1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ro phi tu ky luanvan

58 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 585 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo kết quả điều tra trong 5năm gần đây thì diện tích NTTS nói chung và diện tích nuôi cá Rô phi nói riêng củahuyện Tứ Kỳ ngày càng mở rộng, sản lượng cá Rô phi mấy năm gần đây liên tục

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

Trong các thập kỷ 1950 - 1970, ở các nước đang phát triển cá Rô phi đượccoi là cá giành cho người nghèo Từ thập kỷ 1980 trở lại đây quan niệm về vai tròcủa cá Rô phi trong nuôi trồng thuỷ sản đã có nhiều thay đổi, cá Rô phi được nuôirộng rãi ở nhiều nước nhiệt đới, cận nhiệt đới và cả ở những nước ôn đới Chúngvẫn là đối tượng được nuôi rộng rãi nhưng không còn thuần tuý phục vụ mục tiêucải thiện dinh dưỡng cho người dân nghèo, mà đã trở thành đối tượng hàng hoángày càng có sức cạnh tranh cao ở cả thị trường các nước phát triển và các nướcđang phát triển Cá Rô phi được coi là cá của thế kỷ 21, chúng là một trong nhữngloài cá thịt trắng có khả năng nuôi kinh tế trên thế giới và là đối thủ cạnh tranh của

cá hồi [18.35]

Tỉnh Hải Dương nằm trong khu vực kinh tế lớn nhất miền Bắc là: Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh Nơi đây có vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, cũng như điềukiện kinh tế - xã hội thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thuỷ sản (NTTS), có tiềmnăng diện tích NTTS lớn nhất khu vực Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH), phong tràonuôi cá Rô phi ở Hải Dương ngày càng phát triển mạnh mẽ, nơi đây tập trung nhiều

dự án phát triển nuôi Rô phi của chính phủ

Tứ Kỳ là huyện đồng bằng chiêm trũng của tỉnh Hải Dương, có diện tích nuôi trồngthuỷ sản lớn nhất tỉnh Nhân dân Tứ Kỳ có truyền thống nuôi thuỷ sản từ lâu đời.Hiện tại có tới hơn 90% hộ gia đình có ao và có mặt nước NTTS Thực hiện chủtrương chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển chăn nuôi thuỷ sản, huyện Tứ Kỳ đãmạnh dạn hướng dẫn các địa phương lập dự án chuyển đổi ruộng trũng cấy lúakhông hiệu quả sang đào ao, thả cá kết hợp trồng cây ăn quả Diện tích chuyển đổihầu hết được bà con nông dân dùng để nuôi cá [37.1] Theo kết quả điều tra trong 5năm gần đây thì diện tích NTTS nói chung và diện tích nuôi cá Rô phi nói riêng củahuyện Tứ Kỳ ngày càng mở rộng, sản lượng cá Rô phi mấy năm gần đây liên tụctăng nhanh, có thể cung cấp sản lượng lớn cá Rô phi cho thị trường trong nước cũngnhư thị trường xuất khẩu Trung bình một ao nuôi cá Rô phi có thể đạt năng suất 3 -

10 tấn/ha/ vụ nuôi Tuy nhiên, thị trường cho cá Rô phi cũng như các loài cá truyềnthống gần như có mở rộng nhưng không đáng kể Hiện nay, khối lượng cá cung cấp

ra thị trưòng đã vượt quá nhu cầu tiêu dùng, cung vượt cầu rất nhiều nên giá cá Rô

Trang 2

phi đang có xu hướng ổn định hoặc giảm xuống, trong khi đó các chi phí cho nuôi

cá ngày càng tăng, chính điều này làm cho người dân e ngại khi nuôi cá Rô phi

Do phong trào nuôi cá Rô phi trong huyện ngày càng phát triển mạnh Sảnlượng ngày một nhiều, nên các nghiên cứu thị trường cũng như khả năng chấp nhậncủa người tiêu dùng đối với cá Rô phi là rất cần thiết Nhận thức được vai trò củanghiên cứu thị trường đối với sự phát triển nghề nuôi cá Rô phi của tỉnh Hải Dương

nói chung và huyện Tứ Kỳ nói riêng chúng tôi tiến hành đề tài: “Khảo sát thị trường cá Rô phi thương phẩm tại huyện Tứ Kỳ - Hải Dương”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Phân tích và đánh giá các vấn đề về thị trường cá Rô phi tại huyện Tứ Kỳ Hải Dương Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sản xuất vàtiêu thụ sản phẩm cá Rô phi trên địa bàn nghiên cứu

-1.2 Nội dung

+ Phân tích chuỗi thị trường cá Rô phi

+ Khảo sát sự biến động giá cả của các kích cỡ cá khác nhau qua các thángtrong năm 2007 và qua các mắt xích của chuỗi thị trường

+ Khảo sát thái độ và thị hiếu của người tiêu dùng ở Tứ Kỳ đối với cá Rôphi

1.2 Giới hạn đề tài

Do thời gian nghiên cứu đề tài ngắn nên đề tài chỉ thực hiện nghiên cứu thịtrường cá Rô phi thương phẩm ở 3 xã của huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương là: QuangPhục, Tái Sơn và Hưng Đạo

Trang 3

2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Giới thiệu chung về cá Rô phi

Do có sự di giống và thuần hoá giữa các nước nên hiện nay cá Rô phi đã cómặt ỏ hầu hết các nước trên thế giới Hiện nay trong NTTS có trên 80 loài cá Rô phi

có giá trị kinh tế và được nuôi trên 100 quốc gia trên thế giới Trong đó có 3 giốngchính: Tilapia, Sarotherodon, Oreochromis Những loài quan trọng nhất là: Rô phivằn (Oreochromis Niloticus,Rô phi xanh (O.Aureus), Rô phi đen (O.Mossambicus)và Rô phi hồng Đây là những loài được nuôi phổ biến trên thế giới

Ở Việt Nam, cá Rô phi được di nhập vào từ những thập kỷ 1970, đến nay cácnghiên cứu từ sản xuất giống đến nuôi thương phẩm đã đạt những kết quả tốt và đưavào ứng dụng trong sản xuất, cá Rô phi trở thành đối tượng nước ngọt có tiềm năngxuất khẩu và hiện nay đang được bộ thuỷ sản quan tâm phát triển

2.2 Sản lượng cá Rô phi ở Việt Nam và trên thế giới

2.2.1 Sản lượng cá Rô phi tại một số quốc gia trên thế giới:

Ngày nay cá Rô phi là loài nuôi nước ngọt đóng vai trò quan trọng thứ 2 saucác loài thuộc họ cá Chép Sản lượng cá Rô phi nuôi không ngừng tăng lên (năm

1990 là 830.000 tấn, năm 1999 là 1,6 triệu tấn, tới năm 2003 là 1,5 triệu tấn)[1] vàngày càng đóng vai trò quan trọng trong xuất khẩu và tiêu thụ nội địa vì cá Rô phiđang là đối tượng thay thế cho các loài cá thịt trắng đang ngày càng cạn kiệt Cá Rôphi hiện nay được nuôi phổ biến ở trên 100 quốc gia trên thế giới Trong 2 thập niên

80, 90 của thế kỷ 20 các mô hình nuôi cá Rô phi với qui mô lớn được phát triểnmạnh mẽ

Trong 20 năm gần đây sản lượng nuôi trên thế giới tăng gấp 8 lần Năm 1980sản lượng nuôi trên thế giới đạt 200.000 tấn, đến năm 1990 sản lượng nuôi tăng lêngấp đôi (400.000 tấn), tới năm 2003 đạt trên 1,6 triệu tấn, trị giá trên 2 tỷ USD.Năm 2004, theo ước tính sản lượng này đã đạt 1,8 triệu tấn Dự đoán đến năm 2010tổng giá trị cá Rô phi toàn cầu đạt 4 tỷ USD [6

Sản lượng cá Rô phi tập trung chủ yếu ở các nước Châu Á, chiếm 80% tổngsản lượng toàn cầu; 20% còn lại chủ yếu ở các nước Châu Phi và Trung Nam Mỹ

Trang 4

Bảng 1: Sản lượng cá Rô phi nuôi ở một số nước trên thế giới

Nguồn: Phạm Anh Tuấn, 2006

Châu Á: Châu Á là khu vực nuôi nhiều cá Rô phi nhất trên thế giới, tập

trung chủ yếu ở vùng Đông Á và Đông Nam Các nước Châu Á có sản lượng nuôi

cá Rô phi lớn nhất là: Trung Quốc, Đài Loan (110.000 tấn), Thái Lan (110.000 tấn),Inđonêxia và Việt Nam (khoảng 30.000 tấn) Trung Quốc là nước NTTS lớn nhấtchiếm 69,6% về sản lượng và 51% về giá trị Vị trí thứ 2 là Ấn Độ chỉ chiếm 4,2%

về sản lượng cũng như giá trị Ở vị trí thứ 5, Nhật Bản vẫn chiếm 6% về giá trị(4,24 tỷ USD) Trung Quốc là quốc gia đứng đầu cả về sản lượng nuôi và kháchhàng tiêu thụ cá Rô phi Đây cũng là nước có sản lượng nuôi tăng nhanh nhất thếgiới Theo số liệu của FAO thì sản lượng nuôi của nước này năm 1990 là khoảng100.000 tấn, năm 1995 là 320.000 tấn, chiếm 45% sản lượng cá Rô phi nuôi ở Châu

