Kết cấu của luận văn ...8 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI THEO NGUYÊN TẮC KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA...9 1.1.. Chính vì vậy, tôi c
Trang 1-/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
-/ -NGUYỄN THỊ PHƯƠNG THỦY
một số giải pháp nâng cao hiệu quả
quản lý đất đai theo nguyên tắc kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa từ thực tiễn
của thủ đô Hà Nội
Chuyờn ngành : Quản lý hành chớnh cụng
Mó số : 60 34 82
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN Lí HÀNH CHÍNH CễNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS NGUYỄN CHÍ THÀNH
HÀ NỘI - 2012
Trang 2Tôi cam đoan nội dung và những số liệu trongluận văn của tôi là trung thực, không sao chép của bất kỳ luận văn hay tài liệu nào khác Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và những số liệu trên.
Tác giả
Nguyễn Thị Phương Thủy
Trang 3Để hoàn thành chương trình cao học và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm, giảng dạy và tạo mọi điều kiện giúp đỡ của Ban Giám đốc, các thầy, cô giáo Học viện Hành chính thuộc Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính và các thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại Học viện.
Đặc biệt cho tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới Tiến sĩ Nguyễn Chí Thành, Vụ trưởng, Văn phòng Chủ tịch nước đã dành nhiều thời gian tâm huyết và tận tình hướng dẫn nghiên cứu, giúp tôi hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới cô giáo chủ nhiệm Nguyễn Thu Thủy, cô giáo chủ nhiệm đầy trách nhiệm và hết lòng vì công việc đã dành nhiều sự quan tâm để tôi hoàn thành được khoá học này.
Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công chức Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Hà Nội, cảm ơn các đồng nghiệp, đặc biệt là những nguời thân trong gia đình tôi đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập tại trường và hoàn thành luận văn
Hà Nội, tháng 12 năm 2012
Người thực hiện
Nguyễn Thị Phương Thuỷ
Môc lôc
Trang 41 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp mới của luận văn 8
7 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI THEO NGUYÊN TẮC KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 9
1.1 Kinh tế thị trường định hướng XHCN 9
1.1.1 Khái niệm thị trường 9
1.1.2 Nguyên tắc của thị trường 10
1.1.3 Quan niệm về kinh tế thị trường 10
1.1.4 Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường 10
1.1.5 Một số vấn đề chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 12
1.1.6 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 14
1.2 Vai trò của đất đai trong sản xuất, đời sống và phân loại đất 15
1.2.1 Khái niệm về đất đai 15
1.2.2 Đặc điểm của đất đai trong sản xuất, đời sống 16
1.2.3 Vai trò của đất đai trong sản xuất và đời sống 18
1.2.4 Phân loại đất 19
1.3 Quản lý nhà nước đối với đất đai theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 21
1.3.1 Khái niệm 21
1.3.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai 23
1.3.3 Mục đích của quản lý nhà nước về đất đai 24
1.3.4 Vai trò quản lý nhà nước về đất đai 25
1.3.5 Nội dung quản lý nhà nước đối với đất đai theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 27
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đất đai 29
1.4.1 Nhân tố chính sách, pháp luật 29
1.4.2 Nhân tố xã hội 33
1.4.3 Nhân tố kinh tế 34
1.5 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước và bài học rút ra đối với Việt Nam 35
1.5.1 Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước 35
1.5.2 Bài học rút ra đối với Việt Nam 46
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 51
Trang 52.1.2 Điều kiện kinh tế 52
2.1.3 Điều kiện xã hội 53
2.2 Tập quán văn hoá ảnh hưởng đến quan hệ ruộng đất 54
2.3 Đô thị hoá và sự tác động của nó đến quan hệ đất đai ở thủ đô Hà Nội 55
2.4 Qũy đất của Hà Nội 60
2.5 Thực trạng sử dụng đất của Hà Nội trong thời gian qua 61
2.5.1 Đối với đất nông nghiệp 61
2.5.2 Đối với đất phi nông nghiệp 66
2.5.3 Đối với đất chưa sử dụng 67
2.6 Quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 69
2.6.1 Bộ máy quản lý đất đai của thành phố Hà Nội 69
2.6.2 Thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố 73
2.6.3 Đánh giá chung 92
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 103
3.1 Quan điểm cơ bản hoàn thiện quản lý nhà nước về đất đai theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 103
3.2 Các giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Nội 104
3.2.1 Hoàn thiện công tác xây dựng và ban hành chính sách đất đai 105
3.2.2 Đổi mới quy trình lập quy hoạch sử dụng đất đai gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 105
3.2.3 Tạo điều kiện hình thành thị trường quyền sử đụng đất có sự quản lý của Nhà nước để chuyển nguồn lực có hiệu quả 106
3.2.4 Đổi mới chính sách kinh tế đối với đất đai 108
3.2.5 Hoàn thiện hệ thống đăng ký đất đai 110
3.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của các cơ quan quản lý nhà nước 111
3.2.7 Đào tạo đội ngũ cán bộ địa chính 112
3.2.8 Nâng cao ý thức pháp luật đất đai của các đối tượng sử dụng đất 113
3.3.Một số kiến nghị 114
KẾT LUẬN .117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
Trang 6CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 7Bảng 2.1: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn thành phố Hà Nội 60
Bảng 2.2: Kế hoạch chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp 63
Bảng 2.3: Đất phi nông nghiệp được sử dụng từ 2000-2010 66
Bảng 2.4: Số lượng, trình độ cán bộ công chức thành phố 72
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá của mỗi quốc gia, là yếu
tố mang tính quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật
khác trên trái đất C.Mác viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản” Có thể khẳng định rằng, nếu không có đất đai thì không có
bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra củacải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay Lịch sửcủa loài người từ khi biết chiếm hữu đất đai đã biến đất đai từ một sản vật tựnhiên thành một tài sản của cộng đồng, của một quốc gia Luật Đất đai của
nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có ghi: "Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng Trải qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.
