Giải pháp tạo đàn cá rô phi đơn tính đực trên ở Việt Nam Ở nước ta, năm 1995 và 1996 nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuyểngiới tính tạo cá rô phi toàn đực đã được thực hiện có kết quả, Vi
Trang 1DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN DỰ ÁN
ST
1 Nguyễn Huy Điền Tiến sỹ Chủ nhiệm dự án Trung tâm KNKN Quốc gia
2 Phạm Anh Tuấn Tiến sỹ Phó Chủ nhiệm dự án Vụ KHCN&MT
3 Nguyễn Hữu Ninh Thạc sỹ Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
4 Trần Anh Tuấn Thạc sỹ Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
6 Nguyễn Anh Hiếu Kỹ sư Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
7 Đặng Duy Tuyền Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
8 Hoàng Thị Nghĩa Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
10 Nguyễn Văn Điệp Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS I
11 Trịnh Quốc Trọng Thạc sỹ Thành viên Viện nghiên cứu NTTS II
12 Nguyễn Thị Kim Đàn Kỹ sư Thành viên Viện nghiên cứu NTTS II
13 Lê Trung Đỉnh Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS II
14 Nguyễn Tấn Đức Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS II
15 Nguyễn Văn Vũ Kỹ thuật Thành viên Viện nghiên cứu NTTS II
18 Nguyễn Quang Hạnh Kỹ sư Thành viên Trung tâm KNKN Quốc gia
19 Tăng Thị Mỹ Trang Kỹ sư Thành viên Trung tâm KNKN Quốc gia
23 Nguyễn Thị Liên Kỹ thuật Thành viên Công ty Thái Dương
24 Phạm Thị Huế Kỹ thuật Thành viên Công ty Thái Dương
Trang 2Cá rô phi ngày càng có nhu cầu cao trên thị trường thế giới Trong khi giánhiều loại cá hay các loại thuỷ sản khác luôn có nhiều biến động thì hầu hết cácsản phẩm từ cá rô phi có giá khá ổn định trong vòng 5 năm qua Tương lai, theonhiều dự đoán, giá các sản phẩm từ cá rô phi sẽ ổn định hoặc giảm chút ít doxuất hiện thêm nhiều nước khác nuôi cá rô phi và do tiến bộ khoa học công nghệđược áp dụng nâng cao năng suất và hạ giá thành sản phẩm.
Phát triển nuôi cá rô phi ở nước ta sẽ góp phần tăng nhanh sản lượng cánuôi, mặt khác làm tăng tỷ trọng xuất khẩu đặc biệt là các sản phẩm thuỷ sảnnuôi từ nước ngọt Nuôi cá rô phi sẽ góp phần đa dạng hoá sản phẩm, tận dụngtốt hơn các vùng nước ngọt hiện có Nuôi cá rô phi trong nước lợ sẽ là giải phápgiúp giảm rủi ro trong nuôi trồng thuỷ sản, là biện pháp cải tạo môi trường aonuôi tôm, đặc biệt là những vùng nuôi đang có hiện tượng suy thoái môi trường
Cá rô phi thành thục sớm, sinh sản tự nhiên gần như quanh năm nên khókiểm soát mật độ, do vậy cá thường chậm lớn, cỡ cá thu hoạch không đồng đều(Phạm Anh Tuấn & CTV., 1998) hạn chế hiệu quả nuôi cá Để nâng cao năngsuất và hiệu quả nuôi cá rô phi thì việc chủ động tạo đàn cá rô phi đơn tính đựcđược nhiều nhà nghiên cứu và sản xuất quan tâm Có một số phương pháp khác
Trang 3nhau để tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực, đó là: Chọn bằng mắt thường táchriêng cá đực cá cái, chuyển giới tính bằng xử lý hoóc môn, lai khác loài và tạo
cá siêu đực
Hiện nay, phương pháp tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực đang được ápdụng rộng rãi là xử lý bằng hoóc môn chuyển đổi giới tính 17-Methyltestosterone Tuy nhiên, phương pháp sản xuất này có nguy cơ tiềm ẩnảnh hưởng không tốt đến môi trường và con người Sử dụng giải pháp lai xa đểtạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực có ưu điểm không gây lo ngại về sự ảnhhưởng của hoóc môn chuyển giới tính đến môi trường và người tiêu dùng, có thểgiảm bớt được chi phí và thời gian cho sản xuất giống (Bạch Thị Tuyết, 1999).Mặt khác thế hệ con lai có thể kết hợp được những ưu điểm của cá bố mẹ như:
Ví dụ như khi tiến hành lai xa giữa cá rô phi vằn O niloticus với O aureus có thể tận dụng được tốc độ sinh trưởng nhanh của cá rô phi vằn (O niloticus) và khả năng chống chịu nhiệt độ thấp của cá rô phi xanh (O aureus)
Công nghệ lai khác loài tạo quần đàn cá rô phi đơn tính đực thành công sẽrất có ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất giống, góp phần thúc đẩy nghề nuôi cá rôphi ở nước ta phát triển Nhận thức được vấn đề này, Trung tâm khuyến nông-Khuyến ngư Quốc gia đã chủ trì thực hiện dự án: Sản xuất cá rô phi đơn tínhbằng công nghệ lai khác loài phục vụ nuôi cá rô phi xuất khẩu
Trang 4II TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Các giải pháp tạo đàn cá rô phi đơn tính đực trên thế giới
Cá rô phi thành thục sớm, đẻ nhiều lần trong một năm do đó ta không kiểmsoát được mật độ cá nuôi trong ao, cỡ cá nhỏ và không đồng đều khi thu hoạch
Vì vậy, năng suất cá thường không cao, cỡ cá thương phẩm nhỏ Việc sử dụng cácquần đàn cá đơn tính đực là giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả nuôi cá rô phi
Có nhiều phương pháp tạo quần đàn đơn tính đực, đó là:
- Chọn lọc dựa vào hình thái ngoài: Khi cá đạt cỡ 7-10 cm có trọng lượng ≥30g (McAndrew, 1993) thì tiến hành lựa chọn dựa vào sự khác biệt hình thái bênngoài để tách nuôi riêng cá đực, cá cái, phương pháp này tuy đơn giản, nhưngcần nhiều công lao động có trình độ và kinh nghiệm, tốn nhiều thời gian và độchính xác không cao, với phương pháp chọn lọc này độ chính xác chỉ đạtkhoảng 80-85% (Hickling, 1963)
- Phương pháp chuyển giới tính bằng việc xử lý trực tiếp hoóc môn thôngqua ngâm, hoặc cho ăn thức ăn trộn hoóc môn; hiện nay phương pháp này đã vàđang được nhiều nước trên thế giới áp dụng như Thái Lan, Philippine, Đài Loan,Brazil và Việt Nam Tuy nhiên cá đơn tính xử lý bằng hoóc môn có giá thànhtương đối cao và thường có nguy cơ gây ảnh hưởng không tốt tới môi trường(Mair và Little, 1991)
- Tạo cá đơn tính đực bằng công nghệ cá siêu đực (YY), cho cá siêu đựcsinh sản với cá cái thường cho phép tạo một lượng lớn cá giống đơn tính trongcùng một thời gian Song tỷ lệ giới tính ở thế hệ con của cá siêu đực đối với một
số dòng cá không thật ổn định và thời gian để tạo ra cá siêu đực (YY) dài,thường mất 3- 4 năm và yêu cầu các biện pháp kỹ thuật phức tạp Hiện nay kỹthuật này mới thử nghiệm ở quy mô hạn chế ở một số nước như Phillippine,Brazil
- Tạo quần đàn đơn tính đực bằng khác loài Phương pháp này đã và đangđược ứng dụng với một phạm vi nhất định ở một số nước như Israel, Đài Loan,
Trang 5Trung Quốc Một số công thức lai cho đàn con có tỷ lệ cá đực cao Tuy nhiên tỷ
lệ phần trăm cá đực ở thế hệ con lai F1 của một số công thức lai không ổn định,ngay cả cùng công thức lai tỷ lệ cá đực ở con lai thay đổi theo nguồn gốc địa lýcủa cá bố mẹ Việc lai khác loài yêu cầu công tác lưu giữ được dòng bố, mẹthuần một cách nghiêm ngặt
Đầu những năm 1960, Hicking tiến hành lai Tilapia mossambica với T.
