A. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài. Trong những năm qua, chủ trương CNHHĐH đất nước, cùng với nhịp độ tăng trưởng của cả nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra hết sức nhanh chóng. Đặc biệt, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì việc phát triển đô thị trở thành vấn đề được xã hội và dư luận hết sức quan tâm. Để làm cho bộ mặt đô thị ở nước ta hiện nay phù hợp với điều kiện và sự phát triển của đất nước, cũng như để cho ngân sách của Nhà nước được sử dụng có hiệu quả thì vấn đề quy hoạch đô thị được đặt ra hết sức cấp thiết. Thời gian qua, công tác quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch chung xây dựng đô thị cùng các lĩnh vực quy hoạch khác ở Việt Nam nói chung và tại thủ đô Hà Nội nói riêng, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm và thể chế hóa bằng nhiều văn bản pháp quy. Tuy nhiên, thực tế tình trạng quy hoạch đô thị cho thấy, vẫn còn nhiều sự chưa ăn khớp về vị trí, vai trò của mỗi quy hoạch cả về nội dung, phương pháp tiếp cận và sự khớp nối, phối hợp giữa các quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch phát triển kinh tếxã hội vùng, lãnh thổ và quy hoạch chung xây dựng đô thị. Nội dung và phương pháp quy hoạch đô thị của nước ta tuy ngày càng cải tiến, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều bất cập. Vì vậy, chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa bền vững. Có những quy hoạch ngành còn chồng chéo, gây tổn hại tới kinh phí lập quy hoạch mà không có tác dụng trong thực tiễn. Pháp luật hiện hành của nước ta đã có nhiều quy định về quy hoạch và quản lý phát triển đô thị. Tuy nhiên các quy định này còn chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, hiệu lực pháp lý thấp, nhiều quy định lạc hậu so với thực tế, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý phát triển đô thị và hội nhập quốc tế. Luật Xây dựng tuy đã có 1 chương quy định về quy hoạch xây dựng nhưng một số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể về quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch cũng như các quy định về quy hoạch hệ thống hạ hầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị. Quy trình, thủ tục về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch còn phức tạp, tốn nhiều thời gian. Các quy định về lấy ý kiến cộng đồng khi lập quy hoạch cũng như việc công khai, cung cấp thông tin quy hoạch chưa đầy đủ, chưa phù hợp vơi điều kiện thực tế. Sự phân công, phân cấp trong quản lý đô thị chưa thật phù hợp với điều kiện thực tế ở các địa phương. Trách nhiệm của chính quyền trong quản lý các vấn đề đặc thù của đô thị nhất là quản lý kiến trúc, cảnh quan đô thị chưa được thiết lập đầy đủ dẫn đến lúng túng, trùng lắp và kém hiệu quả. Một số vấn đề khác như quy hoạch và quản lý không gian ngầm, kinh phí nhân lực cho công tác lập và triển khai quy hoạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn thiếu quy định cụ thể. Quản lý đất đai hiện càng rối hơn. Giải quyết hậu quả của những “quy hoạch treo”, “quy hoạch quên” hiện lại đang nằm trong tay Bộ Tài nguyên và Môi trường. Việc cấp giấy hồng, giấy đỏ thể hiện sự lúng túng của tổ chức bộ máy nhà nước. Tổ chức chính quyền ba cấp, sao chép mô hình quản lý nông thôn rõ ràng đã không còn thích hợp với một cơ thể năng động như Hà Nội. Việc tìm kiếm một hình thức tổ chức nghiên cứu, vận hành và quản lý đô thị thích hợp và hàng loạt vấn đề cần được đặt ra như một yêu cầu cấp bách. Với tính cấp thiết cơ bản trên, em đã lựa chọn đề tài “Vấn đề quy hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội hiện nay” làm đề tài cho tiểu luận của mình.
