Với xu hướng và sự phát triển mạnh mẽ nghề nuôi trồng như vậy, Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn trong công tác pháttriển nuôi trồng thuỷ sản ổn định, hiệu quả; đặc biệt là công tác quản lý
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
************
Vũ Thị Hương Giang
Quản lý môi trường có sự tham gia của người dân trong nuôi trồng thuỷ sản: Nghiên cứu trường hợp tại xã Quỳnh Bảng và
xã Hưng Hoà - Tỉnh Nghệ An.
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
Hà Nội, năm 2007.
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
************
Vũ Thị Hương Giang
Quản lý môi trường có sự tham gia của người dân trong nuôi trồng thuỷ sản: Nghiên cứu trường hợp tại xã Quỳnh Bảng và
xã Hưng Hoà - Tỉnh Nghệ An.
Chuyên ngành: Quản lý môi trường
Mã số:
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
GS.TS Nguyễn Chu Hồi
Hà Nội, năm 2007.
Trang 4Lời cảm ơn
Trong thời gian học tập và làm luận văn tốt nghiệp vừa qua, tôi đã nhận được sựquan tâm và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết
ơn của mình tới sự quan tâm và giúp đỡ đó
Xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy giáo, Phó giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn ChuHồi, Viện trưởng Viện kinh tế và quy hoạch thuỷ sản, người đã định hướng và chỉbảo tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Xin cám ơn tập thể các thầy cô giáo Khoa Môi trường - Trường Đại học Khoa học
tự nhiên, đặc biệt là thầy giáo, TS Nguyễn Đình Hoè, đã tạo điều kiện cho tôi hoànthành khoá học và giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn
Xin trân trọng cám ơn TS Phạm Anh Tuấn, Th.S Mai Văn Tài, Th.S Nguyễn HữuNghĩa, Th.S Trần Đình Luân, Th.S Nguyễn Văn Sức, Th.S Mai Văn Hạ và tập thểcán bộ Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, các Cán bộ Sở Thuỷ sản Vinh, cáccán bộ xã Quỳnh Bảng, Hưng Hoà, những người đã giúp đỡ tôi rất nhiều trong quátrình hoàn thành luận văn và trong quá trình nghiên cứu thực địa
Xin chân thành cám ơn những người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,những người đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, công tác vàthực hiện đề tài tốt nghiệp
Hà nội, tháng năm 2007
Vũ Thị Hương Giang
Trang 5Lời cảm ơn 4
Danh mục các bảng 7
Danh mục các hình 9
Các chữ viết tắt 11
Lời nói đầu 12
1.Chương 1: Tổng quan tài liệu tham khảo 16
1.1 Sự tham gia cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi trên thế giới 16
1.2 Sự tham gia cộng đồng trong quản lý môi trường tại Việt Nam 17
1.3 Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản 19
1.4 Bước đầu công tác quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt nam 22
1.5 Tính bền vững của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của người dân: 24
1.6 Vị trí và vai trò của các chủ thể trong nuôi trồng thủy sản để bảo đảm nuôi trồng được bền vững 28
1.7 Các nội dung cần quản lý khi thực hiện quản lý môi trường nuôi 29
1.8 Nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng tại Quỳnh Bảng và Hưng Hoà 29
1.9 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia 30
1.10 Nguyên tắc khi thực hiện PRA 31
Công cụ phổ biến được sử dụng trong phương pháp PRA 32
Quá trình tiến hành PRA 33
2.Chương 2: Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu 34
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu: 34
2.2 Thời gian: 35
2.3 Phương pháp 35
2.3.1.Kế thừa và phân tích tài liệu hiện có: 35
2.3.2 Phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá: 35
2.3.3 Thảo luận nhóm (Group Discussion) 36
2.3.4 Phương pháp SWOT: 37
2.3.5 Phương pháp tiếp cận hệ thống: 38
2.4 Xử lý số liệu 38
3.Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 39
3.1 Điều kiện tự nhiên 2 xã Quỳnh Bảng và Hưng Hoà 39
3.2.Điều kiện kinh tế xã hội 40
3.2.1.Quỳnh Bảng 40
3.2.2.Hưng Hoà 42
3.3.Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản tại xã Quỳnh Bảng - Huyện Quỳnh Lưu và Hưng Hoà – TP Vinh 44
3.3.1 Xã Quỳnh Bảng - huyện Quỳnh Lưu 44
3.3.2 Xã Hưng Hoà – Thành phố P Vinh - Nghệ An 47
3.4.Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng tại các xã: 51
3.4.1 Cơ cấu các tổ cộng đồng 51
3.4.2 Mục đích thành lập tổ cộng đồng 53
3.4.3 Tổ chức tổ cộng đồng và lịch họp nhóm: 54
3.4.4 Nội dung các buổi họp nhóm 56
3.4.5 Nội dung hoạt động của các tổ nhóm cộng đồng: 56
3.4.6 Quy ước của tổ cộng đồng 59
3.4.7 Mức độ hiểu biết của người dân về điều lệ cộng đồng 60
3.4.8 Khó khăn trong hoạt động cộng đồng 61
3.4.9 Các lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng 63
Trang 63.5.Một số nhận xét về hoạt động quản lý môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản có sự
tham gia cộng đồng tại 2 xã nghiên cứu 64
3.6 Cơ chế quản lý và vai trò của các bên liên quan 69
3.6.1 Sở Thuỷ sản Nghệ An - Phòng Thuỷ sản tại các Huyện 69
3.6.2 Chính quyền xã 69
3.6.3 Người nuôi trồng: 71
3.7 Những thuận lợi và khó khăn 71
4.Chương 4: Kết luận và kiến nghị 75
4.1 Kết luận 75
4.2 Kiến nghị 76
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan 26
Hình 3-1Hình 3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng 40
Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng 41
Hình 3.2: Tỷ trọng ngành nghề ở Hưng Hoà 42
Bảng 3.3:Tổng giá trị các ngành nghề xã Hưng Hoà 43
Bảng 3.4: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Quỳnh Bảng 46
Bảng 3.5: Dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản 47
Bảng 1.6: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Hưng Hoà 48
Bảng 3.7: Dịch bệnh trong nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 50
Bảng 3.8: Các nhóm cộng đồng ở Hưng Hòa 52
Bảng 3.9: Các nhóm cộng đồng ở Quỳnh Bảng 52
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Hưng Hoà 54
Bảng 3.11: Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Quỳnh Bảng 54
Bảng 3.12: Các yếu tố môi trường cần quản lý 57
Bảng 3.13: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Hưng Hoà 60
Bảng 3.14: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Quỳnh Bảng 61
Bảng 3.15: khó khăn HH 62
Bảng3.16: Khó khăn QB 62
Bảng 3.17: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Hưng Hoà 64
Bảng 3.18: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Quỳnh Bảng 64
Bảng 3.19: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 65
Bảng 3.120: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Quỳnh Bảng 65
Hình 3.3: Bệnh dịch của tôm nuôi trong các nhóm cộng đồng Quỳnh Bảng 65
Hình 3.4: Tình hình dịch bệnh tôm ở Hưng Hoà năm 2006 65
Hình 3.5: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Quỳnh Bảng 66
Hình 3.6: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Hưng Hòa 66
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan 26
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan 26
Hình 3-1Hình 3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng 40
Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng 41
Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng 41
Hình 3.2: Tỷ trọng ngành nghề ở Hưng Hoà 42
Bảng 3.3:Tổng giá trị các ngành nghề xã Hưng Hoà 43
Bảng 3.4: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Quỳnh Bảng 46
Bảng 3.5: Dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản 47
Bảng 1.6: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Hưng Hoà 48
Bảng 3.7: Dịch bệnh trong nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 50
Bảng 3.8: Các nhóm cộng đồng ở Hưng Hòa 52
Bảng 3.9: Các nhóm cộng đồng ở Quỳnh Bảng 52
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Hưng Hoà 54
Bảng 3.11: Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Quỳnh Bảng 54
Bảng 3.12: Các yếu tố môi trường cần quản lý 57
Bảng 3.13: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Hưng Hoà 60
Bảng 3.14: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Quỳnh Bảng 61
Bảng 3.15: khó khăn HH 62
Bảng3.16: Khó khăn QB 62
Bảng 3.17: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Hưng Hoà 64
Bảng 3.18: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Quỳnh Bảng 64
Trang 8Bảng 3.19: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 65
Bảng 3.120: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Quỳnh Bảng 65
Hình 3.3: Bệnh dịch của tôm nuôi trong các nhóm cộng đồng Quỳnh Bảng 65
Hình 3.4: Tình hình dịch bệnh tôm ở Hưng Hoà năm 2006 65
Hình 3.5: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Quỳnh Bảng 66
Hình 3.6: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Hưng Hòa 66
Trang 9Danh mục các hình
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan 26
Hình 3-1Hình 3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng 40
Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng 41
Hình 3.2: Tỷ trọng ngành nghề ở Hưng Hoà 42
Bảng 3.3:Tổng giá trị các ngành nghề xã Hưng Hoà 43
Bảng 3.4: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Quỳnh Bảng 46
Bảng 3.5: Dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản 47
Bảng 1.6: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Hưng Hoà 48
Bảng 3.7: Dịch bệnh trong nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 50
Bảng 3.8: Các nhóm cộng đồng ở Hưng Hòa 52
Bảng 3.9: Các nhóm cộng đồng ở Quỳnh Bảng 52
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Hưng Hoà 54
Bảng 3.11: Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Quỳnh Bảng 54
Bảng 3.12: Các yếu tố môi trường cần quản lý 57
Bảng 3.13: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Hưng Hoà 60
Bảng 3.14: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Quỳnh Bảng 61
Bảng 3.15: khó khăn HH 62
Bảng3.16: Khó khăn QB 62
Bảng 3.17: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Hưng Hoà 64
Bảng 3.18: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Quỳnh Bảng 64
Bảng 3.19: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 65
Bảng 3.120: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Quỳnh Bảng 65
Hình 3.3: Bệnh dịch của tôm nuôi trong các nhóm cộng đồng Quỳnh Bảng 65
Hình 3.4: Tình hình dịch bệnh tôm ở Hưng Hoà năm 2006 65
Hình 3.5: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Quỳnh Bảng 66
Hình 3.6: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Hưng Hòa 66
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan 26
Hình 3-1Hình 3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng 40
Hình 3-1Hình 3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng 40
Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng 41
Hình 3.2: Tỷ trọng ngành nghề ở Hưng Hoà 42
Bảng 3.3:Tổng giá trị các ngành nghề xã Hưng Hoà 43
Bảng 3.4: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Quỳnh Bảng 46
Bảng 3.5: Dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản 47
Bảng 1.6: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Hưng Hoà 48
Bảng 3.7: Dịch bệnh trong nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 50
Bảng 3.8: Các nhóm cộng đồng ở Hưng Hòa 52
Bảng 3.9: Các nhóm cộng đồng ở Quỳnh Bảng 52
Bảng 3.10: Kết quả phỏng vấn Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Hưng Hoà 54
Bảng 3.11: Mục đích thành lập tổ cộng đồng ở Quỳnh Bảng 54
Bảng 3.12: Các yếu tố môi trường cần quản lý 57
Bảng 3.13: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Hưng Hoà 60
Bảng 3.14: Mức độ hiết biết các quy định điều lệ của người nuôi Quỳnh Bảng 61
Bảng 3.15: khó khăn HH 62
Bảng3.16: Khó khăn QB 62
Bảng 3.17: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Hưng Hoà 64
Bảng 3.18: Lợi ích khi tham gia tổ cộng đồng ở xã Quỳnh Bảng 64
Bảng 3.19: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà 65
Trang 10Bảng 3.120: Thu nhập của các hộ nuôi thuỷ sản qua các năm ở Quỳnh Bảng 65
Hình 3.3: Bệnh dịch của tôm nuôi trong các nhóm cộng đồng Quỳnh Bảng 65
Hình 3.4: Tình hình dịch bệnh tôm ở Hưng Hoà năm 2006 65
Hình 3.5: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Quỳnh Bảng 66
Hình 3.6: Số hộ có tôm bị nhiễm bệnh năm 2006 ở Hưng Hòa 66
Trang 11Các chữ viết tắt
Trang 12Lời nói đầu
Nước ta là một nước có tiềm năng thủy sản dồi dào với chiều dài bờ biển là
3260 km với nhiều hệ sinh thái khác nhau Ngành thuỷ sản đã và đang ngày càngphát triển, kim ngạch xuất khẩu chỉ đứng sau dầu khí và may mặc Tính đến tháng
11 năm 2006, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của nước ta đạt 3.056 tỷ đô la () Rõràng càng ngày vai trò nuôi trồng thuỷ sản càng được nâng cao và ngành thuỷ sản
đã có những đóng góp quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, góp phần thay đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi ở khu vực nông thôn, cải thiện đời sống kinh tế xã hội củanông dân, góp phần tích cực trong công tác xoá đói giảm nghèo, tạo nguồn nguyênliệu tập trung đáng kể cho chế biến xuất khẩu
Góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội mà ngành thuỷ sản đem lại cho đấtnước, Nghệ An là một tỉnh thuộc khu vực Bắc trung bộ đã có những đóng góp đáng
kể Năm 2006 tổng sản lượng thuỷ sản của tỉnh Nghệ An là 70.620 tấn, đạt 107% so
kế hoạch, tăng 7% so năm 2005 Trong đó sản lượng nuôi trồng thuỷ sản là 24.000tấn, vượt 14% so kế hoạch, tăng 33% so năm 2005; Riêng tôm nuôi đạt 2.000 tấn,bằng 91% kế hoạch, tăng 33% so năm 2005 Diện tích nuôi trồng thuỷ sản: 19.321
ha, bằng 111% kế hoạch, tăng 14% so năm 2005; trong đó diện tích nuôi tôm BTC 930 ha, bằng 98% kế hoạch, tăng 16% so năm 2005 Diện tích nuôi cá rô phithương phẩm 700ha, đạt 100% kế hoạch, tăng 40% so với năm 2005 (Báo cáo tổngkết nuôi trồng thủy sản năm 2006 tỉnh Nghệ An) Diện tích đưa vào nuôi trồng thuỷsản đạt 19.321 ha, trong đó diện tích nuôi ngọt 17.704 ha, diện tích mặn lợ 1.617ha;Nuôi ngao vùng bãi triều tiếp tục được duy trì với năng suất đạt bình quân 20 - 25tấn/ha Nuôi cá lồng bè trên sông suối, hồ đập tiếp tục phát triển, hiệu quả nuôi cálồng trên sông đạt khá, mang lại thu nhập và nâng cao đời sống cho bà con nôngdân vùng trung du và miền núi, điển hình: huyện Tương Dương (213 lồng) huyệnAnh Sơn (190 lồng), huyện Con Cuông (118 lồng),
TC-Phong trào chuyển đổi diện tích sản xuất nông nghiệp, muối năng suất thấp sangnuôi trồng thủy sản phát triển khá và đem lại hiệu quả kinh tế cao Năm 2006 đãchuyển đổi được trên 500 ha đất trồng lúa, muối và đất hoang hoá sang nuôi trồng
Trang 13thuỷ sản chuyên canh (90 ha nuôi tôm, 200 ha nuôi cá rô phi đơn tính và trên 210 hanuôi cá truyền thống khác), huyện có diện tích chuyển đổi lớn là huyện Nam Đàn,Diễn Châu, Quỳnh Lưu
Với 38 km bờ biển, Nghệ An là một tỉnh có phong trào phát triển nuôi trồngthuỷ sản mạnh mẽ, ồ ạt với nhiều khu nuôi tập trung như: Hưng Hoà, Trịnh Môn,Quỳnh Bảng, Nghệ An đã chủ động trong việc phát triển kinh tế xã hội và xoá đóigiảm nghèo, góp phần xây dựng nền kinh tế quốc dân Trong thời gian tới, Sở Thuỷsản Nghệ An vẫn chủ trương lấy con tôm sú làm đối tượng nuôi chính bởi những giátrị về kinh tế do con tôm sú đem lại là rất lớn Với xu hướng và sự phát triển mạnh
mẽ nghề nuôi trồng như vậy, Nghệ An còn gặp nhiều khó khăn trong công tác pháttriển nuôi trồng thuỷ sản ổn định, hiệu quả; đặc biệt là công tác quản lý, quy hoạchvùng nuôi và quản lý môi trường [20].Tất cả những điều này góp phần tạo nên chấtlượng của sản phẩm thuỷ sản, mà vấn đề quản lý chất lượng sản phẩm thuỷ sản lạibắt nguồn từ nhiều nhân tố trong quá trình nuôi như: chuẩn bị ao, đầm, giống, kỹthuật nuôi, chăm sóc dịch bệnh và quản lý môi trường, Đây chính là những khókhăn và thách thức đối với sự phát triển kinh tế mà ngành thuỷ sản mang lại Bứctường chắn ảnh hưởng nhiều đến sự phát triển của ngành chính là chất lượng hànghoá thuỷ sản Trong bối cảnh toàn cầu hoá, các rào cản mậu dịch thông qua thuếnhập khẩu từng bước bị bãi bỏ thì chất lượng sản phẩm sẽ là rào cản lớn nhất, do đó
vệ sinh an toàn thực phẩm cần được quan tâm hàng đầu Chất lượng hàng hoá thuỷsản lại bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố trong nuôi trồng thuỷ sản Đó là các kỹthuật nuôi, cho ăn, cách xử lý sự cố về dịch bệnh và môi trường, thiên tai, Trong
đó, vấn đề quản lý môi trường nuôi là một vấn đề sống còn ảnh hưởng nghiêm trọngđến chất lượng và sản lượng thuỷ sản NTTS đang phát triển theo hướng tăng mức
độ thâm canh, đa dạng hoá loài nuôi và tăng diện tích nuôi Áp lực lên môi trườngnuôi có thể có tác động tiêu cực do chính NTTS gây ra hay do các hoạt động khácmang lại Trong khi đó, NTTS cũng gây những tác động xấu lên môi trường
Trong nuôi trồng thuỷ sản thì bệnh dịch thuỷ sản thường phát tán qua nguồnnước Nếu không quản lý tốt, qua nguồn nước, dịch sẽ phát triển thành diện rộng vàgây thiệt hại Chất lượng nước phụ thuộc rất nhiều vào cách thức quản lý và ý thứccủa con người, kỹ thuật thiết kế hệ thống ao hồ, kênh mương, kỹ thuật nuôi, cho ăn
Trang 14Hiệu quả sản xuất của nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào mối liên hệ chặt chẽgiữa các hộ với nhau Các hộ nuôi trồng thuỷ sản trong một tiểu vùng phục thuộcchặt chẽ vào nhau vì nếu giữa họ không có tính cộng đồng, không đoàn kết thì việcsản xuất sẽ gặp nhiều rủi ro và nguy cơ ô nhiễm môi trường Vì những điều này, nhucầu phát triển nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng là rất lớn, và điềunày thực sự là cần thiết Nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng sẽ là mộttrong những giải pháp quan trọng góp phần cho sự phát triển nuôi trồng thuỷ sảnbền vững.