Đất đai không chỉ có vai trò quan trọng như đã nêu trên mà nó còn có ýnghĩa về mặt chính trị Tài sản quý giá ấy phải bảo vệ bằng cả xương máu.Ranh giới quốc gia thể hiện chủ quyền của một quốc gia, vì thế vốn đất đai màmột quốc gia có được còn là biểu hiện của sức mạnh dân tộc Đất đai còn lànguồn của cải, là nguyên liệu của thị trường nhà đất, nó là tài sản đảm bảo sự
an toàn về tài chính, có thể chuyển nhượng qua các thế hệ Đất đai có giá trị
và ý nghĩa rất quan trọng đối với cả nhà nước và xã hội, chính vì vậy tất cả cácquốc gia trên thế giới đều có hệ thống luật pháp rõ ràng và cụ thể, làm cơ sởcho việc quản lý đất đai
Ở Việt Nam ta kể từ sau ngày đất nước đổi mới, thực hiện nền kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đã thực sự hình thành một hệ thống
Trang 9pháp luật về đất đai, là cơ sở cho việc đổi mới chính sách về đất đai, là khungpháp lý cho việc quản lý nhà nước về đất đai: Luật Đất đai 1988; Luật Sửa đổi
bổ sung 1992 Đặc biệt Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thihành đã tạo hành lang pháp lý đưa công tác quản lý đất đai dần vào nề nếp,việc sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả hơn Đối với việc nhận chuyểnnhượng quyền sử dụng đất, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ đã có quyđịnh về hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộ giađình, cá nhân để sử dụng vào mục đích nông nghiệp đã tạo hành lang pháp
lý cho các giao dịch về chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói chung và quyền
sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất nói riêng; bước đầu đãđạt được một số kết quả tích cực, góp phần phát triển sản xuất nông nghiệp,sản xuất lâm nghiệp, phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trườngbất động sản
Tuy nhiên, trong thời gian qua, một số nơi còn xảy ra tình trạng chuyểnnhượng đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng sản xuất, đặc biệt là đất chuyêntrồng lúa nước; chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nôngnghiệp một cách tràn lan mang tính đầu cơ, trục lợi hoặc có hành vi “ôm đất”chờ quy hoạch để nhằm mục đích kiếm lời, hưởng lợi trong chính sách bồithường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, làm cho tình hình quản lý đất đai tạicác địa phương diễn biến phức tạp, gây khó khăn cho công tác thu hồi đất, bồithường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng giữa Nhà nước, doanhnghiệp và người có đất bị thu hồi
Những vấn đề trên cho thấy, vai trò của Nhà nước trong quản lý, sửdụng đất với chức năng là đại diện cho sở hữu toàn dân về đất đai chưa rõràng, buông lỏng hiệu quả quản lý thấp; quan hệ kinh tế giữa đại diện sở hữuđất đai với người sử dụng đất (SDĐ) chưa minh bạch và nhiều bức xúc nảysinh , đó là những nội dung cần được nghiên cứu và lý giải cả về lý luận vàthực tiễn Thủ đô Hà Nội, với vai trò là trung tâm kinh tế - chính trị - văn hoá
Trang 10- xã hội của cả nước, đặc biệt từ sau khi có Nghị quyết số 08- NQ/QH về việc
mở rộng Thủ đô Hà Nội, thì vai trò nhà nước trong quản lý sử dụng đất đã trởthành một nhiệm vụ cấp bách Yêu cầu đặt ra đối với công tác quản lý và sửdụng một cách hiệu quả đầy đủ, hợp lý đất đai là mục tiêu quan trọng trongchiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là một nhiệm vụ cấp bách Điều đó đã
và đang được Đảng bộ và nhân dân thành phố Hà Nội quyết tâm thực hiện và
đã đạt được những kết quả không nhỏ, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinhtế- xã hội của Hà Nội Để có thể đạt được mục tiêu mà thành phố Hà Nội đề
ra cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền, các bộ ngành có
liên quan Chính vì vậy, tôi chọn: "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản
lý nhà nước đối với đất đai theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa từ thực tiễn của Thủ đô Hà Nội" làm đề tài của luận văn
Thạc sỹ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Nước ngoài: Theo những thông tin tra cứu từ Thư viện Quốc gia và các
nguồn thông tin khác, tính đến thời điểm nghiên cứu tiếp cận cho thấy: lĩnhvực QLNN về đất đai, trên thế giới đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu,