Á [6 Đến năm 2000 sản lượng đã tăng 629.182 tấn và năm 2002 sản lượng cá Rôphi nước này đạt được 706.585 tấn, năm 2003 đạt 806.000 tấn, chiếm 50% tổng sảnlượng toàn cầu đưa nước này trở thành một trong những siêu cường quốc về sảnxuất cá Rô phi Thị trường chính của Trung Quốc là Mỹ, các dạng sản phẩm chếbiến là phi lê đông lạnh và đông lạnh nguyên con [44]

Trang 5

Tại Đài Loan, sản lượng cá Rô phi liên tục tăng nhanh trong suốt 2 thập kỷqua, từ 57.570 tấn năm 1993 lên 82.787 tấn năm 2001 Sản lượng của Đài Loan năm

2004 khoảng 90.000 tấn Xuất khẩu cá Rô phi tăng từ 15.328 tấn năm 1996 lên39.719 tấn năm 2003, tăng 159% trong vòng 8 năm Năm 2004, xuất khẩu tăng40.570 tấn Mỹ hiện là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Đài Loan với27.897tấn(69%), tiếp đến là Ả rập xaudi(14%), Canada (5%), Cô oét (4%), HànQuốc (4%), các nước khác 4% Sản phẩm xuất khẩu vào Mỹ của Đài Loan chủ yếu

là dạng sản phẩm đông lạnh nguyên con và phi lê đông lạnh [12.50]

Tại Philipin, cá Rô phi là loài nuôi quan trọng thứ 2 Năm 1987, nước này đãtừng đứng đầu thế giới về xuất khẩu cá Rô phi Năm 2003, nuôi cá Rô phi ở230.000 ha, sản lượng cá Rô phi là 135.996 tấn Thị trường của Philipines là NhậtBản ở 2 dạng sản phẩm là Sashimi và phi lê đông lạnh [6

Thái Lan nuôi cá Rô phi trong lồng rộng khắp miền Bắc và miền Nam đất nước.Sau thời gian nuôi 90 - 120 ngày cá đạt kích cỡ 600 - 700g/con và 120 - 150 ngàyđạt 800 - 900g/con Tỷ lệ sống 80 - 90%, hệ số thức ăn 1,0 - 1,8 Năm 2002 sảnlượng cá Rô phi của Thái Lan đạt 84.500 tấn, chiếm 32% sản lượng cá nuôi nướcngọt, năm 2005 đạt 118.000 tấn [28.25]

Châu Phi: Cá Rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá Rô

phi lại mới bắt đầu phát triển Ai Cập là nước nuôi lớn nhất trong khu vực này, đứngthứ 2 về sản lượng cá Rô phi trên thế giới (sau Trung Quốc) Năm 2003 đạt sảnlượng 200.000 tấn, chiếm 90% sản lượng nuôi ở khu vực này Ngoài Ai Cập cònmột số nước như Ghana, Nigiêria, Zimbabuê Tuy nhiên sản lượng nuôi còn kháthấp [6

Châu Âu: Sản lượng cá Rô phi nuôi ở Châu Âu không đáng kể do nhiệt độ

thấp không thuận lợi để nuôi cá Rô phi.Theo thống kê của FAO, sản lượng cá Rôphi năm 1999 đạt 270 tấn Hiện nay, Bỉ là nước nuôi nhiều cá Rô phi nhất với sảnlượng đạt khoảng 300 tấn/năm Cá Rô phi cũng được nuôi ở Hà Lan, Thuỵ Sỹ, TâyBan Nha, Pháp và Anh [6

Châu Mỹ: Các nước Châu Mỹ bắt đầu quan tâm nuôi cá Rô phi trong vòng

hơn 10 năm gần đây Các nước vùng Trung Mỹ như Ecuador, Costa Rica vàHondurat trở thành những nhà cung cấp đáng kể cá Rô phi cho thị trường Mỹ

Trang 6

2.2.2 Sản lượng cá Rô phi nuôi ở Việt Nam

Việt Nam là nước có tiềm năng rất lớn để phát triển NTTS, hiện nay đang đứng thứ

6 trong 10 quốc gia dẫn đầu về NTTS của thế giới Với vị trí đứng thứ 6 thế giới vềNTTS Việt Nam là đối thủ cạnh tranh của nhiều nước trong khu vực và trên thếgiới

Việt Nam thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ở Miền Bắc tuy có mùa đônglạnh nhưng từ tháng 4 - tháng 11 là thời điểm thích hợp để tiến hành nuôi cá Rô phi.Theo thống kê năm 2005, diện tích nuôi cá Rô phi của cả nước là 29.717 ha, chiếm3% tổng diện tích NTTS, trong đó nuôi nước mặn, lợ là 5.184 ha và nuôi nước ngọt

là 24.533 ha [6

Bảng 2: Diện tích nuôi Rô phi

Nguồn: Phạm Anh Tuấn và ctv, 2006

Bảng 3: Tổng sản lượng cá nuôi và sản lượng cá Rô phi năm 2005

Vùng Tổng sản lượng (Tấn) Sản lượng cá Rô phi (Tấn)

(Nguồn: TS Phạm Anh tuấn và ctv, 2006)

Trang 7

Hình 1 Tổng sản lượng cá nuôi và sản lượng cá Rô phi năm 2005

Sản lượng cá Rô phi tăng nhanh trong 5 năm gần đây, năm 2003 là 7.653 tấn, năm

2004 tăng lên 17.000 tấn và năm 2005 là 54.486,8 tấn, chiếm 9,075% tổng sảnlượng cá nuôi Sản lượng cá Rô phi cao hàng năm tập trung chủ yếu ở vùng đồngbằng sông Cửu Long (14.314 ha chiếm 48,2%) và đồng bằng và ven biển Bắc Bộ(8.164 ha chiếm 27,5%) Trong đó Long An là tỉnh có sản lượng cao nhất cả nước(11.500 tấn), tiếp đến Vĩnh Long (6.860 tấn) Tại Miền Bắc tỉnh có sản lượng caonhất là Hải Dương (5.880 tấn), tiếp đến là Hà Nội (2.000 tấn) và thấp nhất là CaoBằng (14 tấn) Năng suất nuôi có thể đạt 23 tấn/ha/chu kỳ nuôi 277 ngày; 26tấn/ha/chu kỳ nuôi 190 ngày (tại Đình Bảng - Bắc Ninh) Năng suất nuôi bình quântại huyện Tứ Kỳ của Hải Dương đạt 12 - 15 tấn/ha [1.6]

2.3 Thị trường cá Rô phi Việt Nam và trên thế giới

2.3.1 Thị trường cá Rô phi Việt Nam

Thị trường nội địa: Việt Nam với số dân trên 80 triệu người là môi trường lýtưởng cho thị trường cá nước ngọt nói chung và cá Rô phi nói riêng Chính từ nhucầu của thị trường đó nên trong mấy năm gần đây phong trào nuôi cá Rô phi trongnước tăng nhanh một cách đáng kể Theo số liệu thu được trong các đợt điều tra chothấy diện tích nuôi và sản lượng cá Rô phi của tất cả các tỉnh trong cả nước trong 5năm trở lại, các năm sau đều cao hơn năm trước, sức tiêu thụ loài cá này trong dâncũng tăng

Cùng với sự gia tăng diện tích sản lượng cá Rô phi nuôi, thị trường nội địa tiêuthụ cá Rô phi cũng được mở rộng Cá Rô phi nuôi chủ yếu được tiêu thụ ở ngay tạiđịa phương, một số được tiêu thụ ở các tỉnh lân cận, đặc biệt là các thành phố, đô thịlớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh Thị hiếu của người tiêu dùng về cá Rôphi đã thay đổi nhiều trong vòng năm năm qua, từ chỗ thờ ơ, không muốn sử dụng

Trang 8

đã ngày càng có nhiều người tiêu dùng ưa thích Tại nhiều địa phương cá Rô phi cókích cỡ từ 400g/con trở lên được tiêu thụ nhiều, là một trong những sản phẩm thuỷsản nước ngọt ưa chuộng của người tiêu dùng.

