1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đời sống văn hóa sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật ở thủ đô hà nội hiện nay

130 88 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 868,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài 1.1. Xuất phát từ vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước Qua 20 năm đổi mới đất nước, cùng với những chuyển biến tích cực và thành tựu trên các lĩnh vực của đời sống, như: kinh tế, văn hoá, xã hội, là cả một quá trình luôn đòi hỏi tính sáng tạo và phát huy trí tuệ nguồn lực con người; trong đó lực lượng thanh niên mà chủ yếu là học sinh, sinh viên là nguồn nhân lực to lớn, là tương lai và triển vọng của đất nước. Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay luôn mang trong mình những tiềm năng rất lớn để có thể phát huy những thành tựu đã đạt được, đưa đất nước lên một tầm cao mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà... Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”, điều đó cho thấy thanh niên có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp cách mạng và tương lai của dân tộc, là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trước đây, khi đất nước còn trong thời kỳ bị đô hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lực lượng thanh niên đã cùng dân tộc hoàn thành xuất sắc sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, sứ mệnh lịch sử của thanh niên mà đi đầu là sinh viên là ra sức lao động, học tập, nâng cao trí tuệ để trở thành lực lượng chủ yếu gánh vác sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo cho công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng quá trình hội nhập và phát triển đất nước. Do đó, nhiều trường đại học, cao đẳng được đầu tư kinh phí lớn để xây dựng cơ sở vật chất: giảng đường, nhà văn hoá, sân thể thao, phòng học, thư viện, khu ký túc xá và các trang thiết bị phục vụ giảng dạy...tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên trong việc học tập, nghiên cứu và hưởng thụ văn hoá đáp ứng nhu cầu về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực quốc gia. 1.2. Xuất phát từ tính cấp thiết trong việc bồi dưỡng lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam trong hội nhập và phát triển Trong xu thế gia tăng và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúp thanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nâng lên, sống có văn hoá và biết tôn trọng kỷ cương xã hội. Tuy nhiên, đồng thời với thành tựu của sự phát triển là mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ ảnh hưởng đến môi trường sống của toàn xã hội, đặc biệt là đời sống văn hoá của thanh niên, sinh viên, do vậy nhu cầu hưởng thụ văn hóa và tham gia các hoạt động văn hóa của thanh niên, học sinh, sinh viên cũng có rất nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực và cả tiêu cực. Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn giữ được truyền thống văn hoá dân tộc, phẩm chất tốt đẹp của cha ông ta từ xưa, như: “tôn sư trọng đạo”, “hiếu học”, “kính thầy yêu bạn”, lối sống giản dị, chăm chỉ… Trong xu thế toàn cầu hoá, sinh viên có điều kiện tiếp xúc với những thiết bị thông tin, khoa học hiện đại từ đó bổ sung kiến thức, tự khẳng định mình và hoàn thiện bản thân phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước. Đồng thời, còn một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ quan tâm đến bản thân và nhu cầu trước mắt, sống thực dụng, kém ý chí vươn lên, học đòi lối sống xa hoa, hưởng thụ, thiếu trung thực trong học tập, tha hoá nhân cách, sa vào các tệ nạn xã hội khiến cho gia đình, nhà trường và toàn xã hội lo lắng, cản trở sự phát triển của đất nước, cần được giáo dục, đấu tranh. Mục tiêu đặt ra là, chúng ta cần tăng cường việc giáo dục nếp sống, lối sống văn hóa và đạo đức cho thanh niên, sinh viên, cuốn hút thanh niên, sinh viên tham gia xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, phòng chống có hiệu quả các tệ nạn xã hội, định hướng để học sinh, sinh viên phấn đấu rèn luyện theo chuẩn mực“vừa hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ kính yêu đã dạy. 1.3. Xuất phát từ nhiệm vụ quan trọng bồi dưỡng các tài năng văn hoá, nghệ thuật, góp phần định hướng sự phát triển văn hoá của mỗi quốc gia Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá được kết tinh từ những tinh hoa của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Bản sắc văn hoá dân tộc chính là sức mạnh đánh thắng bất kỳ kẻ thù xâm lược nào và đó cũng chính là cội nguồn của sự sáng tạo nghệ thuật để xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta từ năm 1930 đến nay luôn khẳng định văn hoá, văn nghệ là một bộ phận gắn bó sâu sắc với đời sống nhân dân. Công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao về văn hoá, nghệ thuật sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá dân tộc, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thưởng thức văn nghệ của nhân dân. Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước, một thành phố lớn, nơi tập trung nhiều nhất các trường văn hoá nghệ thuật cái nôi đào tạo các văn nghệ sĩ biểu diễn, các nhạc sĩ, hoạ sỹ, biên đạo múa, giáo viên nghệ thuật, cán bộ quản lý văn hoá và các nhà nghiên cứu lý luận phê bình trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật của đất nước...Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đầu tư công tác đào tạo ở các trường văn hoá nghệ thuật nhằm xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cao đóng góp vào sự hình thành, phát triển văn hoá của quốc gia. Những nhận định trên cho thấy vị trí quan trọng của thanh niên, sinh viên đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. Đời sống văn hoá là một yếu tố không thể thiếu trong việc phát triển nhân cách, bồi dưỡng kỹ năng sống của thanh niên, sinh viên. Đời sống văn hoá sinh viên trong các trường văn hoá nghệ thuật hiện nay tuy có những đặc thù riêng, song nó là một phần tạo nên bức tranh chung phản ánh đời sống văn hoá sinh viên của cả nước. Từ những lý do trên, và nhận thức rõ vai trò quan trọng của thanh niên, sinh viên đối với sự phát triển của xã hội, tôi đã chọn đề tài: “Đời sống văn hoá sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội hiện nay” với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao đời sống văn hoá cho sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Xuất phát từ vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực của đất nước

Qua 20 năm đổi mới đất nước, cùng với những chuyển biến tích cực vàthành tựu trên các lĩnh vực của đời sống, như: kinh tế, văn hoá, xã hội, là cảmột quá trình luôn đòi hỏi tính sáng tạo và phát huy trí tuệ nguồn lực conngười; trong đó lực lượng thanh niên mà chủ yếu là học sinh, sinh viên lànguồn nhân lực to lớn, là tương lai và triển vọng của đất nước Thế hệ trẻ ViệtNam hôm nay luôn mang trong mình những tiềm năng rất lớn để có thể pháthuy những thành tựu đã đạt được, đưa đất nước lên một tầm cao mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà Nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”, điều đó cho thấy thanh niên có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp

cách mạng và tương lai của dân tộc, là lực lượng xung kích trong sự nghiệpxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Trước đây, khi đất nước còn trong thời kỳ bị đô

hộ của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, lực lượng thanh niên đã cùng dân tộchoàn thành xuất sắc sự nghiệp đấu tranh, giải phóng dân tộc, thống nhất đấtnước Ngày nay, sứ mệnh lịch sử của thanh niên mà đi đầu là sinh viên là rasức lao động, học tập, nâng cao trí tuệ để trở thành lực lượng chủ yếu gánhvác sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Chính vì lẽ đó, Đảng và Nhà nước ta luôn chăm lo cho công tác giáodục và đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng quá trình hội nhập và phát triển đất nước

Do đó, nhiều trường đại học, cao đẳng được đầu tư kinh phí lớn để xây dựng

cơ sở vật chất: giảng đường, nhà văn hoá, sân thể thao, phòng học, thư viện,khu ký túc xá và các trang thiết bị phục vụ giảng dạy tạo điều kiện thuận lợicho sinh viên trong việc học tập, nghiên cứu và hưởng thụ văn hoá đáp ứngnhu cầu về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực quốc gia

Trang 2

1.2 Xuất phát từ tính cấp thiết trong việc bồi dưỡng lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam trong hội nhập và phát triển

Trong xu thế gia tăng và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đangđứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt vớinhững thách thức, khó khăn Việc tiếp thu những thành tựu khoa học côngnghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúpthanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nânglên, sống có văn hoá và biết tôn trọng kỷ cương xã hội Tuy nhiên, đồng thờivới thành tựu của sự phát triển là mặt trái của cơ chế thị trường đã tác độngkhông nhỏ ảnh hưởng đến môi trường sống của toàn xã hội, đặc biệt là đờisống văn hoá của thanh niên, sinh viên, do vậy nhu cầu hưởng thụ văn hóa vàtham gia các hoạt động văn hóa của thanh niên, học sinh, sinh viên cũng córất nhiều biến đổi theo chiều hướng tích cực và cả tiêu cực

Phần lớn sinh viên hiện nay vẫn giữ được truyền thống văn hoá dân tộc,phẩm chất tốt đẹp của cha ông ta từ xưa, như: “tôn sư trọng đạo”, “hiếu học”,

“kính thầy yêu bạn”, lối sống giản dị, chăm chỉ… Trong xu thế toàn cầu hoá,sinh viên có điều kiện tiếp xúc với những thiết bị thông tin, khoa học hiện đại

từ đó bổ sung kiến thức, tự khẳng định mình và hoàn thiện bản thân phù hợpvới tiến trình phát triển của đất nước Đồng thời, còn một bộ phận không nhỏsinh viên chỉ quan tâm đến bản thân và nhu cầu trước mắt, sống thực dụng,kém ý chí vươn lên, học đòi lối sống xa hoa, hưởng thụ, thiếu trung thực tronghọc tập, tha hoá nhân cách, sa vào các tệ nạn xã hội khiến cho gia đình, nhàtrường và toàn xã hội lo lắng, cản trở sự phát triển của đất nước, cần đượcgiáo dục, đấu tranh

Mục tiêu đặt ra là, chúng ta cần tăng cường việc giáo dục nếp sống, lốisống văn hóa và đạo đức cho thanh niên, sinh viên, cuốn hút thanh niên, sinhviên tham gia xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, phòng chống có hiệuquả các tệ nạn xã hội, định hướng để học sinh, sinh viên phấn đấu rèn luyện

theo chuẩn mực“vừa hồng, vừa chuyên” như Bác Hồ kính yêu đã dạy.

Trang 3

1.3 Xuất phát từ nhiệm vụ quan trọng bồi dưỡng các tài năng văn hoá, nghệ thuật, góp phần định hướng sự phát triển văn hoá của mỗi quốc gia

Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá được kết tinh từ những tinh hoacủa đại gia đình các dân tộc Việt Nam Bản sắc văn hoá dân tộc chính là sứcmạnh đánh thắng bất kỳ kẻ thù xâm lược nào và đó cũng chính là cội nguồncủa sự sáng tạo nghệ thuật để xây dựng, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo của Đảng ta

từ năm 1930 đến nay luôn khẳng định văn hoá, văn nghệ là một bộ phận gắn

bó sâu sắc với đời sống nhân dân Công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình

độ cao về văn hoá, nghệ thuật sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng

và phát triển văn hoá dân tộc, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu thưởng thứcvăn nghệ của nhân dân

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị của cả nước, một thành phố lớn, nơi tậptrung nhiều nhất các trường văn hoá nghệ thuật - cái nôi đào tạo các văn nghệ sĩbiểu diễn, các nhạc sĩ, hoạ sỹ, biên đạo múa, giáo viên nghệ thuật, cán bộ quản lývăn hoá và các nhà nghiên cứu lý luận phê bình trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuậtcủa đất nước Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất chú trọng đầu tưcông tác đào tạo ở các trường văn hoá nghệ thuật nhằm xây dựng nguồn nhân lực

có chất lượng cao đóng góp vào sự hình thành, phát triển văn hoá của quốc gia

Những nhận định trên cho thấy vị trí quan trọng của thanh niên, sinhviên đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội Đời sống văn hoá là một yếu

tố không thể thiếu trong việc phát triển nhân cách, bồi dưỡng kỹ năng sốngcủa thanh niên, sinh viên Đời sống văn hoá sinh viên trong các trường vănhoá nghệ thuật hiện nay tuy có những đặc thù riêng, song nó là một phần tạonên bức tranh chung phản ánh đời sống văn hoá sinh viên của cả nước

Từ những lý do trên, và nhận thức rõ vai trò quan trọng của thanh niên,

sinh viên đối với sự phát triển của xã hội, tôi đã chọn đề tài: “Đời sống văn

Trang 4

hoá sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội hiện nay”

với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp cótính khả thi nhằm nâng cao đời sống văn hoá cho sinh viên các trường vănhoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội trong thời gian tới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn

Ở nước ta, giáo dục thanh niên và xây dựng đời sống văn hoá thanhniên trong đó có tầng lớp sinh viên được nhiều tác giả quan tâm Có rất nhiềucuốn sách, bài viết, đề tài nghiên cứu liên quan đến đời sống văn hóa trongsinh viên Dưới đây là một số sản phẩm và hoạt động tiêu biểu:

- Tác giả Phan Ngọc: “Văn hoá Việt Nam và cách tiếp cận mới”, Nxb Văn

hoá Thông tin Hà Nội, 1994 Tác giả đề cập tới văn hoá Việt Nam với nhữngcách tiếp cận mới so với truyền thống trong đó nhấn mạnh yếu tố con người

- Tác giả Dương Tự Đam: “Văn hoá thanh niên và thanh niên với văn hoá dân tộc”, Nxb Hà Nội, 2001

- Tác giả Nguyễn Hồng Hà “Môi trường văn hoá với việc xây dựng lối sống con người Việt Nam”, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005

- Tác giả Phạm Đình Nghiệp: “Giáo dục lý tưởng cách mạng cho sinh viên hiện nay”, Nxb Thanh niên, 2001.