có giá trị khoa học cao như:
- “Những chính sách đất đai cho phát triển và xoá giảm đói nghèo”
(Land policies for growth and poperty reduction) (2004), của Ngân hàng Thếgiới, là công trình nghiên cứu về mối liên hệ giữa chính sách QLNN về đấtđai, khuynh hướng SDĐ ảnh hưởng đến phát triển và nghèo đói của các nướcđang phát triển, các giải pháp khuyến nghị nhằm xóa giảm đói nghèo, thúcđẩy phát triển bền vững
- “Chính sách về đất đai” (Land policy) (2003) và “Chính sách sử dụng đất của địa phương và sự khuyến khích đầu tư” (Local land use policy and
investment incentives) (2004) của Ngân hàng Thế giới, là những nghiên cứuđưa ra chính sách quản lý đất đai (QLĐĐ), cảnh báo về những quy định,phương thức quản lý và SDĐ của chính quyền địa phương
Trang 11Trong nước:
- Luật đất đai năm 1987 (sửa đổi năm 2003) là cơ sở pháp lý quan trọng
cho việc quản lý đất đai nói chung, quản lý nhà nước về đất đai nói riêng
- Ở góc độ nghiên cứu lý luận về quan hệ sở hữu đất đai trong thời kỳquá độ lên CNXH, trong điều kiện nền KTTT đã có một số công trình nghiêncứu quan trọng công phu của các Bộ, các Viện nghiên cứu, các nhà khoa học
như: “Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đất đai và sử dụng hợp lý quỹ đất đai”, đề tài nghiên cứu cấp bộ của Viện Khoa học Nông nghiệp, năm 2003; “Nghiên cứu đổi mới hệ thống quản lý đất đai để hình thành và phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam”, đề tài nghiên cứu
cấp nhà nước của Nguyễn Đình Bồng thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường,năm 2005 Nhìn chung các nghiên cứu đã đề cập đến nội dung sở hữu toàndân về đất đai gắn với nền KTTT ở nước ta, với mục tiêu hình thành cơ sởkhoa học, tham mưu cho Nhà nước ban hành các chính sách đất đai ở nước tatrong giai đoạn hiện nay
- Về nội dung đất đai với tính chất là nguồn lực quan trọng của quátrình công nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HĐH) đất nước, trong điều kiệnnền KTTT, cũng đã được nhiều tổ chức, cá nhân các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu như: “Những bất cập hiện nay của chính sách đất đai đối với phát triển tam nông ở Việt Nam”, của Nguyễn Tấn Phát, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 366 - 2008; “Về sở hữu, sử dụng và sai phạm trong quản lý đất đai ở Việt Nam từ khi đổi mới”, của Nguyễn Văn Sửu, Tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5-2007; “Tình hình thu hồi đất của nông dân để thực hiện CNH- HĐH và các giải pháp phát triển”, Tạp chí Cộng sản, số 12-2007… Các
nghiên cứu trên chủ yếu đề cập đến nội dung phân bổ đất đai cho các ngànhkinh tế và quản lý đất đai sao cho có hiệu quả; trong điều kiện nền kinh tếnước ta còn kém phát triển, đất đai là nguồn tài nguyên lớn nhất cần đượckhai thác một cách hiệu quả để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế của đất
Trang 12- Vấn đề QLNN về đất đai và quản lý đất đô thị cũng được nghiên cứu
khá bài bản như: Cuốn “Cơ sở lý luận và thực tiễn tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai ở Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Đình Kháng, Nxb Lao động,
Hà Nội
- UBND thành phố Hà Nội cũng đã tổ chức một số cuộc hội thảo nhằmtranh thủ ý kiến của các chuyên gia và các nhà khoa học, để có biện pháp, cơchế trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện chính sách quản lý đất đai của Nhà nước
trên địa bàn như: Hội thảo khoa học: “Thị trường nhà đất ở Hà Nội - thực trạng và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước”.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu QLNN về đất đai của các nhàkhoa học trong và ngoài nước đối với QLNN về đất đai của Việt Nam đã gópphần hoàn thiện hệ thống lý luận, cũng như thực tiễn QLĐĐ ở Việt Nam Cácnghiên cứu về QLNN đối với đất đai giai đoạn hiện nay, phần lớn tập trung đềcập đến cơ chế chính sách về đất đai, trong điều kiện nền KTTT ở nước tađang trong quá trình hội nhập với nền kinh tế khu vực (AFTA) và nền kinh tếthế giới (WTO) Đặc biệt các nghiên cứu trong giai đoạn Việt Nam đàm phángia nhập WTO, đều đặt vấn đề khai thác nguồn lực trong nước như thế nào đểtạo ra đối trọng cho nền kinh tế khi mở rộng hội nhập, trong đó nguồn lực đấtđai được đánh giá có vị trí vô cùng quan trọng Tuy nhiên cho đến nay chưa có