hornorum cho tỷ lệ cá đực ở thế hệ con gần đạt 100% Bằng các phép lai phân
tích ông đã đưa ra kết luận về cặp nhiễm sắc thể/gen quy định giới tính của cá rôphi rất phức tạp Sau đó có nghiên cứu đã tiến hành lai khác loài cá rô phi vớinhau, để tạo ra con lai đơn tính Theo một số tác giả, những công thức lai sauđược coi là cho thế hệ con có tỷ lệ giới tính đực cao tới gần 100%:
T nilotica x T hornorum (Pruginin & Kanyike, 1965)
T nilotica x T aureus (Fishelson, 1962)
Tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ cá đực ở thế hệ con lai
không ổn định Pruginin (1975) tiến hành cho lai loài O niloticus với O aureus
được nuôi ở các vùng địa lý khác nhau, kết quả thu được ở thế hệ con lai có tỷ lệ
cá đực 52 – 100% Majumdar & McAndrew (1993) đã thực hiện 41 phép lai và
chỉ có T mossambicus x T macrochir là cho 100% cá đực ở thế hệ con Tỷ lệ cá
đực ở thế hệ con thu được từ các công thức lai xa phụ thuộc nhiều vào các dòng
cá khác nhau của cùng 1 loài được sử dụng (Hulata và CTV., 1983) TheoLoshin (1982) kết quả sản xuất cá đơn tính đực bằng phương pháp lai xa thườngkhông ổn định bởi rất khó giữ được cá bố mẹ thuần chủng làm nguyên liệu sảnxuất ban đầu
Gần đây phương pháp lai xa được quan tâm bởi nhiều ưu điểm của con lai
về sinh trưởng và khả năng thích nghi mà chúng được thừa hưởng từ cá bố mẹ(Mires, 1977; 1983; Hulata & CTV., 1993; Lahav, 1990; McAndrew, 1993 vàWohlfarth, 1994)
Trang 6Pruginin và CTV (1995); Hulata và CTV (1983) đã tìm một vài cặp lai
giữa cá rô phi cái O niloticus với cá rô phi đực O aureus tạo thế hệ con lai toàn
đực
Theo một số kết quả đã công bố, thế hệ con lai toàn đực có thể được tạo ra
một cách ổn định từ các công thức lai xa giữa cá cái O niloticus và cá đực O.
aureus (Lahav, 1990; Wohlfarth, 1994) Trong đó công thức lai xa giữa cá rô phi
cái O niloticus và cá đực O aureus đã được ứng dụng ở phạm vi nhất định tại
một số trang trại ở Israel và Đài Loan (Liao và Chen, 1983; Kissil, 1996).Nhưng do vấn đề thuần chủng của cá bố mẹ nên phần lớn các cặp lai giữa cá rô
phi cái O niloticus và cá đực O aureus chưa tạo được thế hệ con lai 100% cá
đực, tỷ lệ cá đực thay đổi từ 59% đến 81% (Wohlfarth, 1994)
Việc sử dụng con lai khác loài trong nuôi cá rô phi vẫn có rất nhiều thuận
lợi Năm 1983, Guerrero đã tiến hành nghiên cứu tốc độ tăng trưởng của cá O.
niloticus thuần và con lai của cá cái O niloticus với cá đực O aureus Kết quả
cho thấy, tốc độ tăng trưởng của con lai F1 (lai giữa hai loài) cao hơn hẳn so vớithế hệ con sinh ra từ bố mẹ cùng loài Theo Phạm Anh Tuấn (1997), áp dụngphương pháp lai xa sẽ tránh được hiện tượng lai cận huyết giữa các cá thể cùngloài và sự ô nhiễm môi trường do hoóc môn chuyển giới tính gây ra Mặt khácthế hệ con lai có thể kết hợp các ưu điểm của cá bố và cá mẹ như tốc độ sinh
trưởng nhanh của cá rô phi vằn O niloticus và khả năng chịu đựng nhiệt độ thấp của cá rô phi xanh O aureus Nhưng hiệu quả của các công thức lai xa phụ
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố di truyền của cá bố mẹ, các yếu tốmôi trường và sự tương tác giữa các yếu tố môi trường và yếu tố di truyền(Hulata & CTV.1993)
Trang 7Bảng 1 Tỷ lệ cá đực ở thế hệ con một số công thức lai xa (Muir & Robert, 1993).
