tách thành hai giống mới: thứ nhất là giống
Tilapia bao gồm các nhóm cá rô phi ăn thực vật bậc cao, đẻ ở đáy, lược mang thưa Giống thứ hai bao gồm những loài cá rô phi ăn phiêu sinh thực vật, cả cá đực và cá
cái đều ấp trứng và con trong miệng được gọi là Sarotherodon Đại diện cho giống
này là rô phi vằn và rô phi đen Tuy nhiên dựa theo cơ sở di truyền và tập tính sinh
sản thì hiện nay có 3 giống rô phi, đó là giống Tilapia, giống Sarotherodon và giống
Trang 10Oreochromis Cá thu ộc giống Oreochromis chỉ có cá cái ấp trứng và cá bột trong
miệng
Những loài cá rô phi hiện đang được nuôi phổ biến là Oreochromis
mossambicus (rô phi đen), Oreochromis niloticus (rô phi vằn hay rô phi sông Nil – Nile Tilapia) và Oreochromis aureus (rô phi xanh - Blue Tilapia)
* Loài O mossambicus: toàn thân phủ vảy Vảy ở phần lưng có màu xám tro đậm hoặc xanh đen nhạt, phần bụng có màu trắng xám hoặc xám ngà Trên thân có
từ 6 - 8 vạch sắc tố màu xanh đen xen lẫn sắc tố màu tím chạy từ lưng tới bụng
Những vạch sắc tố ở các vây không rõ ràng Tuy nhiên do công tác quản lý giống không tốt nên hiện nay không còn cá rô phi đen thuần chủng
* Loài O niloticus: toàn thân phủ vảy Vảy ở phần lưng có màu sáng vàng
nhạt hoặc xám nhạt, phần bụng có màu trắng ngà hoặc màu vàng nhạt Trên lưng có
từ 6 - 8 vạch sắc tố chạy từ lưng tới bụng Các vạch sắc tố ở các vây đuôi, vây lưng
rõ ràng [6]
1.1.3 Nguồn gốc cá rô phi đỏ
Cá Rô phi đỏ thường có cha là dạng đột biến (mutant) lặn màu đỏ của loài
Oreochromis mossambicus Còn mẹ thì cũng cùng giống ấy nhưng có thể thuộc
những loài khác Vì vậy, cá Rô phi đỏ không có tên loài cụ thể mà có thể gọi tên
giống của những con cá này là Oreochromis Tất cả chúng có cái tên tiếng Anh là
Red Tilapia – Rô phi đỏ [1]
Cá Rô phi đỏ (Oreochromis spp.) lần đầu tiên được phân lập ở Đài Loan trong
những năm 70 của thế kỷ trước từ thế hệ lai giữa con màu đỏ O mossambicus với
con màu hoang dạicủa rô phi từ sông Nil O niloticus [1] Từ phát hiện này, một
quần thể cá Rô phi đỏ đầu tiên được phát triển tại Viện Nghiên cứu Thủy sản Đài Loan [24] Có nhiều dòng rô phi đỏ, ngoài dòng Rô phi đỏ Đài Loan như đã nói còn
có những dòng khác như Rô phi đỏ Florida được tạo ra bằng cách lai giữa 2 loài cá
rô phi, đó là cá rô phi xanh (O aureus) x cá rô phi Zanzibar (O urolepis hornorum)
[19] Một dòng Rô phi đỏ khác từ Mỹ là con lai của rô phi xanh (O aureus) x rô phi
Trang 11vằn (O niloticus) Rô phi đỏ dòng từ Philippines có nguồn gốc từ Singapore Ở
vương quốc Anh có dòng Stirling Red Niloticus [1] Do vậy, các tác giả ([30], [31])
khi đề cập đến cá Rô phi đỏ chỉ trích dẫn là con lai của cá rô phi đen hoặc cá rô phi
vằn mà không giải thích gì thêm Tóm lại, cá Rô phi đỏ không phải là một loài cá rô
phi riêng biệt mà chỉ là con lai giữa hai (tối đa 4) loài cá rô phi khác nhau thuộc
giống Oreochromis
1.2 Đặc điểm sinh học cá rô phi
1.2.1 Đặc điểm dinh dưỡng
Tất cả các loài cá rô phi đều có tính ăn tạp, tuy nhiên thức ăn ưa thích của cá
rô phi là những sinh vật thủy sinh lơ lửng trong nước Ngoài ra, cá rô phi còn sử
dụng trực tiếp những thức ăn do con người cung cấp như cám, tấm; các loại rong
bèo (bèo tấm, bèo hoa dâu) Đây là đặc điểm rất thuận lợi cho nghề nuôi cá [6]
1.2.2 Đặc điểm sinh sản
Cá có tập tính làm tổ đẻ ở đáy ao (do con đực làm tổ) Cá thường chọn những
nơi có mực nước từ 0,3 - 0,6m, đáy ao có ít bùn để làm tổ Đường kính tổ phụ thuộc
vào kích thước con đực Sau khi làm tổ xong, cá tự ghép đôi và đẻ trứng Cá đẻ
nhiều lần trong năm Khoảng cách giữa hai lần đẻ trứng là 20 - 30 ngày Số trứng
trong một lần đẻ phụ thuộc vào kích thước cá cái, cá càng lớn số trứng đẻ ra trong
một lần càng nhiều và ngược lại Trung bình một cá cái có trọng lượng 200 - 250
gam đẻ được 1000 - 2000 trứng [6]
Ở miền Bắc, cá rô phi không sinh sản khi nhiệt độ thấp từ tháng 11 đến tháng
3 năm sau Những cá thể có độ tuổi từ 6 tháng đến 1 năm có số lần đẻ nhiều hơn so
với những cá thể già từ 2 năm tuổi trở đi Quan sát buồng trứng cá rô phi cho thấy,
trong buồng trứng lúc nào cũng có trứng ở các giai đoạn khác nhau [5]
Sau khi đẻ xong cá cái ngậm trứng trong miệng và cá con mới nở trong miệng