Quỳnh Bảng (thuộc Huyện Quỳnh Lưu) và Hưng Hoà (thuộc thành phốVinh) là 2 xã có phong trào nuôi trồng thuỷ sản tương đối sớm thuộc tỉnh Nghệ An.Hiện nay 2 xã này đều có những khu nuôi trồng thuỷ sản tập trung với diện tích rấtlớn (khu nuôi công nghiệp) Tuy là 2 xã tập trung các khu nuôi tôm công nghiệpnhưng hiện nay 2 xã vẫn còn có những khó khăn trong việc ổn định phát triển nuôitrồng thuỷ sản bền vững, đặc biệt là trong việc quản lý môi trường nuôi có sự thamgia của cộng đồng Cộng đồng đóng vai trò then chốt và quyết định trong việc tạo
sự ổn định và mang lại hiệu quả kinh tế cao của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản Nhằm đánh giá hiện trạng của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của
người dân, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“ Quản lý môi trường có sự tham gia của người dân trong nuôi trồng thuỷ sản Nghiên cứu các trường hợp tại xã Quỳnh Bảng và xã Hưng Hoà – tỉnh Nghệ An” Do hình thức quản lý dựa vào
cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản còn mới và chưa phát triển tại nhiều địaphương có hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, do vậy cần có những hiểu biết toàn diện
về hình thức quản lý môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Do vậy,
mục đích của đề tài này là: đánh giá hiện trạng của hoạt động NTTS dựa vào cộngđồng, xác định được những thuận lợi và khó khăn của hoạt động quản lý môi trường
có sự tham gia của cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản Và từ đó đề xuất một sốgiải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động cộng đồng hướng tới phát triển bền vữngnghề nuôi trồng thuỷ sản Với vấn đề nghiên cứu trên, cần phải trả lời câu hỏi:
Trang 151 Mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong NTTS đã và đangđược thực hiện ở nước ta nói chung và ở hai khu nuôi tôm tập trung thuộc xãQuỳnh Bảng và Hưng Hoà dưới những hình thức và mức độ nào?
2 Hình thức quản lý môi trường ở hai xã trên có những thuận lợi và khó khăn
gì và những giải pháp nào có thể được thực hiện để nâng cao hiệu quả hoạtđộng của mô hình quản lý trên?
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu trên, các nội dung cần thực hiện là:
1.Đánh giá hiện trạng của hoạt động quản lý môi trường có sự tham gia của cộngđồng tại xã Quỳnh Bảng và xã Hưng Hòa
- Cơ sở hạ tầng
- Quản lý nguồn nước
- Con giống
- Kỹ thuật nuôi: cho ăn
- Những vấn đề còn tồn tại: các đáp ứng để giải quyết các vấn đề còn tồn tại đó.2.Đánh giá vai trò của các chủ thể liên quan trong nuôi trồng thuỷ sản tại địaphương: người nuôi, chính quyền, các cơ quan chức năng chuyên môn
3 Những thuận lợi và khó khăn của quản lý môi trường có sự tham gia của cộngđồng trong nuôi trồng thuỷ sản tại hai xã nghiên cứu
4 Đề xuất kiến nghị
Trang 161 Chương 1: Tổng quan tài liệu tham khảo
1.1 Sự tham gia cộng đồng trong bảo vệ nguồn lợi trên thế giới.
Hoạt động tham gia của người sử dụng nguồn lợi và cộng đồng trong phát triển vàquản lý không phải là mới Nó là một phần của quá trình phát triển ở Đông Nam Á
từ thập kỷ 60 của thế kỷ 20 [23] Triết lý mới trong quản lý một lần nữa lại đưa khaithác cá trở thành một phần của thuật ngữ quản lý nguồn lợi, cân bằng, chịu tráchnhiệm và hợp tác làm việc, bổ sung cho quản lý của Chính phủ Ở Nhật Bản hệthống quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng còn được hiểu là một hệ thống quản lýđược phát triển bởi một nhóm ngư dân dựa trên quyền đánh cá (fishing rights) vàđược thực hiện dưới sự sáng tạo của ngư dân [18]
Tại Thái Lan quản lý dựa vào cộng đồng hay đồng quản lý nghề cá ven biển đượcđưa ra như là một lựa chọn sự kết hợp quản lý hiệu quả hơn do đây là một nước cóđường bờ biển dài và cảng phân tán dẫn đến khó khăn trong quản lý nghề cá có hiệuquả và chi phí thực hiện kiểm tra cao, chính phủ không có đủ khả năng chi trả [21]
Theo Pomeroy và Berkes (1997), quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng đã trở thànhcách thức thúc đẩy tiến bộ xã hội và thu hút người sử dụng nguồn lợi tham gia vàocông tác quản lý Ở đây, quản lý nguồn lợi dựa vào cộng đồng là một hình thức hợptác giữa cộng đồng và nhà chức trách trong việc chia sẻ quyền và trách nhiệm trongquản lý và lợi ích Một khi nguồn lợi thuộc quyền sở hữu công cộng thì những luật
lệ về sử dụng hợp lý nguồn lợi do chính cộng đồng đặt ra sẽ đảm bảo cho việc quản
lý đạt hiệu quả cao Luật lệ này sẽ tạo điều kiện cho mọi người tự giác làm theo.Như vậy, một nhân tố quan trọng để sự tham gia có hiệu quả là tạo điều kiện chongười dân tham gia vào quá trình quyết định
Sự tham gia của cộng đồng không có nghĩa là mọi người đều có thể làm bất cứ điều
gì để phục vụ cho lợi ích riêng của mình Vấn đề cốt lõi đảm bảo cho hoạt độngthành công là mỗi thành phần cộng đồng đều nhận ra được lợi ích của họ dù trựctiếp hay gián tiếp liên quan đến sự tồn tại và phát triển bền vững nguồn lợi, từ đó họ
Trang 17có ý thức trách nhiệm và tự nguyện tham gia một cách có hiệu quả các hoạt độngnày.
Trong năm 1991, chính phủ Philipin đã nhận ra rằng sự cần thiết làm tăng sự thamgia trong quản lý và chuyển giao việc kiểm tra nguồn lợi tới các cấp địa phương quachính sách và sự thay đổi tổ chức Tại Nhật Bản, đồng quản lý nghề cá ven biểnđang được sử dụng, nó là sự phối hợp quyền lực của chính phủ và các cấp trongvùng, nhưng quyền quyết định chính ở cấp địa phương [22,23] Tại Thái Lan, huyệnTha Chana đã thực hiện quản lý nguồn lợi ven biển với sự tham gia của địa phương
Từ những nghiên cứu về quản lý nguồn lợi ven biển ở vịnh Tha Chana, có thể nóirằng sự ra đời của tổ chức cộng đồng để tham gia bảo vệ và quản lý nguồn lợi là bắtđầu từ những vấn đề đang thách thức cộng đồng và các cơ quan chính phủ, các tổchức phi chính phủ, các chính sách của Nhà nước, phương tiện thông tin đại chúng
và các Viện nghiên cứu Thành công của việc quản lý bền vững là có sự công nhận
về mặt luật pháp những quyền và sự giúp đỡ của cộng đồng tham gia quản lý và bảo
vệ nguồn lợi [10]
1.2 Sự tham gia cộng đồng trong quản lý môi trường tại Việt Nam
Một trong những hình thức quản lý môi trường thu được hiệu quả cao là quản lýmôi trường dựa vào cộng đồng (Community - Based Environment Managerment -CBEM) Đó là một hình thức quản lý đã và đang áp dụng ở nhiều vùng khác nhautrên thế giới, đặc biệt là các quốc gia phát triển Nội dung của phương pháp là lấycộng đồng làm trọng tâm trong việc quản lý môi trường Đưa cộng đồng tham giatrực tiếp vào hệ thống quản lý môi trường, họ trực tiếp tham gia trong nhiều côngđoạn của quá trình quản lý, từ khâu bàn bạc ban đầu tới việc lên kế hoạch thực hiện,triển khai các hoạt động và nhận xét, đánh giá sau khi thực hiện Đây là hình thứcquản lý đi từ dưới lên, thực hiện theo nguyện vọng, nhu cầu thực tế và ý tưởng củachính cộng đồng, trong đó các tổ chức quần chúng đóng vai trò như một công cụ hỗtrợ thúc đẩy cho các hoạt động cộng đồng [1]
Theo Đỗ Thị Kim Chi, Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng, là một khái niệm, được đưa ra là: Là phương thức bảo vệ môi trường trên cơ sở một vấn đề
môi trường cụ thể ở địa phương, thông qua việc tập hợp các cá nhân và tổ chức cần
Trang 18thiết để giải quyết vấn đề đó Phương pháp này sử dụng các công cụ sẵn có để tậptrung cải tạo hoặc bảo vệ một tài nguyên nào đó hay tạo ra lợi ích về môi trườngnhư dự án tái tạo năng lượng, phục hồi lưu vực, Và đồng quản lý tài nguyên đóthông qua sự hợp tác giữa các đối tác chính quyền, doanh nghiệp, các tổ chức phichính phủ và cộng đồng dân cư
Nếu xét trên góc độ văn hoá và lịch sử thì có thể nhận định rằng công tác huy độngcộng đồng tham gia trong các hoạt động bảo vệ môi trường là hoàn toàn có tính khảthi và có khả năng triển khai rộng ở nước ta Nhận định này được khẳng định thôngqua quan điểm mang tính truyền thống của dân tộc ta là ‘góp gió thành bão’ để cùngnhau chung lưng đấu cật trong các sự nghiệp chung như các cuộc đấu tranh chốngquân xâm lược [5]
Trong nhiều lĩnh vực quản lý, đặc biệt là trong quản lý môi trường và sử dụng hợp
lý tài nguyên thiên nhiên, Chính phủ và các cơ quan chức năng của Trung ương vàđịa phương không phải là cơ quan duy nhất quyết định sự phát triển tài nguyên vàgiải quyết vấn đề môi trường Đã có nhiều trường hợp thất bại trong việc hạn chếkhai thác tài nguyên quá mức và những tác động huỷ diệt tài nguyên đến môitrường, tuy nhiên những vấn đề này lại có thể giải quyết được khi trao quyền tự chủcho cộng đồng trong quản lý môi trường cấp cơ sở bởi lẽ cộng đồng là những ngườitrực tiếp phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên, phụ thuộc vào môi trường địaphương Đó sẽ là những người tận tâm, có ý thức và có khả năng bảo vệ được cácnguồn tài nguyên và môi trường cho chính họ khi họ thực hiện những hoạt động gắnvới bảo vệ quyền lợi của chính họ Điều đó cho thấy cộng đồng đóng vai trò rất lớntrong các hoạt động bảo vệ tài nguyên môi trường
Mặt khác, một trong những nguyên tắc để xây dựng xã hội phát triển bền vững là: “
Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình” Việc xây dựng một cuộcsống bền vững phụ thuộc vào niềm tin và sự đóng góp của mỗi cá nhân Khi nàonhân dân biết tự mình tổ chức một cuộc sống bền vững trong cộng đồng của mình,
họ sẽ có một sức sống mạnh mẽ và họ sẽ biết cách sử dụng tài nguyên của mình mộtcách tiết kiệm, bền vững và có ý thức về việc thải các chất phế thải độc hại và xử lýmột cách an toàn [2]
Trang 19Một cộng đồng muốn được sống bền vững, thì trước hết phải quan tâm bảo vệ cuộcsống của chính mình và không làm ảnh hưởng đến môi trường của cộng đồng khác
Để quản lý môi trường có hiệu quả, nâng cao nhận thức của người dân được xem làgiải pháp cho những vấn đề của cộng đồng Cộng đồng thấy rõ hiện trạng môitrường và tài nguyên, hiểu rõ vai trò quyền lợi và trách nhiệm của mỗi thành viêntrong cộng đồng, trong việc bảo vệ, quản lý tài nguyên đồng thời mong muốn tìm ragiải pháp sử dụng khôn khéo nguồn tài nguyên có hạn của họ [11]
Thời gian qua, Việt nam đã có những mô hình quản lý môi trường dựa vào cộngđồng được áp dụng và đã đem lại hiệu quả thiết thực Ví dụ như mô hình xây dựng
hệ sinh thái trên hệ sinh thái kém bền vững như vùng đồi Ba Vì Hà Tây, hợp tác xã
về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường ở Bắc Giang; Mô hình hương ước bảo
vệ môi trường ở làng Chiết Bi - Thuỷ tân – Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế; Cộngđồng tham gia bảo vệ Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, mô hình bảo tồn biển docộng đồng quản lý Rạn Trào – Khánh Hoà, [5]
Thành công của những mô hình này là do đã biết dựa vào dân, cùng dân bàn bạcđưa ra những giải pháp tốt nhất để vừa đảm bảo nâng cao đời sống của nhân dânđồng thời với công tác bảo vệ môi trường (phát triển kinh tế gắn với bảo vệ môitrường) Các mô hình này đều có sự tham gia của người dân trong quá trình từ lập
kế hoạch, tổ chức giám sát và thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường có sự gắnkết với quyền lợi của nhân dân
Các mô hình đã phát triển trên cho thấy trong công cuộc phát triển kinh tế và bảo vệmôi trường, sự hợp tác có hiệu quả giữa chính quyền, cộng đồng và các bên có liênquan luôn đạt được những thành tựu đáng kể, mà trong đó cộng đồng đóng vai trò làtrung tâm của mọi hoạt động
1.3 Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản.