đề tài hoặc công trình nghiên cứu nào công bố trùng với đề tài "Nâng cao hiệu quả cường quản lý nhà nước về đất đai theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ thực tiễn của Thủ đô Hà Nội" mà em đã chọn.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
Mục tiêu: Hệ thống hoá những vấn đề mang tính đặc thù về đặc điểm,
vị trí, vai trò của quản lý nhà nước về quản lý đất đai theo nguyên tắc thịtrưường định hướng XHCN, từ thực tiễn của địa bàn Thủ đô Hà Nội, đề xuất
Trang 13các giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất đai theo nguyên tắc thịtrường định hướng XHCN từ thực tiễn của Thủ đô Hà Nội.
Nhiệm vụ:
- Làm rõ nguyên tắc của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
và cách tiếp cận mới về quản lý nhà nước; đặc điểm của đất đai, tính đặc biệtcủa hàng hoá đất đai; sự cần thiết khách quan vai trò quản lý của Nhà nướcđối với đất đai theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm quản lý nhà nước đối với đất đai và nộidung cơ bản của quản lý nhà nước về đất đai hiện nay, trong điều kiện sở hữuđất đai toàn dân, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
- Phân tích kinh nghiệm của một số nước về hoạt động quản lý đất đai,
từ đó rút ra bài học cho Việt Nam
- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn cả nướcnói chung và trên địa bàn Thủ đô Hà Nội nói riêng: Chiến lược, quy hoạch,phân cấp, giao quyền sử dụng, cơ chế trách nhiệm, tài chính về đất đai, giámsát của nhân dân và cơ quan đại diện của nhân dân đối với đất đai
- Đề xuất những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất đai theocác nguyên tắc thị trường định hướng XHCN
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a, Đối tượng nghiên cứu:
- Công tác quản lý nhà nước về đất đai theo nguyên tắc thị trường địnhhướng XHCN trên địa bàn thủ đô Hà Nội
- Những giải pháp cụ thể tăng cường quản lý nhà nước về đất đai theonguyên tắc thị trường định hướng XHCN
Trang 14- Thời gian nghiên cứu: Thực tiễn quản lý nhà nước về đất đai theonguyên tắc thị trường định hướng XHCN giai đoạn 2005 -2009.
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồmnhững phương pháp sau:
- Phân tích tài liệu sẵn có: Đề tài đã tiến hành khảo cứu các báo cáo,
nghiên cứu, bài viết của các chuyên gia trong và ngoài nước trong lĩnh vựcđất đai và quản lý nhà nước về đất đai Kết quả của bước tổng hợp tài liệu này
sẽ cung cấp cơ sở lý thuyết cho việc tiến hành phân tích, đề xuất giải phápnhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai theo nguyên tắc thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: trên cơ sở phân tích những nội
dung cơ bản về quản lý đất đai của Nhà nước, đề tài sử dụng phương phápquy nạp để đưa ra những đánh giá chung mang tính khái quát về thực trạngquản lý nhà nước về đất đai Thực trạng này được đặt trong bối cảnh chungcủa cả nước và dưới tác động của cơ chế KTTT
- Phương pháp thảo luận nhóm tập trung: Đề tài sẽ thực hiện các
buổi thảo luận nhóm tập trung đối với một số đại biểu Hội đồng nhân các cấp,cán bộ lãnh đạo, quản lý tại các địa phương Các buổi toạ đàm nhóm cũng sẽđược tổ chức đối với người tham gia thảo luận là đối tượng liên quan đến đấtđai và chính quyền địa phương
- Tham vấn chuyên gia: Nghiên cứu cũng sẽ tiến hành tham vấn một
số chuyên gia tại các Bộ, Ban, ngành tại Trung ương và địa phương am hiểu
về các chính sách đất đai Thông tin đầu vào do các chuyên gia cung cấp quacác cuộc thảo luận nhóm được tổng hợp và được sử dụng làm một trongnhững căn cứ để đưa ra những nhận xét và đánh giá về hiệu quả quản lý nhànước về đất đai theo nguyên tắc thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Phương pháp trừu tượng hoá khoa học và phương pháp phân tích
hệ thống: việc nghiên cứu vai trò quản lý đất đai của Nhà nước ở nước ta
Trang 15được thực hiện một cách đồng bộ, gắn với từng giai đoạn, từng hoàn cảnh lịch
sử cụ thể
- Phương pháp thực địa: Phương pháp này giúp tiếp cận vấn đề một