(cá con được giữ trong miệng đến khi hết noãn hoàng) Trong thời gian ngậm trứng
Trang 12và nuôi con, cá cái không bắt mồi, vì vậy cá không lớn Cá chỉ bắt mồi trở lại khi đã
giải phóng hết cá con trong miệng [6]
Phân bi ệt cá rô phi đực và cá rô phi cái
Có 3 nguyên tắc chính để phân biệt cá đực và cá cái, đó là sự khác nhau của đặc điểm sinh dục chính (tức đặc điểm sinh dục sơ cấp), đặc điểm sinh dục phụ (đặc điểm sinh dục thứ cấp) và đặc điểm hình thái do gen nằm trên nhiễm sắc thể giới tính quy định
Đặc điểm sinh dục sơ cấp chính là tinh sào và buồng trứng cùng hệ thống ống
dẫn và lỗ niệu sinh dục Đến mùa sinh sản, đa số cá đực thành thục có tinh và dễ dàng phóng thích tinh dịch khi được vuốt nhẹ bụng từ phía đầu hướng về phía đuôi
Cá cái thành thục tốt thì có bụng to, mềm, lỗ sinh dục cá có màu hồng và hơi cương lên Tuy nhiên, những cá trưởng thành trong thời gian ngoài mùa sinh sản thì khó phân biệt đực cái theo các đặc điểm trên Người ta có thể phân biệt đực cái theo số
lỗ phía bụng của cá Ở các loài cá xương, con đực có ống dẫn tinh và ống niệu (ống
dẫn nước tiểu) hợp lại thành một trước khi thoát ra ngoài Ở cá cái, ống dẫn trứng
và ống niệu có lỗ thoát ra ngoài độc lập Vì thế nếu quan sát kỹ có thể thấy bụng cá cái có 3 lỗ kể từ phía đầu là hậu môn, lỗ sinh dục và lỗ niệu Ở cá đực, phía trước là
hậu môn, lỗ niệu và lỗ sinh dục chung ở phía sau [2]
Đến thời kỳ thành thục, các đặc điểm sinh dục phụ (đặc điểm sinh dục thứ
cấp) của cá rô phi vằn rất rõ, có thể dễ dàng phân biệt được cá đực và cá cái Cá đực
có màu hồng hoặc hơi đỏ ở dưới cằm, viền vây ngực và vây đuôi, khi đó cá cái có màu hơi vàng Cá cái có xoang miệng hơi trễ xuống Ở cá đực có lỗ niệu sinh dục
và lỗ hậu môn; đầu thoát lỗ niệu dạng lồi, hình nón dài và nhọn Ở cá cái có lỗ niệu,
lỗ sinh dục và lỗ hậu môn; lỗ niệu và lỗ sinh dục gần nhau, dạng tròn hơi lồi và không nhọn (Bảng 1.1)
Trang 13Bảng 1.1 Phân biệt cá rô phi đực và cá rô phi cái [6]
Đặc điểm
phải ngậm trứng và con
Màu sắc Vây lưng và vây đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn
Cơ quan sinh dục Có 2 lỗ: lỗ niệu sinh dục và lỗ
1.2.3 Đặc điểm sinh trưởng
Sau một tháng tuổi, cá con có thể đạt trọng lượng 2 - 3 gam/con và sau
khoảng 2 tháng tuổi có thể đạt 10 - 12 gam/con Cá cái chậm lớn hơn sau khi sinh
sản trong khi đó cá đực vẫn lớn bình thường Vì vậy, trong đàn cá rô phi thì bao giờ
cá đực cũng có kích thước lớn hơn cá cái Sau khoảng 5 - 6 tháng nuôi, cá rô phi
vằn đực có thể đạt 200 - 250 gam/con và cá cái có thể đạt 150 - 200 gam/con [6]
1.2.4 Cá Rô phi đỏ
Cá Rô phi đỏ được phân biệt dễ dàng với các kiểu hình cá rô phi khác theo
màu sắc Vảy trên thân cá Rô phi đỏ có màu vàng đậm hoặc vàng nhạt, hoặc đỏ
hồng cũng có thể gặp những cá có màu vàng, màu hồng xen lẫn những vảy màu đen
nhạt [6]
Ngoại hình cá Rô phi đỏ cũng tương tự như cá rô phi vằn ở các chỉ tiêu hình
thái đo đếm như chiều cao thân, chiều dài đầu, đường kính mắt, số gai cứng vây
lưng, số tia vây lưng mềm, số tia vây hậu môn và số cung mang [28] Ngoài ra, các
chỉ tiêu sinh trưởng và sinh sản của cá Rô phi đỏ cũng giống như cá rô phi vằn Đặc
biệt, dòng Rô phi đỏ Florida (O urolepis hornorumx O mossabicus) có thể chịu
được độ mặn đến 37 ‰ Cá nuôi ở độ mặn càng cao ít hiếu chiến, ít bị thương tích,
Trang 14có tỷ lệ sống cao và tăng trưởng nhanh hơn so với cá được nuôi ở độ mặn thấp [1] Ngoài ra, cá Rô phi đỏ còn có một số đặc điểm nổi trội như:
- Chịu ngưỡng oxy thấp tới 0,45 mg/l
- Chịu được pH: 5 - 9, thích hợp nhất là 6,8 - 8,3
- Chịu được trong một thời gian ngắn ở nhiệt độ thấp, đến 70
C và cao nhất là
400C; ngưỡng nhiệt độ bình thường 18 - 350C, thích hợp nhất là 25 - 320C
- Tốc độ lớn khá cao: nuôi năm đầu đạt 0,5 - 0,6 kg/con, năm thứ hai đạt 0,9 - 1,0 kg/con Chất lượng thịt ngon hơn cá rô phi lai xanh – vằn Trong chu kỳ nuôi,
tốc độ tăng trọng 3,2 - 4 gam/ngày [7]
1.3 Tình hình nuôi cá Rô phi đỏ
1.3.1 Tình hình nuôi cá Rô phi đỏ trên Thế giới