Theo số liệu thu được trong các đợt điều tra cho thấy, sản lượng cá Rô phi năm

2004 của khu vực ĐBSH đạt 8.268 tấn xong tiêu thụ chủ yếu ở nội địa với mức giákhá cao Cá Rô phi thương phẩm bán lẻ tại Hải Dương và Hà Nội là 17.000đ/kg và20.000đ/kg loại trên 400g/con Cũng kích cỡ này tại Quảng Ninh có giá 21.000đ/kg.Giá cá Rô phi thương phẩm có sự thay đổi theo kích cỡ cá, theo từng vùng và mùa

vụ với cỡ cá dưới 0,3 kg/con giá từ 4.000 - 13.000 đồng/kg, trên 0,4 kg/con daođộng từ 15000 - 20.000 đồng/kg [6]

Thị trường xuất khẩu: Nước ta trong những năm gần đây đã bước đầu thâmnhập được vào thị trường xuất khẩu với thị phần còn vô cùng khiêm tốn, bao gồm 2mặt hàng chính là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh Xuất khẩu cá Rôphi chỉ tập trung ở một số tỉnh phía Nam như Long An (3.450 tấn), Trà Vinh (440tấn), An Giang (2.802 tấn) Năm 2004, sản phẩm cá Rô phi xuất khẩu là 1.041 tấn,kim ngạch đạt 2,12 triệu USD Thị trường xuất khẩu lớn nhất là EU (đặc biệt là Bỉ,Anh, Pháp) Giá trung bình xuất khẩu trong năm 2004 là 2,04 USD/kg [1.7]

Bảng4: Sản lượng và giá trị xuất khẩu cá Rô phi của Việt Nam vào 1 số nước năm

(Nguồn: Bản tin viện I - t1, 2007)

Trong năm 2005, theo báo cáo của các địa phương chỉ có 6 trong tổng số 64 tỉnhthành báo cáo có xuất khẩu cá Rô phi với tỷ lệ từ 5 - 6% sản lượng cá Rô phi nuôi.Khối lượng cá Rô phi xuất khẩu tới các thị trường đạt 869 tấn, kim ngạch đạt 1,90triệu USD Xuất khẩu cá Rô phi vào Mỹ đạt 268 tấn, trị giá 658.659 USD (chiếm30,92% về lượng và 34,58% về giá trị), xuất khẩu vào thị trường EU đạt khối lượng

580 tấn, trị giá gần 1,16 triệu USD (chiếm 66,7% về lượng và 61,35% về giá trị) cóthể nói xuất khẩu cá Rô phi vào thị trường EU tiến độ khá tốt Giá xuất khẩu trungbình năm 2005 là 2,19 USD/kg Giá cá Rô phi cuối tháng 1/2006 xuất sang pháp và

Trang 9

Bỉ cá đông lạnh nguyên con là 1,85 USD/kg, sang Mỹ philê cá Rô phi đông lạnh là2,318 USD/kg [1.7]

Nhìn chung nước ta nuôi cá Rô phi còn rất rải rác, chưa có vùng nuôi tạo sảnphẩm tập trung, không hình thành được đầu mối thu gom và tiêu thụ lớn, khả năngcung ứng kịp thời và liên tục cho xuất khẩu còn rất hạn chế

2.3.2 Thị trường cá Rô phi trên thế giới:

Thị trường cá Rô phi trên thế giới tăng nhanh trong hai thập kỷ gần đây, ước tínhtrong vòng 5 năm qua, nhu cầu nhập khẩu cá Rô phi tăng khoảng 36%/năm Đứngđầu các nước nhập khẩu cá Rô phi là Mỹ, tiếp theo là Nhật Bản, Châu Âu và 1 sốnước Ả Rập [1]

Thị trường Mỹ: Mặc dù Mỹ là quốc gia sản xuất cá Rô phi nhưng do nhu

cầu tiêu thụ cá Rô phi trong nước cao nên Mỹ đã phải nhập khẩu cá Rô phi(Vanuccini, 2001) Ngày nay Mỹ là quốc gia nhập khẩu cá Rô phi đứng đầu thế giới,sản lượng nhập khẩu liên tục tăng Năm 1992 sản lượng nhập khẩu đạt 3.400 tấn tớinăm 2000 lên tới 40.469 tấn, năm 2001 là 56.246 tấn tăng 39% so với năm 2000.Giá trị nhập khẩu năm 2001 tăng 26% so với năm 2000, đạt 127,8 triệu USD vànăm 2004 tăng lên 112.939 tấn, trị giá 297 triệu USD Năm 2005, Mỹ nhập khẩu135.000 tấn cá Rô phi, giá trị trên 393 triệu USD, trong đó 55.615 tấn Rô phi đônglạnh còn lại là cá tươi [25.22] Năm 2006, nhập khẩu và tiêu thụ cá Rô phi của Mỹtiếp tục tăng lên tới 360.000 tấn nguyên liệu (158.000 tấn sản phẩm), đưa mức tiêuthụ đầu người lên 1,2 kg [21.41] Trong vòng 10 năm, mức tiêu thụ cá Rô phi tínhtheo đầu người tăng gấp 3 lần, năm 1993 mức tiêu thụ cá Rô phi bình quân ở Mỹ là0,08 kg/người/năm, năm 1998 là 0,19 kg/người/năm và năm 2004 là 0,24kg/người/năm Năm 2000, cá Rô phi đứng vị trí thứ 11 trong danh mục các sảnphẩm thuỷ sản được ưa chuộng tại Mỹ, đến năm 2002 vươn lên vị trí thứ 9, năm

2003 vương lên vị trí thứ 8 và năm 2004 đứng vị trí thứ 6 trong danh mục nhữngsản phẩm thuỷ sản được ưa chuộng nhất tại Mỹ [11.45]

Các dạng sản phẩm nhập khẩu chủ yếu vào Mỹ là: cá phi lê tươi, cá phi lê đônglạnh, đông lạnh nguyên con Năm 2004, Mỹ nhập khẩu 19.480 tấn cá Rô phi tươi,ướp lạnh, phần lớn là sản phẩm phi lê có nguồn gốc từ Ecuado 10.163 tấn, CoxtaRica 4.090 tấn và Hônđurat 4.042 tấn [13.15] Năm 2007, Ecuado dẫn đầu xuấtkhẩu phi lê cá Rô phi tươi vào Mỹ, Ecuado tiếp tục giữ vị trí số 1 về xuất khẩu phi

Trang 10

lê cá Rô phi tươi vào Mỹ, tiếp sau là Hôndurat Theo con số tổng kết năm 2006,Ecuado là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thị trường Mỹ Ecuado xuấtkhẩu 10,2 triệu kg sản phẩm này trong năm 2004; 10,6 triệu kg năm 2005 và xuấtkhẩu năm 2006 đạt 10,9 triệu kg [22.48].

Khu vực Châu Á cung cấp chủ yếu cá Rô phi vào Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc

và Đài Loan Năm 2000, sản lượng nhập khẩu vào Mỹ từ Đài Loan (chiếm 43%),tiếp đến là Trung Quốc (33%), Inđônêxia (3%) Ngoài ra còn một số nước ChâuMỹ: Ecuado (9%), Coxta Rica (7%), Honduras (3%) Tuy nhiên, từ năm 2000 đếnnay sản lượng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng nhanh đưa nước này đứng vị trí hàngđầu về xuất khẩu cá Rô phi vào thị trường Mỹ (với 53% tổng sản lượng nhập khẩucủa Mỹ); Đài Loan giảm xuống vị trí thứ 2 chiếm 25%; Inđônêxia 4%

Thị trường Châu Âu: Châu Âu là thị trường còn rất non trẻ, có tiềm năng rất

Ngoài ra còn nhập khẩu từ 1 số nước: Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan,Malayxia, Việt Nam, Costa Rica, Jamaica Gần đây có thêm: Uganda, Tanzania,Kenya và Zimbabue[6]

Thị trường Châu Á: Thị trường Châu Á và thị trường Trung Đông cũng

được đánh giá là các thị trường có tiềm năng trong tương lai Nhật Bản, Hàn Quốcnhập khẩu cá Rô phi trực tiếp từ các nước Châu Á Các nước xuất khẩu cá Rô phisang Nhật là Đài Loan, Inđônêxia và Thái Lan Thị trường Nhật Bản chuyên tiêuthụ các sản phẩm cá Rô phi ở dạng phi lê tươi hoặc phi lê đông lạnh

Trang 11

Các nước Ả Rập được xem là thị trường tiềm năng tiêu thụ cá Rô phi Hiện tạicác nước này nhập khẩu cá Rô phi từ Ai Cập Các nước như Saudi Arabia, Kuwait,Jordan và Qatar nhập khẩu cá Rô phi từ Đài Loan (Snir và ctv,2002).

Canada: Sản lượng tiêu thụ cá Rô phi ở thị trường Canada mấy năm gần đâytăng dần Sản lượng tiêu thụ ở đây được cung cấp từ 2 nguồn: Sản lượng nội địa vànhập khẩu từ các nước như Mỹ, Costa Rica và Jamaica (Vanuccini, 2001; Snir vàctv, 2002)

2.4 Phương pháp nghiên cứu thị trường

2.4.1 Định nghĩa thị trường

Theo Ianchaston (1987), thị trường được chia thành 2 dạng cơ bản là thịtrường công nghiệp và thị trường tiêu thụ, sức mua sản phẩm do thị hiếu riêng củangười tiêu dùng quyết định Trong thị trường công nghiệp, sức mua có liên quan đếncác mục tiêu kinh tế và việc sử dụng các sản phẩm để tạo ra lợi nhuận

2.4.2 Các bước nghiên cứu thị trường

Phương pháp nghiên cứu thị trường: Theo Nguyễn Văn Thường và ctv(1992), phương pháp nghiên cứu thị trường bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Thu thập thông tin:

+ Thông qua nghiên cứu tài liệu có sẵn để thu thập những thông tin cần thiết,phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê như những thông tin quan trọng nhất,dựa trên cơ sở đó có thể đánh giá khái quát tình hình phát triển kinh tế nói chung sựphát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế và bao quát thị trường

+ Thông qua nghiên cứu thực địa để thu thập thông tin bằng cách quan sáttrực quan, liên hệ, phỏng vấn các thương nhân và người tiêu dùng Nội dung chủyếu của phương pháp này là tiến hành điều tra đặc biệt về người tiêu dùng Trongtrường hợp số lượng người tiêu dùng không đủ lớn có thể điều tra toàn bộ, nếukhông phương pháp điều tra trên các mẫu sẽ được áp dụng

Các kết quả của mẫu cho phép suy đoán trên các mẫu sẽ được áp dụng Các kếtquả của mẫu cho phép suy đoán về tổng thể, do đó mẫu cần phải được chọn theođúng phương pháp để đại diện cho tổng thể Có 2 phương pháp phổ biến để chọnmẫu điều tra là:

<1> Chọn mẫu ngẫu nhiên hoàn toàn: Các mẫu trong tổng thể được chọn theocách ngẫu nhiên mà không qua sự sắp xếp nào trước, ví dụ như rút thăm

Trang 12

<2> Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống: Cũng là cách chọn ngẫu nhiên nhưngcác mẫu được chọn theo khoảng cách hoặc 1 quy tắc nhất định, ví dụ: Chọn cácmẫu có số thứ tư 5, 10, 15 Các phương pháp điều tra phổ biến gồm có phỏng vấnbằng thư, điện thoại hay phỏng vấn trực tiếp bằng các biểu mẫu điều tra đã đượcchuẩn bị trước và đã hiệu chỉnh sau lần điều tra thử.