cách chủ động, trực quan, kiểm tra, đánh giá một cách xác thực để có đượctầm nhìn toàn diện về các đối tượng nghiên cứu Các hoạt động chính trongkhi tiến hành phương pháp này gồm: quan sát; mô tả; ghi chép; chụp ảnh,quay phim tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ trao đổi với chính quyền địaphương, các cơ quan quản lý tài nguyên, các cơ quan quản lý chuyên ngành ởđịa phương và cộng đồng sở tại
6 Đóng góp mới của luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, luậnvăn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối với đất
đai theo nguyên tắc nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về đất đai ở Thủ đô Hà Nội Chương 3: Nâng cao hiệu quả quản lý đất đai theo nguyên tắc kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT ĐAI THEO NGUYÊN TẮC KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.1.1 Khái niệm thị trường
Thị trường là khái niệm vừa trừu tượng, vừa cụ thể Có thể hiểu: thịtrường là địa điểm diễn ra hoạt động mua - bán hàng hóa
Theo đại Từ điển tiếng Việt, thị trường là: (1) hoạt động mua bán, trao
đổi hàng hoá nói chung; (2) nơi thường xuyên tiêu thụ hàng hoá Khái niệm
“thị trường” của một quốc gia có nghĩa rộng hơn rất nhiều so với khái niệm
chỉ về một địa điểm bán hàng thuần túy Thị trường còn bao gồm những cơ
chế về kinh tế đã đặt ra hoặc “luật lệ của cuộc chơi” Những “thành viên”
tham gia thị trường phải tuân thủ mọi luật lệ do các cơ quan quản lý đặt ra.Thị trường là tổng hoà các mối quan hệ mua - bán trong xã hội, được hìnhthành trong các điều kiện lịch sử khác nhau
Theo C.Mác: “thị trường là lĩnh vực trao đổi”, V.I.Lênin cho rằng:
“khái niệm thị trường” hoàn toàn không thể tách rời khái niệm phân công lao
động xã hội Hễ ở đâu và khi nào có phân công lao động xã hội và sản xuấthàng hoá thì ở đó và khi ấy có thị trường Quy mô thị trường gắn chặt vớitrình độ chuyên môn hoá xã hội
Xét trên góc độ vĩ mô, thị trường là một phạm trù kinh tế tồn tại mộtcách khách quan cùng với sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hoá vàlưu thông hàng hoá Ở đâu và khi nào có sản xuất hàng hoá thì ở đó và khi ấy
có thị trường “Thị trường, nghĩa là lĩnh vực trao đổi mở rộng ra thì quy mô sản xuất cũng tăng lên, sự phân công sản xuất cũng trở nên sâu sắc hơn”.
Trang 171.1.2 Nguyên tắc của thị trường
- Các chủ thể kinh tế độc lập với nhau và họ có toàn quyền quyết địnhcông việc kinh doanh của mình
- Người bán và người mua có khả năng lựa chọn đối tác, nghĩa là tự dogiao dịch
- Mua bán theo giá cả thị trường
- Đảm bảo có đủ thông tin thị trường
1.1.3 Quan niệm về kinh tế thị trường
Để định nghĩa về kinh tế thị trường trước hết hãy định nghĩa về kinh tếhàng hoá Kinh tế hàng hoá là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, mà trong đósản phẩm sản xuất ra là để trao đổi và để bán trên thị trường Còn kinh tế thịtrường là hình thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá, từ sản xuất đến tiêudùng đều thông qua thị trường, các quan hệ kinh tế đều được tiền tệ hoá Kinh
tế hàng hoá vận hành theo cơ chế thị trường là kinh tế thị trường Ngày naykhông ai phủ nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hàng hoá, kinh tế thị
trường trong nhiều xã hội khác nhau Đảng ta khẳng định: “Sản xuất hàng hoá không đối lập với CNXH, mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng CNXH và cả khi XHCN đã được xây dựng”
Kinh tế thị trường là phương thức vận hành nền kinh tế, là phương
tiện để đạt tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, trong đó, quá trình phân phối tài nguyên, lao động và lợi ích vật
chất đều dựa trên cơ sở các quan hệ cung cầu thị trường và do các quy luậtcủa trao đổi và lưu thông hàng hóa (quy luật của thị trường) chi phối Quyluật xuyên suốt của kinh tế thị trường là quy luật giá trị
1.1.4 Những yếu tố cơ bản của kinh tế thị trường
Thứ nhất, chủ thể của nền kinh tế Nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tồn
tại của các chủ thể kinh tế độc lập dưới nhiều hình thức sở hữu khác nhau Về