Mặc dù có nguồn gốc từ châu Phi, nhưng cá rô phi đã được di giống và nuôi thương phẩm ở trên 100 nước trên thế giới Hiện nay, cá rô phi là nhóm cá được nuôi phổ biến thứ 2 trên thế giới, chỉ sau nhóm cá chép Sản lượng cá rô phi nuôi không ngừng tăng lên và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện nguồn dinh dưỡng cho người nghèo Tính đến năm 2007, sản lượng cá rô phi nuôi
của thế giới là 2.121.010 tấn, gấp đôi năm 2001 Trong đó, Trung Quốc là quốc gia
có sản lượng cá rô phi dẫn đầu [12]
Cá Rô phi đỏ hiện được nuôi phổ biến tại Châu Á, Trung và Nam Mỹ Theo Azhar, H (2008) [15], tại Malaysia, cá Rô phi đỏ chiếm khoảng 90% tổng sản lượng cá rô phi nuôi Năm 1998, sản lượng cá Rô phi đỏ là 8.214 tấn và đến năm
2003 sản lượng đạt 20.061 tấn
1.3.2 Tình hình nuôi cá Rô phi đỏ ở Việt Nam
Năm 1994, Trường đại học Cần Thơ và Trường Đại học Nông nghiệp 4 thành
phố Hồ Chí Minh nhập giống cá Rô phi đỏ từ Thái Lan, đến nay giống cá này đã được sản xuất nuôi phổ biến ở nhiều tỉnh như: An Giang, Đồng Tháp, Tiền Giang,
Trang 15Đồng Nai, Vĩnh Long… Cá Rô phi đỏ được nuôi trong bè (cỡ 6 x 6 x 3m) tại Đồng Tháp, với mật độ 100 - 150 con/m3
, dùng thức ăn công nghiệp (hệ số thức ăn là 2,0
- 2,2) Sau 8 - 10 tháng, cá đạt 0,5 - 1 kg/con, năng suất 5 - 8 tấn/bè Năm 2001, Đồng Tháp xuất 100 tấn cá philê Rô phi đỏ sang Israel và Mỹ [7]
1.4 Một số chương trình chọn giống trên cá rô phi
Hiện đã có nhiều chương trình chọn giống được thực hiện trên cá rô phi
Chẳng hạn, chương trình chọn giống trên cá rô phi vằn (O niloticus) dòng GIFT
(Genetically Improved Farmed Tilapia) tập trung vào tính trạng tăng trưởng, với nhiều phương pháp chọn lọc: chọn lọc cá thể [25], [26] hoặc chọn lọc gia đình [16]
hoặc chọn lọc gia đình kết hợp với kỹ thuật luân chuyển cách ghép đôi cá thể [17]
Kết quả được các tác giả ghi nhận là chọn lọc cá thể trên cá rô phi không đem lại
hiệu quả Do vậy, cần phải áp dụng phương pháp chọn lọc gia đình
Trong số các chương trình chọn giống trên cá rô phi thì chương trình GIFT được biết nhiều nhất Chương trình chọn giống thuộc dự án GIFT (nâng cao chất lượng di truyền cá rô phi nuôi) đã được Trung tâm quốc tế về quản lý nguồn lợi
thủy sản thực hiện trong 10 năm (1988 – 1997) dưới sự tài trợ của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB); có sự tham gia của Trung tâm Cá Thế giới (WorldFish Center), AKVAFORSK và một số cơ quan nghiên cứu Thủy sản Philippines [16], [29]
Trên cơ sở lai chéo giữa các quần thể O niloticus tự nhiên ở châu Phi và các
quần thể cá thuần hóa ở các quốc gia châu Á, kết quả chọn lọc đã tạo ra cá rô phi dòng GIFT có tốc độ sinh trưởng tăng 60% và tỷ lệ sống tăng 40% so với các dòng
cá O niloticus ở Philippines [32] Trên cơ sở của dòng GIFT Philippines, việc chọn
giống được tiếp tục thực hiện ở các quốc gia châu Á nhằm tạo ra các dòng cá có các
biểu hiện và tính thích nghi tốt hơn Cá rô phi dòng GIFT có khả năng chịu lạnh,
một dòng cá do Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I sản xuất, là kết quả chọn
lọc đồng thời nhiều tính trạng trên cá rô phi dòng GIFT [4]
Trang 16Con giống đã cải thiện di truyền của dòng GIFT được phát tán để nuôi thử nghiệm ở nhiều nơi trên thế giới [18], cũng như được phát tán để tiếp tục chọn
giống ở các điều kiện địa phương khác nhau Kết quả cho thấy cá rô phi dòng GIFT tăng trưởng cao hơn 40 – 60% so với cá rô phi sẵn có tại các địa điểm phát tán Ngoài ra, chương trình chọn giống GIFT cũng cho thấy việc đầu tư vào chọn giống
là có hiệu quả kinh tế, cũng như những hiệu quả to lớn khác về mặt xã hội mà cá rô phi vằn dòng GIFT mang lại [14]
1.5 Hiện trạng về vật liệu chọn giống cá rô phi đỏ
1.5.1 Hiện trạng về vật liệu chọn giống cá Rô phi đỏ trên Thế giới
Năm 2004, trung tâm di truyền AKVAFORSK (AKVAFORSK Genetics Center AS – AFGC) đã thực hiện một chương trình chọn giống trên cá Rô phi đỏ tại Ecuador Kết quả đã chọn lọc được 2 thế hệ Quần thể cá Rô phi đỏ tại Ecuador được tập hợp từ 7 dòng cá khác nhau, bao gồm: dòng Colombia F3G, dòng Colombia F3S, dòng Israel, dòng Jamaica F3G, dòng mix reproduction, dòng Modercorp xdòng Colombia và dòng Tilapia Negra Estero Việc lai giữa các dòng sau đó tạo ra các gia đình đầu tiên để chọn lọc Mục tiêu của chương trình này là nâng cao tăng trưởng và tỷ lệ philê cho cá Rô phi đỏ nuôi trong vùng nước lợ, mặn (đến 25 ‰) Tuy nhiên, kết quả này hiện chưa được công bố [21]