2.2 Giải pháp tạo đàn cá rô phi đơn tính đực trên ở Việt Nam
Ở nước ta, năm 1995 và 1996 nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuyểngiới tính tạo cá rô phi toàn đực đã được thực hiện có kết quả, Viện nghiên cứunuôi trồng thuỷ sản 1 đã làm chủ công nghệ chuyển giới tính cá rô phi, có thểchủ động sản xuất hàng loạt cá rô phi đơn tính với tỷ lệ cá đực là 95-100% Đếntháng 6 năm 2004 công nghệ sản xuất cá rô phi đơn tính đã được chuyển giao tới
15 trại sản xuất giống trên toàn quốc Theo thống kê không đầy đủ năm 2003 cảnước đã sản xuất khoảng 120 triệu cá rô phi đơn tính bằng công nghệ chuyểngiới tính Tuy công nghệ dễ áp dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu con giống, nhưngnhững lo ngại về ảnh hưởng xấu của hoóc môn đến người tiêu dùng và môitrường là điều đáng quan tâm, tính bền vững của ứng dụng công nghệ chuyểngiới tính trong tương lai gần phải được tính đến, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầusản phẩm sạch, an toàn và tính cạnh tranh thương mại trên thị trường thế giớingày càng gay gắt
Nghiên cứu tạo cá rô phi siêu đực đã tiến hành tại Viện nghiên cứu nuôitrồng thuỷ sản 1 (1997-2000) trên cá rô phi vằn dòng Thái lan, cá siêu đực đãđược tạo ra, nhưng tỷ lệ đực ở đàn con còn thấp và không ổn định, do vậy côngnghệ chưa thể áp dụng được trong sản xuất
Năm 1970 thử nghiệm lai xa trên cá rô phi đã được Trần Đình Trọng tiếnhành đầu tiên (Bạch Thị Tuyết & CTV., 1998) khi lai giữa cá rô phi vằn O
niloticus với cá rô phi đen O mossambicus, cho tỷ lệ cá đực đạt 60 - 70% Tiến
hành lai giữa cá rô phi cái O niloticus dòng Egypt-AIT với cá rô phi đực O.
aureus dòng Phillipine; cá rô phi cái O aureus với cá siêu đực O niloticus dòng
Trang 8Egypt-Swansea đã được Bạch Thị Tuyết & CTV (1998) thí nghiệm, nhưng tỷ lệ
cá đực trên hai công thức lai chưa đạt kết quả như mong muốn Tỷ lệ cá đựctrung bình trong 2 công thức lai trên lần lượt là: 65,4% (giao đông 37% - 96%)
và 67,2% (giao động 34,2% - 100%) Theo các tác giả thì tỷ lệ cá đực thấp vàkhông ổn định ở thế hệ con lai thuộc hai công thức trên chịu ảnh hưởng bởinhiều nguyên nhân khác nhau như nguồn gốc của hai dòng cá được sử dụng, độthuần chủng của cá bố mẹ, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và tỷ lệ sốngcủa đàn con
Năm 2002-2003 trong khuôn khổ "Chương trình giống thuỷ sản", Trungtâm giống thuỷ sản Hưng Yên đã thực hiện dự án nhập công nghệ cá rô phi đơntính bằng phương pháp lai khác loài từ Trung Quốc, đàn cá rô phi vằn và cá rôphi xanh đã được nhập nội từ Trung Quốc Thông qua chọn lọc dựa theo các đặcđiểm hình thái, một số cá bố mẹ đã được chọn lọc để sản xuất cá đơn tính cho tỷ
lệ đực khá cao (>95%), tuy nhiên tỷ lệ cá bố mẹ chọn lọc được chỉ đạt 5% từđàn cá nhập, tỷ lệ này là rất thấp so với mong đợi từ công nghệ lai khác loài; mặtkhác dự án chưa tạo ra được đàn cá rô phi vằn và rô phi xanh thuần chủng (đàn
cá ông bà) để có thể sản xuất đại trà cá bố cá rô phi xanh O aureus và cá mẹ cá
rô phi vằn O niloticus cung cấp cho các cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính đực.
Kết quả nghiên cứu đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước tiến hành
cho thấy công nghệ lai xa ở cá rô phi, lai cá cái rô phi vằn O niloticus với cá đực rô phi xanh O aureus, là công nghệ rất có triển vọng ứng dụng trong sản
xuất cá rô phi đơn tính đực Để sớm có công nghệ ứng dụng trong sản xuất chokết quả như mong muốn cần kết hợp nhập vật liệu/giống tốt có sẵn từ nướcngoài và tiến hành những nghiên cứu tiếp tục, gắn kết nỗ lực của các cơ quannghiên cứu với các cơ sở sản xuất trong nước là hết sức cần thiết
III MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN
Dự án phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây:
Trang 91 Phát triển công nghệ lai khác loài phục vụ nhanh, kịp thời sản xuất đạitrà với số lượng lớn cá rô phi toàn đực.
2 Xây dựng được quỹ gen cá rô phi phong phú, đáp ứng đủ nhu cầu vậtliệu di truyền cho công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng giống cá rô phi ởnước ta
3 Đào tạo, tập huấn cán bộ kỹ thuật của các đơn vị sản xuất giống cá rôphi trong cả nước về công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính đực bằngphương pháp lai khác loài
IV NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Xây dựng tập đoàn các giống cá rô phi
Nhập nội có chọn lọc một số giống cá rô phi, đó là cá rô phi vằn O.
niloticus, cá rô phi xanh O aureus từ Israel và Trung Quốc.
Các đàn cá nhập nội sẽ được thử nghiệm, đánh giá so sánh một số tínhtrạng kinh tế của chúng với một số dòng cá rô phi hiện có, từng bước thu hút cácđặc tính tốt của đàn nhập nội và tạo giống cá rô phi chất lượng ở nước ta
4.2 Tạo đàn cá rô phi vằn O niloticus và đàn cá rô phi xanh O aureus sản
xuất đại trà cá rô phi đơn tính đực
Dựa trên hai đàn cá rô phi vằn và cá rô phi xanh nhập từ Trung Quốc vàIsrael tiến hành lai phân tích (đánh giá tỷ lệ giới tính thế hệ con), đánh giá đặctrưng hình thái và 1 số marker phân tử để lựa chọn được đàn cá rô phi vằn và
đàn cá rô phi xanh đảm bảo sản xuất đại trà 25.000 con cá bố O aureus và 25.000 con cá mẹ O niloticus cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rô phi
đơn tính đực Tỷ lệ cá đực đạt từ 95-100% Tỷ lệ cá giống làm ông bà qua tuyểnchọn đạt 5%, và tỷ lệ tuyển chịn cá giống làm cá bố mẹ đạt từ 10-15%
Trang 10V PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
5.1 Địa điểm và thời gian thực hiện dự án
- Địa điểm và cơ quan phối hợp thực hiện:
+ Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I (Trung tâm Quốc gia giống Thủysản nước ngọt miền Bắc Phú Tảo, Thạch Khôi, Gia Lộc, Hải Dương - Viện I) + Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II (Viện II)
+ Công ty Trách nhiệm Hữu hạn và Thương mại Hải Thanh (Công ty HảiThanh)
+ Công ty Cổ phần dịch vụ và Dạy nghề Thái Dương (Công ty TháiDương)
- Thời gian:
Từ tháng 12 năm 2005 đến tháng 5 năm 2008
5.2 Vật liệu nghiên cứu
Ba (03) dòng cá rô phi vằn (O niloticus) và hai (02) dòng cá rô phi xanh (O.