Trang 18bản chất, nền kinh tế thị trường thị trường có cấu trúc đa sở hữu Trong cấutrúc, sở hữu tư nhân luôn luôn là thành tố tất yếu, bắt buộc Nói đến kinh tếthị trường mà phủ nhận sở hữu tư nhân có nghĩa là bác bỏ kinh tế thị trườngtrên thực tế Bên cạnh sở hữu tư nhân, còn có các dạng thức sở hữu quantrọng khác là sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể và dạng đồng sở hữu của cácchủ thể khác, ví dụ sở hữu công ty cổ phần, doanh nghiệp tư bản nhà nước
Thứ hai, hệ thống đồng bộ các thị trường và thể chế tương ứng Nền kinh
tế thị trường là một hệ thống hữu cơ mang tính xã hội hoá cao Do vậy, sự vậnhành của nó luôn luôn là sự vận hành tổng thể của các yếu tố cấu thành Mọi nềnkinh tế thị trường đều có các yếu tố cấu thành cơ bản là các thị trường, bao gồmcác thị trường yếu tố [các thị trường đầu vào như thị trường đất đai, thị trườngsức lao động, thị trường tài chính (thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trườngchứng khoán), thị trường máy móc thiết bị, thị trường khoa học - công nghệ] vàthị trường hàng tiêu dùng Để nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả, phảibảo đảm hai yêu cầu: (1) Có sự hiện diện đầy đủ của tất cả các thị trường nóitrên và (2) Các thị trường phải vận hành đồng bộ
Thứ ba, hệ thống giá cả do cung cầu thị trường quyết định là yếu tố cốt
lõi quyết định sự vận hành của nền kinh tế thị trường Nền kinh tế thị trườngchỉ vận hành được một khi hệ thống giá cả được quyết định khách quan bởithị trường Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận là độnglực chủ yếu thúc đẩy nỗ lực hoạt động và hiệu quả kinh doanh của các doanhnghiệp Để phục vụ mục tiêu đó, giá cả phải được thiết định trên các cơ sởkhách quan và được điều tiết bằng cơ chế tự điều tiết (cạnh tranh tự do)
Thứ tư, cơ chế nguyên tắc vận hành cơ bản của nền kinh tế thị trường là
cạnh tranh tự do Không có cạnh tranh tự do thì không thể nói đến kinh tế thịtrường Về bản chất, cơ chế cạnh tranh thị trường là cơ chế tự điều chỉnh Do
vậy, nó còn được gọi là “bàn tay vô hình” Cơ chế này giúp nền kinh tế tạo
lập sự cân bằng mỗi khi bị trục trặc
Trang 19Thứ năm, vai trò của nhà nước Thị trường có những khuyết tật và cơ
chế thị trường có thể bị thất bại trong việc giải quyết một số vấn đề pháttriển, ví dụ như khủng hoảng, đói nghèo, công bằng xã hội, môi trường,
Để khắc phục chúng và tránh khỏi thất bại thị trường, nhà nước phải thamgia quản lý, điều tiết sự vận hành nền kinh tế Nhà nước tham gia vào cácquá trình kinh tế thị trường vừa với tư cách là bộ máy quản lý xã hội, vừa
là một yếu tố nội tại của cơ chế vận hành kinh tế Với các tư cách đó, nhànước thực hiện ba chức năng:
- Quản lý, định hướng và hỗ trợ phát triển
- Phân phối lại thu nhập quốc dân
- Bảo vệ môi trường
Để thực hiện ba chức năng đó, Nhà nước phải giải quyết các nhiệm vụ:
- Cung cấp khung khổ pháp lý rõ ràng, nghiêm minh, có hiệu lực vàphù hợp với đòi hỏi của cơ chế thị trường
- Kiến tạo và bảo đảm môi trường vĩ mô ổn định, có tính khuyến khíchkinh doanh
- Cung cấp kết cấu hạ tầng cũng như các dịch vụ và hàng hoá công cộng
- Hỗ trợ nhóm người nghèo các điều kiện tối thiểu để tham gia thịtrường bình đẳng
Năm yếu tố nói trên là 5 yếu tố cấu thành cơ bản khung thể chế chungcủa mọi nền kinh tế thị trường Chúng hình thành một tổng thể, quy định lẫnnhau Thiếu bất cứ yếu tố nào trong số đó đều không thể có nền kinh tế thịtrường bình thường, vận hành hiệu quả
1.1.5 Một số vấn đề chủ yếu của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý củanhà nước, theo định hướng XHCN
Trang 20- Với sở hữu, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa lấy sở hữu tư nhân
làm cơ sở, còn kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa lấy sở hữu công cộng làm
cơ sở
- Về chế độ phân phối, khẳng định, kết quả cuối cùng của kinh tế thị
trường xã hội chủ nghĩa không nhằm tập trung tài sản vào trong tay một số ít
cá nhân như kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mà nhằm đem lại sự sung túcchung cho mọi tầng lớp dân cư Đây là định hướng lâu dài gắn liền với các nỗlực quản lý Chủ nghĩa xã hội lấy phân phối theo lao động là chính, nhưngcũng chấp nhận các hình thức phân phối khác
- Về tính chất giai cấp của nhà nước và mục đích quản lý, trong nền