+ Bước 2: Xử lý thông tin:

Xử lý thông tin là giai đoạn quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường Mục đíchcủa nó là trên cơ sở những thông tin đã được thu nhận về tình hình thị trường, ngườisản xuất cần xác định cho mình những thông tin đã được thu nhận về tình hình thịtrường, người sản xuất cần xác định cho mình thị trường mục tiêu, chuẩn bị cho cácchính sách Marketing thích ứng với tình hình thị trường đó Nội dung chủ yếu củaviệc xử lý thông tin là:

+ Xác định thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm của ngườisản xuất (xí nghiệp)

+ Lựa chọn các thị trường mục tiêu mà xí nghiệp có khả năng thâm nhập vàphát triển việc tiêu thụ của mình

2.5 Đặc điểm vùng nghiên cứu

2.5.1 Điều kiện tự nhiên

Tứ Kỳ nằm dọc theo trục tỉnh lộ 191, nối quốc lộ 5 và quốc lộ 10 đi HảiPhòng và Thái Bình, cách Hà Nội 60 km về phía Tây Bắc, cách Hải Phòng 40 km

về phía Nam và Đông Nam, cách thành phố Hải Dương 14 km về phía Tây Bắc.Lãnh thổ của Huyện được bao bọc bởi 2 con sông: sông Thái Bình, sông Luộc và hệthống thuỷ nông Bắc Hưng Hải (gồm sông Tứ Kỳ và sông Cầu Xe) Tứ Kỳ có vị tríthuận lợi trong giao lưu kinh tế với các đô thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long,Hải Dương và với các tỉnh ĐBSH, các tỉnh miền núi phía Bắc

Trang 13

Huyện Tứ Kỳ có 1 thị trấn và 26 xã Diện tích tự nhiên của huyện là 168,1

km2, chiếm 9,77% diện tích tự nhiên của tỉnh Hải Dương

2.5.1.2 Đặc điểm địa hình

Tứ Kỳ là huyện nằm trong vùng Châu thổ sông Hồng Xét về tiểu vùng: địahình không đồng đều, cao thấp xen kẽ nhau giữa vùng cao và bãi trũng; phía TâyBắc địa hình khá bằng phẳng, phía Đông và Đông Nam chịu ảnh hưởng nhiều vàomực nước thuỷ triều của sông Thái Bình và sông Luộc, do đó một bộ phận diện tíchvùng thấp bị nhiễm mặn Tuy vậy, so với một huyện nằm trong vùng đất phù sasông Thái Bình đây vẫn là huyện có địa hình tương đối bằng phẳng

2.5.1.3 Khí hậu

Tứ Kỳ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với đặc trưng nóng ẩm,mưa vào mùa hè và hanh khô vào mùa đông Sự thay đổi nhiệt độ giữa các thángtrong năm khá lớn, nhiệt độ trung bình khoảng 230C, tháng nóng nhất (tháng 6, 7)lên đến 36 - 370C và tháng lạnh nhất nhiệt độ hạ xuống 6 - 70C

Lượng mua trung bình hàng năm khoảng 1500 - 1650mm, phân bố khôngđều theo thời gian Lượng mưa tập trung chủ yếu vào các tháng 6, 7, 8, 9 (tháng 8

có lượng mưa cao nhất 416mm) Trong khi đó, tháng 12 lượng mưa thấp nhất, chỉđạt 11mm, cá biệt có những năm chỉ đạt 5mm

2.5.1.4 Thuỷ văn

Trên địa phận huyện Tứ Kỳ có 2 sông lớn chảy qua là sông Thái Bình (đoạnqua Tứ Kỳ là 28,5km) và sông Luộc (đoạn qua Tứ Kỳ là 20km) Nước thuỷ triềutheo cửa sông Văn Úc và cửa sông Thái Bình ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống thuỷvăn cũng như môi trường thiên nhiên của huyện

Bên cạnh sông lớn, huyện còn có trên 57,5km sông Bắc Hưng Hải, đây lại làđiểm cuối của hệ thống sông Bắc Hưng Hải, nên toàn bộ nước dồn về Tứ Kỳ để đổ

ra sông Thái Bình và sông Luộc

Nhận xét: Tứ Kỳ là huyện nằm trong vùng trọng điểm phía Bắc, một trong 3vùng năng động nhất của Việt Nam hiện nay, gần Hà Nội và Hải Phòng, Hạ Longnên có nhiều thuận lợi trong việc liên kết, trao đổi, giao lưu hàng hoá, công nghệ,lao động, kỹ thuật Tứ Kỳ nằm dọc trục đường 191 nối quốc lộ 5 và quốc lộ 10 điHải Phòng, Quảng ninh, Thái Bình Những thuận lợi về giao thông đường bộ,đường sông tạo điều kiện cho huyện giao lưu kinh tế - văn hoá với bên ngoài Trên

Trang 14

địa bàn huyện có nhiều vùng đất trũng, điều kiện thuỷ văn tương đối thuận lợi, tạođiều kiện thuận lợi cho NTTS.

2.5.2 Tài nguyên thiên nhiên

2.5.1 Nguồn lợi thuỷ sản

Tứ Kỳ là vùng đất trũng, có vùng nước lợ, có nhiều loài thuỷ sản cư trú vàsinh sống Theo số liệu báo cáo qui hoạch của huyện, trên lãnh thổ huyện có khoảng

30 loài cá, tôm và đặc sản sinh sống, bao gồm các loại như cá Mè, cá Trôi, cáTrắm, Baba, Ếch một số giống mới như Rô phi đơn tính, cá Trê lai, cá Chimtrắng, Tôm càng xanh, các loài động vật đặc hữu vùng nước lợ như: Rươi, Cáy, Cà

ra, cá Nhệch, cá Đối, cá Mòi, Các loài động vật đặc hữu xuất hiện theo mùa, theocon nước và có sự biến đổi về số lượng và thành phần khác nhau

Tứ kỳ hiện có hơn 946 ha diện tích NTTS, và còn có gần 170 ha diện tíchmặt nước chưa sử dụng Ngoài ra huyện còn có 3.000 ha diện tích đất trũng cấy lúathường cho năng suất thấp ở cả 2 vụ chiêm xuân và vụ mùa, nên có thể chuyển đổivùng đất trũng đó sang thả cá Như vậy, tiềm năng NTTS của huyện còn rất lớn, cần

có sự đầu tư cả về vốn và kỹ thuật nuôi trồng thuỷ sản

2.5.2 Tài nguyên nước

Tài nguyên nước của huyện bao gồm nguồn nước mặt và nước ngầm

Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt của huyện Tứ Kỳ chủ yếu do 2 con sôngchính (sông Thái Bình và sông Luộc) cung cấp và hệ thống thuỷ nông Bắc HưngHải chạy quanh, bao bọc lấy Tứ Kỳ với trên 100km bờ đê Đó là nguồn nước mặtquý giá đối với Tứ Kỳ Ngoài nguồn nước mặt của các con sông, Tứ Kỳ còn có trên1100ha ao hồ, đầm các loại với trữ lượng nước khá lớn, không chỉ có ý nghĩa lớncho sự phát triển NTTS mà còn phục vụ nhu cầu nước tại chỗ

Nguồn nước ngầm: Theo khảo sát sơ bộ nước ngầm có trữ lượng lớn, phân

bố ở độ sâu 15- 25m, song chất lượng không được tốt vì có nhiều tạp chất Nguồnnước ngầm hiện chưa khai thác, đây là nguồn nước dự trữ cho phát triển trongtương lai

2.5.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Theo số liệu thống kê của huyện Tứ Kỳ thì dân số hiện nay của huyện là166.066 người, mật độ dân số 988 người/km2, thấp hơn so với mức trung bình củatỉnh Hải Dương (1022 người/km2)[40.11]

Trang 15

Tứ Kỳ là huyện có quy mô dân số lớn nhất so với các huyện của tỉnh HảiDương Tốc độ tăng dân số của huyện đạt 0,62% giai đoạn 1996 - 2002 tươngđương với mức tăng dân số của tỉnh, song thấp hơn so với mức tăng của cả nước.Tốc độ tăng dân số có xu hướng giảm trong 7 năm gần đây Cơ cấu dân số: dân sốhuyện Tứ Kỳ mang đậm nét đặc thù của một huyện nông nghiệp và phân bố khôngđều Số nhân khẩu sống ở vùng nông thôn chiếm 96,24%, số nhân khẩu thành thị là3,76%, thấp hơn nhiều so với trung bình của cả nước (24,7%), điều đó chứng tỏmức độ đô thị hoá, phát triển công nghiệp và dịch vụ ở huyện Tứ Kỳ còn ở mứcthấp Dân số nam chiếm 47,8%, nữ chiếm 52,2% thấp hơn so với mức trung bình cảnước (49,1% và 50,9%)[36].