aureus) được dùng trong nghiên cứu của dự án, đó là:
- Cá rô phi xanh và rô phi vằn Trung Quốc: Cá được nhập từ Trung Quốc
về Công ty Cổ phần và Dịch vụ Dạy nghề Thái Dương (Xóm La, Từ liêm, HàNội) năm 2005 Sau đó cá được chuyển đến Trung tâm Quốc gia Giống Thuỷsản nước ngọt miền Bắc tháng 6 năm 2006 Cá được chuyển đến Trung tâmQuốc gia giống thuỷ sản nước ngọt miền Bắc gồm cá hậu bị (200g/con) và cáông bà (400g/con)
- Cá rô phi vằn và xanh Israel: Được nhập trực tiếp từ Israel tháng 9 năm
2006 Ngay khi nhập về, cá được chuyển về lưu giữ và nuôi lớn tại Trung tâmQuốc gia Giống Thuỷ sản nước ngọt miền Bắc và miền Nam Cỡ cá nhập về là
cá hương, trọng lượng trung bình khoảng 0,5g/con
Trang 11- Cá rô phi vằn Đài Loan: Cá được nhập từ Đài Loan vào các tỉnh phíaNam nước ta từ đầu những năm 1970, sau đó được chuyển ra Bắc và lưu giữ tạiViện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I từ năm 1977
- Cá rô phi xanh dòng Philippine : Nhập năm 1988.
5.3 Ao, giai và các vật dụng thí nghiệm
Ao thí nghiệm: Sử dụng 3 ao diện tích ao 2000 - 2500m2 với việc bố trí nhưtrong Bảng 2
Bảng 2 Số lượng cá và giai thí nghiệm
Công
Số lượng giai ghép
Số lượng cá (đực x cái)
Ghi chú: I: Israel; TQ: Trung Quốc; DL: Đài Loan; Ph: Philippine.
Tại viện 2 bố trí theo bảng 3
Bảng 3 : Số lượng và giai cá thí nghiệm
STT Công thức lai Số lượng giai ghép Số lượng cá
- Giai giữ và cho cá bố mẹ sinh sản, giai ương cá bột rộng 5m2
- Khay ấp trứng
- Các vật dụng thu trứng cá
- Số Pit Tag, máy đọc số và dụng cụ bắn số
- Hoá chất (Aceto-carmine) nhuộm xác định giới tính cá
- Kính hiển vi và các vật dụng thí nghiệm khác.
Trang 125.4 Bố trí thí nghiệm
Sử dụng 9 công thức (CT) thí nghiệm lai giữa các dòng cá rô phi với nhau,
tỷ lệ ghép cho mỗi giai 5m2 để thu các gia đình là 1đực : 6cái
Ghi chú: I: Israel; TQ: Trung Quốc; DL: Đài Loan; Ph: Philippine.
Do các dòng O niloticus và O aureus Israel là cá thuần mới được nhập về
nên thí nghiệm bố trí tăng số lần lặp 15 lần (15 giai/công thức) ở các công thứcCT3, CT6, CT9 để tăng độ tin cậy của công thức lai
Theo Bạch Thị Tuyết (1999) cho thấy tỷ lệ đực thấp và có sự biến động lớngiữa các gia đình trong cùng công thức, ở những công thức còn lại đã bố trí 6giai/công thức
5.5 Phương pháp thu trứng và bắn số đánh dấu cá bố mẹ
Ở các Công ty, tiến hành ghép cá bố mẹ trong ao và thu trứng ấp con laikhác loài
Tại các Viện: trước khi đưa vào nuôi ghép cá đực đều được bắn số điện tử.Đối với cá cái chỉ tiến hành bắn số ngay khi thu được trứng
Trang 13Số điện tử được bắn vào xoang bóng hơi hoặc cơ lưng bằng dụng cụ bắn số.Tất cả các gia đình thu được cá bột đều được đánh số quy định theo số PIT Tagcủa cá bố mẹ để thuận tiện cho việc truy xuất nguồn gốc của thế hệ con sau này.Thu 200 con cá bột từ mỗi gia đình ương riêng rẽ trong giai cước 5m2 mắctrong ao đất, khi cá đạt cỡ khoảng 3-5g/con, thu 100 con mổ để xác định tỷ lệgiới tính theo từng gia đình.