kinh tế thị trường TBCN, sự quản lý của nhà nước luôn mang tính chất tư sản
và trong khuôn khổ của chế độ tư sản với mục đích nhằm bảo đảm môi trườngkinh tế - xã hội thuận lợi cho sự thống trị của giai cấp tư sản, cho sự bền vữngcủa chế độ bóc lột TBCN Còn trong nền kinh tế thị trường định hướngXHCN, thì sự can thiệp của nhà nước XHCN vào nền kinh tế lại nhằm bảo vệquyền lợi chính đáng của toàn thể nhân dân lao động, thực hiện mục tiêu dângiàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
+ Về cơ chế vận hành, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là nền
kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lănh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam Cơ chế đó đảm bảo tính hướng dẫn điều khiển nền kinh
tế nhiều thành phần hướng tới đích XHCN theo phương châm nhà nước điềutiết vĩ mô Ngược lại, kinh tế thị trường TBCN hoạt động dưới sự quản lý củađảng tư sản cầm quyền
+ Về mối quan hệ tăng trưởng, phát triển kinh tế với công bằng xã hội.
Vấn đề công bằng xã hội trong nền kinh tế thị trường TBCN chỉ được đặt rakhi mặt trái của cơ chế thị trường đã làm gay gắt các vấn đề xã hội, tạo ranguy cơ bùng nổ xã hội, đe doạ sự tồn tại của CNTB Trong kinh tế thị trườngđịnh hướng XHCN, Nhà nước chủ động giải quyết ngay từ đầu mối quan hệ
Trang 21giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Vấn đề công bằng xã hội khôngchỉ là phương tiện phát triển nền kinh tế hàng hoá mà còn là mục tiêu của chế
độ xã hội mới
Tình hình đó đặt ra cho kinh tế thị trường định hướng XHCN phải kếthợp hài hoà ba vấn đề sau:
Một là, kết hợp vấn đề lợi nhuận và vấn đề xã hội, đảm bảo cho các chủ
thể kinh tế có được lợi nhuận cao, tạo điều kiện kinh tế chính trị - xã hội bìnhthường cho sự phát triển kinh tế
Hai là, kết hợp chặt chẽ nguyên tắc phân phối của CNXH và nguyên
tắc kinh tế hàng hoá: phân phối theo lao động, theo vốn, theo tài năng… trong
đó nguyên tắc phân phối theo lao động là chính
Ba là, điều tiết phân phối thu nhập: Nhà nước cần có chính sách giảm
khoảng cách chênh lệch giữa lớp giàu và lớp nghèo Mặt khác, có biện phápbảo vệ thu nhập chính đáng của toàn xã hội
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN vẫn phải tôn trọngcác quy luật của kinh tế thị trường, bảo đảm môi trường cạnh tranh giữa cácchủ thể kinh tế một cách minh bạch và công bằng
1.1.6 Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
- Nhà nước XHCN có vai trò kinh tế đặc biệt đó là: Tổ chức, quản lý
toàn bộ nền kinh tế quốc dân ở cả tầm vĩ mô và vi mô, trong đó vĩ mô là chủyếu, bởi vì:
+ Nhà nước XHCN là người đại diện cho nhân dân toàn xã hội, nhiệm
vụ tổ chức, quản lý đất nước về mọi mặt hành chính, kinh tế, xã hội
+ Nhà nước XHCN là người đại diện cho sử hữu toàn dân về TLSX cónhiệm quản lý các nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước
+ Nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường, có những mặttích cực và hạn chế, vì vậy cần có sự quản lý của nhà nước để hạn chế mặttiêu cực, phát huy mặt tích cực
Trang 22- Chức năng quản lý kinh tế của nhà nước:
+ Nhà nước tạo môi trường pháp lý thuận lợi và đảm bảo ổn định chính
trị, xã hội cho sự phát triển kinh tế
+ Nhà nước tạo môi trường kinh tế vĩ mô ổn định cho phát triển kinh tế + Nhà nước đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả và lành mạnh + Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến bộ và công bằng xã
hội, đảm bảo định hướng XHCN
1.2 Vai trò của đất đai trong sản xuất, đời sống và phân loại đất
1.2.1 Khái niệm về đất đai
Đất tồn tại từ rất xa xưa, trước khi xuất hiện loài người Từ thủa sinh ra,phát triển qua nhiều thiên niên kỷ, con người đã sống và tồn tại cùng với sựvĩnh hằng của đất Trong con mắt của các nhà chuyên môn, đất có nhiều ýnghĩa khác nhau:
- Nhà địa lý học xem xét đất trong mối liên hệ với cảnh quan thiên
nhiên, nhà kinh tế học coi đất là một nguồn lực
- Nhà làm luật coi đất là một dung tích những không gian xác định
được bằng pháp lý kéo dài từ tâm trái đất tới vũ trụ bao la
- Theo Da le & Mclaughlin (1988), đất là "bề mặt của trái đất, vật chất phía dưới, không khí phía trên và tất cả những thứ gắn với nền đất".