Chất lượng dân số: Chất lượng dân số của Tứ Kỳ ở mức trung bình khá Mứcsống dân cư không cao, mặc dù ngày càng được cải thiện, thu nhập bình quân đầungười từ 1,89 trđ (năm 1995) và lên 3,1 trđ (năm 2002) tỷ lệ hộ gia đình xếp loạinghèo ngày càng giảm từ 14% năm 2000 xuống còn 10% tháng 6 năm 2003

Nguồn lao động: Nguồn lao động của huyện tương đối dồi dào Theo số liệuthống kê của tỉnh Hải Dương thì số lao động trong độ tuổi của Tứ Kỳ năm 2004 là92.068 người Hiện nay lao động có việc làm là 90.852 người, trong đó lao độngnông nghiệp là 69.004 người chiếm 75,95%, lao động công nghiệp và xây dựng8.857 người (9,45%), lao động khu vực dịch vụ 13.261 người (14,6%) [40.14]

Trang 16

3.1 Thời gian nghiên cứu

Thực hiện từ tháng 1 năm 2007 đến hết tháng 8 năm 2007

3.2 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại huyện Tứ Kỳ, Hải Dương

3.3 Đối tượng nghiên cứu

+ Điều tra tình hình sản xuất và tiêu thụ cá Rô phi thương phẩm của các nông

hộ nuôi cá Rô phi trong huyện Tứ Kỳ

+ Điều tra thương lái tại chợ trong huyện, thương lái lớn trong huyện,thương lái tại chợ đầu mối cá Thạch Khôi

3.4 Phương pháp thu thập số liệu

3 4.1 Thu thập số liệu

Số liệu thu thập từ tháng 1 năm 2006 đến hết tháng 6 năm 2007

Số liệu được thu thập từ các quan điểm, chính sách, định hướng phát triểnNTTS, nuôi cá Rô phi từ Sở NN & PTNT tỉnh Hải Dương, UBND và Phòng NN &PTNT huyện Tứ Kỳ - Hải Dương

Báo cáo tổng kết các chương trình, dự án NTTS và nuôi cá Rô phi, số liệuthống kê hàng năm về NTTS, phát triển nuôi cá Rô phi được thu thập phòng nôngnghiệp huyện Tứ Kỳ Hải Dương

Các số liệu về tình hình nuôi và thị trường cá Rô phi trên thế giới được thuthập từ tạp chí thương mại thuỷ sản, tạp chí thuỷ sản, các báo cáo chuyên đề từ năm

2005 đến nay

Phỏng vấn chính thức bằng bộ câu hỏi đã chuẩn hoá và phỏng vấn bán chínhthức các nhà quản lý cấp tỉnh, huyện về ý kiến, quan điểm và định hướng phát triểnnuôi cá Rô phi tại huyện Tứ Kỳ - Hải Dương

3 4.2 Điều tra thực địa

Sau khi thu thập, tổng hợp số liệu Xác định những vùng có tiềm năng vàphong trào nuôi cá Rô phi phát triển, những vùng được tỉnh định hướng phát triểnnuôi cá Rô phi Trên cơ sở đó thực hiện các điều tra thực địa

Điều tra thực địa được thực hiện kết hợp quan sát thực tế và phương phápđiều tra phỏng vấn thông qua 3 bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá cho 3 đối tượng:

+ Bộ câu hỏi điều tra hiện trạng nuôi cá Rô phi ở 70 nông hộ tại 3 xã HưngĐạo, Tái Sơn, Quang Phục

Trang 17

+ Bộ câu hỏi điều tra thị trường tiêu thụ cá thương phẩm giành cho 41thương lái tại 3 chợ địa phương trong huyện Tứ Kỳ và chợ đầu mối cá Thạch Khôi.

+ Bộ câu hỏi dành cho 80 người tiêu dùng xung quanh khu vực 3 chợ (chợYên - Thị trấn Tứ Kỳ, chợ Ngã ba Quang Phục, chợ Mũ - Hưng Đạo)

+ Thống kê so sánh: Dùng phân tích thống kê để so sánh các mức trong từngbiến hoặc giữa các biến với nhau Các phân tích thường dùng là: T – test, Anova,LSD

+ Mô hình hoá: Trong một số trường hợp, mô hình sẽ được tính toán để giảithích thái độ và ý thích của người tiêu dùng Các mô hình có thể đơn giản (chứa ítbiến) hoặc phức tạp (chứa nhiều biến) Các phân tích thường dùng là tương quan,hồi quy đa biến

Trang 18

4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tình hình NTTS tại huyện Tứ Kỳ

4.1.1 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản trong toàn huyện

Trong những năm gần đây phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển khámạnh, toàn huyện hiện có 10.700 hộ nuôi trồng thuỷ sản, trong đó có 10.300 hộnuôi cá với tổng diện tích là 1.429 ha, sản lượng cá thu hoạch đạt 5.510 tấn, tăng

668 tấn so với năm 2005 [33.1]

Bảng 5: Kết quả NTTS năm 2005, 2006 và 6 tháng đầu năm 2007

1 Diện tích NTTS(Ha)

Diện tích nuôi Rô phi (Ha)

1.39055

1.45060

1.49564

3 Tổng sản lượng (Tấn)

Sản lượng cá Rô phi (Tấn)

4.896605

5.220650

2815340

4 Mật độ thả (con/m2)

Mật độ thả Rô phi (con/m2)

2 - 53

2 - 54

2 - 54

5 Năng suất nuôi (Tấn/ha)

Năng suất nuôi Rô phi(Tấn/Ha)

3.5211

3.613

3.716

132.2

183(Nguồn: Phòng thống kê huyện Tứ Kỳ/ 2007)

Ngành thuỷ sản tăng cả diện tích nuôi thả lẫn năng suất và sản lượng thuhoạch Diện tích nuôi thả thuỷ sản tăng từ 606 ha năm 1997 lên 959 ha năm 2002 vànăm 2006 đã tăng lên 1.450 ha Tốc độ GDP tăng trung bình 12,4% Năng suất nuôithả tăng rõ rệt, năm 1997 năng suất nuôi chỉ đạt 2,0 tấn/ha thì năm 2006 năng suấtbình quân đạt 3,6 tấn/ha

Hiện nay, huyện Tứ Kỳ có 1.774 ha diện tích có khả năng nuôi thuỷ sản, tổngdiện tích đã đưa vào NTTS là 1.450 ha, tăng 60 ha so với năm 2005, trong đó diệntích hồ ao nhỏ là 1.392 ha, diện tích mặt nước lớn là 58 ha, diện tích chuyển đổisang NTTS năm 2006 là 120 ha [33.1]

Trong huyện đã hình thành các mô hình trang trại nuôi trồng thuỷ sản, nuôithuỷ đặc sản với quy mô vừa và nhỏ ở Đại Đồng, Tái Sơn, Hưng Đạo, Kỳ

Trang 19

Sơn Toàn huyện đã và đang thực hiện dự án chuyển đổi vùng trũng sang phát triểnNTTS.

Trong toàn huyện hiện có khoảng 450 ha nuôi cá giống mới, trong đó thâmcanh nuôi đơn cá Rô phi đơn tính là 45 ha Riêng sản lượng cá Rô phi đơn tính ướcđạt 970 tấn

Tuy nhiên, ngành thuỷ sản Tứ Kỳ chưa khai thác hết các tiềm năng sẵn có,còn một số tồn tại cần giải quyết Tứ Kỳ có 169 ha diện tích mặt nước chưa sửdụng, ngoài ra còn trên 3000 ha vùng trũng có năng suất lúa thấp là các diện tích cóthể sử dụng vào mục đích NTTS Trong những năm qua mới có trên 959 ha đượcđưa vào nuôi trồng thuỷ sản, như vậy tiềm năng NTTS còn rất lớn

4.1.2 Tình hình nuôi trồng thuỷ sản của các nông hộ

4.1.2.1 Thông tin nông hộ

Khảo sát 70 người nuôi cá ở 3 xã Hưng Đạo, Tái Sơn, Quang Phục, đây là 3

xã có truyền thống nuôi cá Rô phi từ rất lâu và hiện nay đang triển khai mô hìnhhợp tác xã NTTS tại xã Tái Sơn và xã Hưng Đạo

Trang 20

Số năm nuôi cá dao động từ 2 - 13 năm, trung bình là 7,89 ± 0,34, trong đó có24,29% số nông hộ nuôi thuỷ sản <5năm; 57,14% số nông hộ nuôi từ 6 - 10 năm;18,57% nông hộ nuôi thuỷ sản >10 năm

Từ kết quả điều tra cho thấy, đại đa số những người tham gia vào nuôi trồngthuỷ sản ở huyện Tứ Kỳ có độ tuổi trên 40, có kinh nghiệm trong NTTS, hầu hết cácnông hộ đều có truyền thống nuôi cá lâu năm, chủ yếu từ 5 năm trở lên và đã tíchluỹ được số vốn lớn để đầu tư cho hoạt động NTTS, đây là mặt thuận lợi cho phongtrào phát triển nuôi cá nói chung và nuôi cá Rô phi nói riêng