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU………2
B PHẦN NỘI DUNG……… ………6
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy hoạch đô thị……….……… 6
1 Khái niệm và một số vấn đề của quy hoạch đô thị trong quản lý xã
2 Khái niệm quản lý xã hội……… 8
Chương 2: Thực trạng, tiềm năng và ý tưởng của quy hoạch đô thị thủ
1 Thực trạng vấn đề quy hoạch đô thị tại Hà Nội hiện nay……… 10
2 Tiềm năng và ý tưởng……… …….19
Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quy hoạch đô
C PHẦN KẾT LUẬN……….…23
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Trong những năm qua, chủ trương CNH-HĐH đất nước, cùng vớinhịp độ tăng trưởng của cả nước, tốc độ phát triển đô thị diễn ra hết sứcnhanh chóng Đặc biệt, trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thìviệc phát triển đô thị trở thành vấn đề được xã hội và dư luận hết sức quantâm Để làm cho bộ mặt đô thị ở nước ta hiện nay phù hợp với điều kiện và
sự phát triển của đất nước, cũng như để cho ngân sách của Nhà nước được
sử dụng có hiệu quả thì vấn đề quy hoạch đô thị được đặt ra hết sức cấpthiết
Thời gian qua, công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quyhoạch chung xây dựng đô thị cùng các lĩnh vực quy hoạch khác ở Việt Namnói chung và tại thủ đô Hà Nội nói riêng, luôn được Đảng và Nhà nước quantâm và thể chế hóa bằng nhiều văn bản pháp quy Tuy nhiên, thực tế tìnhtrạng quy hoạch đô thị cho thấy, vẫn còn nhiều sự chưa ăn khớp về vị trí, vaitrò của mỗi quy hoạch cả về nội dung, phương pháp tiếp cận và sự khớp nối,phối hợp giữa các quy hoạch, đặc biệt là quy hoạch phát triển kinh tế-xã hộivùng, lãnh thổ và quy hoạch chung xây dựng đô thị
Nội dung và phương pháp quy hoạch đô thị của nước ta tuy ngày càngcải tiến, đổi mới nhưng vẫn còn nhiều bất cập Vì vậy, chất lượng quy hoạchchưa cao, chưa bền vững Có những quy hoạch ngành còn chồng chéo, gâytổn hại tới kinh phí lập quy hoạch mà không có tác dụng trong thực tiễn
Pháp luật hiện hành của nước ta đã có nhiều quy định về quy hoạch vàquản lý phát triển đô thị Tuy nhiên các quy định này còn chưa đầy đủ, thiếuđồng bộ, hiệu lực pháp lý thấp, nhiều quy định lạc hậu so với thực tế, chưa
Trang 3đáp ứng được yêu cầu quản lý phát triển đô thị và hội nhập quốc tế LuậtXây dựng tuy đã có 1 chương quy định về quy hoạch xây dựng nhưng một
số quy định của Luật còn mang tính nguyên tắc, thiếu các quy định cụ thể vềquản lý phát triển đô thị theo quy hoạch cũng như các quy định về quyhoạch hệ thống hạ hầng kỹ thuật và dịch vụ đô thị Quy trình, thủ tục về lập,thẩm định, phê duyệt quy hoạch còn phức tạp, tốn nhiều thời gian Các quyđịnh về lấy ý kiến cộng đồng khi lập quy hoạch cũng như việc công khai,cung cấp thông tin quy hoạch chưa đầy đủ, chưa phù hợp vơi điều kiện thực
tế Sự phân công, phân cấp trong quản lý đô thị chưa thật phù hợp với điềukiện thực tế ở các địa phương Trách nhiệm của chính quyền trong quản lýcác vấn đề đặc thù của đô thị nhất là quản lý kiến trúc, cảnh quan đô thị chưađược thiết lập đầy đủ dẫn đến lúng túng, trùng lắp và kém hiệu quả Một sốvấn đề khác như quy hoạch và quản lý không gian ngầm, kinh phí nhân lựccho công tác lập và triển khai quy hoạch, kiểm tra, giám sát việc thực hiệnquy hoạch còn thiếu quy định cụ thể
Quản lý đất đai hiện càng rối hơn Giải quyết hậu quả của những “quyhoạch treo”, “quy hoạch quên” hiện lại đang nằm trong tay Bộ Tài nguyên
và Môi trường Việc cấp giấy hồng, giấy đỏ thể hiện sự lúng túng của tổchức bộ máy nhà nước Tổ chức chính quyền ba cấp, sao chép mô hình quản
lý nông thôn rõ ràng đã không còn thích hợp với một cơ thể năng động như
Hà Nội Việc tìm kiếm một hình thức tổ chức nghiên cứu, vận hành và quản
lý đô thị thích hợp và hàng loạt vấn đề cần được đặt ra như một yêu cầu cấpbách
Với tính cấp thiết cơ bản trên, em đã lựa chọn đề tài “Vấn đề quy
hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội hiện nay” làm đề tài cho tiểu luận của mình.