Trung tâm cá Thế giới đã khảo sát sự khác biệt về mặt di truyền của tính trạng tăng trưởng đối với ba dòng cá Rô phi đỏ từ Malaysia, Thái Lan và Đài Loan Kết
quả cho thấy: dòng cá Malaysia tăng trưởng tốt nhất, sau đó đến dòng Đài Loan và
cuối cùng là dòng Thái Lan Sau khi khảo sát, các nhà chọn giống đã lai hỗn hợp
nhằm đánh giá dòng, từ đó hình thành một quần thể hỗn hợp cá Rô phi đỏ phục
vụcông tác chọn giống [15]
Một số chương trình chọn giống khác trên cá Rô phi đỏ theo phương pháp cá
thể, tập trung vào tính trạng tăng trưởng và màu đỏ Kết quả sau 3 thế hệ chọn lọc
đã cải thiện đáng kể màu đỏ của cá mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng
Trang 17Sau 5 thế hệ chọn lọc đã tăng được tỷ lệ cá đỏ trong quần thể ban đầu từ 5,6% lên đến 100% ở thế hệ thứ 5 [20]
1.5.2 Hiện trạng về vật liệu chọn giống cá Rô phi đỏ ở Việt Nam
Cá Rô phi đỏ là một đối tượng nuôi được ưa chuộng hiện nay ở Việt Nam vì
có màu sắc đẹp, thịt ngon và tăng trưởng nhanh Cá được di nhập lần đầu tiên vào năm 1991 từ Thái Lan Do nhu cầu ngày càng tăng, các dòng cá Rô phi đỏ Israel và Malaysia cũng đã được di nhập vào những năm 1995 - 1996 Nhiều cơ sở nuôi cũng
đã nhập cá Rô phi đỏ từ Philippines và Cuba [11]
Cá Rô phi đỏ tại Việt Nam có nguồn gốc chủ yếu từ cá thương phẩm Tuy nhiên, các trại sản xuất giống và người nuôi thường có thói quen sử dụng các dòng
cá hiện có mà không quan tâm đến nguồn gốc, sự biểu hiện các tính trạng và khả năng tái lập quần đàn nên chất lượng con giống đang trong tình trạng thoái hóa
Biểu hiện: cá tăng trưởng thấp, kháng bệnh kém đã làm tăng chi phí sản xuất Bên
cạnh đó, cá Rô phi đỏ hiện nay có màu không thuần, đôi khi lẫn nhiều đốm đen làm
giảm giá trị của sản phẩm Kết quả khảo sát cá Rô phi đỏ nuôi ở Đồng Tháp, Vĩnh Long và Tiền Giang cho thấy tần số xuất hiện cá có đốm đen trung bình là 2,4%; nhiều cơ sở nuôi ở Đồng Tháp, cá có tần số xuất hiện đốm đen lên đến 10%, đây là
một biểu hiện phân ly tính trạng khi sử dụng con lai làm cá bố mẹ [4]
Do đó, nhu cầu chọn được con giống Rô phi đỏ có chất lượng (tăng trưởng nhanh, màu đỏ đẹp, tỷ lệ sống cao, sức khỏe tốt, ít bệnh) là một đòi hỏi cấp thiết của nghề nuôi cá Rô phi đỏ tại Nam Bộ [10]
1.5.3 Hiện trạng về vật liệu chọn giống cá Rô phi đỏ tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II
Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II đang có 4 dòng cá Rô phi đỏ nhập từ Ecuador, Malaysia, Đài loan và Thái lan
Trang 18- Dòng cá Ecuador nhập theo chương trình chọn giống cá rô phi năm 2008
Tổng số lượng cá nhập là 13000 con, thuộc 100 gia đình Số lượng cá trung bình
của mỗi gia đình là 130 con
- Dòng cá Malaysia được nhập theo chương trình chọn giống cá rô phi vào tháng 8 năm 2010, qua Trung tâm cá Thế giới Tổng số cá nhập là 1200 con, thuộc
34 gia đình (35con/gia đình)
- Dòng cá Thái lan và Đài loan được nhập theo chương trình chọn giống cá rô phi tháng 9 năm 2010, qua công ty tư nhân Nam Sai Farm của Thái Lan Tổng số cá
nhập là 1500 con (mỗi dòng gồm có 750 con)
1.6 Phương pháp thành lập quần thể ban đầu cho các đối tượng chọn giống thủy sản
Trước khi tiến hành một chương trình chọn giống, nhà chuyên môn phải thành lập quần thể ban đầu Quần thể này phải bao gồm số dòng tối đa có thể của loài được chọn lọc, ví dụ như tập hợp các dòng cá hiện diện ở nhiều địa phương khác nhau, từ nhiều thủy vực tự nhiên hoặc từ nhiều trại giống khác nhau Số lượng dòng càng phong phú thì quần thể thu thập có độ đa dạng di truyền càng cao Quần
thể ban đầu có độ đa dạng di truyền cao sẽ cho hiệu quả chọn lọc tốt về lâu dài và
tạo thuận lợi cho việc bổ sung các tính trạng mới vào chương trình chọn giống theo nhu cầu thực tiễn [22]
Có hai phương pháp hình thành quần thể ban đầu cho chọn giống [22]:
- Phương pháp thứ nhất là thu thập cá từ nhiều dòng khác nhau, sau đó cho lai
ngẫu nhiên, không giới hạn giữa các dòng trong thế hệ đầu tiên Đây là phương pháp được sử dụng để hình thành quần thể chọn giống cá hồi Đại Tây Dương, vốn được tập hợp từ các dòng cá của 40 con sông khác nhau tại Na Uy