- Nhiều tác giả: “Thoả mãn nhu cầu văn hoá và nâng cao thị hiếu nghệ thuật”, Nxb Văn hoá, 1987.

Trang 5

- TS Đinh Thị Vân Chi: “Nhu cầu giải trí của thanh niên”, Nxb Chính

trị Quốc gia, 2002

2.2 Một số kỷ yếu Hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học

- Hội thảo “Bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho thanh niên giai đoạn hiện nay”, do Đảng uỷ khối cơ quan Trung ương về công tác tư tưởng tổ

chức, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005

- Hội thảo “Đời sống văn hoá sinh viên- Thực trạng và giải pháp” do

Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo,

Bộ Văn hoá - Thông tin tổ chức tháng 4/2007

- Hội thảo khoa học toàn quốc“Văn hoá học đường- Lý luận và thực tiễn” do Hội Khoa học tâm lý giáo dục Việt Nam phối hợp với UBND tỉnh

2.3 Một số bài báo (báo in, báo điện tử)

- GS.TS Đặng Cảnh Khanh: “Thanh niên và văn hoá thanh niên” (Báo

điện tử Nhandan.com.vn) đã đề cập đến văn hoá thanh niên với những mặt tíchcực và tiêu cực như là “một tiểu văn hoá với văn hoá chung và với xã hội”

- PGS.TS Phạm Hồng Tung:“Văn hóa và lối sống của thanh niên Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập” (diendankienthuc.net) đề cập

đến lối sống và các xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trongbối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và toàn cầu hóa

Trang 6

- Tác giả Thanh Hùng: “Muôn màu đời sống sinh viên” (Báo Thanh

niên online), bài báo đặt ra những vấn đề trong đời sống sinh viên như: việclàm thêm ngoài giờ học, sống thử và những tệ nạn sinh viên thường mắc phải

- Bài viết: “Thấy gì qua lối sống sinh viên thời nay” (Việt báo online)

đề cập đến vấn đề hưởng thụ văn hoá và tham gia các hoạt động văn hoá củasinh viên trong các trường đại học

- Tác giả Cẩm Quyên: (Báo điện tử VietnamNet) nêu trong loạt

bài:“Sinh viên lần mò trong con đường hẹp vào ký túc xá”, “Nhà trọ sinh viên, biết hết những bất lực” phán ánh thực trạng điều kiện sinh hoạt vật chất

của sinh viên

- Báo An ninh thế giới:“Những mảng tối trong đời sống sinh viên ký túc xá” đề cập đến những mối quan hệ xã hội của sinh viên.

- GS.TS Đặng Cảnh Khanh Ngăn chặn những sai lệch chuẩn và giá trị

xã hội lối sống của thanh thiếu niên (Tuyengiao.vn)

- Tác giả Đỗ Huy “Một số vấn đề giáo dục thẩm mỹ cho thanh niên”

Tạp chí Văn hoá nghệ thuật

- Hồ Sỹ Vịnh, “Sự xâm thực bằng văn hoá (mấy nhận xét)” tạp chí Văn

thống và khái quát đời sống văn hoá trong sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 7

Những công trình trên đây, tuy không đề cập sâu nhưng là nguồn tưliệu tốt, gợi mở quan trọng về lý luận và thực tiễn để tác giả tiến hành nghiêncứu đề tài về đời sống văn hoá sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật trênđịa bàn Thủ đô Hà Nội hiện nay.

3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Đánh giá khách quan thực trạng đời sống văn hoá sinh viên trong cáctrường văn hoá nghệ thuật, từ đó có giải pháp khả thi, cải thiện đời sống vănhoá, góp phần xây dựng người sinh viên phát triển toàn diện (đức - trí - thể -mỹ)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

- Làm rõ một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài đời sống văn hoásinh viên, coi đó là công cụ nghiên cứu các vấn đề ở nội dung và làm rõ một

số đặc điểm của sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật

- Phân tích hệ thống các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhànước, các chủ trương của ngành Giáo dục và Đào tạo, Trung ương ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đối với xây dựng đời sống văn hoá sinhviên văn hoá, nghệ thuật và vai trò của xây dựng đời sống văn hoá sinh viêntrong xây dựng nguồn lực con người

- Chỉ ra những nội dung cơ bản (môi trường vật chất phục vụ học tập vàsinh hoạt văn hoá; các phong trào học tập, văn hoá và hoạt động xã hội; tiêudùng một số sản phẩm văn hoá; quan hệ xã hội) trong việc xây dựng đời sốngvăn hoá sinh viên trong các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội

- Một số nhân tố tác động đến đời sống sinh viên các trường văn hoánghệ thuật của Thủ đô

- Đưa ra hệ thống các giải pháp để nâng cao chất lượng đời sống vănhóa sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn

Trang 8

Đời sống văn hoá sinh viên trong các trường văn hoá nghệ thuật trênđịa bàn Thủ đô Hà Nội

4.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn

Theo quan niệm của xã hội, khi được gọi là “sinh viên”, nghĩa là người đó đang theo học hệ cao đẳng, đại học Do vậy, phạm vi nghiên cứu

của đề tài này liên quan đến 8 trường đại học chuyên ngành văn hoá, nghệthuật (Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Đại học Văn hoá Hà Nội, Đạihọc Mỹ thuật Việt Nam, Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội, Đại học Văn hoánghệ thuật Quân đội, Đại học Mỹ thuật công nghiệp Hà Nội, Đại học Sưphạm nghệ thuật Trung ương, Đại học Kiến trúc Hà Nội) và 2 trường caođẳng chuyên ngành văn hoá, nghệ thuật (Cao đẳng Múa Việt Nam, Cao đẳngNghệ thuật Hà Nội) là những trường có chức năng đào tạo chuyên ngành vềvăn hoá nghệ thuật trên địa bàn Thủ đô Hà Nội

5 Phương pháp nghiên cứu

Xuất phát từ quan điểm Mác- xít để nghiên cứu đề tài này, sử dụngphương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử làm nền tảng trong suốtquá trình nghiên cứu

Các phương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp tra cứu tài liệu

- Phương pháp khảo sát thực tế

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp điều tra xã hội học

6 Đóng góp và ý nghĩa của luận văn

- Về lý luận: Luận văn làm rõ một số vấn đề về lý luận liên quan đến

đời sống văn hoá trong sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật

- Về thực tiễn: Đánh giá khách quan thực trạng và một số nhân tố tác

động đến đời sống văn hoá sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô;

Trang 9

đưa ra những giải pháp có tính khả thi nâng cao đời sống văn hoá trong sinhviên các trường văn hoá nghệ thuật trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.

Những kết quả mà luận văn đạt được có thể làm tài liệu tham khảo choviệc nghiên cứu, giảng dạy hoặc tài liệu giúp các nhà quản lý, hoạch định chínhsách phục vụ công tác chỉ đạo, xây dựng đời sống văn hoá ở trong nhà trường

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về đời sống văn hoá sinh viên các trường văn

hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội

Chương 2: Thực trạng đời sống văn hoá sinh viên các trường văn hoá

nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao đời sống văn hoá sinh viên các

trường văn hoá nghệ thuật ở Thủ đô Hà Nội

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ SINH VIÊN

CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

1.1.1 Khái niệm văn hoá

Trong khoa học xã hội và khoa học nhân văn, khái niệm văn hoá mang

nhiều ý nghĩa khác nhau được giải thích trên nhiều bình diện không giốngnhau, bởi vì văn hoá là một hiện tượng đa dạng, một quan hệ thực tế của quátrình phát triển lịch sử, nó mang ý nghĩa giai cấp, dân tộc, thời đại rất khácnhau, nhiều khi đối lập [50, tr.7]

Khi đề cập đến văn hoá mỗi nhà nghiên cứu có một cách hiểu riêng tùythuộc vào góc độ tiếp cận, cách lập luận của bản thân, làm cho khái niệm vănhoá không ngừng được mở rộng Hiện nay, theo thống kê của một nhà dân tộchọc người Mỹ có khoảng trên 400 định nghĩa về văn hoá

Khái niệm văn hoá theo các nhà nghiên cứu văn hoá ở phương Tây có nguồn gốc từ tiếng La tinh Colère- culture nghĩa gốc chỉ sự trồng trọt, canh tác nông nghiệp Sau được hiểu thành trau dồi, bồi dưỡng, giáo dục con người

(trồng người) Trong thời kỳ cận hiện đại, văn hoá được sử dụng phổ biến để chỉtrình độ học vấn, tri thức Ở phương Đông, văn hoá được hiểu như một kháiniệm chỉ các phong tục, tập quán, lễ hội, nhân cách, sáng tác nghệ thuật…

Trong quan niệm Mác-xít, văn hoá là những vấn đề biến đổi của bản thâncon người với tư cách là sự hình thành lịch sử hiện thực của con người; văn hoáxuất hiện từ lao động, hiện ra như một nhiệm vụ thực tiễn biến đổi các quan hệqua lại giữa con người với thế giới và giữa con người với nhau Văn hoá, theoquan điểm Mác- xít được biểu hiện như một quá trình biến con người thành chủthể của sự vận động lịch sử và trở thành một cá nhân toàn vẹn [50, tr.9]

Con người không phải tự nhiên mà có văn hoá, văn hoá có được nhờ quátrình tu dưỡng, tự kỷ luật với bản thân, chế ngự các bản năng tự nhiên, vốn cócủa con người Giáo sư Klaus P.Hansen, Cộng hòa Liên bang Đức cho rằng:

Trang 11

Văn hoá có nghĩa là sự thay đổi tự nhiên bên ngoài và bêntrong một cách toàn diện bởi lao động…Văn hoá không chỉ cónghĩa là sự thay đổi của cái bên ngoài, cảnh quan tự nhiên nhờ conngười mà nó trở thành cảnh quan văn hoá- mà còn đồng thời thayđổi cái tự nhiên bên trong, như là cái tự nhiên trong bản thân conngười Văn hoá có nghĩa là sự thuần hoá, sự chế ngự các niềm sayđắm hay nói một cách hiện đại hơn, là kỷ luật hoá bản năng, hammuốn và tính vị kỷ của con người [72, tr.16].