Trang 42 Tình hình nghiên cứu.
Vấn đề quy hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội được nhiều bài viết, bàinghiên cứu hướng đến trong những năm gần đây Ngoài sách, báo, tạp chí,internet thì còn có các cuốn sách tiêu biểu như: Cẩm nang quy hoạch đô thị
và nước sạch thành phố Hà Nội, nxb Lao động-Hà Nội 2007,…
Ngoài ra còn nhiều nghiên cứu có liên quan, tuy nhiên chưa có mộtcông trình cụ thể nào nghiên cứu về vấn đề quy hoạch đô thị tại Hà Nội hiệnnay dưới góc độ quản lý xã hội
Do vậy, với tính cấp thiết của vấn đề và những khai thác dưới góc độquản lý xã hội, em hy vọng đề tài nghiên cứu của mình sẽ có những đónggóp thật sự thiết thực và ý nghĩa
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
3.1 Mục tiêu nghiên cứu.
Qua quá trình nghiên cứu, ở phạm vi rộng, đề tài cung cấp cho bạnđọc một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề quy hoạch của Hà Nội tới năm 2020.Đồng thời, đưa ra được những đóng góp để nâng cao hiệu quả hoạt động quyhoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội và những định hướng, giải pháp cơ bản nhằmnâng cao hiệu quả và chất lượng của hoạt động quy hoạch đô thị tại thủ đô
Hà Nội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Phân tích và làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về quy hoạch đô thị
ở thủ đô Hà Nội hiện nay
- Nêu lên thực trạng của hoạt động quy hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nộihiện nay
- Nêu lên những tiềm lực của hoạt động quy hoạch đô thị tại thủ đô
Hà Nội hiện nay
Trang 5- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quyhoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội hiện nay.
4 Phương pháp nghiên cứu.
4.1 Phương pháp luận.
Dựa trên phương pháp luận khoa học chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử
4.2 Phương pháp cụ thể.
- Phân tích tổng hợp tài liệu
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
5.1 Đối tượng nghiên cứu.
Vấn đề quy hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội hiện nay
5.2 Phạm vi nghiên cứu.
- Không gian: hoạt động quy hoạch đô thị tại thủ đô Hà Nội
- Thời gian: Năm 2010
6 Đóng góp của đề tài
Đề tài góp phần nghiên cứu làm rõ và bổ sung thêm lý luận cho vấn
đề quy hoạch đô thị trong quản lý xã hội nói chung và quy hoạch đô thị tạithủ đô Hà Nội hiện nay trong quản lý xã hội nói riêng
Đồng thời đề tài còn đóng góp những giá trị thực tiễn thông qua việcnghiên cứu phân tích, đánh giá so sánh và khảo sát thực tiễn trên địa bàn HàNội nhằm đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt độngquy hoạch đô thị ở Hà Nội hiện nay