Nuôi trồng thuỷ sản là một hoạt động sản xuất nông nghiệp đặc thù Mỗi gia đìnhtiến hành nuôi trồng thuỷ sản trên các ao riêng lẻ nhưng đều phụ thuộc vào một môitrường và nguồn nước chung Nuôi tôm là nuôi nước, mục tiêu của công tác này làgiữ được nước nuôi luôn trong sạch nhưng lại giàu dinh dưỡng và đảm bảo các chỉ
số cho phép.Vì trong một vùng các hộ nuôi luôn luôn có một mối quan hệ với nhau
Trang 20như nguồn nước cấp, chất thải, dịch bệnh, nếu không có một sự thống nhất để cùngquản lý, giám sát và có trách nhiệm với nhau thì sự bùng phát dịch bệnh sẽ rất khônlường, sự ô nhiễm môi trường sẽ rất lớn và như vậy tính rủi ro trong nuôi trồng thủysản càng ngày lại càng cao.Chất lượng nước bị biến đổi nhanh chóng khi đi qua các
ao nuôi Trong nuôi trồng thuỷ sản, việc thay đổi chất lượng nước có ảnh hưởng cực
kỳ quan trọng đến kết quả sản xuất của các hộ gia đình Bệnh dịch nuôi trồng thuỷsản thường phát tán qua nguồn nước Nếu không quản lý tốt, qua nguồn nước, dịch
sẽ phát triển thành diện rộng và gây thiệt hại Chất lượng nước phụ thuộc rất nhiềuvào cách thức quản lý và ý thức của con người, kỹ thuật thiết kế hệ thống ao hồ,kênh mương Hiệu quả sản xuất của nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào mốiliên hệ chặt chẽ giữa các hộ với nhau Các hộ nuôi trồng thuỷ sản trong một tiểuvùng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau vì nếu giữa họ không có tính cộng đồng, khôngđoàn kết thì việc sản xuất sẽ gặp nhiều rủi ro và nguy cơ ô nhiễm môi trường
Chính vì lẽ đó trong quá trình chỉ đạo sản xuất phải luôn lấy việc quản lý tốt môitrường thông qua các hoạt động cộng đồng, đây là một trong những yếu tố tạo nên
sự thành công của vụ nuôi
Vì những điều này, nhu cầu phát triển nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộngđồng là rất lớn, và điều này thực sự là cần thiết Nuôi trồng thuỷ sản có sự tham giacủa cộng đồng sẽ là một trong những giải pháp quan trọng góp phần cho sự pháttriển nuôi trồng thuỷ sản bền vững Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham giacủa cộng đồng chính là hoạt động tham gia quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh,trao đổi công nghệ kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản
Cộng đồng là người tác động trực tiếp vào mọi khâu từ quy hoạch, thiết kế, thi côngđầm nuôi, tổ chức nuôi, thu hoạch…Do đó, để đảm bảo nuôi trồng thuỷ sản đạt hiệuquả kinh tế cao và bảo vệ tốt môi trường phải áp dụng biện pháp quản lý dựa vàocộng đồng Thực chất của công tác quản lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng
là đảm bảo cho cộng đồng được thực sự tham gia một cách dân chủ vào tất cả cáccông đoạn nói trên của nuôi trồng thủy sản, việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng vậnhành và quản lý đầm nuôi, quản lý và xử lý chất thải được tiến hành trên cơ sở tínhđến lợi ích chính đáng của cộng đồng và lợi ích môi trường (lợi ích của cộng đồng,lợi ích môi trường được tôn trọng, dàn xếp bình đẳng, và chấp nhận được) Như
Trang 21vậy, phải áp dụng phương thức tiến hành các công đoạn nuôi trồng thuỷ sản theokiểu từ dưới lên (bottom up) chứ không phải áp đặt từ trên xuống (top down) Hợptác giữa những người NTTS (thành lập hiệp hội tự nguyện, hợp tác xã tự nguyệnkiểu mới) để cải tiến việc quản lý nước, quản lý đất và đầm nuôi Hầu hết mọingười khi tham gia nhóm cộng đồng chỉ mong muốn vào 3 lợi ích quan trọng nhấtảnh hưởng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ: Học hỏi kỹ thuật,quản lý môi trường nuôi, nâng cao nhận thức của người dân
Ý kiến của người nuôi về lợi ích của hoạt động nhóm cộng đồng tập trung cao vàolợi ích quản lý môi trường dịch bệnh Ngoài ra khi tham gia hoạt động cộng đồngmọi người đều thấy được lợi ích khác là nâng cao tinh thần tự nguyện tự giác, mọingười hiểu nhau và giúp đỡ nhau nhiều hơn, qua các cuộc họp cộng đồng mọi người
có thể trao đổi kinh nghiệm về cách quản lý môi trường ao nuôi cũng như cáchchăm sóc ao nuôi
Người dân phải ý thức được rằng muốn phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững, thìvai trò của cộng đồng là rất quan trọng Tính cộng đồng và phát triển quản lý dựavào cộng đồng cần được khuyến khích phát triển Mặt khác, quản lý nuôi trồng thuỷsản dựa vào cộng đồng sẽ giảm gánh nặng cho quản lý Nhà nước, góp phần quantrọng giúp định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững
Nuôi thuỷ sản nói chung ở các nước đang phát triển chỉ có thể trở nên bền vững khingười sử dụng nguồn lợi (mặt nước, đất…) hiểu được vai trò của nó đối với kế sinhnhai lâu dài của cả cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác [12].Sự tham gia củangười sử dụng nguồn lợi vào lập kế hoạch và quản lý hệ sinh thái đảm bảo cuộcsống của họ góp phần vào quản lý tốt và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiênnhiên Thông qua phương pháp tham gia, nhận thức của người sử dụng tài nguyên
về những tác động môi trường đối với sự phát triển trong các vùng nuôi tôm và nuôitrồng thuỷ sản đang được nâng cao
Để đối phó với những khó khăn và cản trở trong hoạt động sản xuất thủy sản, ngàycàng có nhiều vùng nuôi thực hiện mô hình quản lý nuôi tôm dựa vào cộng đồng Tuy nhiên, phương thức quản lý và cách thức tiến hành các hoạt động cộng đồng rấtkhác nhau, đặc thù cho từng địa phương, quy mô nuôi, ý thức của người dân, sự hỗtrợ của chính quyền và các ban ngành…Đây là dấu hiệu đáng mừng cho người nuôi
Trang 22cũng như các nhà quản lý trong công tác bảo vệ môi trường và phòng tránh lây lanbệnh trong khu nuôi Điều này không chỉ được nhận thấy ở các cộng đồng ở nhữngđiểm quan trắc Người nuôi cam kết hoạt động trên tôn chỉ vì lợi ích của chính họcũng như của cộng đồng Cộng đồng đã thống nhất một số điểm chính như lịch thời
vụ, vệ sinh kênh rạch, ao hồ, thông tin cho nhau lấy nguồn nước tốt (cơ sở tin cậy
đã qua kiểm dịch), sử dụng các loại thức ăn và thuốc, chế phẩm, vật tư phục vụNTTS có chất lượng tốt, khoanh vùng dập dịch kịp thời và nghiêm túc, sinh hoạtđịnh kỳ, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao ý thức phòng trị bệnh, tổ chức tốt công tác
an ninh trong cộng đồng Kết quả này một phần là kết quả của sự tác động bền bỉcủa các cấp quản lý ở địa phương [7]