Để thu được kết quả lai giữa các cá thể khác nhau, sau khi những gia đình
đã tham gia sinh sản và có được cá bột từ 2 lần trở lên thì tiến hành đảo cá đựcgiữa các gia đình để có thêm những thông tin về ảnh hưởng của bố mẹ đến tỷ lệgiới tính đực của thế hệ con
5.6 Phương pháp xác định giới tính
5.6.1 Pha hoá chất
Cân 0,5g Carmine vào 100ml dung dịch gồm 45ml axit axetic đậm đặc và55ml nước cất, lắc đều
Đun sôi dung dịch khoảng 2 – 4 phút, để nguội sau đó dùng giấy lọc loại
bỏ hết cặn và được bảo quản trong lọ thủy tinh tối màu
5.6.2 Soi tuyến sinh dục
Khi cá đạt kích cỡ khoảng 3-5g/con, tiến hành mổ cá lấy tuyến sinh dụcnằm sát xương sống (hai dải có màu trắng đục), cắt một đoạn nhỏ đưa lên lam cósẵn thuốc nhuộm Aceto – carmine Chờ một vài phút cho thuốc nhuộm ngấm,sau đó dùng lam khác ép giải sinh dục giàn đều mỏng và đưa lên kính hiển viquan sát (Guerrero và Shelton, 1974)
- Cá đực: Quan sát trên tiêu bản thấy có những chấm nhỏ
- Cá cái: Quan sát thấy những vòng tròn nhỏ xếp sít nhau thành từng khối
Trang 145.6.3 Xác định một số chỉ tiêu hình thái ngoài của cá bố mẹ
Tiến hành đo đếm và quan sát một số chỉ tiêu hình thái nhằm tìm ra đượcmối quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái của cá bố mẹ với tỷ lệ giới tính đực ở thế
hệ con gồm:
- Chiều dài thân L, Lo
- Số vẩy dọc đường bên
- Số tia vây cứng
- Khoảng cách tử ngọn vây bụng đến lỗ hậu môn
- Ước lượng khoảng cách vây ngực đến vây bụng (gần hay xa)
- Xuất phát tia vây cứng so với cung nắp mang (trước, sau hay xuất phátbằng)
- Giới tính của con lai ở các công thức thí nghiệm
- Xác định các chỉ tiêu hình thái ngoài của cá bố mẹ cho tỷ lệ giới tính đựcthế hệ con cao: Màu sắc, L, Lo, số vẩy đường bên
5.8.2 Phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel phân tích số liệu Tỷ lệ cá đực
ở thế hệ con của từng gia đình được phân tích so sánh với tỷ lệ lý thuyết 1:1(đực : cái) bằng phương pháp 2 theo Gomez (1984) với mức ý nghĩa P<0,05
Trang 15VI KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN
Do đàn cá Israel nhập về khá nhỏ, cần phải có thời gian nuôi thành cá bố
mẹ và đến cuối năm 2007 chúng tôi mới kiểm nghiệm được tính ổn định ở đàn
cá bố mẹ và tỷ lệ đực ở đàn con lai khác loài nên việc phát triển công nghệ laikhác loài mới chỉ thực hiện ở phạm vi nghiên cứu và triển khai tại 4 đơn vị thựchiện dự án mà chưa chuyển giao được công nghệ cho các đơn vị sản xuất giốngkhác trong nước Vì vậy, công tác đào tạo - tập huấn cán bộ kỹ thuật cho các đơn
vị sản xuất giống trong cả nước về công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tínhđực bằng phương pháp lai khác loài chưa thực hiện được Hiện tại chúng tôi đãđào tạo được 26 cán bộ tại các đơn vị triển khai dự án Cụ thể: tại Công ty TháiDương được 4 cán bộ; Công ty Hải Thanh được 6 cán bộ; Viện 2 đạt 4 cán bộ;tại viện 1 đạt 9 cán bộ và Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia 7 cánbộ
6.2 Nhập nội và tái sản xuất cá rô phi vằn và cá rô phi xanh thuần từ Trung Quốc và Israel
Công ty Thái Dương được giao trách nhiệm chính trong việc nhập cá rôphi xanh và rô phi vằn từ Trung Quốc Số lượng cá nhập được trình bày chi tiết
Trang 16ở bảng 5 Ngoài số lượng cá rô phi bố mẹ nhập về từ Trung Quốc, Công ty TháiDương còn nhập 20.000 con cá rô phi ông bà (cá hương 3-5gr/con) Sau khithuần dưỡng, cá khoẻ mạnh chúng được chuyển đến các đơn vị phối hợp khác làCông ty TNHH và Thương mại Hải Thanh và Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷsản I.
Đàn cá rô phi nhập từ Trung Quốc sau đó được chuyển từ Hà Nội đếnThành phố Hồ Chí Minh cho Công ty TNHH và Thương mại Hải Thanh (Công
ty Hải Thanh) bằng đường bộ, phương pháp vận chuyển hở, mật độ 200con/thùng nhựa 400 lít có sục khí và thay nước trên đường vận chuyển Doquãng đường và thời gian vận chuyển dài nên cá chết khá nhiều, số lượng cá cònsống và được Công ty Hải Thanh nhận gồm 1.684 con rô phi vằn và 612 con cá
rô phi xanh (tổng số cá vận chuyển là 3.036 con cá rô phi vằn và 1.000 con cá rôphi xanh dòng Trung Quốc)
Công ty Thái Dương đã nhập đàn cá rô phi bố mẹ và ông bà dòng TrungQuốc về Việt Nam gồm cả cá cỡ lớn 4.000 con (200-400gr/con) và cá cỡ nhỏ20.000 con (3-5gr/con) Cá được nuôi lớn đến cỡ cá hậu bị và cá bố mẹ, sau đómới chuyển đến các cơ quan phối hợp để cùng thực hiện nghiên cứu Cá rô phinhập từ Trung Quốc sau đó cũng đã được chuyển từ Công ty Thái Dương đếnViện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, Bắc Ninh Số lượng cá chuyển cho Việnnghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I gồm 4.000 con cá bố mẹ và 400 con cá ông bà
Tại Viện I và Viện II nhập cá rô phi vằn và rô phi xanh thuần dòng Israel:
Do quãng đường vận chuyển dài, chi phí vận chuyển lớn nên dự án đã nhập cáhương rô phi dòng Israel, cỡ cá nhập trung bình khoảng 0,5g/con Cá rô phixanh và cá rô phi vằn đã được nhập đủ số lượng từ Israel về Việt Nam và đượcchuyển cho 2 viện Do thời gian vận chuyển dài nên số lượng cá bị hao hụt đáng
kể, sau khi đến Việt Nam thì cá đã được vận chuyển đến Viện nghiên cứu nuôitrồng thuỷ sản I và Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II để phục vụ nghiêncứu và thử nghiệm
Trang 17- Tại Viện II: nhập 6.000 cá rô phi xanh và cá rô phi vằn Israel đượcchuyển về Trung tâm Quốc gia giống thuỷ sản nước ngọt Nam bộ (xã An TháiTrung, huyện Cái bè, tỉnh Tiền Giang) Sau khi nhập về cá được thả riêng rẽ theoloài, cá được chăm sóc tốt Tổng số cá nhập về bị hao hụt còn 2.000 con cá rô
phi vằn Oreochromis niloticus và 929 con cá rô phi xanh Oreochromis aureus.