7 Bố cục đề tài gồm:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm 3 chương
Trang 6B PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
1 Khái niệm và một số vấn đề của quy hoạch đô thị trong quản lý xã hội 1.1 Khái niệm đô thị.
Đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là laođộng phi nông nghiệp, dân cư sống và làm việc theo phong cách văn minh,hiện đại hơn, có tổ chức chặt chẽ và hiệu quả kinh tế cao hơn, có trình độvăn hóa cao Đó là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp
1.2 Khái niệm quy hoạch đô thị.
Quy hoạch đô thị là hoạt động xuất hiện sớm, cùng với hoạt động xâydựng, tổ chức dân cư của con người Nhưng thuật ngữ “quy hoạch đô thị”được nhắc tới không xa như bản chất của nó
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quy hoạch đô thị
Trong từ điển quy hoạch đô thị của Francoise Choay và Pierre Merlin
đã đề nghị một định nghĩa kép cho thuật ngữ “quy hoạch đô thị”:
“Quy hoạch đô thị”cũng giống như quy hoạch nói chung, là sự can
thiệp cố ý, nghĩa là những hành động Những hành động này, cũng là sự thực hiện một cách làm, nghĩa là luyện tập việc áp dụng, việc thực hiện một phương pháp làm việc, một sự sử dụng, một sự đối đầu với thực tại, một sự
do dự mà từ đó sẽ nảy sinh nhiều kinh nghiệm hơn là tri thức”.
Định nghĩa này rất ăn khớp với những bài học rút ra từ kinh nghiệmnghiệp vụ Nó nhắc nhở rất trúng rằng, quy hoạch đô thị không phải là mộtkhoa học mà cũng không phải là một kỹ thuật nên không có được sự cố kếtnội tại chặt chẽ đủ sức lý giải được những quyết định lựa chọn các giải pháp.Nhưng định nghĩa này cũng chưa đề cập được hết mọi khía cạnh của vấn đề
Trang 7bởi vì có lẽ cũng không nên từ đó suy diễn ra rằng thực tiễn quy hoạch đô thịchỉ đơn giản là một nghệ thuật vẽ các dạng hình đô thị.
Chúng ta có thể phân tích sâu hơn nữa về lý thuyết quy hoạch đô thịnhưng để làm được việc đó, ta cần chấp nhận nghiên cứu nó như một hànhđộng của quyền lực, để có thể làm rõ được những quan hệ đang tồn tại giữacác lĩnh vực liên quan của quyết định chính trị- hành chính, của hệ tư tưởng
và của thực tiễn nghĩa vụ
Tuy nhiên, từ “quyền lực “ lại là đối tượng của một điều cấm kỵ thực
sự trong các văn liệu về quy hoạch đô thị Các tác giả thường khéo léo lẩntránh nó ít nhiều bằng những đoạn văn chuẩn mực, trong đó thường thấy
xuất hiện thành ngữ “cần phải”… Nhưng chẳng mấy khi chịu nói rõ ai “cần
phải” làm và tại sao phải làm việc ấy.
Ngoài ra còn một số cách tiếp cận khác như:
- Quy hoạch đô thị: là việc tổ chức hoặc định hướng tổ chức không
gian vùng, không gian đô thị và điểm dân cư, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống tại các vùng lãnh thổ đó, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích cộng đồng, đáp ứng được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường.
- Quy hoạch đô thị là bộ môn khoa học kỹ thuật, xã hội, nhân văn, là
nghệ thuật về tổ chức không gian sống cho các đô thị và các khu vực đô thị.
Nó là nghệ thuật sắp xếp tổ chức các không gian chức năng, khống chế hình thái kiến trúc trong đô thị trên cơ sở các điều tra, dự báo, tính toán sự phát triển, đặc điểm, vai trò, nhu cầu và nguồn lực của đô thị, nhằm cụ thể hóa chính sách phát triển, giảm thiểu các tác động có hại phát sinh trong quá trình đô thị hóa, tận dụng tối đa mọi nguồn lực, và hướng tới sự phát triển bền vững.