- Phương pháp thứ hai là lai hỗn hợp giữa các dòng, sau đó chọn với cường độ
thấp trong thế hệ chọn giống đầu tiên Phương pháp này được sử dụng để hình thành quần thể cá rô phi vằn (O niloticus) thuộc chương trình GIFT [16]
Trang 19Sau khi có đầy đủ các dòng thì tiến hành lai hỗn hợp giữa các dòng với nhau
và lai nội dòng Mục đích lai hỗn hợp nhằm để đánh giá ưu thế lai của các tính trạng
cần quan tâm (thường là tính trạng tăng trưởng và tỷ lệ sống) của từng dòng và của con lai giữa các dòng Nếu quần thể ban đầu có số lượng dòng là p thì sẽ có p 2 tổ
hợp lai khác nhau [22]
Chương trình chọn giống cá rô phi dòng GIFT được Philippine lai tạo và chọn
lọc từ 8 dòng cá khác nhau, trong đó có 4 dòng cá châu Phi (Ai Cập, Ghana, Kenya
và Senegal) và 4 dòng cá rô phi thuần từ các nước Israel, Singapore, Đài loanvà Thái lan [16] Quần thể cá Rô phi đỏ tại ENACA, Ecuador, được thu thập từ 7 dòng
cá rô phi nuôi trên khắp khu vực Châu Mỹ La Tinh Quần thể cá Rô phi đỏ của Trung tâm Cá Thế giới được thành lập từ 3 dòng cá Rô phi đỏ nuôi, xuất xứ từ Đài Loan, Malaysia và Thái Lan
Chương trình chọn giống tôm càng xanh (Macrobrachium rosenbergii) được
thực hiện tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản II từ năm 2007 Đây là chương trình hợp tác nghiên cứu giữa Trung tâm cá thế giới và Viện Nghiên cứu Nuôi trồng
Thủy sản II Nguồn vật liệu thu thập trong năm 2007 bao gồm 3 dòng: dòng MêKong, dòng Đồng Nai và dòng Malaysia Sau giai đoạn đánh giá dòng bằng cách lai hỗn hợp hoàn toàn giữa 3 dòng tôm cho 9 phép lai (6 phép lai khác dòng, 3 phép lai nội dòng) Kết quả nghiên cứu ở thế hệ G0 đã chọn lọc được 594 tôm bố mẹ có giá trị chọn giống cao nhất nằm trong 69 gia đình trong tổng số 79 gia đình còn đến khi thu hoạch, 69 gia đình này thuộc cả 9 tổ hợp lai Trên cơ sở 594 tôm bố mẹ
chọn lọc ở G0, đã tiến hành ghép cặp sản xuất gia đình giữa các cá thể cách xa nhau
về mặt di truyền (phương pháp lai xa – genetically unrelated individuals) từ năm
2009 đến năm 2012 đã tạo ra được 4 thế hệ G1, G2, G3 và G4 với số lượng gia đình tương ứng là 104, 117, 144 và 130 Hiện tại, đàn tôm các gia đình G4 đã đánh dấu
và đang nuôi cộng đồng phục vụ chon lọc vào cuối năm 2012 Trong năm 2012, hai
quần đàn tôm tự nhiên từ Thái Lan và Myanmar được nhập nội, nuôi so sánh và tích
hợp vào quần đàn chọn giống khi cần thiết là điều kiện để tăng biến dị cho quần đàn
chọn giống [8]
Trang 201.7 Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm sinh học cá
1.7.1 Phương pháp nghiên cứu hình thái cá
1.7.1.1 Nguyên lý trong đo mẫu cá
Đo mẫu cá là một trong các phương pháp của nghiên cứu hình thái cá, tùy theo kích cỡ cá mà có các phương pháp đo thích hợp để có được các số liệu chính xác Phương pháp căn bản là dùng bàn đo Bàn đo được thiết kế bằng gỗ hay kim loại, bên trên bàn có gắn cố định một thước và phần đầu của bàn đo có một tấm chắn để khi đo đầu cá chạm vào tấm chắn này Chiều dài của bàn đo tùy thuộc vào kích thước của cá dự kiến sẽ đo
Hình 1.1 Bàn đo cá
Đối với các mẫu cá lớn (lớn hơn 50 cm) thì có thể dùng thước để đo, tuy nhiên đối với cá có kích thước nhỏ có thể dùng thước đo (caliper) hay thước có phân cỡ Thông thường nên đo cá ngay tại nơi thu mẫu, lúc này cá còn tươi và ẩm Những
mẫu cá bị khô có thể rất khó đo chính xác vì cá có thể bị biến dạng, nhất là không
thể kéo thẳng để đo Trong trường hợp đo mẫu cá sống có kích cỡ lớn thì cần phải gây mê cá trong dung dịch Sandoz Ms 222 ở nồng độ thường dùng là 1/1000, hoặc
có thể dùng dung dịch 2 - phenoxy ethanol với nồng độ 20 - 30 ml/100 lít nước [3] 1.7.1.2 Đo chiều dài và khối lượng cá
* Đo chiều dài cá
Trang 21Thuật ngữ chiều dài của cá thường để chỉ chiều dài tổng cộng (chiều dài toàn
thân) của cá Ngoài ra còn có các khái niệm khác như chiều dài chuẩn và chiều dài chạc Chiều dài chuẩn thường được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng, tuy nhiên khi thu mẫu với số lượng lớn và cần phải đo nhanh cá ở hiện trường thì khó thực hiện chính xác Chiều dài chạc thường không thể dùng trong trường hợp các loài cá có vây đuôi không phân thùy như cá rô đồng chẳng hạn Chọn loại chiều dài nào để sử dụng tùy thuộc rất nhiều vào ý đồ của người nghiên cứu