1.4 Bước đầu công tác quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt nam.
Hình thức quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng bước đầu đã được hiện
ở một số địa phương ven biển như: Huế, Nghệ An, , là những nơi có phong tràonuôi trồng thuỷ sản rất mạnh thông qua 2 dự án của Bộ Thuỷ Sản có sự giúp đỡ củanước ngoài Đó là Hợp phần Suma - Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ và Dự ánVIE – 97-030 - Quản lý Môi trường Nuôi trồng Thuỷ sản Ven biển
Hợp phần Suma - Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ - là một trongnhững hợp phần của chương trình trợ giúp ngành nuôi trồng thuỷ sản Việt nam củaDanida Mục tiêu trước mắt của Hợp phần Hỗ trợ Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và
nước mặn - hay hợp phần SUMA - là củng cố các phương pháp thực hành quản lý
và điều hành cần thiết để đảm bảo việc cung cấp thuỷ hải sản thông qua quá trình phát triển nuôi trồng thủy sản một cách bền vững về mặt môi trường cũng như xã hội Hợp phần chú trọng bảo vệ môi trường, giảm nghèo và phát triển nuôi trồng
thuỷ sản của các cộng đồng dân cư ven biển; xác định và thử nghiệm các kỹ thuật
nuôi trồng thuỷ sản bền vững và các phương pháp quản lý phù hợp với điều kiện
môi trường và cộng đồng dân cư vùng ven biển;
Một trong các kết quả đầu ra của Hợp phần này là Xây dựng các phương pháp quản
lý nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn trên cơ sở cộng đồng Hợp phần sẽ áp
Trang 23dụng một phương hướng tiếp cận cộng đồng để giải quyết các vấn đề liên quan đếncái nghèo, giới và môi trường; đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào quátrình lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và thực hiện Hợp phần này Các phương pháp quản
lý nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn trên cơ sở cộng đồng đã được áp dụngthử nghiệm trong nhiều điều kiện xã hội, kinh tế và môi trường khác nhau, và chứng
tỏ là những phương pháp có khả năng hoạt động bền vững về mặt xã hội, tài chính,
kỹ thuật và môi trường, đồng thời có thể khai thác được tiềm năng phát triển
Các vấn đề môi trường được lồng ghép một cách toàn diện vào trong các lĩnh vựccủng cố quản lý hành chính, xây dựng năng lực, phát triển kỹ thuật nuôi trồng vànghiên cứu cộng đồng Các dự án thử nghiệm trên cơ sở cộng đồng cũng đặc biệtquan tâm đến việc khôi phục môi trường suy thoái vùng ven biển và thực hành quản
lý cộng đồng đối với các nguồn lợi ven biển Hợp phần SUMA thực hiện tại các tỉnhQuảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa
Điều khá lý thú là trong khi Việt Nam có truyền thống tự chủ và cai trị ở cấp thấpnhất trong xã hội, là cấp xã và xóm, thì vẫn cần phải xây dựng các phương phápquản lý nguồn lợi ven biển và nuôi trồng thuỷ sản trên cơ sở cộng đồng Việc hiệnnay thiếu các mô hình quản lý trên cơ sở cộng đồng và thiếu kinh nghiệm về cácphương pháp tiếp cận trên cơ sở cộng đồng để quản lý nguồn lợi ven biển và nuôitrồng thuỷ sản, trong đó có việc áp dụng phương pháp đồng quản lý, đã hạn chếviệc tiếp tục áp dụng và thực thi các dự án lấy cộng đồng làm cơ sở Tương tự nhưvậy, khả năng tiếp cận tín dụng thường được nông dân và các hộ gia đình xem lànguyên nhân chính hạn chế họ mở mang nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn.( (Dự án Suma)
Dự án VIE/97/030- “Quản lý Môi trường Nuôi trồng Thuỷ sản Ven biển” có mụctiêu chung là phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản ven biển vùng Bắc Trung Bộcủa Việt Nam Dự án do Bộ Thuỷ sản điều hành, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷsản 1 thực hiện ở 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Thừa Thiên Huế trong thời gian 3năm (2001-2003) Việc thực hiện dự án đã góp phần thực hiện các mục tiêu củachính phủ như xoá đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư vùng ven biển, tạo công
ăn việc làm, tăng thu nhập thông qua phát triển nuôi trồng thuỷ sản song song vớiviệc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên ven biển Dự án đã
Trang 24tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường của nuôi trồng thuỷ sản ở 3 tỉnh Bắc Trung
Bộ và thử nghiệm mô hình quan trắc môi trường và dịch bệnh ở 6 xã điểm thuộc 3tỉnh Kết quả đánh giá cho thấy môi trường nuôi trồng thuỷ sản đang diễn biến theohướng ngày càng xấu đi do hậu quả của việc mở rộng diện tích nuôi, tăng nhanhmức độ thâm canh kết hợp với các biện pháp quản lý yếu kém, người nuôi hoạtđộng đơn lẻ, manh mún, thiếu tính cộng đồng Giải quyết các vấn đề này dự án đãđưa ra kế hoạch hành động cải tiến quản lý môi trường cấp hộ, phát triển quản lýmôi trường NTTS dựa vào cộng đồng song song với việc cải tiến quy hoạch vànâng cao năng lực cho người dân và cán bộ quản lý nhà nước về nuôi trồng thuỷsản
Dự án đã phát triển các mô hình quản lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản ven biểndựa vào cộng đồng Quản lý môi trường nuôi trồng thuỷ sản theo mô hình tổ cộngđồng tự quản đã được thành lập ở một số xã, sau đó được nhân rộng ở các xã thuộcĐầm phá Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thanh Hoá Với các diễn biến môi trường
và dịch bệnh ngày càng phức tạp, ý thức tự nguyện tham gia tổ cộng đồng tự quảncàng ngày càng lên cao, khẳng định tính phù hợp và bền vững của mô hình quản lýcộng đồng do dự án khởi xướng Nhiều địa phương đã chỉ đạo và hướng dẫn ngườidân tham gia quản lý cộng đồng và huy động người dân đóng góp quỹ cộng đồng để
xử lý các rủi ro do dịch bệnh và ô nhiễm môi trường
Thử nghiệm quản lý môi trường dựa vào cộng đồng của dự án VIE/97/030 đã đạtđược những kết quả tốt như đã thành lập được các nhóm cộng đồng, xây dựng đượccác quy ước, đã triển khai được một số hoạt động cụ thể có tính cộng đồng Điều đó
đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, góp ổn định an ninh- xã hội, nâng cao ýthức bảo vệ môi trường và nâng cao kỹ thuật nuôi của người dân [17]
Ngoài ra, đối với với ven biển, phá Tam Giang là một trong những điểm đầu tiên cóhình thức quản lý dựa vào cộng đồng được áp dụng
1.5 Tính bền vững của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của người dân:
Sự phụ thuộc của đời sống các loài thuỷ sản đối với các nhân tố môi trường
Đối với nuôi trồng thuỷ sản thì các nhân tố môi trường có ý nghĩa rất quan
Trang 25trọng đối với sự sống Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống củacác loài động vật-thực vật Sự thay đổi quá giới hạn sinh thái của mỗi nhân tố môitrường đều gây hại đối với sinh vật Trong công tác nuôi trồng thuỷ sản, những ảnhhưởng của sự thay đổi này càng cần phải được cảnh báo sớm để tránh những hậuquả xấu như gây chết hàng loạt tôm, cá,…Do đó cần phải chú ý đến một số nhân tốmôi trường cơ bản sau đây:
- Nhiệt độ ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hô hấp,tiêu thụ thức ăn, đồng hoá thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng Nhiệt độ thay đổi theo khí hậu mỗi mùa, vì thế tại miền Nam Việt Nam có thể nuôitôm quanh năm trong khi miền Bắc chỉ khai thác được vào mùa nóng Khi nhiệt độnước thấp dưới mức nhu cầu sinh lý của tôm sẽ ảnh hưởng đến quá trình chuyểnhoá vật chất bên trong cơ thể (biểu hiện bên ngoài là ngừng bắt mồi, ngưng hoạtđộng và nếu kéo dài thời gian có nhiệt độ thấp tôm sẽ chết) Khi nhiệt độ quá giớihạn chịu đựng và kéo dài, tôm bị rối loạn sinh lý và chết (biểu hiện bên ngoài làcong cơ, đục cơ, tôm ít hoạt động nằm im ngừng ăn và tăng cường hô hấp) Nhiệt
độ cao hay thấp đều có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm, gián tiếp gia tăng sựrủi ro
- Các loài khác nhau có khả năng chịu đựng sự biến đổi nồng độ muối khácnhau Tôm thẻ có khả năng chịu đựng sự biến đổi của nồng độ muối thấp hơn so vớitôm sú Tôm sú sinh trưởng và phát triển ở độ mặn 15-25 %0 Qua thực tế nuôi tôm,nồng độ muối xuống thấp dưới 15%0 tôm sẽ giảm số lần lột xác và lớn chậm Nồng