Hay khái niệm đang được sử dụng nhiều hiện nay:
- Quy hoạch đô thị (theo nghị định 08/2005/NĐ-CP)
“Quy hoạch xây dựng đô thị là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí
công trình trên một khu vực lãnh thổ trong từng thời kỳ, làm cơ sở pháp lý cho việc chuẩn bị đầu tư xây dựng, quản lý xây dựng và phát triển kinh tế xã hội.”
1.3 Một số vấn đề về quy hoạch đô thị.
Trang 8- Về bản chất công việc: Quy hoạch đô thị là một khoa học liên
ngành rộng lớn và phức tạp Đối tượng khảo sát, nghiên cứu liên quan đếnmột vùng tài nguyên to lớn, nhằm tổ chức một cỗ máy sản xuất khổng lồgồm hàng trăm xí nghiệp công nghiệp, sử dụng hàng vạn lao động, cùnghoạt động đời sống nhiều mặt của một cộng đồng cư dân từ hàng trăm nghìnđến hàng triệu người
Quá trình xây dựng và hoạt động đô thị là dài lâu, ảnh hưởng không ítđến môi trường và cảnh trí thiên nhiên Đô thị còn là một thực thể xã hộirộng lớn, vận động không ngừng với những quy luật đặc thù theo đặc điểmtừng địa phương, từng thời kỳ, từng giai đoạn Mỗi đô thị là một sản phẩmriêng biệt, không thể trộn lẫn, chắp vá, lắp ghép
Tổng thể kiến trúc đô thị còn là một công trình nghệ thuật khổng lồtác động đến mỹ cảm, đến đời sống tinh thần và hình thành tính cách khôngnhững từng con người cụ thể mà còn tác động lên tính cách của cả cộngđồng
Vì vậy, việc nghiên cứu để quy hoạch một đô thị là một quá trìnhnghiên cứu dày công về nhiều mặt, cần sử dụng một khối lượng tri thức liênngành rộng rãi với một đội ngũ chuyên viên đông đảo, được đặt dưới sự chỉđạo của những nhà khoa học có uy tín, với một khối lượng kinh phí đầu tưthỏa đáng và một quỹ thời gian cần và đủ cho công việc
2 Khái niệm quản lý xã hội.
Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức của các chủ thể xã hội, có thể
là cá nhân hoặc tổ chức hay xã hội nhằm sản xuất và duy trì các phẩm chấtđặc thù của xã hội, đáp ứng sự tồn tại và phát triển xã hội trong các lĩnh vựchoạt động của nó như lao động, học tập, văn hóa, chính trị, tôn giáo và cáccông tác xã hội khác
Trang 9Quản lý xã hội là loại hình quản lý nói chung Chức năng của quản lý
xã hội là bảo đảm việc thực hiện nhu cầu phát triển, tiến bộ của toàn bộ hệthống xã hội cũng như các bộ phận của nó Khái niệm quản lý xã hội được
sử dụng theo hai cách tiếp cận khác nhau:
Thứ nhất, quản lý xã hội là hoạt động quản lý các tổ chức phi nhànước, không chịu sự chi phối trực tiếp bởi quyền lực nhà nước hay chínhphủ
Thứ hai, quản lý xã hội là cách tổ chức đời sống xã hội vì mục tiêuchung, khi đó cả quốc gia cho tới nhóm xã hội đều bị chi phối bởi dạng quản
lý nào đó Do đó quản lý hành chính cũng là một dạng quản lý xã hội
Từ cách hiểu trên, thấy rằng quản lý xã hội là những tác động có ýthức của con người vào xã hội nhằm sắp xếp và duy trì các phẩm chất đặcthù của xã hội, để đáp ứng sự tồn tại của xã hội trong tất cả các lĩnh vực hoạtđộng của đời sống xã hội Tuy nhiên trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhậpquốc tế hiện nay, không một quốc gia, dân tộc nào tồn tại và phát triển lại cóthể đứng ngoài sự tác động của các yếu tố bên ngoài Vì vậy quản lý xã hộikhông khu biệt trong phạm vi quốc gia, dân tộc của mình, trong địa giớihànhchính của mình, trong nền văn hóa và trạng thái kinh tế của mình mà quản lý