Cá bố mẹ đã được sử dụng để tái tạo quần đàn và hiện nay đang lưu giữ 2.500con rô phi xanh và 2.900 con rô phi vằn
- Tại Viện I: Đàn cá bố mẹ rô phi xanh và rô phi vằn có nguồn gốc từTrung Quốc chuyển về Trung tâm Quốc gia giống thuỷ sản nước ngọt miền Bắc
đã được đánh dấu vị trí (dấu CWT) để tránh pha tạp với các dòng, loài cá đanglưu giữ tại Trung tâm Sau khi đánh dấu vị trí tách biệt quần đàn thì chúng đượctách nuôi riêng trong 2 ao (300 m2/ao), 4 bể (25 m3/bể) và 4 giai (40 m2/giai) Cáđược cho ăn bằng thức ăn viên có hàm lượng đạm tổng số 25% Lượng thức ănhàng ngày cho cá ăn tương đương với 2% trọng lượng cá, cho ăn vào buổi sáng
và buổi chiều
Đàn cá rô phi ông bà dòng Trung Quốc O niloticus và O aureus cũng
được đánh dấu vị trí CWT và tách nuôi riêng các bể khác nhau, mỗi loài cá đượcnuôi trong 2 bể (25 m3/bể) Chế độ cho ăn và chăm sóc giống với đàn cá rô phi
bố mẹ Sau 30 ngày nuôi thì trong bể đã thấy cá bột Cá bột đã được vớt vàchuyển ra ương nuôi trong bể khác nhằm mục đích có thể chọn được cá làm bố
mẹ từ thế hệ được tái sản xuất này
Hiện nay, tổng số đàn cá có nguồn gốc từ Trung Quốc đã được tái sảnxuất để làm cá bố mẹ khoảng 50.000 con/loài
Đàn cá rô phi xanh và cá rô phi vằn có nguồn gốc từ Israel: Ngay sau khi
cá hương cá rô phi xanh và cá rô phi vằn được chuyển về, mỗi loài cá đều được
bố trí ương lên cá giống lớn trong 6 bể (25 m3/bể) Cá được ương nuôi bằng thức
ăn gồm hỗn hợp bột cá và bột đậu tương Hàng ngày cho ăn 20% trọng lượng cơthể cá vào buổi sáng và buổi chiều Bể ương nuôi được lưu thông nước và xi
Trang 18phông đáy thường xuyên Sau 1 tháng ương trong bể cá đạt 5-10 g/con, tỷ lệsống trung bình đạt 72%.
Khi cá đạt 5-10 g/con thì đã tiến hành bắn dấu vị trí CWT cho 450con/loài và nuôi riêng trong 2 ao, 1000 m2/ao để phục vụ cho việc ghép cặpkiểm tra giới tính theo gia đình Số còn lại cho ghép theo quần đàn để sản xuất
cá thuần
Hiện nay, đàn cá thuần Israel đang lưu giữ khoảng 52.000 con/loài
Bảng 5 Số lượng cá rô phi vằn và rô phi xanh nhập về từ Trung Quốc, Israel
được chuyển đến các cơ sở phối hợp thực hiện
Dòng cá Viện 1 Viện 2 Cty Thái Dương Cty Hải ThanhTrung Quốc
Hiện tại, đàn cá nhập nội dòng thuần Trung Quốc và Israel được lưu giữ
và tái sản xuất tại các đơn vị thực hiện dự án là:
Tại Công Ty Hải Thanh dòng Trung Quốc: 2.000 con/loài
Tại Viện I: dòng Trung Quốc: 50.000 con/loài
Tại Viện II: dòng Israel: 2.500 con/loài
Tỷ lệ tuyển chọn làm cá bố mẹ để sản xuất cá rô phi đơn tính đực ở đàn cá
rô phi vằn và cá rô phi xanh Israel; đàn cá rô phi vằn Đài Loan, cá rô phi xanhTrung quốc lần lượt là 67,7% và 81,8%
Trang 196.3 Nghiên cứu sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp khác loài.
6.3.1 Sản xuất con khác loài từ đàn cá bố mẹ nhập nội.
6.3.1.1 Tại Công ty Thái Dương
Tại Công ty Thái Dương: chế độ chăm sóc và quản lý đàn cá bố mẹ đãđược áp dụng theo đúng quy trình nuôi cá Rô phi Đàn cá nhập về được nuôiriêng rẽ theo dòng, trong các ao khác nhau Cá được cho ăn bằng thức ăn viên cóhàm lượng đạm tổng số 25%, lượng thức ăn hàng ngày cho cá ăn tương đương2% trọng lượng cơ thể cá Thay nước định kỳ 1 lần/tháng với 30% nước trong ao
Bảng 6 Kết quả kiểm tra tỷ lệ giới tính đực ở đàn con lai xa tại Công ty Thái Dương
thu mẫu
Ngày kiểm tra
Số lượng mẫu
Số cá đực (con)
Tỷ lệ đực (%)
Tuy nhiên trong thời gian thực hiện, dự án bị ảnh hưởng rất lớn bởi thiêntai, cơn bão số 7 năm 2006 làm tràn toàn bộ hệ thống ao ra sông và trận rét đậmrét hại kéo dài đầu năm 2008 làm cho lượng đàn cá thuần, con lai cá rô phi của dự
án và cá khác còn lại sau cơn bão số 7 nói trên ở Công ty Thái Dương bị thiệt hạitoàn bộ (có giấy xác nhận kèm theo) Do vậy, quá trình sản xuất giống và lưu giữđàn cá bố mẹ không thể thực hiện được Vì vậy, đề nghị Bộ Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn miễn tiền thu hồi vốn theo quy định đối với Công ty TháiDương
Trang 206.3.1.2 Tại Công ty Hải Thanh
Công ty Hải Thanh đã thành công trong việc tái tạo và quản lý quần đàn
cá rô phi xanh và cá rô phi vằn dòng Trung Quốc của dự án Cá vẫn tiếp tụcđược lưu giữ với số lượng quần đàn gốc là 2.000 con/loài Kết quả kiểm tra tỷ lệgiới tính đực ở đàn con lai khác loài thể hiện trong bảng 7
Bảng 7 Kết quả kiểm tra tỷ lệ giới tính đực ở đàn con lai xa tại Công ty Hải Thanh
TT Ngày thu
mẫu
Ngày kiểm tra
Số cá đực (con)
Tỷ lệ đực (%)
Số lượng mẫu
cụ thể trên bảng 8
Trang 21Bảng 8: Kết quả sản xuất cá rô phi đơn tính đực bằng phương pháp lai khác loài tại Công ty Hải Thanh