Vào thế kỷ XIX, từ văn hoá được những nhà nhân học phương Tây sửdụng như một thuật ngữ khoa học Họ cho rằng bản chất văn hoá hướng về trílực và sự vươn lên, sự phát triển này tạo thành văn minh Edward B.Taylor làđại diện của họ Nhà nghiên cứu văn hoá người Anh này đã đưa ra một địnhnghĩa văn hoá gây chú ý rằng: “Trong ý nghĩa nhân học xa nhất, văn hoá là sựtổng hoà của tri thức, niềm tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục vàtất cả mọi thói quen và khả năng còn lại, mà con người với tư cách là thànhviên của xã hội đã chiếm lĩnh được” [72, tr.16-17]

Hiện nay, UNESCO đang nhìn nhận văn hoá với một ý nghĩa rộng hơn,coi văn hoá như một phức thể, tổng thể các đặc trưng, diện mạo về tinh thần,vật chất, tri thức, tình cảm khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình,xóm làng, vùng miền, quốc gia, xã hội Năm 1988, khi phát động thập kỷ thếgiới phát triển văn hoá, Tổng giám đốc UNESCO Federico Mayor đã đưa ramột định nghĩa: “Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của cánhân và cộng đồng trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt độngsáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thịhiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [74, tr.13]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoáVIII “về xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bảnsắc dân tộc” đã nêu rõ:

Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng ngàn năm lao động sángtạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng

Trang 12

các dân tộc Việt Nam; là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa củanhiều nền văn minh trên thế giới để không ngừng hoàn thiện mình.Văn hoá Việt Nam đã hun đúc lên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh ViệtNam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc [28].

Như vậy, có thể hiểu, văn hoá là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần docon người sáng tạo ra trong quá khứ và hiện tại nhằm thoả mãn nhu cầu củacuộc sống và không ngừng vươn tới cái Chân - Thiện - Mỹ, từ đó hình thànhnên những sắc thái riêng của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng

1.1.2 Khái niệm đời sống văn hoá

Năm 1947, tại chiến khu Việt Bắc, với bút danh Tân Sinh, Bác Hồ đã

viết tác phẩm "Đời sống mới" Những vấn đề Người nêu ra thực chất là những

vấn đề về đời sống văn hoá “Đời sống mới” là sửa đổi cách ăn, cách mặc,cách ở, cách đi lại, cách làm việc; xây dựng tư tưởng yêu nước; đạo đức, tácphong cách mạng; nếp sống văn hoá cho mỗi người và cộng đồng Như vậy,

có thể coi “Đời sống mới” là bài viết đầu tiên đặt cơ sở lý luận cho việc xâydựng đời sống văn hoá ở cơ sở ra đời sau cách mạng tháng Tám năm 1945

Cụm từ “đời sống văn hoá” xuất hiện nhiều trên báo chí vào những năm

80 của thế kỷ XX Đến năm 1999, tác giả Hoàng Vinh cho rằng: “Đời sống vănhoá” là bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hoá tĩnh tại (cácsản phẩm văn hoá vật thể, các thiết chế văn hoá) cũng như các yếu tố văn hoáđộng thái (con người và các dạng hoạt động văn hoá của nó) [71, tr.32]

Có thể hiểu đời sống là hoạt động của con người; đối với cá nhân làhoạt động của bản thân người đó từ khi sinh ra cho tới khi vĩnh biệt cuộcsống; đối với cộng đồng là hoạt động của cộng đồng người trong thời khắcmọi người đang sinh sống Đời sống là quá trình diễn ra sự trao đổi các yếu tốvật chất và tinh thần cung ứng cho hoạt động sản xuất và tái tạo sức sản xuấtcủa con người Đời sống có đời sống cá nhân và đời sống xã hội Đời sống cánhân luôn chịu sự chi phối của đời sống xã hội và đời sống cá nhân cũng cótác động tích cực đến đời sống xã hội Mục tiêu của hoạt động đời sống lànhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con người [71, tr.32-33]

Trang 13

Đời sống đó thể hiện ở ba mặt sau:

Đời sống vật chất: Đảm bảo yếu tố cho con người đó sinh tồn

Đời sống tinh thần: Nhằm thoả mãn nhu cầu ý thức về tình cảm, lý trí,nghị lực, tư tưởng của người đó

Đời sống xã hội: Hình thành nhân cách con người Mỗi người đềuthông qua cộng đồng để chứng minh, khẳng định phẩm chất của mình và hoànthiện bản thân

Đời sống văn hoá có thể hiểu đó là tất cả những hoạt động của conngười tác động vào đời sống vật chất, đời sống tinh thần, đời sống xã hội đểhướng con người vươn lên theo quy luật cái đẹp, của chuẩn mực giá trị Chân -Thiện - Mỹ, đào thải những biểu hiện tiêu cực, tha hoá con người [72, tr.19]

Đời sống văn hoá luôn có tính kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp,tạo ra sự ổn định và là tiền đề phát huy, khẳng định những giá trị mới

Đời sống văn hoá luôn có tính đổi mới, sáng tạo để đáp ứng nhu cầungày càng cao về vật chất và tinh thần của con người

Đời sống văn hoá được hiểu một cách khái quát là hiện thực sinh độngcác hoạt động của con người trong môi trường sống để duy trì, đồng thời tái tạosản phẩm văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần theo những giá trị và chuẩn mực

xã hội nhất định nhằm không ngừng tác động, biến đổi tự nhiên, xã hội và đápứng nhu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng sống của chính con người [72, tr.20]

Trong văn kiện Đại hội V của Đảng ta đã nêu rõ:

Một nhiệm vụ cách mạng tư tưởng và văn hoá là đưa văn hoáthâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân Đặc biệt chútrọng đời sống văn hoá cơ sở, bảo đảm cho mỗi nhà máy, côngtrường, nông trường, lâm trường, mỗi đơn vị của lực lượng vũtrang, công an nhân dân, mỗi cơ quan, trường học, bệnh viện, cửahàng, mỗi xã, hợp tác xã, phường, ấp, đều có đời sống văn hoá [28].Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoáVIII xác định:

Trang 14

Xây dựng môi trường văn hoá, tạo ra ở các đơn vị cơ sở (giađình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nôngtrường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội ) các vùng dân cư đôthị, nông thôn, miền núi đời sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu vănhoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân [28] Vậy đời sống văn hoá là những hoạt động của con người trong môitrường sống nhằm đáp ứng nhu cầu về vật chất, tinh thần của cá nhân, cộngđồng hướng tới những giá trị chuẩn mực Những nhu cầu đó không ngừng tănglên phục vụ chất lượng sống ngày càng cao của con người, cộng đồng và toàn

xã hội

1.1.3 Về nội dung đời sống văn hoá sinh viên

Từ cơ sở lý luận về đời sống văn hóa nói chung, chúng ta soi chiếu vàođời sống văn hóa sinh viên Nội dung đời sống văn hoá sinh viên có thể đượchiểu là hoạt động của sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng, bao gồm:

- Các điều kiện sinh hoạt vật chất (môi trường, cảnh quan, khu ký túc

xá, sân luyện tập thể thao, thư viện, giảng đường )

- Các điều kiện sinh hoạt tinh thần (câu lạc bộ, các chương trình giaolưu, tham quan, sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể thao )

- Các mối quan hệ trong xã hội (thầy cô giáo, bạn bè trong nhà trường,ngoài xã hội ) Đời sống văn hoá có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành

và phát triển nhân cách của sinh viên, hướng sinh viên vươn đến những giá trịChân - Thiện - Mỹ trong cuộc sống

Sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng là thế hệ tương lai của đấtnước Sự phát triển, hoàn thiện các giá trị của thanh niên, sinh viên là yếu tốquyết định sự phát triển tương lai của mỗi quốc gia Để xây dựng đời sốngvăn hoá sinh viên cần chú trọng những vấn đề sau:

- Xây dựng thế hệ sinh viên có văn hoá chuẩn mực về tư tưởng, đạođức, lối sống

Trang 15

- Xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh trong các trường cao đẳng,đại học.

- Xây dựng nếp sống văn hoá, quan hệ xã hội trong sinh viên

- Củng cố xây dựng các thiết chế văn hoá của các trường cao đẳng, đạihọc và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá cho sinh viên

Như vậy, xây dựng đời sống văn hóa sinh viên là yếu tố quan trọng

để phát triển nhân cách, hình thành các giá trị đạo đức và lối sống trong sinhviên Xây dựng hệ thống thiết chế văn hóa trong các trường đại học, cao đẳng

là tạo ra một môi trường văn hóa, nếp sống văn hóa để ở đó sinh viên học tập,vui chơi giải trí lành mạnh, phát triển toàn diện về thể chất và trí tuệ

1.2 CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA SINH VIÊN

1.2.1 Chủ trương của Đảng, Nhà nước

Trong công cuộc đổi mới phát triển đất nước, đi đôi với xây dựng hìnhảnh con người Việt Nam năng động, tự tin, có nếp sống văn minh, hiện đại,phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, Đảng và Nhà nước ta luôn coitrọng công tác bồi dưỡng, giáo dục thế hệ trẻ

Bồi dưỡng, giáo dục nhân cách, tâm hồn thanh niên, sinh viên là mộttrong những yếu tố cơ bản để hình thành nền tảng giá trị đạo đức của thế hệ trẻ

Vì vậy Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ IX nhấn mạnh:

Mở rộng và nâng cao hiệu quả cuộc vận động “Toàn dân đoànkết xây dựng đời sống văn hoá”, “Xây dựng nếp sống văn minh vàgia đình văn hoá”, phong trào “Người tốt, việc tốt”, làm cho vănhoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từng người, hoànthiện giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trị vănhoá truyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loàingười, tăng sức đề kháng chống văn hoá đồi truỵ, độc hại Nâng caotính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội và sinhhoạt của nhân dân [29, tr.207-208]

Trang 16

Cụ thể hóa các đường lối, chủ trương đó vào từng phong trào, nội dunghoạt động của học sinh, sinh viên là điều mà các ban ngành liên quan và toàn xã

hội luôn hướng đến “Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng đào tạo

phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe,nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huyvai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [29, tr.126]

Công tác giáo dục, đào tạo đặc biệt chú trọng đổi mới về hình thức,nâng cao về chất lượng:

Phát triển giáo dục đào tạo là một trong những động lực quantrọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện

để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Tiếp tục nâng cao chất lượnggiáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệthống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện “chuẩn hoá,hiện đại hoá, xã hội hoá” Tăng ngân sách Nhà nước cho giáo dục vàđào tạo theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế [29, tr.108-109, 110]

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sựphát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, do vậy, phảitạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo Bồi dưỡng thế hệtrẻ tinh thần yêu nước, yêu quê hương, gia đình và tự tôn dân tộc, lý tưởng xãhội chủ nghĩa, lòng nhân ái, ý thức tôn trọng pháp luật, tinh thần hiếu học, chítiến thủ lập nghiệp, không cam chịu nghèo hèn

Tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho họcsinh, sinh viên Cải tiến việc giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh ở các trường đại học, cao đẳng, trung họcchuyên nghiệp và dạy nghề [29, tr.110-111]

Tăng cường cơ sở vật chất và từng bước hiện đại hoá nhà trường (lớphọc, sân chơi, bãi tập, phòng thí nghiệm, máy tính nối mạng internet, thiết bịgiảng dạy và học tập hiện đại, thư viện, ký túc xá ) [29, tr.204]

Trang 17

Về chủ trương, định hướng phát triển văn hoá, Nghị quyết Đại hội Đạibiểu Đảng toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định:

Xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dântộc, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội và con người trong điềukiện đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá và hội nhập kinh tếquốc tế Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế làtrung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hoá- nềntảng tinh thần của xã hội Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hoá lãnhđạo và quản lý, văn hoá trong kinh doanh và văn hoá trong nhâncách của thanh niên, thiếu niên; chống những hiện tượng phản vănhoá, phi văn hoá [30, tr.213]

Làm cho văn hoá thấm sâu vào từng khu dân cư, từng gia đình, từngngười, hoàn thiện giá trị mới của con người Việt Nam, kế thừa các giá trịtruyền thống của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hoá của loài người, bài trừvăn hoá đồi truỵ, độc hại Nâng cao tính văn hoá trong mọi hoạt động kinh tế,chính trị, xã hội và sinh hoạt của nhân dân

Đẩy mạnh việc xây dựng đời sống văn hoá đại chúng và môitrường văn hoá lành mạnh Bồi dưỡng các tài năng văn hoá, khuyếnkhích sáng tạo nhiều tác phẩm văn hoá, nghệ thuật tiêu biểu có giátrị cao về tư tưởng và nghệ thuật, tương xứng với sự nghiệp giữnước và dựng nước, đổi mới và phát triển của dân tộc [30, tr.214].Phát huy tinh thần tự nguyện, tính tự quản và năng lực làm chủcủa nhân dân trong đời sống văn hoá Đa dạng hoá các hình thứchoạt động của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá” Phát huy những tiềm năng, khuyến khích sáng tạo vănhọc, nghệ thuật, tạo ra những tác phẩm có giá trị cao về tư tưởng vànghệ thuật [30, tr.106]

Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam, bảo vệphát huy bản sắc văn hoá dân tộc thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hộinhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, học sinh,

Trang 18

sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bảnlĩnh văn hoá con người Việt Nam.

“Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, lý tưởng, đạo đức

và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ,góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Khuyến khích thanh niên tự học, tựnâng cao tay nghề, tự tạo việc làm” [30, tr.120] “Bồi dưỡng các giá trị vănhoá trong thanh niên, học sinh, sinh viên, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnhvăn hoá con người Việt Nam [30, tr.106]

Mục tiêu cụ thể trong những năm tới và nhiệm vụ trọng tâm của năm

2010 đã được Đảng ta xác định:

- Nâng cao nhận thức chính trị, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng chothanh niên, nhất là học sinh, sinh viên Tập trung giáo dục, định hướng, cổ vũthanh niên thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh” tạo chuyển biến thực sự trong đạo đức, lối sống

và hành động của thanh niên, học sinh, sinh viên

- Xây dựng môi trường văn hoá - xã hội lành mạnh để thanh niên, họcsinh, sinh viên rèn luyện, phấn đấu và trưởng thành

- Có chính sách mang tính đột phá trong đào tạo nguồn nhân lực trẻchất lượng cao đáp ứng quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước gắn với hưởng thụ văn hoá, vui chơi, giải trí của thanh niên, học sinh,sinh viên

Như vậy, Nghị quyết IX, X của Đảng ta đã khẳng định lực lượngthanh niên, sinh viên chính là nguồn nhân lực, là nhân tố quyết định sựphát triển của đất nước trong xu thế hội nhập và phát triển Các quan điểmcủa Đảng nhấn mạnh thanh niên, sinh viên phải được phát triển toàn diện;vai trò, vị trí của văn hóa trong xây dựng nguồn nhân lực cho tương lai củađất nước Do đó, cần bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, họcsinh, sinh viên đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức

và bản lĩnh văn hoá con người Việt Nam Tạo điều kiện để thanh niên, sinh

Trang 19

viên được học tập, lao động giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xâydựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.2.2 Hướng dẫn xây dựng đời sống văn hoá sinh viên của ngành Giáo dục và Đào tạo, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ ChíMinh lần thứ VIII nêu rõ:

Đẩy mạnh giáo dục lối sống cho thanh niên, góp phần hình thànhthế hệ thanh niên sống có văn hóa, yêu lao động, giàu lòng nhân ái,tham gia xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc vănhóa dân tộc…Cùng với việc giáo dục lối sống văn hóa, các cấp bộĐoàn cần tăng cường giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống củadân tộc, giữ gìn phát huy bản sắc và làm giàu văn hóa Việt Nam, địnhhướng trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại cho thanh thiếunhi…đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín, dị đoan, các văn hóaphẩm độc hại, hạn chế khuynh hướng sùng ngoại trong hưởng thụ vănhóa của thanh thiếu nhi [28, tr.78-79]

Ngày 17/9/1998 Chính phủ ban hành Chương trình hành động thựchiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về văn hoá, trong đó có việc xâydựng Đề án phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vănhoá” Đến năm 2003, 2004, phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá đã có sức lan toả, thu hút nhiều bộ, ngành tham gia

Ngày 17/6/2004, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minhcùng Bộ Văn hoá - Thông tin ký Chương trình phối hợp số 65/CTPH-DVTT

về đẩy mạnh các hoạt động văn hoá trong thanh, thiếu nhi thực hiện phongtrào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”

Hưởng ứng phong trào do Ban chỉ đạo Trung ương phát động, ngànhgiáo dục đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước với nhiều hoạt độngthiết thực, lồng ghép các nội dung cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn

Trang 20

kết xây dựng đời sống văn hoá” với các phong trào khác hiện có, các hoạtđộng văn hoá trong các nhà trường, xây dựng các nhà trường thành các điểnhình văn hoá trong khu vực.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với Bộ Văn hóa - Thông tin ký kếtChương trình phối hợp về việc thực hiện cuộc vận động phong trào “Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” (Số 2723/CTCT ngày 12-4-2001) vớimục tiêu: Xây dựng các trường học có đời sống văn hóa tốt, tạo sự chuyểnbiến quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện, nhằm pháttriển nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước Tiếp tục phối hợp đẩy mạnh các phong trào thi đua trong ngành giáodục, nhằm xây dựng đời sống văn hóa trong các nhà trường, tạo môi trường

sư phạm lành mạnh, văn minh, lịch sự, góp phần ngăn chặn các tệ nạn xã hộitrong trường học Nội dung chính như sau:

- Giáo dục chính trị, tư tưởng, truyền thống yêu nước cách mạng và đạođức cho học sinh, sinh viên các bậc học

- Tổ chức các cuộc vận động, các phong trào thi đua trong ngành giáodục nhằm tạo những chuyển biến về đời sống vật chất và tinh thần cho họcsinh, sinh viên

- Xây dựng và phát triển hệ thống thư viện trường học

- Phối hợp chặt chẽ trên lĩnh vực xuất bản sách, báo, tài liệu, đồ dùnghọc tập

Thực hiện chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương và kế hoạch phối hợp số2723/CTCT của Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Văn hoá - Thông tin, các đơn vịđều thành lập Ban chỉ đạo phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá" đơn vị mình và có báo cáo về Bộ những hoạt động triển khai cuộc vậnđộng phong trào ở cơ sở Hầu hết các trường đại học, cao đẳng trên cả nước đãthành lập ban chỉ đạo của đơn vị mình theo mô hình: Bí thư đảng uỷ (hoặc Phóhiệu trưởng) làm Trưởng ban, phòng Công tác chính trị học sinh - sinh viên làmPhó ban trực gồm các thành viên đại diện: công đoàn, đoàn thanh niên, phòng

Trang 21

hành chính, ban quản lý ký túc xá…Hầu hết các ban chỉ đạo cấp trường đều có

kế hoạch phối hợp với địa phương thực hiện tốt phong trào

Đồng thời, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Trung ương ĐoànThanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đã có nhiều chương trình hoạt động thiếtthực hưởng ứng cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đờisống văn hóa”, đưa các nội dung cuộc vận động vào đời sống văn hóa trongnhà trường, xây dựng trường học, các cơ sở giáo dục thành những đơn vị cóđời sống văn hóa tốt, thành lập các điểm sáng trong địa bàn dân cư Nhiềuhoạt động văn hóa, thể thao cho cán bộ, giáo viên, học sinh sinh viên trongtoàn ngành đã được tăng cường, các cuộc vận động và phong trào hiện có củangành giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu và lồng ghép với nộidung của phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” nhưphong trào “Trường học có đời sống văn hóa tốt”, “Xây dựng nhà trường vănhóa, học sinh văn minh, thanh lịch, hiện đại”, “Học tập, rèn luyện vì ngày mailập nghiệp” hưởng ứng thực hiện “Năm giao thông, kỷ cương và văn minh đôthị” Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với nhiều bộ, ngành tổ chức nhiềuchương trình hoạt động nhằm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho họcsinh, sinh viên như phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức cuộc thi

“Đường lên đỉnh Olympia”, phối hợp với Bộ Văn hóa - Thông tin tổ chức

“Liên hoan tiếng hát học sinh sinh viên” thường kỳ…Nhiều đơn vị đã linhhoạt trong chỉ đạo thực hiện vừa đảm bảo được yêu cầu chung của phong trào,vừa gắn được với các hoạt động tại địa phương

Bước đột phá trong công tác giáo dục toàn diện, nâng cao đời sống vănhoá cho học sinh, sinh viên là Quyết định số 42 ngày 21/10/2002 của Bộ trưởng

Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của họcsinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp hệchính quy” Trong đó đánh giá về ý thức và kết quả tham gia các hoạt độngchính trị - xã hội, văn hoá, văn nghệ, thể thao, phòng chống các tệ nạn xã hội,đánh giá về ý thức công dân và quan hệ cộng đồng Thông qua quy chế, việc

Trang 22

đánh giá mặt rèn luyện học sinh, sinh viên đã được lượng hoá bằng các tiêu chí

cụ thể về hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, các hoạt động phongtrào trong nhà trường Quy chế đã tạo sự chuyển biến trong công tác quản lý họcsinh, sinh viên đối với lãnh đạo, cán bộ, giáo viên nhà trường và cùng với sựphối hợp chặt chẽ của các tổ chức đoàn thanh niên, hội sinh viên, đã tạo đượckhông khí dân chủ, khách quan, nâng cao ý thức tự giác tham gia các hoạt độngvăn hoá cho học sinh, sinh viên trong các nhà trường

Ngày 17/6/2004 Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh,

Bộ Văn hóa - Thông tin đã ký kết chương trình (Số 65/CTPH/ĐTN-BVHTT)phối hợp đẩy mạnh việc tổ chức hoạt động văn hoá trong thanh thiếu nhi…đápứng nhu cầu ngày càng cao về học tập, lao động sáng tạo, hoạt động văn hoá vănnghệ, vui chơi giải trí, xây dựng lối sống, nếp sống lành mạnh Mục đích củachương trình nhằm tạo điều kiện để phát huy vai trò của đoàn thanh niên các cấptham gia có hiệu quả vào việc xây dựng đời sống văn hoá ở cơ sở, thực hiệnphong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá…”

Những năm qua, nhiều văn bản hướng dẫn công tác triển khai đời sốngvăn hóa sinh viên đã ra đời, như: Quy định về công tác giáo dục phẩm chấtchính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên trong các trường đại học,cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp (2007); Quy chế đánh giá kết quả rènluyện của học sinh, sinh viên các cơ sở giáo dục đại học và trung cấp chuyênnghiệp hệ chính quy (2007); Quy định về tổ chức hoạt động văn hóa cho họcsinh, sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và trung cấpchuyên nghiệp, ban hành kèm theo quyết định số 60/2008/QĐ-BGDĐT, ngày5/11/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Gần đây nhất là Chỉ thị số

46 CT/TW của Ban Bí thư (7/2010) về chống sự xâm nhập của các sản phẩmvăn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội…

Các văn bản này là cơ sở pháp lý, định hướng hoạt động và đưa ra nộidung cụ thể trong việc xây dựng đời sống văn hóa trong sinh viên

Trang 23

1.3 ĐẶC ĐIỂM VÀ MÔI TRƯỜNG VĂN HOÁ VỚI VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

1.3.1 Đặc điểm

Nói đến văn hoá, nghệ thuật là nói đến một lĩnh vực nhằm đáp ứng nhucầu đời sống văn hoá tinh thần của con người ở tầm cao, là nói đến cái Mỹ(cái đẹp) bởi vậy những người hoạt động trong lĩnh vực ấy cũng có những nétđặc thù riêng về độ tuổi, trình độ văn hoá, năng khiếu, khả năng cảm thụ vàsáng tạo nghệ thuật…

Về nguồn đầu vào: Sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật tại Hà Nội

phần lớn là những người có năng khiếu về nghệ thuật, năng khiếu đó chủ yếuđược dựa trên những tư chất bẩm sinh, hình thành trong đời sống của mỗi cánhân do đó, những sinh viên này có được những khả năng tiếp thu vượt trộimột, hay nhiều loại hình nghệ thuật nào đó Năng khiếu nghệ thuật là dạngtiềm năng, được tạo nên bởi gien di truyền hoặc do ảnh hưởng của truyềnthống gia đình và môi trường xã hội Tiềm năng đó được thể hiện trong quátrình lao động, sáng tạo nghệ thuật, nếu được phát huy, phát hiện sớm để bồidưỡng, rèn giũa, tôi luyện, tiềm năng đó sẽ trở thành những tài năng- nhân tàicho quốc gia

Sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật được tuyển chọn từ các địaphương trong cả nước với đủ các dân tộc từ đồng bằng đến trung du miền núi.Mỗi sinh viên mang bản sắc văn hoá, nghệ thuật riêng của dân tộc mình về đâygóp thành rừng hoa nghệ thuật đặc sắc Mặt khác, nhiều sinh viên đến từ nhữngvùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người do phổ cập giáo dục còn thấp, nên để

có mặt bằng chung về trình độ văn hoá như sinh viên các trường đại học khác làrất khó khăn Đây là một đặc thù, là vấn đề đặt ra cho các trường văn hóa nghệthuật trong việc giáo dục ý thức và bản lĩnh nghề nghiệp cho sinh viên

Về độ tuổi: Đào tạo nghệ thuật là một lĩnh vực có nhiều điểm khác so

với các ngành đào tạo khác, học sinh, sinh viên có thể được tuyển từ độ tuổirất nhỏ và được đào tạo liên tục trong nhiều năm Một số trường do đặc điểm

Trang 24

chuyên ngành biểu diễn nên có nhiều độ tuổi khác nhau (Học viện Âm nhạcQuốc gia Việt Nam, Cao đẳng Nghệ thuật Hà Nội, Cao đẳng Múa Việt Nam).