Phương pháp đo chiều dài thường dùng là để sát đầu cá vào tấm chắn (phía tay trái), sau đó vuốt cá thẳng ra về phía tay phải và xác định chiều dài của cá dựa vào thước đã gắn trên bàn đo [3]
* Đo khối lượng cá
Phương pháp xác định khối lượng cá thường dùng là cân, có thể cân đĩa hay cân đồng hồ và tùy theo khối lượng của cá mà dùng cân có mức cân tương thích Cân điện hiện đang được áp dụng phổ biến và cho kết quả chính xác hơn Xác định khối lượng cá cũng phải tùy vào tình trạng của cá (tươi hay đã qua xử lý cố định) Trong trường hợp cá đã được xử lý cố định thì thường bị mất nước nên khối lượng thực của
cá bị thay đổi và trong trường hợp này phải tìm hệ số qui đổi để có thể chuyển từ khối lượng cá đã xử lý cố định sang khối lượng cá tươi Ngoài ra, trong một số trường hợp khi cân khối lượng cá cũng phải xem xét tính đồng nhất của mẫu cá cân (độ ẩm chẳng hạn) để giảm sai số Trong trường hợp không thể cân trực tiếp khối lượng cá thì có thể cân qua dụng cụ chứa cá (bì), khi đó cân khối lượng bì trước, sau
đó cho cá vào cân lại Khối lượng của cá chính là phần chênh lệch giữa tổng khối lượng bì và cá so với khối lượng bì [3]
1.7.2 Kỹ thuật đánh dấu cá
1.7.2.1 Mục đích của đánh dấu cá
Đánh dấu cá là kỹ thuật sử dụng các chỉ thị để nhận dạng các cá thể hoặc các nhóm cá thể với nhau, nhằm phân biệt từng cá thể, một dạng “Chứng minh nhân
Trang 22dân”, tạo phả hệ của đàn cá cho chương trình chọn giống và quản lý cá bố mẹ, quản
lý cá thả bổ sung nguồn lợi và các thí nghiệm so sánh
Tiêu chí để lựa chọn phương pháp đánh dấu là dễ áp dụng cho đối tượng thủy
sản có kích thước nhỏ; dấu không ảnh hưởng đến tăng trưởng của cá, không đắt
tiền, ít tốn công lao động; dấu có thể đọc trong thời gian dài và tỷ lệ tồn lưu cao
1.7.2.2 Các phương pháp đánh dấu cá
Có nhiều phương pháp đánh dấu khác nhau đã được sử dụng trên động vật
thủy sản bao gồm: khắc dấu và vẽ số, cắt vây, dùng phẩm màu fluorescence, thẻ màu Visible Implant Alpha Tags, dấu dây điện có số, dấu đeo (Floy tags), dấu từ - chíp điện tử (PIT tags), vòng đeo cuốn mắt, sóng vô tuyến và đánh dấu gen (DNA tags)
Phương pháp đánh dấu cá bằng dấu từ hay chíp điện tử
Dùng kim tiêm gắn chíp điện tử có lưu sẵn thông tin vào cơ thể cá, mỗi chíp
có một số ID (Identification) riêng Dấu PIT (Passive Integrated Transponder) là
một loại chíp bao gồm một cuộn dây kim loại gắn với một bản mạch nhỏ được bao
bọc bởi vỏ thủy tinh Vị trí tiêm có thể là các cơ hay xoang bụng cá Có nhiều loại
dấu có kích cỡ khác nhau cho nhiều loài cá (Hình 1.2A)
Ưu điểm của phương pháp này là có thể áp dụng rộng rãi trên nhiều đối tượng,
ít bị mất dấu, thông tin dễ truy hồi nhanh bằng máy dò (Hình 1.2B) Tuy nhiên,
nhược điểm của phương pháp này là dấu PIT khá đắt tiền và cần máy dò để xác định cá thể [9]
Trang 23A Các kích c ỡ khác nhau của dấu từ B Máy dò dấu từ cầm tay
Hình 1.2 Các loại dấu từ và máy dò dấu cầm tay
Trang 24Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm Quốc gia Giống Thủy sản Nước ngọt Nam Bộ (Xã An Thái Trung, Huyện Cái Bè, Tỉnh Tiền Giang) và Trại
Thực nghiệm Thủy sản Bạc Liêu – Phân viện Nghiên cứu Thủy sản Minh Hải (phường Nhà mát, Thành phố Bạc Liêu) thuộc Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy
sản II từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 8 năm 2012
2.2 Vật liệu nghiên cứu
Vật liệu nghiên cứu là 4 dòng cá Rô phi đỏ (Oreochromis spp.) nhập từ
Ecuador, Malaysia, Đài loan và Thái lan
2.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 25Thời điểm nuôi vỗ từ ngày 10 tháng 6 năm 2011 đến ngày 26 tháng 07 năm
2011 Kỹ thuật nuôi vỗ cá bố mẹ được thực hiện theo phương pháp GIFT, có những
cải tiến phù hợp với điều kiện Đồng bằng sông Cửu Long Kỹ thuật này đảm bảo đủ
cá bố mẹ thành thục tham gia sinh sản đồng loạt để phối tổ hợp các gia đình
Chọn cá bố mẹ có ngoại hình khỏe mạnh, không bệnh tật, cơ thể cân đối, hoàn
chỉnh, không xây xát hay dị hình, màu sắc đẹp để nuôi vỗ Nuôi riêng rẽ đực và cái trong các giai 3×5×1m đặt dưới ao có diện tích 2000m2 Mật độ thả: 10 con/m2 cho