Trong số những nông hộ điều tra, 100% các nông hộ trả lời thu nhập chínhtrong gia đình là từ nuôi trồng thuỷ sản (nuôi cá) Số lao động tham gia NTTS daođộng trong khoảng từ 1 - 4 người, trung bình 1,74 ± 0,075

Hình 4: Hình thức nuôi cá Rô phi

Hầu hết các hộ được phỏng vấn trả lời trong 5 năm gần đây nuôi cá Rô phi làchủ yếu, và có ghép thêm các loài cá truyền thống với tỉ lệ: 80% cá Rô phi và 20%các loài cá khác; có 47,14% nông hộ nuôi đơn cá Rô phi, 48,57% nông hộ nuôighép cá Rô phi với các loài khác và chỉ có 4,29% nông hộ không nuôi cá Rô phi màchỉ nuôi cá truyền thống

100% số hộ được phỏng vấn trả lời diện tích nuôi trồng thuỷ sản chủ yếudùng để nuôi cá Các nông hộ có nhiều ao thường sử dụng 1ao ương, dùng ao ươngnày để ương cá kích cỡ nhỏ lên cỡ lớn hơn; khi ao nuôi thu hoạch, sẽ dùng cá từ aoương để thả vào ao nuôi nuôi tiếp (nuôi theo hình thức gối vụ) Hình thức này tiếtkiệm được tiền mua giống vì nếu mua cá giống cỡ lớn rất đắt, nuôi gối vụ trong mộtnăm có thể nuôi từ 2 - 3 vụ, thu nhập cao hơn nhiều những hộ chỉ có 1 ao

4.1.2.2 Một số thông số trong nuôi cá Rô phi

Diện tích nuôi cá ở các nông hộ: Tại huyện Tứ Kỳ diện tích NTTS dao động từ

1.000m2 - 43.000m2 Độ sâu mực nước ao dao động 1,2 - 2m

Trang 21

Mật độ thả cá: Các nông hộ nuôi đơn cá Rô phi thả cá với mật độ 2,5 - 3,5

(con/m2), nuôi sau 6 - 8 tháng đạt kích cỡ 500g trở lên Kích cỡ thu hoạch sẽ đồngđều nếu chọn cá giống có chất lượng tốt và đều nhau Hầu hết các nông hộ thả mật

độ 3 con/m2

Bảng 6 : Địa điểm chọn mua cá giống và chất lượng con giống

10041,431,4357,14

2 Chất lượng con giống:

Tốt

Bình thường

Xấu

7037330

10052,947,10

Theo kết quả khảo sát, 41,43% nông hộ trả lời thường xuyên mua cá của cáctrại sản xuất cá giống trong huyện; 57,14% số nông hộ trả lời mua nhiều nguồn khácnhau, gặp đâu mua đấy; chỉ có 1,43% nông hộ thường xuyên mua cá của cơ sở sảnxuất cá giống ngoài huyện Tuy nhiên hầu hết các nông hộ không mua cá ở 1 trạigiống cố định, tuỳ thuộc tình hình để mua cá giống Các nông hộ trả lời tuỳ từng lầnmua giống, có lần con giống tốt, có lần con giống kém và các nông hộ cũng khôngmua cá giống ở trại giống cố định nên không thể khẳng định chính xác chất lượngcon giống của từng trại

Hình thức nuôi:

Hình 5: Tỷ lệ ghép cá Rô phi

Trang 22

Trong 70 nông hộ được phỏng vấn có 49,25% nông hộ nuôi đơn; 50,75%nông hộ nuôi ghép Các nông hộ nuôi ghép Rô phi trong đó cá Rô phi chiếm tỷ lệkhá cao từ 80 - 90%, các nông hộ này chỉ ghép thêm 1 số lượng rất ít cá truyềnthống, chủ yếu là cá Mè, cá Trắm và cá Trôi, cá Chép Hầu hết các nông hộ đượcphỏng vấn trả lời cá Quả chỉ thả số lượng rất ít, thường thả 2 - 3 con trong ao, ít khighép thêm cá Chim và cá Trê Hình thức nuôi này nhằm tận dụng nguồn vật chấthữu cơ có trong ao để làm thức ăn cho các loài cá truyền thống.

Một số nông hộ trả lời trong quá trình nuôi thả cá giống kích cỡ nhỏ nên khôngkiểm soát được mật độ cá giống, có nông hộ trả lời trong quá trình ương giống nếu

vụ nào ương được nhiều thì sẽ thả nhiều giống hơn các vụ khác Thông thường cácnông hộ ước lượng lượng cá hao hụt để bổ xung thêm con giống và luôn duy trì mật

độ cá trung bình trong ao là 3 con/m2

Kích cỡ cá giống thả: Kích cỡ cá giống dùng để thả ở các nông hộ nuôi là khác

nhau Kích cỡ càng bé thì thời gian nuôi càng kéo dài đồng thời tỷ lệ hao hụt lớn,

ảnh hưởng đến năng suất nuôi Tuy nhiên, tại Tứ Kỳ vẫn có nhiều nông hộ thả cágiống kích cỡ nhỏ Cá Rô phi dùng làm con giống chủ yếu là cá có kích cỡ nhỏ từ 1

- 2g/con

Ngoài ra vẫn có những nông hộ dùng con giống kích cỡ lớn để nuôi thươngphẩm, kích cỡ con giống lên tới 100 - 200g/con Dùng con giống kích cỡ lớn có thểnuôi 2 - 3 vụ trong năm Những hộ thả cá kích cỡ lớn thường là những hộ có từ 2 aotrở lên, họ dùng 1 ao để ương cá giống, khi ao nuôi đạt kích cỡ thương phẩm sẽ kéobán và dùng cá ở ao ương, đồng thời những cá chưa đạt kích cỡ thương phẩm cũngđược giữ lại nuôi cùng với cá giống ở ao ương (hình thức nuôi gối vụ) Cá giống từ

ao ương chuyển sang có kích thước lớn nên rút ngắn được thời gian nuôi Kích cỡcon giống từ ao ương chuyển sang có thể đạt tới 100 - 200 g/con Do có ao ươngnên những nông hộ này chủ động được con giống, giảm chi phí giống và có thể nuôinhiều vụ trong năm Đồng thời lợi nhuận thu được cao hơn những hộ không có aoương Những nông hộ chỉ có 1 ao thì phải thả những con giống kích cỡ nhỏ khôngchỉ thời gian nuôi kéo dài mà cá hao hụt cũng nhiều Ngoài ra: Do chỉ có 1 ao nênkhi thu hoạch những cá chưa đủ biểu lái buôn không mua những nông hộ này lạiphải bán cho những hộ nuôi khác làm cá giống với giá rẻ để có điều kiện cải tạo ao(số lượng cá ít không đủ nuôi)

Trang 23

Những hộ sử dụng con giống kích cỡ lớn đều phải có ao ương để chủ động congiống và tiết kiệm chi phí mua giống Những hộ không có ao ương không sử dụnggiống to vì chi phí cho giống to rất lớn, không thể chủ động nguồn giống và lợinhuận sẽ thấp.

Năng suất nuôi: Năng suất nuôi dao động từ 2 tấn - 10 tấn/ha/vụ nuôi trong khi đó

năng suất nuôi cá truyền thống chỉ đạt 3,5 tấn/ha/vụ nuôi Điều này chứng tỏ năngsuất ao nuôi cá Rô phi cao hơn nhiều so với ao nuôi cá truyền thống [33.1]

Năng suất ao nuôi cá Rô phi có sự khác nhau do mật độ nuôi và tỷ lệ ghép.Những nông hộ nuôi với tỷ lệ cá Rô phi cao và mật độ thả hợp lý sẽ cho năng suấtnuôi cao hơn những hộ nuôi ghép với tỷ lệ cá Rô phi thấp và mật độ thả ít

Tình hình sử dụng thức ăn: Tại Tứ Kỳ hầu hết các hộ đều nuôi cá Rô phi bằng

thức ăn công nghiệp có sử dụng thêm phân trong giai đoạn đầu (nuôi cá trong hệthống nuôi kết hợp VAC) Hầu hết các hộ nuôi khẳng định kết hợp thêm phân giaiđoạn đầu hợp lý sẽ giảm được chi phí thức ăn và lợi nhuận cao hơn những nông hộkhông dùng thêm phân giai đoạn đầu Theo kết quả khảo sát, ở các nông hộ củahuyện Tứ Kỳ sử dụng thức ăn công nghiệp trong hệ thống VAC năng suất nuôi cá

Rô phi đạt rất cao Năng suất nuôi nhỏ nhất là 10,8 tấn/ha/vụ, năng suất nuôi lớnnhất là 13,5 tấn/ha/vụ; năng suất trung bình 12,13 ± 0,12 tấn/ha/vụ[33.2]

Trong hệ thống VAC, phân được sử dụng làm thức ăn cho cá nhằm giảm chi phíthức ăn Đồng thời chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng làm tăng thêm thu nhập tronggia đình Đa số người nuôi chỉ sử dụng phân hoặc phế phụ phẩm nông nghiệp vàthức ăn tự chế để nuôi cá Rô phi trong 1 - 2 tháng đầu, kể từ tháng thứ 3 trở đi cho

ăn thức ăn công nghiệp hoàn toàn và chỉ bón thêm phân để gây màu nước (khi cần)