xã hội phải tính đến các tác động khách quan bên ngoài, cả tác động tích cực
và tiêu cực
Trang 10Chương 2: THỰC TRẠNG, TIỀM NĂNG VÀ Ý TƯỞNG CỦA QUY HOẠCH ĐÔ THỊ THỦ ĐÔ HÀ NỘI
1 Thực trạng vấn đề quy hoạch đô thị tại Hà Nội hiện nay.
1.1 Thực trạng chung.
Thủ đô Hà Nội có lịch sử phát triển lâu dài, đã không ít lần thay đổiđịa giới và chỉ từ năm 1954 đến nay đã có 6 lần điều chỉnh quy hoạch chung(không kể các lần điều chỉnh cục bộ) Để nâng cao vị thế của Thủ đô Hà Nộitrong hội nhập, giữ vai trò đô thị quan trọng của cả nước, có sức hút và tácđộng với khu vực, cũng như giải quyết những tồn tại của đô thị hiện có, từ 1-8-2008 Hà Nội được mở rộng với quy mô đất tự nhiên 3.344km2, dân số gần6,3 triệu, với 29 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 10 quận, 18 huyện, 1 thị
xã và 577 xã, phường, thị trấn
Hòa cùng nhịp phát triển của xã hội và quốc tế, thủ đô Hà Nội đangtriển khai hàng loạt các hoạt động quy hoạch nhằm xây dựng thủ đô tăngtrưởng cả về quy mô và trình độ, số lượng và chất lượng Đặc biệt, hiện naythủ đô đang trong thời điểm chuẩn bị cho hoạt động chào mừng kỷ niệm
1000 năm Thăng Long Để chuẩn bị, hàng trăm dự án đã và đang triển khaixây dựng như: chuẩn bị khởi công dự án đường vành đai 3 Hà Nội giai đoạn
2, dự án mở rộng đường vành đai 3 đoạn Mai Dịch - Nội Bài, Hà Nội, dự ánxây dựng tuyến đường Đông Dư - Dương Xá, Gia Lâm, Hà Nội , dự án đoạnđường Ô Chợ Dừa - Hoàng Cầu thuộc vành đai 1 Hà Nội, xem xét đầu tư dự
án xây dựng cầu Tứ Liên, Hà Nội, xây dựng đường cao tốc Hà Nội - Ba Vìtrong quy hoạch Hà Nội, đề xuất vốn cho dự án xây dựng đường vành đai 2
và cầu Vĩnh Tuy giai đoạn 2 Trong đó hơn 60 dự án chào mừng kỷ niệm
1000 năm Thăng Long cũng như việc triển khai thực hiện các giải phápchống ùn tắc giao thông mà Hà Nội áp dụng trong thời gian qua như phân
Trang 11luồng, điều hành hướng dẫn, tổ chức giao thông đã có những tiến bộ (giảm
từ 124 điểm nguy cơ ùn tắc xuống còn khoảng 60 điểm)
Các dự án được đưa ra đã hướng tới phát triển thủ đô bền vững vànhiều dự án tỏ ra hợp lý và khả thi
Vấn đề đang được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm hơn hếtlúc này đó là đồ án quy hoạch chung thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầmnhìn tới 2050 Có thể nói, đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm
2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là một đồ án trẻ trung có nhiều điểm khảthi