độ muối ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn so với nhiệt độ khi nghiên cứu tỷ lệ sốngcủa tôm nuôi Sự thay đổi đột ngột về độ mặn sẽ có tác hại đến quá trình trao đổichất, sinh lý cơ thể, tập tính sống, Nếu độ mặn vượt quá ngưỡng tôm sẽ bị "sốc".Nhưng nồng độ muối trong ao nuôi tôm lại lệ thuộc vào tỉ lệ nắng mưa, cứ sau trậnmưa rào, nồng độ muối trong ao giảm chủ yếu ở tầng mặt, ngược lại nắng nóng kéodài độ mặn trong nước lại tăng cao Do vậy cần phải kiểm tra độ mặn thường xuyên.Nếu độ mặn xuống thấp, phải có các biện pháp xử lý như tháo bỏ nước tầng mặt chođến khi nồng độ muối ổn định Hoặc độ mặn tăng cao qúa giới hạn thì lại cấp nướcmặn mới vào cho đủ nước qui định
- O xy hoà tan: Oxy hoà tan là một chất khí quan trọng nhất trong số các chất
Trang 26khí hoà tan trong môi trường nước Nó rất cần thiết đối với đời sống của sinh vật,đặc biệt là đối với thuỷ sinh vật, cá, tôm Trong ao nuôi tôm hay ao nuôi thuỷ sảnnói chung thì lượng oxy hoà tan trong nước có sự dao động lớn giữa ngày và đêm.Vào ban đêm oxy thường bị thiếu hoặc sau khi mưa to Hàm lượng oxy hoà tan đủ
để tôm sống là 3,5mg/l Nhưng hàm lượng oxy để cho tôm sinh trưởng và phát triển
là 4-5 mg/l Nếu thiếu oxy trong nước dưới mức 3mg/l, tôm thiếu dinh dưỡng và bơilội không bình thường Nếu hàm lượng oxy xuống thấp hơn 2mg/l thì tôm đã chết.Khi trong ao nuôi phát hiện ra thiếu hàm lượng này thì phải tăng cường bằng cácmáy sục khí hay thay nước,…
Bảng 1-1Bảng 1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan
Oxy hoàn tan (ppm) Ứng xử của tôm
( Nguồn: Trang thông tin Nghệ An ; [17] )
- pH là yếu tố quan trọng Khi quá cao hay quá thấp (pH<7 hay pH>9)làm tôm khólột xác, mang và các phần phụ bị biến màu và trở nên yếu, dễ bị nhiễm bệnh Mọi
sự biến động pH đều có ảnh hưởng đến đời sống của tôm, cá Ao hồ nuôi tôm mà có
độ pH trong khoảng 7,2-8,8 thì được coi là thích hợp
- Quá trình trao đổi chất của các loài trong nước và các loại sinh vật khác sinh ranhiều loại chất khác nhau Ví dụ như khí CO2 và NH3 sinh ra từ quá trình trao đổichất và phân huỷ chất thải Đối với tôm, sự phân huỷ các chất thải của tôm, thức ănthừa, chất hữu cơ, tảo chết,…sẽ tạo nhiều chất dưỡng chất nhưng cũng tạo ra cáckhí độc khác có tác hại đối với tôm mà chủ yếu là ở tầng đáy như H2S, NH3, NO2,…
H2S trong nước độc với tôm, hàm lượng sẽ tăng khi pH, oxy hoà tan thấp và nhiệt
độ cao
- Độ đục cũng có vai trò trong quá trình nuôi tôm vì thức ăn của tôm, cá, và một
số loài thuỷ sản là tảo Nhờ ánh sáng mặt trời, tảo mới phát triển và là nguồn thức
Trang 27ăn cung cấp cho các loài.
- Các yếu tố như kim loại nặng, dầu mỡ, thuốc trừ sâu,…là những nhân tố cóảnh hưởng đến sự sống các loài trong nước Khi nồng độ của chúng trong môitrường nước quá cao, sẽ gây chết đột ngột các loài thuỷ sản Với hàm lượng thấpcác thông số này nhiễm vào các loài nuôi trồng, tích luỹ lại trong cơ thể các loài vàgây hại đối với con người khi sử dụng các sản phẩm thuỷ sản đã bị nhiễm độc này -Thuốc bảo vệ thực vật: các loại hoá chất độc hại xâm nhập vào môi trường nước,với liều lượng cao có thể gây chết Ngoài ra, chúng còn có thể lắng đọng và xâmnhập vào cơ thể các loài, nguy cơ độc hại với con người khi sử dụng các sản phẩmthuỷ sản
Các tác động đến môi trường của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản
Trong nuôi trồng thuỷ sản, trừ phương thức nuôi quảng canh, nuôi sinh thái làkhông sử dụng các loại thức ăn bổ sung, còn các phương thức nuôi còn lại ( (thâmcanh, bán thâm canh, ) đều sử dụng thức ăn dưới nhiều dạng như: thức ăn thô, sơchế và thức ăn tổng hợp Các loài thuỷ sản ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng
và phát triển cần một lượng Protein rất lớn Do vậy thức ăn dùng trong nuôi trồngthuỷ sản thường có độ đạm cao từ 30-57% tuỳ theo loài, kích cỡ, độ tuổi và điềunày gây nhiều phiền toái trong việc kiểm soát môi trường nuôi
Các vấn đề môi trường liên quan đến sản xuất phát sinh từ nuôi trồng thuỷ sảnphần lớn gắn với các yếu tố đầu vào và các chất thải từ các ao hồ hay lồng nuôi.Việc nuôi trồng phụ thuộc vào việc thay đổi nước có thể tạo ra ảnh hưởng môitrường do việc thải các chất dinh dưỡng, các chất hoá học và các mầm bệnh TạiViệt Nam, các tác động này xuất hiện chủ yếu từ việc nuôi tôm và nuôi cá lồng.Mặc dù hiện nay nuôi tôm đang được tiến hành một cách dàn trải, nhưng sự tậptrung các trại nuôi tôm lớn trong một vài khu vực cộng thêm việc xử lý nước kém sẽdẫn tới việc tái sử dụng nước giữa các trại tôm và đó là nhân tố chính gây nên dịchbệnh lan tràn Việc sử dụng chất hoá học và thuốc trừ bệnh trong nuôi trồng thuỷsản có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm độc do các chất đọng lại trong nước thải củatrại nuôi Sử dụng các chất hoá học nhằm kiểm soát dịch hại trong nuôi trồng bánthâm canh đã gây nên những tác động xấu cho môi trường khi không được kiểmsoát thích hợp
Trang 28Nuôi trồng thuỷ sản cũng dẫn tới việc hình thành bùn thải do phân cá và cácthức ăn còn lại, phần lớn là trong nuôi thâm canh Các bùn này cần được thườngxuyên nạo vét khỏi các ao hồ Bùn và các chất lắng đọng ở đáy ao hồ thường có tỉ lệBOD và mức dinh dưỡng cao và do đó, nếu được thải bằng cách tháo nước như hiệnnay nông dân vẫn làm sẽ dẫn tới việc lạm phát dinh dưỡng và mất dần khí oxy trongnước.
Trên thực tế, các nguyên nhân dẫn tới việc tôm chết trên diện rộng là do nhữngbiến động bất thường của thời tiết, hạn hán kéo dài, nhiệt độ và độ mặn trong aonuôi tăng cao Mặt khác, do tốc độ tăng diện tích nuôi trồng thuỷ sản nhanh nên hệthống thuỷ lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển, thiếu hệ thống cấp nước ngọt,thiếu tôm bố mẹ và chất lượng tôm mẹ kém dẫn đến nhiều nơi tôm giống thả khôngđạt tiêu chuẩn kỹ thuật
1.6 Vị trí và vai trò của các chủ thể trong nuôi trồng thủy sản để bảo đảm nuôi trồng được bền vững
Thông qua việc phân tích sự phụ thuộc của đời sống thuỷ sản vào các yếu tố môitrường và các tác động qua lại giữa môi trường và nuôi trồng thuỷ sản kể trên, cóthể thấy vai trò và chức năng của các chủ thể trong việc đảm bảo nuôi trồng thuỷsản bền vững như sau:
Người nuôi: Tính bền vững của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc thực sựvào cách quản lý và chăm sóc của người nuôi Nhân tố thời tiết cũng đóng một vaitrò nhất định, nhưng người nuôi là chủ thể quyết định đến tính bền vững của nghềnuôi trồng Đặc biệt, quan trọng nhất là công tác quản lý môi trường nuôi và cácyếu tố đầu vào như: thức ăn, con giống của người nuôi Đây là nhân tố chính quyếtđịnh tính bền vững của nuôi trồng thuỷ sản
Các cơ quan chức năng địa phương: có vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho ngườinuôi trồng thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho người nuôi vềcác phương pháp khoa học, các quy trình trong nuôi trồng Lên lịch thời vụ cho cácnhóm cộng đồng, phát động phong trào thả tôm đúng thời vụ, kiểm dịch chất lượngcon giống, các cán bộ thực địa thường xuyên tư vấn kỹ thuật, cùng với hộ nuôi giảiquyết các vấn đề khó khăn trong kỹ thuật quản lý và chăm sóc ao nuôi Tạo điều
Trang 29kiện đầu tư tái sản xuất, xây dựng ao đầm, giải quyết kịp thời những vướng mắc củangười dân Xây dựng ban quản lý có nhiệm vụ cấp thoát nước, dự báo môi trường,thời tiết, vụ nuôi Hướng dẫn người nuôi sử dụng hoá chất, thức ăn có hiệu quả.Như vậy để phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản, cần quản lý chặt chẽ các nhân
tố môi trường nước, là các nhân tố quyết định đến đời sống của các loài thuỷ sản
Mà trong nuôi trồng thuỷ sản thì dịch bệnh và môi trường là hai nhân tố luôn gắnkết với nhau và luôn tiềm ẩn những rủi ro cho người nuôi trồng nếu chúng khôngđược quản lý và kiểm soát chặt chẽ