cá cái và 3 - 5 con/m2 cho cá đực Đặt máy thổi không khí để cung cấp đầy đủ lượng oxy cho cá, vì đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự phát triển và thành thục
của cá (Hình 2.1) Hàng ngày, cá được cho ăn bằng thức ăn viên công nghiệp (hiệu
AFIEX – An Giang) có 30% đạm, khẩu phần bằng 3 – 5% khối lượng thân, ngày cho ăn 2 lần (7 giờ sáng và 16 giờ chiều) Bổ sung thêm dầu gan mực (lượng 2 - 3%) vào thức ăn viên để đảm bảo dinh dưỡng tốt khi nuôi vỗ
Hình 2.1 Nuôi vỗ cá bố mẹ trong giai đặt dưới ao
Định kỳ thay nước (7 ngày/lần) nhằm kích thích cá nhanh thành thục và giữ môi trường trong sạch tránh thức ăn thừa làm ô nhiễm nước Thường xuyên theo dõi
hoạt động của cá và mức độ thành thục để điều chỉnh lượng thức ăn cho phù hợp, đồng thời theo dõi những chuyển biến xấu trong ao để kịp thời khắc phục
Trang 26Đánh giá mức độ thành thục của cá cái theo 4 cấp độ (Bảng 2.1) Chỉ chọn
màu, không lồi, bụng nhỏ 21 – 30
Đang phát triển tuyến
sinh dục (Swollen) S Lmàu hỗ sinh dục có màu vàng hoặc ồng, bụng hơi phát triển
Đối với cá đực, phải cắt môi trên của cá để giảm thiểu những tổn thương có
thể có khi cá đực tấn công và bắt buộc cá cái tham gia sinh sản [32] Nếu cá vẫn còn hung hăng thì cắt thêm một bên vây ngực
2.3.2 Ghép cặp - lai hỗn hợp cho sinh sản
Cá cái và cá đực ghép cặp cho sinh sản được chọn từ 4 dòng cá nhập nội (dòng Đài loan, dòng Ecuador, dòng Malaysia và dòng Thái lan) cho lai chéo với nhau để
tạo nên 16 tổ hợp lai (Bảng 2.2) Dò dấu PIT xác nhận số ID, cân khối lượng và
kiểm tra độ thành thục của cá, đặc biệt là sự thành thục của cá cái một cách chính xác trước khi ghép cặp
Chuẩn bị 16 bể sinh sản (bằng xi măng) có kích thước 3,0×5,0×1,0 m (15 m3)
(Hình 2.2) Sau đó đưa cá vào các bể sinh sản để ghép cặp và thu trứng trong cùng
một ngày nhằm giảm thiểu sự khác biệt về ngày tuổi của cá con giữa các tổ hợp trong một đợt thu trứng Đối với cá cái khi tuyển lựa cho sinh sản trong cùng tổ hợp lai cũng được phân bổ đồng đều về mức độ thành thục và trọng lượng cho các bể
Trang 27Tỷ lệ ghép cặp trong bể: 1 đực: 4 cái Thời gian ghép cặp từ ngày 21 tháng 7 đến ngày 31 tháng 8 năm 2012
Bảng 2.2 Phép lai tạo nên 16 tổ hợp cá từ bốn dòng cá rô phi đỏ
♂ Đài loan (MD)
♂ Ecuador (ME)
♂ Malaysia (MM)
♂ Thái lan (MT)
để thu trứng kịp thời Định kỳ 4 ngày kiểm tra và thu trứng từ miệng cá mẹ Trứng
và cá bột của từng gia đình được ấp/ương riêng rẽ, tránh lẫn lộn giữa các gia đình
với nhau Những cá cái đã đẻ xong được thay thế bằng một cá cái thành thục tốt, sẵn
sàng đẻ khác, nhằm đảm bảo tỷ lệ đực và cái trong bể luôn là 1 : 4 và để tăng số lượng biến dị của tổ hợp lai lên cao khi có nhiều cá cái tham gia sinh sản Sau mỗi đợt thu trứng, cá đực được thay thế bằng những cá đực khác của cùng một tổ hợp
Hình 2.2 C ho cá sinh sản trong bể xi măng
Trang 28* K ỹ thuật thu và ấp trứng
Sau khi ghép cặp 4 ngày, cá được kiểm tra và thu trứng Khi thu trứng, hai người dùng giai làm lưới để kéo cá, dùng vợt mau vớt trứng trong giai cho vào khay plastic và kiểm tra miệng cá cái có ngậm trứng hay không Nếu cá cái có ngậm
trứng thì rũ trứng từ miệng cá vào vợt để thu hết trứng
Trứng sau khi thu được đem về phòng ấp và ấp theo qui trình ấp trứng trên khay với hệ thống nước tuần hoàn Nhiệt độ nước ấp trứng 28 - 300C, lưu tốc nước 0,3 – 0,35m/s Trứng hoặc cá bột thu được của từng tổ hợp lai sẽ được để riêng ở
mỗi khay Loại bỏ các chất cặn bã và đếm trứng bằng phương pháp siphon
Xác định trứng phôi ở giai đoạn nào để ấp theo đúng giai đoạn đó Quá trình
ấp trứng cá rô phi được chia làm 2 bước
Tr ứng: được chia làm 4 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Trứng vừa mới đẻ, hình quả lê, màu vàng nhạt Giai đoạn này
trứng được ấp trong bình ấp, dòng nước trong quá trình ấp có vận tốc 0,3 - 0,35 m/s Bình ấp được để trên khay đặt trên giá đỡ dưới bể composite (Hình 2.3)
Trang 29Hình 2.3 Ấp trứng cá Rô phi đỏ bằng bình ấp
- Giai đoạn 2: Trứng chuyển màu vàng đậm, lúc này trứng phôi có điểm mắt
nhưng chưa rõ, ấp trong bình như ở giai đoạn1