Lần thu trứng Ngày–tháng Số cá cái
số tiền còn lại (200.000.000 đồng) dự án sẽ hoàn trả bằng sản phẩm của dự án
6.3.2 Sản xuất con lai xa từ đàn cá hương nhập nội.
6.3.2.1 Sản xuất con lai xa từ đàn cá hương tại Viện nghiên cứu nuôi trồng
Trang 22Qua theo dõi quá trình tiến hành thí nghiệm khi cho lai giữa hai loài thuộcdòng Israel cho thấy khả năng sinh sản là rất tốt, chu kỳ sinh sản kéo dài
Cá rô phi cái dòng Trung Quốc ngoại hình miệng cá thường bị hở và lệch
về một phía, qua việc quan sát trong quá trình thu trứng cho thấy, khả năngngậm và giữ trứng của những cá thể này là rất thấp, hãn hữu mới thu được cá thểngậm trứng nhưng số lượng trứng thu được là không nhiều và trứng cá đangtrong tình trạng bị ung Như vậy, có thể thấy hình dáng miệng cá ảnh hưởng
phần nào đến kết quả sinh sản của công thức 4 (♀O niloticus Trung Quốc x
♂O aureus Trung Quốc) Trong quá trình tuyển chọn cá bố mẹ dòng Trung
Quốc để sinh sản cần chú ý đến hình dáng miệng của cá cái
Bảng 9: Kết quả sinh sản qua các đợt
Đợt thu Ngày tháng Tổng số gia đình
thu trứng
Tổng số gia đình ra cá bột
Trang 23Nghiên cứu đã kiểm tra giới tính thế hệ con lai của 128 gia đình từ 5 côngthức thí nghiệm, tổng số cá mổ là 12.133 con, trung bình mỗi gia đình mổ 95con Tỷ lệ cá đực ở đàn con lai giữa cá cái rô phi vằn Israel với cá đực rô phixanh Israel (Công thức 1) giao động 42-100%, trung bình đạt 88,7% Tỷ lệ cáđực ở đàn con lai giữa cá cái rô phi vằn Trung Quốc với cá đực rô phi xanhTrung Quốc (Công thức 2) giao động 42-71%, trung bình đạt 52%, không saikhác (P>0,05) so với tỷ lệ giới tính 1:1 thường gặp ở các quần đàn cá rô phi tựnhiên Tỷ lệ cá đực cao nhất thu được ở đàn con của công thức 5 khi cho lai giữa
cá cái rô phi vằn Đài Loan với cá đực rô phi xanh Trung Quốc, giao động 100%, trung bình đạt 93,3% sai khác ý nghĩa với tỷ lệ 1:1 (χ2 = 792,03;P<0,001) Công thức 1: cá cái rô phi vằn Israel lai với cá đực rô phi xanh Israelcho tỷ lệ cá đực cao thứ hai, trung bình là 88,7%, sai khác ý nghĩa với tỷ lệ 1:1(χ2 = 3.457,2; P<0,001) Công thức 4: Cá cái rô phi vằn Israel lai với cá đực rôphi xanh Trung Quốc cho tỷ lệ cá đực ở đàn con giao động lớn, từ 0-100% vàtrung bình tỷ lệ cá đực ở đàn con chỉ đạt 42,95% Kết quả tổng hợp kiểm tra tỷ
50-lệ giới tính được trình bày trong Bảng 10
Trang 24Bảng 10 Tổng hợp kết quả kiểm tra giới tính các công thức thí nghiệm
Công
thức Công thức thí nghiệm
Số gia đình
Số mẫu
Tỷ lệ đực (%)
Biến động tỷ lệ đực(%)
1 ♀O niloticus I x ♂O aureus I 62 5764 88,71*** 42 - 100
2 ♀O niloticus DL x ♂O aureus I 23 2075 81,31*** 43 - 100
3 ♀O niloticus I x ♂O aureus TQ 20 1960 42,95 0 - 100
4 ♀O niloticus TQ x ♂O aureus TQ 12 1270 52,01 42 - 71
5 ♀O niloticus DL x ♂O aureus TQ 11 1064 93,29*** 50 - 100
Ghi chú:I: Israel; TQ: Trung Quốc; DL: Đài Loan ( xem chi tiết phụ lục 1 và 2)
*** : P<0,01
Sau đây là phân bố tỷ lệ giới tính đực ở 5 công thức lai thí nghiệm
Hình 1: Phân bố tỷ lệ (%) cá đực ở các gia đình công thức 1 (♀ O niloticus
Israel x ♂ O aureus Israel)
Trang 25Hình 2: Phân bố tỷ lệ (%) cá đực ở các gia đình công thức 2 (♀ O niloticus Đài
Loan x ♂ O aureus Israel )
Hình 3: Phân bố tỷ lệ (%) cá đực ở các gia đình công thức 3 (♀ O niloticus Israel x ♂ O aureus Trung Quốc)
Trang 26Hình 4: Phân bố tỷ lệ (%) cá đực ở các gia đình công thức 4 (♀O niloticus
Trung Quốc x ♂O aureus Trung Quốc)
Hình 5: Phân bố tỷ lệ (%) cá đực ở các gia đình công thức 5 (♀O niloticus Đài
Loan x ♂O aureus Trung Quốc)
Trang 276.3.2.2 Sản xuất con lai xa từ đàn cá hương tại Viện nghiên cứu nuôi trồng
thuỷ sản II
Sau khi nhập về cá rô phi thuần dòng Israel được thả riêng rẽ theo loài, cáđược chăm sóc tốt theo quy trình nuôi vỗ cá rô phi bố mẹ và được bắn dấu đểtheo dõi Khi cá đạt kích cỡ sinh sản (trên 150 gam/con) thì tiến hành ghép cặpcho sinh sản, tỷ lệ giới tính đực được thể hiện trong bảng 11
Bảng 11 Tổng hợp kết quả kiểm tra giới tính các công thức thí nghiệm
Số gia đình
Số mẫu
Tỷ lệ đực (%)
Biến động tỷ
lệ đực (%)
6.4 Xây dựng quỹ gen cá rô phi
Từ thực tế (6.3) cho thấy, khi cho lai đàn cá bố mẹ (đàn cá lớn) nhập nộidòng Trung Quốc cho thế hệ con lai khác loài đạt tỷ lệ đực cao (89-95% thựchiện tại 2 Công ty), khi cho lai ngẫu nhiên đàn cá ông bà (cá hương) nhập nộithuần dòng Trung Quốc thì cho tỷ lệ cá đực ở con lai rất thấp và dao động lớn(0-100% thực hiện tại Viện 1) Đàn cá hương nhập nội từ Israel cho kết quả conlai xa khá tốt (42-100%) Mặc dù với tỷ lệ giới tính đực nói trên chưa đạt được
so với mục tiêu dự án đưa ra (trên 95%) nhưng chúng ta phải ưu tiên nhập đàn
cá hương có như vậy mới nhập được số lượng lớn, tiết kiệm chi phí và vậnchuyển
Trang 28Theo Wohlfarth (1994) thì hạn chế chủ yếu là do vấn đề thuần chủng di
truyền của cá bố mẹ, nên phần lớn các cặp lai giữa cá rô phi cái O niloticus và
cá đực O aureus chưa tạo được thế hệ con lai 100% cá đực, tỷ lệ cá đực thay đổi
từ 51% đến 81%
Vì vậy chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đến các chỉ tiêu khác (chỉ tiêu hìnhthái) trên cá bố mẹ là cá hương nhập nội của 2 công thức lai 1 và 5 khi cho ghéplai với nhau
6.4.1 Các chỉ tiêu hình thái qua đo đếm số vẩy đường bên và số tia vây lưng
để tuyển chọn đàn cá bố mẹ
Để có thể thu được thế hệ con lai có tỷ lệ giới tính đực cao và ổn định phục
vụ sản xuất thì việc lựa chọn những cặp cá bố mẹ có đặc điểm hình thái đặctrưng là hướng giải quyết tối ưu nhất Việc lựa chọn cá bố mẹ có đặc điểm đặctrưng dựa trên một số chỉ tiêu hình thái ngoài và mối quan hệ với tỷ lệ giới tínhđực của thế hệ con theo kết quả kiểm tra ghép cặp theo gia đình
Từ kết quả thu được tỷ lệ giới tính đực của thế hệ con lai (mục 6.3), chúngtôi tiếp tục nghiên cứu tiến hành xác định một số chỉ tiêu hình thái ngoài để đánhgiá xem các chỉ tiêu hình thái khác nhau có cho tỷ lệ giới tính đực khác nhaukhông Mục đích của nghiên cứu này nhằm tìm ra đặc điểm hình thái đặc biệt
mà có thể dựa vào đó có thể lựa chọn cá bố mẹ khi tham gia lai xa cho tỷ lệ giới
tính đực cao ở thế hệ con (Xem chi tiết phụ lục 3 và 4).