1.7 Các nội dung cần quản lý khi thực hiện quản lý môi trường nuôi.
Qua phân tích ta thấy rằng để nuôi trồng thuỷ sản ổn định và bền vững, người dâncần quản lý các nhân tố:
- Chuẩn bị ao nuôi: vệ sinh ao, xử lý môi trường ao nuôi, xử lý nước cấp vào ao, có
sự thống nhất trong cộng đồng về lịch lấy nước và xả nước để tránh các tác độngkhông đáng có
- Chọn tôm giống và thả giống
- Quản lý Dịch bệnh: Phương châm trong quản lý bệnh tôm là “Phòng bệnh hơn trị bệnh” Để quản lý tốt bệnh tôm người dân cần phải:
Theo dõi chặt chẽ hoạt động tôm hàng ngày Kiểm tra sức khoẻ tôm hàng ngày.Bằng kinh nghiệm của mình về thời tiết ở địa phương, thông qua đài báo, dự kiến
sự biến động của thời tiết để có biện pháp xử lý trong ao nuôi kịp thời Những biệnpháp xử lý đối với sự biến động của thời tiết sẽ nâng cao đáng kể sức khoẻ và khảnăng đề kháng của tôm nuôi
1.8 Nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng tại Quỳnh Bảng và Hưng Hoà.
Xã Quỳnh Bảng là một trong 29 xã ven biển của tỉnh Nghệ An thuộc huyện QuỳnhLưu Là một trong những xã có phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh nhấttỉnh Nghệ An với 112,7 ha diện tích nuôi và hơn 150 hộ nuôi thuỷ sản Đối tượngđược nuôi ở đây chủ yếu là tôm sú, nơi tập trung nuôi nhiều và phát triển mạnh nhất
đó là khu nuôi tôm công nghiệp Quỳnh Bảng Đặc biệt, với sự đầu tư trong khunuôi tôm công nghiệp, sản lượng NTTS cũng như thu nhập của người dân tăng lên
Trang 30đáng kể Để đảm bảo cuộc sống ổn định của người dân trong xã, vấn đề môi trườngtrong nuôi trồng thuỷ sản cần được đặc biệt quan tâm Cần có sự kết hợp giữanhững người nuôi và chính quyền các cấp để tìm ra biện pháp quản lý môi trườngphù hợp và bền vững Quỳnh Bảng cũng là một điểm thử nghiệm của dự án VIE/97/030, thực hiện tiến hành một số thử nghiệm quản lý môi trường trong NTTS dựavào cộng đồng ở khu vực Bắc Trung Bộ Những thử nghiệm này nhằm xem xét khảnăng thực hiện và phổ biến nhân rộng mô hình quản lý mới trong NTTS.
Hưng Hoà là một xã ngoại thành- thành phố Vinh nằm ở phía Nam thành phố, tiếpgiáp với sông Lam, cách cửa biển 6 Km.Xã Hưng Hoà với 250 ha đất chưa được sửdụng, hiện nay hầu hết nằm trong vùng ngập trũng của cánh đồng cói hoang hoá,hoặc năng suất thấp, là tiềm năng lớn thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷsản Đây là vùng đã được quy hoạch bài bản, hệ thống cấp, tiêu được quản lý, điềutiết chặt chẽ Trong quá trình nuôi, ở vùng mới do dân lần đầu tiên bước vào sảnxuất nên các khâu kỹ thuật cơ bản còn nắm chưa rõ nhưng được sự giúp đỡ của Độithanh niên tình nguyện của Sở Thủy sản, bà con yên tâm sản xuất và đã đạt đượckết quả rất cao với 100% hộ nuôi có lãi với mức bình quân trên 30triệu/ha, năngsuất đạt 0.95 tấn /ha
Với quy mô nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động quản lý môi trường hiện tại ở 2 xãnhư vậy, Quỳnh Bảng và Hưng Hoà là hai địa điểm được chọn để nghiên cứu
1.9 Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia
PRA là chữ viết tắt của ba từ tiếng Anh: Participatory Rural Appraisal, nghĩa là
phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân PRA bao gồm mộtloạt cách tiếp cận và phương pháp khuyến khích, lôi cuốn người dân nông thôncùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điềukiện nông thôn để họ lập kế hoạch và thực hiện
PRA là hướng phát triển cộng đồng để hỗ trợ cộng đồng có khả năng đưa ra quyếtđịnh cho chính họ Từ đó cộng đồng có thể xác định rõ những hoạt động và kếhoạch phù hợp với những thế mạnh và nguồn lực của họ để thực hiện sự phát triểnbền vững (Aversa và ctv, 2003)
Trang 31Phương pháp đánh giá có sự tham gia của cộng đồng được rút ra từ phương phápđánh giá nhanh nông thôn (Rapid Rural Appraisal - RRA) Trong RRA bên nhậnthông tin thì được nhiều còn bên cho thông tin thì không được mấy, quá trình nàymang tính một chiều Vì vậy phương pháp này được sửa đổi thành PaticipatoryRural Appraisal- PRA- Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của cộng đồng.
1.10 Nguyên tắc khi thực hiện PRA
Có 5 nguyên tắc cơ bản để làm cơ sở cho bất kỳ hoạt động PRA nào mà không cầnchú ý đến nội dung hay mục đích:
• Sự tham gia: PRA chủ yếu dựa vào sự tham gia của cộng đồng, bởi vậyphương thức này được thiết kế cho phép người dân thu thập, không chỉ lànguồn thông tin, mà còn là những thành viên tham gia trong nhóm PRAtrong cuộc họp và phân tích các thông tin
• Sự linh hoạt: Các kỹ thuật tổng hợp là thích hợp trong hoàn cảnh phát triểnđặc biệt sẽ được xác định bởi sự kết hợp kỹ năng và quy mô thay đổi củanhóm PRA, thời gian và nguồn có sẵn, chủ đề và công việc tại hiện trường
• Làm việc theo nhóm: Nhìn chung, PRA được phổ biến tốt là nhóm địaphương (nói ngôn ngữ địa phương) với sự có mặt của một số bên ngoài, đạidiện của phụ nữ, các chuyên gia trong các lĩnh vực và khoa học xã hội theochủ đề
• Không để ý đến sự tối ưu: Để đạt được hiệu quả tối ưu về mặt tiền bạc vàthời gian, các hoạt động PRA nhằm mục tiêu thu thập các thông tin cần thiếtcho việc ra quyết định và đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đềnghiên cứu
• Hệ thống: Vì phương pháp PRA thường cho dữ liệu thu thập ít khi được giớithiệu để phân tích thống kê (đưa ra các dữ liệu định tính và dung lượng mẫutương đối nhỏ) Các phương pháp đối chứng đã được phát triển để đảm bảotính hợp lệ và đáng tin cậy của các kết quả thu được Phương pháp chọn mẫudựa trên sự khác biệt tương đối của cộng đồng về mặt địa lý, phân hạng giàu
Trang 32nghèo, kiểm tra chéo vv Tất cả đều sử dụng những công cụ khác nhau để
có một cái nhìn tổng quan về chủ đề được chọn (kể cả qua các cuộc họp cộngđồng để thảo luận các vấn đề xác định được, dung hoà các mâu thuẫn vàquan điểm trái ngược nhau)
1.1.1 PRA có những đặc điểm chủ yếu sau:
• Phương pháp luận PRA được xây dựng dựa trên kiến thức và năng lực vốn có củanông dân về xác định vấn đề, ra quyết định, huy động nguồn lực, tổ chức thựchiện để cùng phát triển cộng đồng
• PRA sử dụng các kỹ thuật thu hút sự tham gia của người dân và kỹ năng thúc đẩy
và tạo điều kiện của cán bộ khuyến nông khuyến lâm
• PRA tạo điều kiện cho người dân địa phương tham gia tự nguyện, sáng tạo vàomọi quá
trình xác định vấn đề, xác định mục tiêu, ra quyết định, thực hiện, giám sát và đánhgiá
• Các hoạt động của PRA chủ yếu tập trung vào phát triển cộng đồng một cách bềnvững
thông qua sự nỗ lực của chính cộng đồng
• PRA luôn đề cao thái độ học hỏi, chia sẻ, trao đổi và thúc đẩy của cán bộ khuyếnnông
khuyến lâm
Công cụ phổ biến được sử dụng trong phương pháp PRA
Phỏng vấn và thảo luận nhóm (Interviews and group discussions).