Có 92,54% nông hộ chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp; chỉ một phần rất nhỏ(chiếm 7,46%) sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp thức ăn tự chế 100% số nông

hộ nuôi cá Rô phi được phỏng vấn có sử dụng thức ăn công nghiệp, nếu chỉ sử dụngmình thức ăn tự chế hoặc mình phụ phẩm sẽ không đủ chất dinh dưỡng trong khẩuphần ăn của cá nên không có hộ nuôi nào sử dụng duy nhất thức ăn tự chế hoặc phụphẩm

Trang 24

Hình 6: So sánh giá thức ăn giữa các hãng trong cùng độ đạm 25%

Thức ăn công nghiệp được sử dụng gồm nhiều hãng khác nhau là: Cargill, MinhTâm, Lái Thiêu, Usoong (Hàn Quốc), CP trong đó thức ăn được sử dụng nhiềunhất là cám Minh Tâm và Cargill Từ biểu đồ nhận thấy, ở cùng độ đạm 25% thìcám Lái Thiêu có giá thấp nhất và cám CP có giá cao nhất Hầu hết các nông hộ sửdụng cám của 2 hãng Minh Tâm và hãng Cargill, lý do chọn 2 hãng này được cácnông hộ đưa ra là do cám của 2 hãng này có chất lượng rất tốt, giá thành hợp lý, phùhợp mong muốn của người nuôi cá

Thức ăn được thông qua 2 - 3 khâu phân phối từ đại lý cấp 1, cấp 2, đến cửa hàngbán lẻ thức ăn Hệ thống dịch vụ cung cấp thức ăn hoạt động tốt, cung cấp đủ sốlượng thức ăn cho người nuôi, với nhiều loại thức ăn và giá thức ăn bán tại các cửahàng là khác nhau; mỗi mức giá được người bán hàng áp dụng tại mỗi điểm là khácnhau do sự khác nhau của các khâu trung gian Ngoài ra, một số nông hộ nuôi cáđến cuối vụ nuôi cạn kiệt vốn đầu tư nên phải mua chịu cám với giá cao hơn giábình thường là 5000 đ/1bao 25 kg

Sử dụng phân chuồng: Phân chuồng được các hộ nuôi ủ qua hoặc thả trựctiếp xuống ao làm thức ăn và gây màu nước trước khi thả cá Trong 2 tháng đầu,người nuôi sử dụng 100% phân chuồng thả xuống ao và sử dụng thêm rất ít thức ăncông nghiệp, từ tháng thứ 3 trở đi lượng phân chuồng cho xuống ao giảm dần, sửdụng kết hợp thức ăn công nghiệp, kể từ tháng thứ 4 trở đi không sử dụng phân mà

sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp

Thức ăn tự chế gồm: Ngô, cám gạo nghiền nhỏ nấu chín Những thức ăn nàykhông đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cá nên các hộ nuôi dùng loại thức ăn này làphụ còn vẫn sử dụng chủ yếu là thức ăn công nghiệp

Trang 25

Chi phí thức ăn cho nuôi cá Rô phi là rất lớn Theo kết quả điều tra, cámMinh Tâm năm 2005 có giá 125.000 - 130.000 đ/bao25kg thì thời điểm tháng 5 năm

2007 đã có giá 150.000đ - 160.000 đ/1bao25kg Trong khi giá cám ngày càng tăngcao thì giá cá không tăng lên thậm chí còn giảm Đây chính là một trong những khókhăn cho người nuôi cá Rô Phi

Cũng vì chi phí thức ăn trong nuôi cá Rô phi lớn, đòi hỏi vốn đầu tư cao nênnhiều hộ nông dân nuôi cá truyền thống có ít vốn không thể chuyển đổi sang nuôi cá

Rô phi hoặc ngần ngại khi chuyển sang nuôi cá Rô phi.

Thời gian nuôi và số vụ nuôi:

Hình 7: Thời gian và số vụ thả cá Rô phi

Thông thường thời gian nuôi của các nông hộ huyện Tứ Kỳ là từ 4 - 8 tháng,những nông hộ có ao ương để ương cá giống chỉ nuôi trong vòng 4 - 5 tháng/vụ,nuôi 2 - 3 vụ/năm Trong quá trình nuôi, số nông hộ chỉ nuôi 1vụ trong năm chiếm

tỷ lệ khá cao (64,18%); 31,34% nuôi 2 vụ và 4,48% nuôi 3 vụ Có 62,69% nông hộnuôi 6 tháng, 32,84% nông hộ nuôi từ 7 tháng trở lên, chỉ có 4,48% nông hộ nuôi 4tháng Cá biệt có những hộ nuôi 12 tháng/vụ Trung bình một vụ nuôi của các nông

hộ trong huyện Tứ Kỳ kéo dài 6 tháng Thời gian nuôi cá Rô phi ngắn hơn rất nhiều

so với thời gian nuôi các loài cá truyền thống, thông thường các loài cá truyền thốngphải nuôi 12- 16 tháng mới đạt kích cỡ bán thì cá Rô phi chỉ trong thời gian ngắn cóthể thu hoạch (4- 8 tháng) Do thời gian nuôi ngắn nên nuôi cá Rô phi có thể quayvòng vốn nhanh Đây cũng chính là ưu điểm trong nuôi nghề nuôi cá Rô phi

Những nông hộ thời gian nuôi kéo dài một phần do thả cá giống kích cỡ nhỏ vàthả cá giống muộn Khi thả cá giống muộn đến mùa đông cá vẫn chưa đạt kích cỡthương phẩm nên phải nuôi qua đông, trong mùa đông cá Rô phi sinh trưởng chậmdẫn đến vụ nuôi kéo dài Vụ nuôi bắt đầu từ tháng 3, tháng 4 và kết thúc vào tháng

Trang 26

10 đến tháng 12 (tính theo lịch âm) Như vậy để rút ngắn thời gian nuôi thươngphẩm, người nuôi cần chủ động con giống để thả đúng thời vụ tận dụng thời tiết ấmtrong mùa hè để cá sinh trưởng nhanh và thả cá giống kích cỡ lớn để rút ngắn thờigian nuôi.

Kích cỡ thu hoạch: Sau khi nuôi khoảng 6 tháng (đối với những vụ thả cá giống cỡ

nhỏ) người nuôi bắt đầu thu hoạch, kích cỡ thương phẩm thường từ 300 g/con trởlên Kích cỡ thương phẩm đạt được sau 6 tháng nuôi tăng dần theo thời gian, vàonăm 2004 sau 6 tháng nuôi kích cỡ trung bình chỉ đạt 330 g/con, nhưng thời điểmhiện nay kích cỡ nuôi đã đạt 500 g/con - 700 g/con Điều này chủ yếu do kỹ thuậtnuôi và mức đầu tư cho nuôi cá Rô phi ngày càng cao [37.2]

Hiện nay, mức sống của người dân ngày càng cao, thị trường tiêu thụ cá Rô phiđược mở rộng Đồng thời sản lượng cá Rô phi ngày càng lớn, yêu cầu của ngườitiêu dùng đối với chất lượng cá Rô phi ngày càng cao hơn, chỉ những cá Rô phi cókích cỡ lớn mới có khả năng cạnh tranh để tiêu thụ ở các thị trường lớn như Hà Nội,Hải Phòng, Quảng Ninh Chính vì vậy người sản xuất phải đầu tư cho quá trìnhnuôi cá Rô phi rất lớn và kỹ thuật nuôi ngày càng được hoàn thiện hơn

Hình thức và thời gian thu hoạch:

Bảng 7: Hình thức thu hoạch và thời gian thu hoạch cá Rô phi.

10086,5713,43

2 Thời gian thu hoạch:

14,9123,6812,2849,12Sau khi cá nuôi đạt kích cỡ thương phẩm, người nuôi tiến hành thu hoạchtoàn bộ cá trong ao, có 13,43% nông hộ thu tỉa và 86,57% nông hộ thu toàn bộ.Trong quá trình nuôi nông hộ thường xuyên kiểm tra kích cỡ cá trong ao, thời điểmgiá cá cao và cá đã đạt kích cỡ thương phẩm thì tiến hành thu hoạch toàn bộ, nếu cátrong ao vẫn còn nhỏ sẽ nuôi thêm một thời gian rồi thu hoạch Một số hộ vẫn thu

Trang 27

tỉa, thu hoạch toàn bộ cá kích cỡ lớn còn cá nhỏ cho thêm giống cỡ lớn vào để nuôi

vụ tiếp theo Tuỳ từng nông hộ để có các hình thức thu hoạch khác nhau Tuy nhiên,

ở vụ đầu của năm thì có thể thu tỉa nhưng vụ cuối sẽ phải thu hoạch toàn bộ để cảitạo ao thả cá giống vụ mới