Kết quả kiểm tra hình thái trên 28 cá bố và 44 cá mẹ của 3 công thức lai
giữa cá cái O niloticus dòng Israel với cá đực O aureus dòng Israel; cá cái O.
niloticus dòng Đài Loan với cá đực O aureus dòng Israel và ở công thức lai cá
cái O niloticus dòng Đài Loan với cá đực O aureus dòng Trung Quốc Các chỉ
tiêu thu thập gồm tỷ lệ L/Lo, số vẩy đường bên, số tia vây lưng và khoảng cách
từ ngọn vây bụng đến lỗ hậu môn; được phân theo 3 nhóm tỷ lệ giới tính đực ởthế hệ con: <70%, 70% - 90% và >90%
Trang 29Hình 6 Các chỉ tiêu hình thái đo đếm và tỷ lệ cá đực ở công thức lai cá cái rô
phi O niloticus Israel với cá đực rô phi O aureus Israel.
Hình 7 Các chỉ tiêu hình thái đo đếm và tỷ lệ cá đực ở công thức lai cá cái rô
phi O niloticus Đài Loan với cá đực rô phi O aureus Israel.
Từ các Hình 6, 7, và 8 cho thấy các chỉ tiêu hình thái không có sự chênhlệch lớn trong cùng một nhóm và giữa các nhóm tỷ lệ giới tính, kết quả phântích ANOVA các chỉ tiêu hình thái giữa các nhóm tỷ lệ giới tính sai khác không
có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Như vậy, các chỉ tiêu đo đếm hình thái ngoài của
cá bố mẹ: tỷ lệ L/Lo, số vẩy đường bên, số tia vây cứng, khoảng cách từ ngọnvây bụng đến lỗ hậu môn không có mối quan hệ với tỷ lệ giới tính đực của thế
Trang 30Hình 8 Các chỉ tiêu hình thái đo đếm và tỷ lệ cá đực ở công thức lai cá cái O
niloticus Đài Loan với cá đực O aureus Trung Quốc
6.4.2 Chỉ tiêu hình thái qua việc xác định xuất phát điểm tia vây lưng và
khoảng cách giữa gốc vây ngực và gốc vây bụng để tuyển chọn cá bố mẹ
Do các chỉ tiêu đo đếm: tỷ lệ L/Lo, số vẩy đường bên, số tia vây cứng,khoảng cách từ ngọn vây bụng đến lỗ hậu môn không có mối quan hệ với tỷ lệgiới tính đực của thế hệ con lai nên các chỉ tiêu quan sát ước lượng đã đượcquan tâm trong nghiên cứu này Chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đặc điểm hìnhthái trên cá bố mẹ của 2 công thức lai khả thi nhất ở mục 6.3 (công thức 1 vàcông thức 5) Qua quan sát và đối chiếu với tỷ lệ giới tính ở thế hệ con của cáccặp bố mẹ cho thấy hai chỉ tiêu hình thái ngoài dễ dàng nhận biết nhất có liênquan đến tỷ lệ giới tính và thuận tiện cho việc tuyển chọn cá bố mẹ ứng dụngtrong thực tế sản xuất đó là:
(i) Xuất phát điểm của tia vây lưng đầu tiên trước hay sau so với cung nắp mang.(ii) Khoảng cách từ gốc vây ngực đến gốc vây bụng xa hay gần so vớikhoảng cách của hai gốc vây bụng
Trang 31Hình 9 Hình thái của cá bố mẹ và tỷ lệ giới tính ở con lai
Ghi chú: T – Tia vây lưng đầu xuất phát trước cung nắp mang.
S – Xuất phát điểm sau cung nắp mang.
X – Khoảng cách giữa gốc vây ngực và gốc vây bụng xa.
G – Khoảng cách giữa gốc vây ngực và gốc vây bụng gần.
Nghiên cứu 47 cặp cá bố mẹ ở các công thức 1 (♀O niloticus I x ♂O.
aureus I) và công thức 5 (♀O niloticus DL x ♂O aureus TQ) cho thấy, khi cho
lai giữa cá cái vằn với cá đực xanh của 2 công thức nói trên cùng có điểm xuấtphát của tia vây lưng sau cung nắp mang và khoảng cách giữa hai gốc vây gần(SG – SG) cho tỷ lệ giới tính của thế hệ con cao nhất và ổn định, trung bình tỷ lệgiới tính đạt 98,25% (P<0,01); tiếp đến là cặp bố mẹ của công thức 1 và 5 cócùng điểm xuất phát tia vây lưng trước cung nắp mang và khoảng cách giữa haigốc vây là gần (TG – TG) cho tỷ lệ giới tính đực ổn định và trung bình của thế
hệ con đạt 95,87% (P<0,01) Cặp bố mẹ của 2 công thức trên cho tỷ lệ giới tínhđực thấp nhất có hình thái: cá cái xuất phát điểm tia vây sau, khoảng cách giữahai gốc vây xa lai với cá đực có tia vây xuất phát trước và khoảng cách giữa haigốc vây gần (SX – TG) cho tỷ lệ đực trung bình 61% (Hình 9)