Sự khác nhau về độ tuổi góp phần làm nên sự đa dạng nhưng không kém phầnphức tạp trong đời sống văn hoá sinh viên ở nơi đây

Đây là một lĩnh vực đòi hỏi khắc nghiệt năng khiếu nghệ thuật và sựmiệt mài khổ luyện, nghị lực vươn lên không ngừng để phát huy khả năngnghệ thuật ấy Tuổi nghề của các em rất ngắn tuy rằng thời gian đào tạo dàikhoảng từ 4 đến 7 năm và tuổi nghề trung bình từ 15- 20 năm (sinh viên thanhnhạc, sinh viên múa) Các ngành học này được coi là những nghề nặng nhọc,độc hại vì phải tiếp xúc với hóa chất, phẩm màu (sinh viên mỹ thuật, kiếntrúc), ánh sáng, âm thanh công suất lớn (sinh viên sân khấu điện ảnh, thanhnhạc, âm nhạc, múa) dễ mắc phải những căn bệnh nguy hiểm từ khi còn trẻ,thậm chí bỏ nghề nếu tai nạn xảy ra Do vậy, theo học những chuyên ngànhnày, ngoài năng khiếu, khả năng cảm thụ, sáng tạo, các em đều có lòng đam

mê, biến năng khiếu bẩm sinh và những gì được học trong nhà trường thànhnhững tác phẩm nghệ thuật để mang đến cho công chúng

Văn hoá nghệ thuật phục vụ đời sống tinh thần của công chúng vàkhông phải ai cũng có thể làm nghệ sỹ Đào tạo nghệ thuật cần sự kết hợpchặt chẽ giữa lý thuyết và thực hành Trong nhiều ngành nghệ thuật, việc thựchành được đặt lên vị trí hàng đầu và thời gian thực hành chiếm phần lớn thờigian học tập

Các trường văn hóa nghệ thuật khi tuyển chọn sinh viên thường căn cứ vàonăng khiếu nghệ thuật cũng như khả năng cảm thụ, hóa thân, thẩm âm, hát, múa,đàn, nhạc, vẽ, sáng tác…của các em để đánh giá, chọn lựa Cũng vì mang trongmình những khả năng đặc biệt ấy mà đời sống văn hoá sinh viên các trường vănhoá nghệ thuật có phần thiên về nội tâm, lãng mạn hơn, nghệ sỹ hơn…

Với đặc thù đào tạo văn hoá nghệ thuật, là ngành thuộc lĩnh vực mỹhọc, thiên về năng khiếu, quá trình đào tạo, rèn luyện đòi hỏi sự công phu nênkinh phí đào tạo là rất lớn Có thể nhận thấy, đặc điểm của trường văn hoá

Trang 25

nghệ thuật là có nhiều chuyên ngành khác nhau, thậm chí có chuyên ngànhđào tạo chỉ có 1 thầy, 1 trò, khi xã hội càng phát triển thì số lượng chuyênngành đào tạo ngày càng tăng nên sinh viên ngành nghệ thuật rất cần có nhiềusàn tập, phòng tập

Bên cạnh đó, được tiếp xúc với nghệ thuật trong suốt quá trình học tập

và trực tiếp tham gia các chương trình biểu diễn nên đã giúp sinh viên xâydựng thẩm mỹ nghệ thuật tốt từ đó mới có thể truyền đạt sáng tác, vẻ đẹp củanghệ thuật đến với công chúng Đây chính là điểm mạnh, nổi trội của sinhviên các trường văn hoá nghệ thuật so với các trường chuyên ngành khác

Những đặc điểm nổi bật trên đây đã ảnh hưởng lớn đến đời sống vănhoá rất riêng, đa dạng song cũng có phần phức tạp của sinh viên các trườngvăn hoá nghệ thuật tại Hà Nội

1.3.2 Môi trường văn hoá với việc xây dựng đời sống văn hoá trong sinh viên các trường văn hoá nghệ thuật tại Hà Nội

Con người là trung tâm của thế giới, là chủ thể của văn hoá, hoạt độngcủa con người với tự nhiên và xã hội xung quanh tạo ra môi trường văn hoá.Môi trường đó chịu ảnh hưởng, tác động của chính con người: môi trường lànhmạnh khi con người có những hoạt động tích cực; môi trường không lành mạnhkhi con người có những hoạt động tiêu cực tác động đến môi trường đó

Đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau về môi trường văn hoá nhưng theo

Cơ sở lý luận văn hoá Mác- Lê nin thì:

Môi trường văn hoá là một tổng thể ổn định những yếu tố vậtthể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau Chúng ảnhhưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hoá, tới nhucầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trườngvăn hoá không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hoá phi vật thể màcòn có những con người hiện diện văn hoá [73, tr.89]

Từ khái niệm trên cho thấy môi trường văn hoá được tạo thành bởi haithành tố: văn hoá vật thể và hành vi (biểu hiện bằng hành vi văn hoá của con

Trang 26

người) Đây là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sáng tạo,hưởng thụ và định hướng giá trị văn hoá.

Và, trong tiến trình lịch sử phát triển của nhân loại, con người ngày càngđược tạo điều kiện để phát huy năng lực hoạt động sáng tạo của mình nhằm thoảmãn những nhu cầu vật chất và tinh thần ngày càng cao của xã hội Môi trườngvăn hoá hình thành nên những biểu trưng giá trị cho con người và cộng đồng,xác định nội dung tư tưởng, điều chỉnh nhu cầu, nguyện vọng, định hướng chomọi hoạt động sáng tạo trong xã hội hướng tới Chân - Thiện - Mỹ

Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Đỗ Huy trong cuốn sách “Xâydựng môi trường văn hoá ở nước ta hiện nay - từ góc nhìn giá trị học”

lại nhấn mạnh vai trò của con người: “Môi trường văn hoá chính là sự

vận động các quan hệ của con người trong quá trình sáng tạo, tái tạo,đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần củamình” Như vậy, môi trường văn hoá được hiểu với nghĩa rộng nhấtcủa nó là sự hiện hữu các yếu tố văn hoá vật thể, phi vật thể do conngười tái tạo ra; sự hiện hữu của cả những yếu tố vật thể tự nhiên baoquanh con người, trở thành khung cảnh và điều kiện tồn tại của conngười; sự hiện diện của các cá thể người trong không gian, thời gianxác định thông qua đó các yếu tố và cá thể người quan hệ, tác động lẫnnhau hướng con người tới những chuẩn mực giá trị xã hội [73, tr.90 -91]

Nói cách khác, môi trường văn hoá là tổng hoà các điều kiện vật chất,tinh thần, hoàn cảnh, các mối quan hệ có ảnh hưởng, tác động đến sự pháttriển và hoàn thiện nhân cách, phát triển năng lực sáng tạo của con người.Xây dựng môi trường văn hoá là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa conngười với xã hội, con người với tự nhiên, con người với con người Môitrường văn hoá chính là bộ phận của môi trường sống được “nhân hoá”, “vănhoá hoá”, “thẩm mỹ hoá”…là sự biểu hiện văn hoá của con người ra bênngoài cùng với con người hoạt động văn hoá

Trang 27

Việc xây dựng môi trường văn hoá được Đảng và Nhà nước quan tâmcoi đó là một chủ trương lớn Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII xác địnhxây dựng môi trường văn hoá trước hết là phải bắt đầu từ xây dựng conngười, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Về khía cạnhthực tiễn đời sống, việc xây dựng con người Việt Nam hiện đại phải gắn chặtvới việc xây dựng môi trường văn hoá với các yếu tố quan trọng cấu thành nó:

có môi trường sống trong lành, được tự do sáng tạo văn hoá và hưởng thụ vănhoá Vì thế, có thể khẳng định rằng: Xây dựng môi trường văn hoá là điềukiện tiên quyết để xây dựng con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, để pháttriển chiến lược con người theo định hướng của Đảng

Môi trường văn hóa và đời sống văn hóa có mối quan hệ mật thiết vớinhau Khái niệm môi trường văn hóa được hiểu theo nhiều cách khác nhaunhưng tựu chung lại bao gồm 2 nhân tố: nhân tố vật thể và nhân tố hành vi củacon người trong sự tác động qua lại lẫn nhau Còn khái niệm đời sống văn hóađược hiểu là quá trình trao đổi hiện hữu của con người ứng xử với tự nhiên, xãhội Như vậy, nếu đặt quan hệ môi trường văn hóa với đời sống văn hóa ta thấy:nếu môi trường văn hóa là yếu tố khách thể, là nền tảng xây dựng đời sống vănhóa thì đời sống văn hóa là yếu tố chủ quan tác động tạo ra môi trường văn hóa

Các trường văn hóa nghệ thuật ở Hà Nội có điều kiện thuận lợi là nằm

ở trung tâm Thủ đô, trung tâm của văn minh, chính trị, kinh tế, và là cái nôiươm mầm văn hoá nên hầu hết đều nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhànước Môi trường cảnh quan, cơ sở vật chất nhìn chung đều khang trang,trang thiết bị hiện đại so với mặt bằng chung của các trường đại học, cao đẳngtrên toàn quốc Nhà trường luôn chú trọng xây dựng môi trường cảnh quan sưphạm đáp ứng nhu cầu giảng dạy và học tập, tạo điều kiện cho sinh viên đượcsống trong môi trường giáo dục toàn diện

Bên cạnh những điều kiện thuận lợi về vị trí và cơ sở vật chất thì cáctrường văn hóa nghệ thuật trên địa bàn Thủ đô cũng gặp phải những khó khănnhất định Hà Nội là địa bàn phức tạp, nơi hội tụ nhiều luồng văn hóa, nhiều tệ

Trang 28

nạn xã hội và có nhiều sản phẩm văn hóa độc hại Những điều kiện khách quantrên đã tác động xấu đến môi trường văn hóa trong các trường văn hóa nghệ thuật.