Hình 8: Thời điểm thu hoạch cá Rô phi

Có 14,91% nông hộ thu hoạch thời điểm tháng 1 - 3; 23,68% nông hộ thu hoạchtháng 4 - 6; 12,28% nông hộ thu hoạch tháng 7 - 9; và có 49,12% nông hộ thu hoạchtháng 10 - 12 Hầu hết các nông hộ thu hoạch nhiều vào thời điểm tháng 10 - 12,thời điểm này là do thông thường đến mùa đông cá đã nuôi từ 6 tháng trở lên, lúcnày hẩu hết cá đều đạt kích cỡ thương phẩm Cá trong mùa đông vẫn phải cho ănnhưng chúng lại sinh trưởng chậm, có nuôi cũng lớn không đáng kể, khi cá đạt 500gr/con nuôi sẽ chậm lớn hơn giai đoạn trước đó Ngoài ra, các hộ nuôi đến thờiđiểm này hầu như đã cạn kiệt vốn để đầu tư và muốn thu hoạch để cải tạo ao chuẩn

bị cho vụ nuôi mới nên cá được tập trung thu hoạch vào 3 tháng này Từ kết quảđiều tra nhận thấy, hầu hết nông hộ thu hoạch tập trung trong thời điểm 3 tháng cuốinăm với khối lượng cá rất lớn trong khi thị trường tiêu thụ gần như cố định, cungvượt cầu nên giá cá cũng thấp nhất vào thời điểm này

Các nông hộ có nhiều ao nuôi gối vụ (thường nuôi 2 - 3 vụ/năm) thu hoạch cáquanh năm nhưng với khối lượng ít cá nên giá cá ở các tháng còn lại cao hơn 3tháng cuối năm Tuy nhiên vào tháng 1, tháng 2, tháng 3 âm lịch thời tiết vẫn còn rétnên rất ít nông hộ kéo cá bán, giá cá 3 tháng đầu năm là cao nhất 100% nông hộkhẳng định giá cá cao nhất vào các tháng 1, 2, 3 và thấp nhất vào các tháng 10, 11,

12 Giá cá từ tháng 4 - 9 tương đối ổn định, tiêu thụ cá tháng 4 -6 tương đối khókhăn, nguyên nhân chủ yếu là do đây là những tháng đầu hè nắng nóng, người tiêu

Trang 28

dùng ít mua cá ăn, chủ yếu ăn các loài tôm, cua, ốc và các loại thịt lợn Cá biệt năm

2006 giá cá vào tháng 7, tháng 8 rất cao

Sự chênh lệch giá cá Rô phi giữa các tháng chủ yếu do tình trạng thu hoạch cá ồ ạtvào tháng 10, 11, 12 và khan hiếm cá vào tháng 1, 2, 3

Bệnh dịch và biện pháp phòng trừ

Môi trường nuôi: Cá Rô phi là loài cá ăn tạp, do vậy việc nuôi cá Rô phi sửdụng thức ăn công nghiệp trong hệ thống VAC sẽ tận dụng nguồn phân thải ra từcác hệ thống chăn nuôi gia súc, gia cầm Tuy nhiên việc thải phân trực tiếp từ các hệthống chăn nuôi xuống ao nuôi cá liên tục trong thời gian dài đã làm cho 1 số aonuôi cá bị phú dưỡng dẫn đến nguy cơ bị ô nhiễm cao

Một số ao nuôi khó khăn về cấp nước do hạn chế của hệ thống kênh mươngnước Tại một số vùng nuôi diện tích nhỏ lẻ, hệ thống thuỷ nông hiện nay chỉ cấpnước theo mùa vụ cấy lúa Điều này gây khó khăn cho việc tăng mật độ thả cá vànhững rủi ro về bệnh dịch cao

Ngoài ra, một số vùng nuôi do phát triển tự phát nên không có kênh mương dẫnnước, nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng

Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy có 88,06% nông hộ trong tổng số phiếu điềutra trả lời trong 5 năm gần đây thấy Rô phi không mắc bệnh hoặc dịch bệnh lớn Chỉ

có 11,94% trả lời thấy cá Rô phi chết rải rác 1 vài con ở 1 số ao có nguồn nướckhông thể lưu thông

Khả năng đầu tư của người dân và tham gia đào tạo tại chỗ

Theo kết quả khảo sát tại các nông hộ nuôi cá Rô phi, hầu hết các nông hộ sửdụng nguồn vốn của gia đình đồng thời vay thêm vốn để đầu tư (đầu tư mua sắmtrang thiết bị nuôi, đào ao, chi phí mua thức ăn, mua con giống ) Chủ yếu vay vốnngân hàng, trung bình mỗi lần ngân hàng cho vay tối đa 30 triệu, lãi suất 1- 1,2%.Lượng vốn tối đa ngân hàng cho vay không đủ để đầu tư nên nông hộ vẫn phải vaythêm vốn từ các nguồn khác nhau, thường vay trong thời gian cuối vụ nuôi và vaynguồn vốn này có thể dễ dàng hơn vay ngân hàng

Theo điều tra có tới 100 % nông hộ được phỏng vấn trả lời đã tham gia tập huấn

về NTTS ở địa phương, không có nông hộ nào trả lời chưa tham gia lớp tập huấnnào Đặc biệt có những hộ nuôi cá lâu năm và nuôi diện tích lớn đã được tham giamột số lớp tập huấn ở trên tỉnh Hải Dương và ở Viện I, một số nông hộ còn đi tham

Trang 29

quan các mô hình điểm ở các nơi để học tập kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi Đa sốnông hộ khẳng định chất lượng lớp tập huấn rất tốt, đem lại hiệu quả tốt cho họtrong nuôi cá, tuy nhiên các nông hộ cũng cho biết có nhiều kỹ thuật họ vẫn chưa ápdụng vào trong quá trình nuôi.

Như vậy, đa số người dân nuôi cá Rô phi ở huyện Tứ Kỳ đã có đầu tư về vốncũng như học tập và áp dụng các kỹ thuật nuôi cá Rô phi để đem lại hiệu quả kinh tếcao

Nhận định chung của các nông hộ nuôi cá Rô phi:

Bảng 8: Một số nhận định của nông hộ nuôi Rô phi

1 Giá cá 5 năm gần đây:

Biến động

Ổn định

673136

10046,2753,73

2 Giá cá năm 2007 so với năm 2006:

Cao hơn

Thấp hơn

Ổn định

6751016

10076,12023,88

3 Khả năng tiêu thụ:

Dễ

Bình thường

675215

10077,6111,39

4 Xu hướng tiêu thụ thời gian tới:

Tăng

Ổn định

673433

10050,7549,2546,27% nông hộ nhận xét giá cá Rô phi những năm gần đây rất ít biến động,53,73% nông hộ khẳng định giá cá ổn định Giá cá cao nhất năm 2004 và thấp nhấtnăm 2006 Tuy nhiên tất cả các nông hộ được phỏng vấn đều trả lời chi phí thức ăn

và con giống ngày càng cao, giá cá tăng ít thậm chí không tăng so với những nămtrước nên lợi nhuận thu được là không đáng kể

100% số nông hộ được phỏng vấn đều trả lời sản lượng cá Rô phi liên tục tăngnhanh trong 2 năm gần đây và diện tích nuôi cá Rô phi trong huyện cũng ngày càngđược mở rộng Chính nguyên nhân diện tích nuôi ngày càng mở rộng, năng suấtnuôi cao nên sản lượng thu được ngày càng gia tăng trong khi thị trường tiêu thụgần như cố định, chưa mở rộng được thị trường mới đã làm cung vượt cầu quá lớn.Dẫn đến giá cá Rô phi không ngừng hạ xuống đồng thời giá các chi phí cho quá

Ngày đăng: 06/07/2018, 10:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
31. Viện nghiên cứu NTTS I, 12/ 2006, Báo cáo hội thảo “ Phát triển nuôi rô phi trên cơ sở các dòng được nâng cao chất lượng di truyền” v BỎ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nuôi rô phi trên cơ sở các dòng được nâng cao chất lượng di truyền
37. UBND huyện Tứ Kỳ, 2005. Báo cáo kết quả nuôi cá Rô phi xuất khẩu tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương “chương trình KC.06với sản xuất thuỷ sản xuất khẩu” Sách, tạp chí
Tiêu đề: chương trình KC.06với sản xuất thuỷ sản xuất khẩu
1. Bản tin Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, số 32, tháng 1/2007 Khác
4. Nguyễn Phúc Thọ và ctv, 2006, Giáo trình kinh tế vĩ mô, NXB nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Phạm Anh Tuấn và ctv, 2006 7.Tạp chí thuỷ sản, tháng 4/2006 Khác
9. Tạp chí thuỷ sản, tháng 1/2007, Sản xuất cá Rô phi ở Trung Quốc, tr40- 41 Khác
10. Tạp chí Thương mại thuỷ sản (TMTS), tháng 1/2005, tr 38- 39 Khác
11. Tạp chí TMTS, tháng3/2005, tr 45- 46 Khác
12. Tạp chí TMTS , tháng 5+6/2005, tr 50- 51 Khác
13. Tạp chí TMTS, tháng 7/2005, tr 15, tr 41 Khác
14. Tạp chí TMTS, tháng 8/2005, tr 16, tr 27 Khác
15. Tạp chí TMTS, tháng 9/2005, tr 18 Khác
16. Tạp chí TMTS, tháng 1/2006, tr 28 Khác
17. Tạp chí TMTS, tháng 3/2006, tr 44 - 45 Khác
18. Tạp chí TMTS, tháng 5+6/2006, tr 35, tr 55 Khác
19. Tạp chí TMTS, tháng 10/2006, tr 23 Khác
21. Tạp chí TMTS, tháng 3/2007, tr 41 Khác
22. Tạp chí TMTS, tháng 5+6/2007, tr 48 Khác
23. Tiếp cận thị trường các sản phẩm thuỷ sản, tháng 11/1997 (Phát hành đặc biệt lần 1, Tài liệu lưu hành nội bộ) Khác
24. Thông tin chuyên đề, tháng 4/2005, tr13 -14 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w