Trong hoạt động quy hoạch thủ đô Hà Nội hiện việc xây dựng các đôthị vệ tinh cũng đang là vấn đề nổi cộm Việc xác định địa điểm để xây dựngcũng như xác định xem xây dựng như thế nào đang được Đảng và Nhà nướccân nhắc Theo dự thảo kỳ họp chuyên đề HĐND TP Hà Nội chiều20/4/2010 Hà Nội sẽ có 5 đô thị vệ tinh là: Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai,Phú Xuyên - Phú Minh và Sóc Sơn, có dân số xấp xỉ 210.000 đến 750.000người/ đô thị
Tuy nhiên, vấn đề quy hoạch đô thị tại Hà Nội hiện nay còn tồn tạinhiều điểm chưa thực sự hợp lý:
Tiến độ của nhiều công trình trọng điểm hướng tới 1000 năm ThăngLong - Hà Nội triển khai chậm, không đạt kế hoạch được giao; tình trạng ùntắc giao thông vẫn xảy ra Nguyên nhân chính đã được thành phố chỉ rõ là
do công tác quy hoạch chậm, còn vướng mắc về đền bù giải phóng mặtbằng; thủ tục hành chính trong quy hoạch đầu tư xây dựng còn phức tạp;công tác quản lý đô thị còn hạn chế Có thể thấy cái khó của Hà Nội hiệnnay là quy hoạch tổng thể KT-XH, quy hoạch chung xây dựng thành phố vàquy hoạch chuyên ngành đều đang trong quá trình xây dựng, rà soát, điềuchỉnh Điều này ảnh hưởng trực tiếp tới việc đầu tư xây dựng, phát triển các
Trang 12công trình hạ tầng giao thông đô thị, bảo đảm giao thông, việc triển khai các
dự án đầu tư lớn của thành phố Ùn tắc giao thông hay là sự chưa đẹp, chưahiện đại của bộ mặt thủ đô thời gian qua là do quy hoạch chưa đồng bộ vàcông tác quản lý đô thị còn hạn chế Sự chưa đồng bộ và thống nhất giữa các
bộ, ngành chức năng đã làm cho ngân sách của nhà nước chưa được sử dụnghiệu quả, gây thất thoát và lãng phí cho đất nước
Đồ án quy hoạch chung còn nhiều điểm thiếu sót mà chưa giải quyếtđược như:
Đây là đồ án quy hoạch với quy mô lớn nhưng lại được tiến hành triểnkhai trong một thời gian quá ngắn Đồ án mang nhiều ý tưởng chủ quan của
cá nhân, những mong muốn về thủ đô "to là đẹp" của thế hệ mới hay chỉ lànhững đề xuất "Hy vọng táo bạo" về mô hình đô thị mang tính lý tưởng cao
Đồ án tuy đã giải quyết được một số mục tiêu bảo tồn văn hóa, di sản đô thị,khai thác tốt cảnh quan, mặt nước nhưng lại quên đi đặc trưng cốt lõi của HàNội Đồ án cần đi trước một bước, xác định các vấn đề cho quy hoạch chiếnlược phát triển của thủ đô Hà Nội nhưng đồ án hiện nay nghiêng nhiều theohướng phỏng đoán, việc giải quyết các vấn đề về hệ thống giao thông đô thịvẫn còn theo các giải pháp có sẵn và đơn giản Đây là một đồ án có dư sángkiến nhưng lại bớt đi những bước nghiên cứu của thế giới mà theo cách làmcủa Việt Nam là không cần thiết Việc lập quy hoạch chung của Hà Nội đếnnăm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 là việc làm có ý nghĩa rất lớn, nhưng
áp với thực trạng của Thủ đô để thực hiện nó còn rất nhiều khó khăn Đặcbiệt, nhìn quy hoạch ở tầm 20 đến 40 năm lại càng không dễ tìm sự đồngthuận của nhiều người