- Giai đoạn 3: Phôi đã phát triển nhưng chưa nở, xuất hiện 2 điểm mắt và có
đuôi, đây là dấu hiệu cho biết phôi bắt đầu chuyển sang giai đoạn cá bột Lúc này chuyển ra khay ấp nhằm tránh ma sát và tránh sự va đập khối noãn hoàng của cá bột vào thành bình
- Giai đoạn 4: Cá bột vừa mới nở, bơi vòng tròn, dưới bụng còn khối noãn
hoàng to, chuyển sang ấp trong khay
Cá b ột: ở giai đoạn này cá chưa hết noãn hoàng
- Cá b ột 1 ngày tuổi: có màu vàng xậm, khối noãn hoàng to, ít hoạt động
- Cá b ột 2 ngày tuổi: có màu vàng xậm, khối noãn hoàng tiêu hao bớt, thường
xuyên di chuyển không định hướng và thường ở đáy khay (Hình 2.4)
- Cá b ột 3 ngày tuổi: có màu vàng nhạt, khối noãn hoàng teo nhỏ, thường bơi
lội có định hướng trên mặt nước
Trang 30Hình 2.4 Giai đoạn cá bột của cá rô phi đỏ
* Chăm sóc và quản lý
Sử dụng hệ thống bể lọc (lọc cơ học) tuần hoàn trong quá trình ấp để tạo dòng
chảy và cung cấp đầy đủ oxy Theo dõi những hoạt động của trứng và cá bột qua
từng giai đoạn để có cách xử lý kịp thời Khi quan sát, cá vận động đều và nhanh thì
đó là dấu hiệu cá khỏe Đối với những trứng nhạt màu hay cá bột nằm bất động, cần hút bỏ để tránh làm ô nhiễm nước
Trong giai đoạn phôi đang phát triển (chưa nở), cần lưu ý đến vận tốc nước trong bình ấp, tránh tạo dòng chảy có vận tốc cao làm tràn trứng ra ngoài, cũng không thể để dòng chảy quá yếu không đủ lực đảo lộn trứng làm cho trứng dễ tổn thương Ở giai đoạn cá bột chưa hết noãn hoàng, không để dòng chảy quá mạnh dễ gây va đập khối noãn hoàng vào thành khay và thường xuyên hút những con bột đã
chết ra ngoài Trong quá trình ấp, nếu phát hiện trứng hay cá bột chết nhiều thì cho
tắm trong dung dịch formol với nồng độ 3 giọt/khay/10 phút (0,3 ppm) Sau đó, xác định tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột
Khi cá bột hết noãn hoàng, chủ động cung cấp thức ăn cho cá 4 lần/ngày bằng
thức ăn mịn (có 40% đạm) Cuối ngày, loại bỏ thức ăn thừa và chất thải của cá
nhằm đảm bảo tốt môi trường cho cá, giúp cá tăng trưởng tốt và hạn chế mầm bệnh
Cá bột được tiếp tục nuôi 2 - 10 ngày trong bể
Trang 312.3.4 Ương riêng rẽ từng tổ hợp lai
Sau 2 - 10 ngày nuôi trong bể, cá được chuyển xuống giai đặt dưới ao để tiếp
tục ương Để không có sự khác biệt lớn về khối lượng của cá giữa các gia đình trong cùng một tổ hợp và giữa các tổ hợp lai với nhau, trong quá trình ương phải chuẩn hóa mật độ và gom cá con của các gia đình trong cùng một tổ hợp với nhau Quá trình gom cá con của từng tổ hợp lai được thực hiện qua ba giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Nuôi riêng rẽ theo từng gia đình trong các giai (1,5×2,0×1,0 m)
đặt dưới ao Khẩu phần là 3 – 5% khối lượng thân, thức ăn có 32% đạm, ngày cho
ăn 3 lần Cá được ương ở giai đoạn này khoảng hơn 2 tuần thì đạt đến kích cỡ an toàn cho việc chuẩn hóa mật độ và gom cá con
Giai đoạn 2: Chuẩn hóa mật độ và gom cá con của các gia đình có cùng tổ
hợp lai theo từng nhóm nhỏ có cùng độ tuổi hoặc kích cỡ Tổng số lượng cá con được chuẩn hóa mật độ cho mỗi tổ hợp lai là 2200 con Các nhóm nhỏ được nuôi trong giai (3,0×5,0×1,0m) đặt dưới ao (Hình 2.5) Khẩu phần là 3 – 5% khối lượng
thân, thức ăn có 32% đạm, ngày cho ăn 3 lần
Hình 2.5 Các tổ hợp lai được ương trong giai đặt dưới ao
Trang 32Giai đoạn 3: Sau khi ương nuôi các nhóm nhỏ đến kích cỡ đồng đều thì chuẩn
hóa mật độ lần 2 và gom các nhóm nhỏ trong cùng một tổ hợp lai Tổng số lượng cá con được chuẩn hóa mật độ cho mỗi tổ hợp lai là 1150 con Các tổ hợp lai được tiếp
tục nuôi trong giai 3,0×5,0×1,0 m Khẩu phần là 3 – 5% khối lượng thân, thức ăn có 32% đạm, ngày cho ăn 3 lần
Đề tài đã chủ động điều chỉnh thời gian chuẩn hóa mật độ và gom các nhóm
nhỏ trong cùng một tổ hợp lai để đạt được mức độ đồng đều về ngày tuổi và nhằm tránh sự khác biệt lớn về kích cỡ của các nhóm nhỏ trong cùng 1 tổ hợp lai và giữa các tổ hợp lai với nhau (Phụ lục 1)
vi phẫu, dấu PIT và các thiết bị liên quan đến quy trình đánh dấu
Hình 2.6 Cá được chuẩn bị để đánh dấu
Nhóm đánh dấu cá gồm có 4 người, mỗi người làm một công việc để đánh dấu được số lượng lớn cá trong một thời gian ngắn nhằm giảm tối thiểu sự khác biệt