Phỏng vấn nhóm (Group interviews): Phỏng vấn này được sử dụng để thu thập
thông tin thực sự từ cộng đồng Phỏng vấn nhóm có một số thuận lợi sau: 1) thuđược một lượng lớn thông tin; 2) ngay lập tức có thể kiểm tra nhanh các thông tin;3) là cơ hội để các thành viên bên ngoài có thể đưa ra nhận xét khác để thảo luận.Nhưng nhóm khoảng hơn 25 người trở thành khó phỏng vấn, nó có một số hạn chếnhư không thu được thông tin có ích khi đưa ra những vấn đề nhạy cảm, người trảlời có thể đưa ra những ý kiến/vấn đề quá xa vấn đề cần tập trung trong trường hợpnày cần chia nhỏ nhóm ra
Trang 33Tập trung nhóm thảo luận (Focussed group discussions): Thảo luận phải nắm được
các chủ đề đã định, với mỗi cá nhân họ có những đóng góp riêng như giới, tuổinghề, các thách thức Sự chuẩn bị là hoàn toàn cần thiết
để có thể thu được nhiều thông tin về các vấn đề mình quan tâm
Xếp hạng và so sánh (Ranking and comparison)
Đây là kỹ thuật đưa ra các vấn đề để người dân cho điểm, so sánh và xếp hạng đểthấy được thứ tự ưu tiên, tính cấp bách, mức độ ảnh hưởng, hay hiệu quả của vấn
đề
Mục tiêu của xếp hạng ưu tiên: Nêu bật được sự khác nhau cơ bản trong việc xếpthứ tự ưu tiên giữa các thành viên, tìm hiểu các thành viên tham gia lựa chọn các chỉtiêu như thế nào Do vậy để sử dụng công cụ này đạt hiệu quả, các thành viên thamgia nên chọn chủ đề mà mọi người đều biết
Quá trình tiến hành PRA
Một trong các công cụ PRA có thể được lựa chọn và sử dụng hợp lý để tìm hiểu vềnhững vấn đề nổi cộm trong cộng đồng, đưa ra các ý kiến và hướng ưu tiên Trongphương pháp tham gia, những người điều tra phải giúp người dân tiếp cận với cáccông cụ, khuyến khích họ sử dụng các công cụ đó để tự họ có thể phân tích điềukiện môi trường của mình
Nhóm PRA
Tham gia như
“Người cố vấn”
Các cuộc họp cộng đồng
-Trao đổi kinh nghiệm, góp ý
- Đưa ra các biện pháp giải quyết
Cộng đồng
Tham gia như
“Người chủ đạo”
Trang 342 Chương 2: Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu về Quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng, do vậyđối tượng nghiên cứu chính là các hộ nuôi tôm theo các tổ cộng đồng tại xã Quỳnhbảng - Huyện Quỳnh Lưu và xã Hưng Hoà – Tp Vinh Nói chung là nuôi trồng thuỷsản nhưng đối tượng thuỷ sản được nuôi chính và góp phần vào phát triển kinh tếnông hộ chính là các loại tôm như: tôm sú, tôm thẻ, tôm he, Các loài thuỷ sảnkhác có sản lượng ít, chủ yếu nuôi xen canh và gối vụ Do vậy trong phạm vi nghiêncứu của luận văn, chủ yếu các đối tượng là các nông hộ nuôi tôm tại xã QuỳnhBảng và Hưng Hoà
Xã Quỳnh Bảng là một trong 29 xã ven biển của tỉnh Nghệ An thuộc huyện QuỳnhLưu Là một trong những xã có phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh nhấttỉnh Nghệ An với 127 ha diện tích nuôi và hơn 150 hộ nuôi thuỷ sản Đối tượngđược nuôi ở đây chủ yếu là tôm sú, nơi tập trung nuôi nhiều và phát triển mạnh nhất
đó là khu nuôi tôm công nghiệp Quỳnh Bảng Theo Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sảnmặn lợ tỉnh Nghệ An đến 2010 thì diện tích quy hoạch cho nuôi trồng thuỷ sản tại
xã Quỳnh Bảng là 140 ha, chủ yếu là nuôi tôm với hình thức thâm canh và bán thâmcanh
Hưng Hoà là một xã ngoại thành- thành phố Vinh nằm ở phía Nam thành phố, tiếpgiáp với sông Lam, cách cửa biển 6 Km Là vùng tiềm năng lớn thuận lợi cho việcphát triển nuôi trồng thuỷ sản với diện tích nuôi trồng thuỷ sản hiện nay là 130 ha,chủ yếu là nuôi tôm Theo Quy hoạch nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ tỉnh Nghệ An đến
2010 thì diện tích quy hoạch cho nuôi trồng thuỷ sản tại xã Hưng Hoà là 250 ha,
chủ yếu là nuôi tôm với hình thức thâm canh và bán thâm canh.Hưng Hòa là một xãcũng chịu nhiều ảnh hưởng của các chất thải từ thành phố Vinh Tuy nhiên vị trí mà
xã Hưng Hoà thực hiện dự án nuôi tôm công nghiệp lại không bị ảnh hưởng của ônhiễm từ thành phố Vinh
Với những thành tựu đáng kể mà 2 xã đã đạt được trong nuôi trồng thuỷ sản, đồngthời với hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng tại 2 xã đã
Trang 35thực hiện trong một thời gian ( (Quỳnh Bảng từ 2004, Hưng Hoà từ 2006) , với mụcđích nghiên cứu của đề tài, xã Hưng Hoà và Quỳnh Bảng là 2 địa điểm được lựachọn để nghiên cứu.
2.2 Thời gian:
Từ tháng 5 năm 2007 đến tháng 10 năm 2007
2.3 Phương pháp
2.3.1 Kế thừa và phân tích tài liệu hiện có:
Thu thập các tài liệu, số liệu về kinh tế, môi trường, xã hội, các báo cáo, các côngtrình nghiên cứu đã thực hiện ở địa phương có liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu Tài liệu được xử lý, phân tích và từ đó, xác định những vấn đề cần đánh giá
Thu thập số liệu qua các tài liệu của Bộ Thuỷ sản, Viện nghiên cứu nuôi trồng thủysản I, Viện Kinh tế quy hoạch thuỷ sản, Sở Thuỷ sản Nghệ An, Phòng Thuỷ sản cáchuyện và Uỷ ban nhân dân tại 2 xã Quỳnh Lưu, Hưng Hoà về điều kiện tự nhiên,kinh tế xã hội; Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản
2.3.2 Phỏng vấn theo bộ câu hỏi đã được chuẩn hoá:
+ Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn (questionnaire)dành cho các hộ nuôi Mỗi tổ cộng đồng lựa chọn 8 hộ để phỏng vấn
Trên cơ sở tiêu chí chọn hộ phỏng vấn, thông qua giới thiệu của Uỷ ban xã, 48 hộ
đã được phỏng vấn ở xã Hưng hoà ( (6 tổ cộng đồng, mỗi tổ phỏng vấn 8 hộ) và 32
hộ được phỏng vấn ở xã Quỳnh bảng ( (4 tổ cộng đồng, mỗi tổ phỏng vấn 8 hộ)
- Phương pháp phỏng vấn theo bảng câu hỏi được thực hiện với mục đích thu thậpthông tin trực tiếp từ các cá nhân, những người nuôi tôm Cách tiếp cận phỏng vấnnày cho phép thu thập các thông tin của những cá nhân mang tính nhận định có địnhkiến của người trong cuộc mà khi có mặt những người khác họ không muốn nói ra,
Trang 36ví dụ như: kỹ thuật nuôi tôm, mức độ đầu tư, tình hình thu nhập, các vấn đề bứcbách đang tồn tại ở địa phương và quan điểm cá nhân họ Gần 80% tổng số nông dân được phỏng vấn là nam, họ là người quyết định chínhcác hoạt động sản xuất có liên quan đến nuôi tôm, cua trong nông hộ Độ tuổi trungbình là trên 40 tuổi, tập trung ở khoảng 40-50 tuổi Kinh nghiệm nuôi tôm của họtrung bình là gần 4 năm, trong đó người nuôi nhiều nhất cũng mới được 6 năm và ítnhất là 2 năm Như vậy kinh nghiệm thực tế cùng với những kỹ thuật được truyềnđạt từ các lớp tập huấn là chưa hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu của nông hộ Nhiềungười dân vẫn còn vướng mắc về kỹ thuật nuôi, đặc biệt là về biện pháp phòng trừdịch bệnh.
Nội dung phỏng vấn: Chi tiết ở bảng câu hỏi ở phần phụ lục Các nội dungchính bao gồm;
- Các thông tin chung
- Hoạt động của tổ nhóm cộng đồng hiện tại như thế nào?
- Nhận thức của người nuôi về tầm quan trọng của quản lý môi trường trong ao
- Hoạt động cộng đồng trong quản lý môi trường
- Vai trò của các cơ quan chức năng địa phương có liên quan
+ Phỏng vấn dựa vào các câu hỏi được liệt kê và người nắm nhiều thông tin
(Checklist, Key Informant interview)
- Phỏng vấn một số người đại diện cho cơ quan quản lý và chính quyền xã: nhằmthống kê và kiểm tính các thông tin thu được từ người dân về: diện tích nuôi tôm,quy mô, công nghệ,
- Kết hợp với phỏng vấn là điều tra khảo sát hiện trường Việc này giúp cho việcphát hiện các vấn đề kiểm tra và hiệu chỉnh các thông tin đã thu thập được quaphỏng vấn và từ các tài liệu thứ cấp
2.3.3 Thảo luận nhóm (Group Discussion)
Thảo luận theo các chủ đề:
- Mức độ ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản
- Quản lý môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản
- Những lợi ích khi tham gia vào hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có sự quản lýmôi trường theo hình thức cộng đồng
Trang 37- Các khó khăn để thực hiện và triển khai nuôi trồng thuỷ sản có sự tham giacủa cộng đồng.
Chọn các chủ đề thảo luận mà mọi người đều hiểu rõ và xếp hạng theo thứ tự ưutiên
2.3.4 Phương pháp SWOT:
Phương pháp WSOT là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, nhưng đồng thời cũng tìm ra những cơ hội và thách thức đối với một tổ chức hay cá nhân Từ đó có các giải pháp với các vấn đề khó khăn còn tồn tại.SWOT: là chữ viết tắt của các từ tiếng Anh
S: strengths - điểm mạnh
W: weakness - điểm yếu
S và W là các yếu tố nội tại (internal factors)
O: opportunity – cơ hội
T: threat – đe dọaoà
O và T là các yếu tố bên ngoài (external factors)
Nguyên tắc đơn giản để thực hiện thành công phương pháp phân tích WSWOT làchỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu một cách thực tế nhất
Để tiến hành SWOT, luôn phải đặt các câu hỏi và tìm câu trả lời như:
Tổ chức/cơ quan của bạn hiện có những mặt thuận lợi gì?
Tổ chức/cơ quan của bạn làm gì tốt hơn các tổ chức/cơ quan khác?
Các tổ chức/cơ quan khác nhìn thấy cái gì là lợi thế của tổ chức/cơ quan bạn?
Tổ chức/cơ quan của bạn có thể cải tiến những gì?
Tổ chức/cơ quan của bạn có thể tránh những gì?
Các tổ chức/cơ quan khác nhìn thấy cái gì là điểm yếu của tổ chức/cơ quan bạn?
Tổ chức/cơ quan của bạn đang phải đối mặt với những trở ngại gì?
Liệu việc thay đổi công nghệ có làm ảnh hưởng đến vị trí của tổ chức không?
Trong giới hạn của luận văn này, phương pháp SWSOT được sử dụng để phân tích
và tìm ra những thuận lợi và khó khăn, những thách thức, đe doạ của công tác quản
lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản thông quacác thông tin thu thập được thông qua phỏng vấn cộng đồng và thu thập tài liệu
Trang 38Kết quả phỏng vấn được phân tích và tổng hợp theo các nội dung và chủ đề thảoluận.