Vì vậy, trách nhiệm đặt ra đối với lãnh đạo, ban giám hiệu, giáo viên, sinh viêncác trường văn hóa nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội cao hơn trong việc xây dựngđời sống văn hóa và tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh để học tập, sinh hoạt

Ở nước ta, sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật là lực lượng nhạybén, lực lượng xung kích trong xây dựng nền văn hóa nước nhà, tuy nhiênhàng ngày hàng giờ, những sinh viên này đang chịu sự tác động mạnh mẽ củamặt trái nền kinh tế thị trường, kéo theo nó là các tệ nạn xã hội như ma tuý,tội phạm, mại dâm

Đây là nguyên nhân dẫn đến sự đi xuống của nhân cách, phẩm chất đạođức của sinh viên hiện nay trong đó có sinh viên các trường văn hóa nghệthuật Từ những lý do trên cho thấy, yêu cầu cấp thiết cần phải xây dựng mộtmôi trường văn hoá lành mạnh trong các trường cao đẳng, đại học cả nước nóichung và các trường văn hoá nghệ thuật trên địa bàn Hà Nội nói riêng để gópphần vào việc hoàn thiện nhân cách của mỗi sinh viên

1.4 VAI TRÒ CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ SINH VIÊN TRONG VIỆC XÂY DỰNG NGUỒN NHÂN LỰC CON NGƯỜI TRONG CÁC TRƯỜNG VĂN HOÁ NGHỆ THUẬT Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Nói đến nguồn nhân lực là nói đến sức mạnh trí tuệ, tay nghề Pháttriển nguồn nhân lực là phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước Cóthể coi nguồn lực con người là yếu tố cơ bản để công nghiệp hoá, hiện đạihoá, đó cũng là một trong các quan điểm chính để phát triển nhanh và bềnvững đất nước Nguồn lực con người ở đây được hiểu là bao gồm cả thể chất

và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất Do vậy, vai trò củađời sống văn hoá là động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp giáo dục, đào tạo,nhất là việc phát triển tiềm năng con người toàn diện (đức - trí - thể - mỹ)

1.4.1 Xây dựng đời sống văn hoá góp phần nâng cao chất lượng học tập và sinh hoạt của sinh viên

Trang 29

Đất nước đã trải qua hơn 20 năm đổi mới và phát triển với nhiều thànhtựu to lớn đạt được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xãhội…Sự mở rộng quan hệ giao lưu không chỉ với các nước trong khu vực màtrên toàn thế giới đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức Thế hệ trẻ ngày nay cónhững điều kiện thuận lợi được hưởng thụ và tham gia các hoạt động văn hoá

đa dạng, phong phú trong nước và quốc tế Đảng và Nhà nước ta với chiếnlược con người là trung tâm hàng đầu luôn quan tâm đầu tư và chăm lo đờisống vật chất, văn hoá tinh thần cho sinh viên học tập và phát huy thế mạnhcủa mình Đặc biệt là các đoàn thể xã hội kết hợp với nhà trường như ĐoànThanh niên, Hội sinh viên, các tổ chức khuyến học, các quỹ họcbổng thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, tổ chức các hoạt động văn hoá làmphong phú thêm đời sống tinh thần của sinh viên

Xây dựng đời sống văn hóa trong các trường đại học, cao đẳng là tạo ramột trật tự trong sinh hoạt, nề nếp trong học tập Đồng thời, xây dựng đờisống văn hóa là tạo ra một môi trường hoạt động ngoài giảng đường cho sinhviên mà ở đó sinh viên có thể hiểu nhau hơn, từ đó có sự cảm thông, chia sẻ,giúp đỡ nhau trong học tập

Những hoạt động văn nghệ, thể thao, giải trí lành mạnh ngoài thời gianhọc tập giúp các em thêm gắn bó với trường, lớp, với bạn bè và có thời gianthư giãn sau những giờ học căng thẳng, tạo động lực thúc đẩy sự hưng phấntrong học tập, sinh hoạt của sinh viên

Xây dựng đời sống văn hóa trong nhà trường là phát huy tính chủ động,sáng tạo trong sinh viên, tạo điều kiện để các em tham gia các hoạt động đoànthể, công đoàn, đồng thời, định hướng cho sinh viên những quan điểm, nhậnthức đúng đắn khi hưởng thụ các hoạt động văn hóa tinh thần và hình thànhnhững chuẩn mực trong giao tiếp, ứng xử xã hội

Công tác xây dựng và nâng cao đời sống văn hoá cho sinh viên là một

bộ phận hữu cơ, quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện học sinh, sinhviên, góp phần xây dựng thế hệ con người Việt Nam với những phẩm chất tốt

Trang 30

đẹp theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII), đáp ứng yêu cầucông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đặc biệt, trong suốt quá trình học tập, sinh viên được tiếp xúc với nghệthuật, tham gia các chương trình biểu diễn đã giúp các em xây dựng thẩm mỹnghệ thuật tốt Với những hoạt động vui mà học lành mạnh, bổ ích đã giúp sinhviên thêm hăng say học tập, nhận thức được nâng lên, nâng cao ý thức cảnh giácvới các tệ nạn trong xã hội

1.4.2 Xây dựng đời sống văn hoá góp phần bồi dưỡng lý tưởng và hình thành đạo đức, lối sống lành mạnh trong sinh viên

“Trong cuộc sống, lý tưởng là sự định hướng, là đích vươn tới của mỗingười Không có lý tưởng, con người sẽ hoang mang, không tìm được hướng

đi Vì vậy, xác định được lý tưởng đúng là điều vô cùng quan trọng, đặc biệt

là với thanh niên, lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời” [31, tr.7]

Lý tưởng là mục tiêu cao đẹp, là lẽ sống, là mục đích sống của thanhniên, là ước vọng của tuổi trẻ muốn vươn tới cái hay, cái đẹp, cái tiến bộ trongcuộc sống Lý tưởng vừa là mục tiêu cao cả mà con người hướng tới, vừa làđộng lực thúc đẩy con người hành động Lý tưởng là sức mạnh diệu kỳ giúpthanh niên vượt qua mọi khó khăn, thách thức Nếu không có lý tưởng, conngười mất phương hướng, thiếu niềm tin, cuộc sống không có ý nghĩa [31,tr.199-200]

Bác Hồ đã từng nói: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là mộtviệc rất quan trọng và cần thiết” Thực tế cho thấy, sự dưỡng dục của giađình, nhà trường; sự định hướng của các tổ chức đoàn thể và một môi trườnglao động, học tập vui chơi, giải trí lành mạnh là yếu tố quyết định việc hìnhthành lý tưởng, đạo đức cách mạng cho thanh niên, sinh viên Nhà trường lànơi chủ yếu để hình thành nhân cách, trang bị kiến thức cơ bản, là môi trườngrèn luyện tốt nhất cho thanh niên, học sinh, sinh viên

Giáo dục lý tưởng, nhân cách là một nội dung hết sức quan trọng bằngviệc đưa những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, và phương phápluận Mác- xít vào trong nhà trường thông qua các hoạt động đoàn thể, xã hội

Trang 31

nhằm mục tiêu giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng, lý tưởngnghề nghiệp cho sinh viên, giúp để sinh viên hăng hái phấn đấu trong học tập vàrèn luyện Vì vậy, xây dựng đời sống văn hoá sẽ góp phần trong việc bồi dưỡng

lý tưởng và hình thành đạo đức, lối sống lành mạnh trong sinh viên

1.4.3 Xây dựng đời sống văn hoá góp phần giữ gìn an ninh, trật tự trong trường học và khu ký túc xá sinh viên

Ở bất cứ môi trường nào, tầm vĩ mô như trên toàn thế giới, trong mỗiquốc gia hay tầm vi mô như ở một khu phố, một trường học thì việc giữ gìn

an ninh trật tự là việc rất quan trọng nó đảm bảo cho mỗi cá nhân trong đóđược sống an toàn và có điều kiện phát huy hết khả năng của mình Đặc biệttrong môi trường giáo dục là các trường học thì việc đảm bảo an ninh, trật tựlại càng cần được quan tâm chú trọng hơn bởi đây chính là nơi ươm mầmnhững thế hệ tương lai của đất nước

Các trường đại học, cao đẳng là nơi tập trung đông sinh viên từ nhiềuvùng, miền khác nhau nên dễ nảy sinh nhiều vấn đề gây mất trật tự, an ninh

xã hội…Nhu cầu cá nhân của sinh viên mở rộng quan hệ, giao lưu kết bạncùng với sự du nhập của văn hoá ngoại lai dẫn đến nhiều vấn đề phức tạp,như: lạm dụng tình dục, sống thử, cờ bạc, rượu chè, ma tuý, tự tử…khiếncông tác quản lý sinh viên rất khó khăn

Xây dựng đời sống văn hoá trong các trường đại học, cao đẳng gắn vớiviệc giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, định hướng giáo dục thẩm mỹ đểcho sinh viên nhận thức đúng những giá trị tốt đẹp thông qua những hànhđộng và việc làm thiết thực, có ích cho bản thân, gia đình và xã hội

Việc giữ gìn an ninh trật tự trong nhà trường, ký túc xá được thực hiệntốt góp phần làm giảm đáng kể những hiện tượng tiêu cực như: sống thử, cờbạc, rượu chè, trộm cắp , nâng cao đời sống văn hóa cho sinh viên Cùng vớiviệc đầu tư kinh phí, trang bị cơ sở vật chất đảm bảo an toàn cho các khu kýtúc xá, nhà văn hoá, sân thể thao, căng tin…và các hoạt động văn hoá, câu lạcbộ thường xuyên dưới sự quản lý của nhà trường chính là đáp ứng nhu cầu

Trang 32

hưởng thụ văn hoá của sinh viên, giữ gìn an ninh, trật tự trong trường học,khu ký túc xá.

TIẾU KẾT

Có thể khẳng định việc tổ chức xây dựng đời sống văn hóa ở hệ thốngcác trường đại học, cao đẳng văn hóa nghệ thuật nơi đào tạo nhân lực, bồidưỡng nhân tài để phát triển văn hóa là một trong những chủ trương lớn củaĐảng và Nhà nước Đây là một chủ trương quan trọng có ý nghĩa chiến lượcđối với sự nghiệp xây dựng văn hóa mới, lối sống mới và con người mới, phùhợp với tiến trình phát triển của đất nước Điều đó có một vai trò, ý nghĩa rấtlớn, khẳng định quan điểm của Đảng về xấy dựng đời sống văn hóa trong nhàtrường là giúp con người phát triển toàn diện

Đời sống văn hóa và môi trường văn hóa có mối quan hệ mật thiết vớinhau Các trường văn hóa nghệ thuật, nơi ươm mầm văn hoá nên có nhữngđiều kiện khách quan và chuyên ngành riêng Đó chính là sự thuận lợi về vị trí

và cơ sở vật chất, song cũng không ít những khó khăn vì đây là nơi xuất hiệnnhiều tệ nạn xã hội, sản phẩm văn hóa độc hại

Xây dựng một đời sống văn hóa lành mạnh cho học sinh, sinh viên cáctrường Thủ đô nói chung, và sinh viên các trường văn hóa nghệ thuật trên địabàn Hà Nội luôn là một nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu của ngành giáo dục, củatoàn xã hội Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, ngành Giáo dục và Đào tạocũng đã tạo những điều kiện thuận lợi về hạ tầng cơ sở, trang thiết bị để các

em học tập, trưởng thành Xây dựng đời sống văn hóa sẽ góp phần nâng cao chấtlượng học tập của các em; bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức cách mạng; giữ gìn anninh trật tự, đẩy lùi các hiện tượng phản văn hóa trong đời sống học sinh, sinhviên, đảm bảo môi trường văn hóa lành mạnh để nhà trường phát triển

Trang 33

Chương 2

THỰC TRẠNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA SINH VIÊN

CÁC TRƯỜNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI

Trong công cuộc đổi mới đất nước, sự nghiệp đào tạo văn hóa nghệthuật có vai trò rất quan trọng bởi nó tạo ra nguồn nhân lực văn hóa nghệthuật, đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng

Những năm qua, sự nghiệp đào tạo văn hóa nghệ thuật ở nước ta nóichung, trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng có nhiều bước chuyển biếntích cực, đáng khích lệ: mạng lưới phát triển, quy mô đào tạo không ngừngđược mở rộng, có những bước trưởng thành to lớn trong xây dựng và củng cốnguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, góp phần vào việc nâng cao đời sống vănhóa của nhân dân; các loại hình đào tạo được đa dạng hóa đáp ứng nhu cầuphát triển kinh tế, xã hội Công tác xã hội hóa trong các trường văn hóa nghệthuật được đẩy mạnh, có chính sách ưu tiên đối với các sinh viên vùng dântộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa Việc biên soạn giáo trình giảng dạy

và học tập trong các trường luôn được chú trọng, đổi mới về nội dung,phương pháp Các hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế trong đào tạo được duytrì và phát triển Những thành tựu mà các trường văn hóa nghệ thuật trên địabàn thành phố Hà Nội đã đạt được trong thời gian qua góp phần to lớn vàoviệc đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật

Trường Đại học Văn hóa Hà Nội: Là trường đại học lớn nhất thuộc Bộ

Văn hoá, Thể thao và Du lịch Chức năng của trường là đào tạo và nghiên cứuvới 8 ngành học: Bảo tàng, Phát hành Xuất bản phẩm, Văn hoá Dân tộc, Quản

lý Văn hoá, Văn hoá Du lịch, Thư viện - Thông tin, Văn hoá học, Sáng tác và

Lý luận phê bình văn học 50 năm qua, trường đã đào tạo được hàng chụcnghìn cán bộ văn hoá hiện đang công tác trên khắp mọi miền đất nước Nhiềucán bộ văn hoá của Lào và Căm-Pu-Chia cũng đã được đào tạo tại trường.Trường có quan hệ hợp tác với nhiều trường đại học lớn và các tổ chức khoa

Trang 34

học uy tín của nước ngoài, liên kết triển khai nhiều hoạt động hợp tác khoahọc và đào tạo có hiệu quả [http://www.huc.edu.vn].

Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt nam (Nhạc viện Hà nội) với ba chức

năng chính là Đào tạo, Nghiên cứu khoa học và Biểu diễn âm nhạc Học viện

là một trong những trung tâm âm nhạc lớn, có uy tín của Việt Nam và khuvực Học viện đào tạo các cấp học từ trung cấp, đại học, cao học và nghiêncứu sinh với tổng số gần 1.800 sinh viên trong gần 40 chuyên ngành âm nhạc.Đội ngũ giảng dậy với hơn 200 giảng viên, trong đó có 19 giáo sư, phó giáo

sư, 14 tiến sỹ, 03 nhà giáo nhân dân, 26 nhà giáo ưu tú, 08 nghệ sỹ nhân dân,

28 nghệ sỹ ưu tú là những người đầu ngành về âm nhạc, có uy tín và kinhnghiệm Nhiều học sinh ngoại quốc như: Lào, Thuỵ Điển, Hàn Quốc, NhậtBản đang theo học tại Học viện theo các khoá học khác nhau Học viện đãđược phép đào tạo liên kết sau đại học với Úc, là cơ sở âm nhạc duy nhấttrong cả nước đào tạo tiến sỹ âm nhạc [http://www.vnam.edu.vn]

Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội: trực thuộc Bộ Kiến trúc (nay là Bộ

Xây dựng) Hiện nay trường có 5 khoa (Kiến trúc, Quy hoạch đô thị và nôngthôn, Xây dựng, Kỹ thuật hạ tầng và môi trường đô thị, Quản lý nông thôn)với 9 ngành học Hệ đào tạo trên đại học của trường: thạc sĩ, tiến sĩ cácchuyên ngành Kiến trúc, Quy hoạch, Xây dựng, Kỹ thuật hạ tầng và môitrường đô thị, Quản lý đô thị, Thiết kế đô thị với di sản phát triển bền vững(bằng tiếng Pháp) Nhà trường đang từng bước hiện đại hoá cơ sở vật chấtphục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hoàn chỉnh xây dựng và trang

bị cơ sở vật chất của trường đạt chuẩn quốc gia, đồng thời tiến hành các thủtục triển khai dự án xây dựng cơ sở 2 của Trường cho phù hợp với quy môđào tạo [http://www.hau.edu.vn]

Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương (trực thuộc Bộ Giáo

dục và Đào tạo): là nơi đào tạo đội ngũ giáo viên nghệ thuật, cán bộ quản lý

có trình độ đại học, sau đại học và các trình độ khác cho ngành giáo dục nóiriêng và cả nước nói chung Trường hiện có 07 khoa: Sư phạm Âm nhạc,

Trang 35

Thanh nhạc- Nhạc cụ, Sư phạm Mỹ thuật, Mỹ thuật cơ sở, Văn hóa- Nghệthuật, Giáo dục đại cương, Tại chức và Đào tạo, liên kết với 06 chuyên ngành:

Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật, Quản lý văn hóa, Thiết kế thời trang,Thiết kế đồ họa và Hội họa [http://www.spnttw.edu.vn]

Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam (trước đó là trường Mỹ thuật Hà

Nội): tiền thân là Trường Cao đẳng Mỹ Thuật Đông Dương, là một trường đạihọc của Việt Nam chuyên đào tạo bậc đại học và sau đại học trong lĩnh vực

mĩ thuật Trường được giới chuyên môn đánh giá là nơi đào tạo mĩ thuậtchính quy và có chất lượng cao của Việt Nam Nơi đây đã là nơi nuôi dưỡng

và phát hiện nhiều họa sĩ tài danh Việt Nam Trường có 5 khoa: khoa Hộihọa, khoa Đồ họa, khoa Điêu khắc, khoa Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, khoa

Sư phạm Mỹ thuật [http://www.myhanoigroup.com]

Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp: là cơ sở đào tạo các hoạ sĩ

thiết kế mỹ thuật ứng dụng có trình độ đại học chính quy, cao đẳng chính quy

và sau đại học cho nhiều chuyên ngành trong lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng.Quy mô đào tạo hiện nay của nhà trường là trên 2.000 sinh viên, trong đó hệĐại học chính quy là 765 sinh viên, hệ Cao đẳng chính quy 467 sinh viên, hệhoàn chỉnh kiến thức 152 sinh viên, hệ vừa học vừa làm 537 sinh viên, hệ Caohọc trên 80 học viên Hiện trường đào tạo 13 ngành bao gồm: Ngành Trang tríNội ngoại thất, Ngành Tranh hoành tráng, Ngành Điêu khắc, Ngành Đồ hoạ,Ngành Tạo dáng Công nghiệp, Ngành Thiết kế đồ chơi, Ngành Thiết kế thủytinh nghệ thuật, Ngành Thiết kế Thời trang, Ngành Thiết kế Trang sức, NgànhSơn mài, Ngành Gốm, Ngành Trang trí kim loại, Ngành Thiết kế Thảm Độingũ hoạ sĩ thiết kế do trường đào tạo hiện đang làm việc tại các cơ quannghiên cứu, quản lý văn hoá nghệ thuật, thiết kế, thi công mỹ thuật ứng dụngtrên khắp mọi miền đất nước [http://mythuatcongnghiep.edu.vn]

Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội: là một trong những đại

học lâu đời ở Việt Nam, chịu trách nhiệm đào tạo và bồi dưỡng những họcviên có năng khiếu trong các lĩnh vực như: Sáng tác, Biểu diễn, Nghiên cứu,

Trang 36

Lý luận - Phê bình, Kinh tế - Kỹ thuật và Công nghệ của các ngành nghệthuật Sân khấu, Điện ảnh và Truyền hình Hiện trường có 10 khoa: khoa Kịchhát dân tộc, khoa Kinh tế - Kỹ thuật Điện ảnh, khoa Mác - Lênin và Kiến thức

cơ bản, khoa Múa, khoa Nghệ Thuật Điện Ảnh, khoa Nhiếp ảnh, khoa Sânkhấu, khoa Tại chức, khoa Thiết Kế Mỹ Thuật, khoa Truyền Hình Trường đãđào tạo ra nhiều những cán bộ quản lý, những diễn viên tài năng, nhiều ngườitrong số họ đã được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú,đạt được thành tích cao trong trong các kỳ Hội diễn sân khấu, Liên hoan phim

quốc gia và quốc tế [http://www.skda.edu.vn]

Đại học Văn hóa nghệ thuật Quân đội là một trường đại học đa ngành

ở Việt Nam Chuyên đào tạo các văn nghệ sĩ biểu diễn, nhạc sĩ sáng tác, biênđạo múa chuyên nghiệp, cán bộ quản lý văn hóa, nhà văn, sân khấu, điện ảnhcho quân đội và quốc gia Đặc biệt là đào tạo nghệ thuật dân tộc miền núi chocác tỉnh vùng sâu vùng xa và sư phạm nhạc hoạ theo công cuộc hiện đại hoá,công nghiệp hoá của Chính phủ Nhà trường có 12 khoa: Âm nhạc, Kiến thứcnghệ thuật cơ bản, Thanh nhạc, Múa, Quản lý văn hóa, Nghệ thuật dân tộc vàmiền núi, Quân nhạc, Sư phạm nhạc họa, Sân khấu-điện ảnh & viết văn, Vănhóa cơ bản, Khoa học xã hội và nhân văn, Quân sự Thể chất bao gồm các hệ:đào tạo tập trung, đào tạo tại chức tại các Quân khu Quân đoàn, liên kết đàotạo với các trường nghệ thuật trong cả nước [http://www.vnq.edu.vn]

Trường Cao đẳng Văn hóa nghệ thuật Hà Nội: là cơ sở đào tạo và bồi

dưỡng học sinh, sinh viên các môn văn hóa nghệ thuật ở trình độ cao đẳng, nghiêncứu khoa học về các lĩnh vực nghệ thuật phục vụ cho sự phát triển văn hóa, nghệ

thuật của Thủ đô…Các khoa chuyên môn bao gồm: khoa Giao hưởng và Piano,

khoa nhạc nhẹ và thanh nhạc, khoa Nhạc cụ và Phục trang, khoa Sư phạm và Lýthuyết âm nhạc, khoa Sân khấu điện ảnh và múa, khoa Mỹ thuật, khoa Nghiệp vụvăn hóa, khoa Kiến thức cơ bản [http://nghethuathanoi.edu.vn]

Trường Cao đẳng Múa Việt Nam là trung tâm đào tạo cán bộ, diễn viên

múa chuyên nghiệp hàng đầu của Việt Nam Gồm các chuyên ngành đào tạo:

Trang 37

diễn viên múa, huấn luyện múa và biên đạo múa có trình độ cao đẳng và trungcấp Trường có quan hệ hợp tác đào tạo với nhiều trường nghệ thuật trong vàngoài nước Trong những năm qua, cùng với đội ngũ giáo viên, sinh viên nhàtrường đã sưu tầm, nghiên cứu, giữ gìn và phát triển nghệ thuật múa của các dântộc Việt Nam và tiếp thu tinh hoa nghệ thuật múa của các nước trên thế giới[http://cdmuavn.edu.vn]

Thực trạng đời sống văn hóa sinh viên trong các trường trên được phảnánh qua các mặt hoạt động dưới đây:

2.1 MÔI TRƯỜNG VẬT CHẤT PHỤC VỤ HỌC TẬP VÀ SINH HOẠT VĂN HÓA

Theo điều tra đánh giá chung gần đây nhất (tháng 7/2010), ở các trườngvăn hóa nghệ thuật tại Hà Nội về điều kiện học tập hiện nay cho thấy: Vềtrang thiết bị, giảng đường, môi trường học tập: rất tốt 3,8%; tốt 19,7%; bìnhthường 56,8%, chưa tốt 19,7% Như vậy, quá nửa sinh viên đánh giá điềukiện học tập ở mức bình thường Điều đó cho thấy, các trường văn hóa nghệthuật mặc dù ở ngay chính trung tâm Thủ đô, được sự quan tâm đầu tư củaNhà nước, thường xuyên bổ sung về trang thiết bị nhưng điều kiện học tậpcũng chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu học tập của sinh viên

2.1.1 Về phòng học, giảng đường

Đa số các trường văn hóa nghệ thuật ở Hà Nội là những trường quốc lập

có bề dày lịch sử, thành lập từ rất sớm nên được xây dựng trên khuôn viênthoáng mát, nhiều cây xanh Vị trí các trường nằm trên các trục đường chính củaThủ đô và các tuyến nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận, gần bệnh viện,các khu thương mại lớn, thuận tiện về giao thông và các điều kiện xã hội Dophần lớn các trường đều nằm sát đường quốc lộ, đông dân cư nên rất ồn ào, ảnhhưởng đến việc tập trung giảng dạy, học tập của giáo viên và sinh viên trongtrường (Đại học Văn hóa Hà Nội, Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội, Đại học

Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội ) Ngay từ thời điểm thành lập, việc xây dựng cáctrường chưa có quy hoạch tổng thể, thiếu đồng bộ, có sự đầu tư xây dựng bổ sung

Trang 38

nhưng chỉ mang tính nhỏ lẻ, không tạo được cảnh quan sư phạm như mong muốn(Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội, Đại học Văn hóa Hà Nội )

Nhận thức được tầm quan trọng của môi trường vật chất quyết định rấtlớn đến chất lượng giảng dạy và học tập của thầy và trò, đặc biệt là phònghọc, giảng đường là nơi truyền tải và tiếp nhận kiến thức, một số trường đãtrang bị phòng học, giảng đường tương đối hiện đại, phù hợp với từng chuyênngành văn hóa, nghệ thuật Có thể kể đến những trường tiêu biểu như:

Học viện Âm nhạc quốc gia Việt Nam: Cơ sở vật chất của Học viện đã

được nâng cấp (có 1 sân khấu, 12 sàn tập, 9 phòng học văn hoá và âm nhạc, 1phòng học tin học đạt tiêu chuẩn ) Học viện có một cơ sở vật chất gần vớichuẩn quốc tế Đây là cơ sở quan trọng để Học viện tiếp tục phát triển vươnlên tầm quốc tế và đóng góp cho đất nước nhiều tài năng âm nhạc trong giaiđoạn mới [http://www.vnam.edu.vn]

Trường Cao đẳng Múa Việt Nam được xây dựng trên diện tích

10700m2; Giảng đường bao gồm: 12 phòng tập múa diện tích từ 100m2 đến150m2; 6 phòng học văn hoá; 2 phòng học xướng âm - lý thuyết âm nhạc; 1phòng máy vi tính diện tích 50m2 với 28 máy tính; Thư viện rộng 200m2 vớihơn 7000 bản sách gồm nhiều sách giáo khoa, sách tham khảo, truyện đọc vàbăng đĩa hình phục vụ học tập; Hội trường lớn rộng 240m2 gồm 240 chỗngồi… [http://cdmuavn.edu.vn]

Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương có 3 khu nhà học

chuyên ngành và 1 khu nhà học lý thuyết Các trang thiết bị phục vụ cho việcdạy và học được trang bị ngày càng hiện đại với máy chiếu, dàn âm thanh,phòng biểu diễn, đàn piano, organ và nhiều trang thiết bị hiện đại khác.Trường có Trung tâm Thư viện với lượng lớn đầu sách chuyên ngành, sáchtham khảo, văn học nghệ thuật phong phú [http://www.spnttw.edu.vn]

Trường Đại học Văn hóa nghệ thuật quân đội: Cơ sở đào tạo của nhà

trường tương đối khang trang với hệ thống phòng học, trang thiết bị giảng dạyhiện đại và đồng bộ để phục vụ các chuyên ngành đào tạo Hệ thống giáo

Trang 39

trình, tài liệu, băng đĩa hình, tiếng và các loại nhạc cụ hiện đại phục vụ giảngdạy đã được đầu tư khá tốt [http://www.vnq.edu.vn].

Tuy nhiên, trong việc đầu tư của các trường văn hóa nghệ thuật đã thểhiện sự thiếu quy hoạch tổng thể và đồng bộ ngay từ ban đầu do kinh phí hạnhẹp, như: nhiều phòng học, giảng đường còn chật chội, cơ sở vật chất, thiết bịgiảng dạy nghèo nàn, chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu giảng dạy và học tập Vídụ: Trường Đại học Sân khấu Điện ảnh hay Trường Cao đẳng Múa Việt Nam cókhuôn viên thoáng đãng, phòng tập rộng, nhưng lại thiếu đầu tư trang thiết bị hiệnđại Còn Học Viện âm nhạc quốc gia tuy có sự đầu tư lớn về trang thiết bị giảngdạy, học tập, nhưng khuôn viên, phòng tập lại nhỏ Một số trường xây dựng ở nơidân cư đông đúc nên cũng phần nào ảnh hưởng đến không gian sư phạm: quỹ đấtnhỏ, ồn ào, gây thiếu tập trung trong việc học tập của sinh viên (Học viện Âmnhạc Quốc gia Việt Nam, Đại học Văn hoá, Đại học Mỹ thuật công nghiệp, Caođẳng Văn hóa Nghệ thuật Hà Nội, Đại học Mỹ thuật Việt Nam)

Khi tiến hành khảo sát cơ sở vật chất trong trường học năm 2010, vớicâu hỏi: “Trường anh chị có phong trào xây dựng giảng đường văn hóa, kýtúc xá văn hóa không?”, thì với phong trào xây dựng giảng đường 53,2% sinhviên trả lời có; 24,3% không, 22,5% không biết; kết quả phong trào xây dựng

ký túc xá văn hoá: có 51%, không 23,2%, không biết 25,8%

Tác dụng tốt

Tác dụng có mức độ Chưa có tác dụng

Hình 2.1: Đánh giá việc tổ chức phong trào xây dựng giảng đường

văn hóa, ký túc xá văn hóa

Trang 40

Khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của các phong trào trên, sinh viên chorằng: Tác dụng tốt 18,9%; tác dụng mức độ 63,1%, chưa có tác dụng 18%

Những số liệu khảo sát về phong trào xây dựng ký túc xá và giảngđường văn hóa cho thấy: cứ 4 người được hỏi thì chỉ có 2 người biết về phongtrào xây dựng học đường văn hóa và ký túc xá văn hóa Như vậy, nhữngphong trào này dù đã được phát động trong các trường văn hóa nghệ thuậtnhưng một nửa số sinh viên không được biết đến Đây cũng chính là lý do màphần lớn sinh viên đánh giá phong trào hoạt động chỉ ở mức độ (vì chưa phátđộng sâu rộng hoặc mang tình hình thức nên không thu hút được đông đảosinh viên tham gia)

Nhu cầu đồng bộ về môi trường vật chất phục vụ việc học tập, sinh hoạtcủa sinh viên cũng đã được các trường văn hóa nghệ thuật đặt ra nhưng đây làmột vấn đề lớn và lâu dài, mang tầm quốc gia đòi hỏi những chính sách cho quyhoạch tổng thể cũng như sự đầu tư lớn kinh phí từ nguồn ngân sách Nhà nước

Nguyên nhân của hạn chế, bất cập

- Xã hội càng phát triển, xu thế hội nhập kinh tế quốc tế nên xuất hiệnngày càng nhiều những nhu cầu mới, nhu cầu hưởng thụ nhiều loại hình vănhóa nghệ thuật Trong lĩnh vực đào tạo, cụ thể là đào tạo văn hóa nghệ thuậtcũng xuất hiện thêm nhiều ngành học mới Do vậy, quy mô phát triển thêmnhiều ngành học là không thể tránh khỏi Việc phát triển nhiều ngành học dẫnđến hiện tượng thiếu phòng học, giảng đường

- Để có thêm phòng học, giảng đường không thể khắc phục trong thờigian ngắn, có thể 2-3 năm thậm chí là 5- 10 năm nên đã dẫn đến tình trạng cơ

sở vật chất trang bị không theo kịp quy mô đào tạo

- Khuôn viên các trường được hình thành từ rất sớm lại nằm ngay trongkhu vực nội thành, nên việc mở rộng khuôn viên là không thể được vì xungquanh đông dân cư Diện tích đất nhỏ nên một số trường có điều kiện về kinhphí nhưng không thể nâng số lượng phòng học, mở rộng giảng đường

- Nền kinh tế của chúng ta còn thấp, khả năng tài chính có hạn, thunhập GDP bình quân trên đầu người chưa cao so với nhiều nước trên thế giới

Ngày đăng: 07/12/2020, 01:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá (2007), Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hoá (2007), "Văn bản chỉ đạo, hướng dẫn phong trào Toàn dânđoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
Tác giả: Ban Chỉ đạo Trung ương phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá
Năm: 2007
2. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), Văn hoá với thanh niên, thanh niên với văn hoá. Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2002), "Văn hoá với thanh niên, thanhniên với văn hoá. Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2002
3. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Xây dựng môi trường văn hoá- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), "Xây dựng môi trường vănhoá- một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2004
4. Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương (2004), Tài liệu Kết luận Hội nghị lần thứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX (dùng cho cán bộ chủ chốt và báo cáo viên), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương (2004), "Tài liệu Kết luận Hội nghị lầnthứ 10 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX
Tác giả: Ban tư tưởng Văn hoá Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
5. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004), Giáo dục đạo đức cho cán bộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2004)," Giáo dục đạo đức cho cánbộ, đảng viên trong thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Nhà XB: NxbChính trị quốc gia
Năm: 2004
6. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), "Tư tưởng Hồ Chí Minh vềvăn hoá
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương
Năm: 2003
7. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin (2007), Hội thảo “Đời sống văn hoá sinh viên- Thực trạng và giải pháp” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Vănhoá - Thông tin (2007), "Hội thảo “Đời sống văn hoá sinh viên-Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 2007
8. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin (2000), Xã hội hoá hoạt động văn hoá, một số vấn đề lý luận và thực tiễn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Vănhoá - Thông tin (2000)
Tác giả: Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 2000
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục (2002), Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục (2002),"Chiến lược phát triển giáo dục trong thế kỷ XXI
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Viện nghiên cứu và phát triển giáo dục
Nhà XB: Nxb Chính trịquốc gia
Năm: 2002
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đề án Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam hội nhập và thách thức, Kỷ yếu hội thảo (tháng 2/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo, "Đổi mới giáo dục Đại học Việt Nam hội nhập vàthách thức
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Văn hóa - Thông tin: Công văn Số 2723/CTCT ngày 12-4-2001 về chương trình phối hợp thực hiện cuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Giáo dục và Đào tạo - Bộ Văn hóa - Thông tin: "Công văn Số2723/CTCT ngày 12-4-2001 về chương trình phối hợp thực hiệncuộc vận động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sốngvăn hóa
13. Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch (2009), Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch (2009), "Chiến lược phát triển văn hóađến năm 2020
Tác giả: Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch
Năm: 2009
14. Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao (1992), Mấy vấn về văn hoá và phát triển ở Việt Nam hiện nay, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao (1992), "Mấy vấn về văn hoá và pháttriển ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin và Thể thao
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 1992
15. Bộ Văn hoá - Thông tin (2005), Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hoá giai đoạn 2006 - 2010, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hoá - Thông tin (2005), "Chương trình mục tiêu quốc gia về vănhoá giai đoạn 2006 - 2010
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 2005
16. Bộ Văn hoá - Thông tin (1995), Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đào tạo văn hóa nghệ thuật, Kỷ yếu hội thảo khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hoá - Thông tin (1995), "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dântộc trong đào tạo văn hóa nghệ thuật
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin
Năm: 1995
17. Bộ Văn hoá - Thông tin (1995), Đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng Cộng sản Việt Nam (Giáo trình giảng dạy trong các trường văn hóa nghệ thuật). Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Văn hoá - Thông tin (1995), "Đường lối văn hóa, văn nghệ của ĐảngCộng sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hoá - Thông tin
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1995
18. Bộ văn hóa - thông tin, Vụ pháp chế, Những văn bản pháp quy về văn hóa thông tin, tập IV,V,VI,VII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ văn hóa - thông tin, Vụ pháp chế, "Những văn bản pháp quy về văn hóathông tin
19. Nguyễn Duy Bắc (chủ biên)(2004), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy học môn Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy Bắc (chủ biên)(2004)," Một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềdạy học môn Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trườngđại học
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
20. Nguyễn Duy Bắc (2001), Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trong công cuộc đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Duy Bắc (2001), "Về lãnh đạo, quản lý văn học nghệ thuật trongcông cuộc đổi mới
Tác giả: Nguyễn Duy Bắc
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w