- Theo Lucreotit (Triết gia La Mã thế kỷ I TCN): "Đất là mẹ của muôn loài, không có cái gì không từ lòng mẹ Đất mà ra"
- Theo Williams Petty (Nhà Kinh tế học Italia): "Lao động là cha, đất là
mẹ sinh sản ra mọi của cải vật chất của thế giới này"
- Tục ngữ Việt Nam ta có câu "Người ta là hoa đất" Theo Phan HuyChú (1 8 1 7): "Của báu của một nước không có gì bàng đất đai Nhân dân vàcủa cải đều do đấy mà ra" Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Việt Nam có haitiếng Tổ quốc Ta gọi Tổ quốc là đất nước; có đất, có nước mới thành Tổquốc Có đất lại có nước thì dân giầu, nước mạnh"
Trang 23- Đất như là không gian: theo khái niệm này, đất cố định về mặt địnhlượng theo bề mặt của trái đất và khoảng không bên trên, có vị trí cố định,diện tích hiện hữu, chất lượng biến đổi theo thời gian Đất được coi như mộtkhu vực hay một nhất thể khống gian từ một thửa đất đến một đất nước chođến cả hành tinh.
Đất là sự gắn kết về tinh thần: đất được coi là vị thần linh, nơi con
người gắn số phận của mình vào đó hơn là làm chủ sở hữu nó
Đất là cộng đồng lãnh thổ: là một khu vực thuộc chủ quyền của một
nhóm người có cùng huyết thống hoặc cùng quyền lợi và các giá trị khác của
cá nhân và tập thể, đó là quê hương, quốc gia của họ
Đất như là vị trí địa lý: là nơi diễn ra các hoạt động của cuộc sống, bao
gồm cả các hoạt động án ở, sinh hoạt và lao động, sản xuất ra của cải xã hội
Đất như là nguồn vốn: trong nền kinh tế thị trường đất được coi là
nguồn vốn vì khả năng có thể tạo vốn do thế chấp
Đất như là môi trường: càng ngày đất càng được coi như một nguồn
thiên nhiên với giá trị vô cùng quý hiếm đối với cuộc sống con người Điềunày đã được xác định trong Chương trình Nghị sự 21 (Liên Hiệp quốc)
Đất như là tài sản: đó là quyền của cá nhân hay tập thể đối với đất, tạo
ra bởi tập tục, quy ước hay luật pháp, trở thành tài sản cá nhân hay cộng đồng
Luật Đất đai của Việt Nam quy định rõ: Đất đai là tài nguyên quốc gia
vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàngđầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ
sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng
1.2.2 Đặc điểm của đất đai trong sản xuất, đời sống
Đất đai là điều kiện vật chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất vàhoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động (cho môi trường để tácđộng như: Xây dựng nhà xưởng, bố trí máy móc, làm đất ), vừa là phươngtiện lao động (dùng để gieo trồng, nuôi gia súc ) Vì vậy, đất đai là "Tư liệu
Trang 24sản xuất", tuy nhiên cần lưu ý các tính chất đặc biệt của loại tư liệu sản xuất làđất so với khác như sau:
- Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận
thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động là điều kiện
tự nhiên của lao động Chỉ tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội, dướitác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu xản xuất Trong khi đó các
tư liệu sản xuất khác là kết quả của lao động có trước của con người (do conngười tạo ra)
- Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất
(số lượng) bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu Các tư liệu sảnsuất khác có thể tăng về khối lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu của xã hội
- Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lýợng, hàm
lýợng chất dinh dưỡng, các tính chất lý hoá (quyết định bởi các yếu tố hìnhthành đất cùng chế độ sử dụng đất khác nhau), các tư liệu sản xuất khác có thểđồng nhất về mặt chất lượng, quy cách tiêu chuẩn (mang tính tương đối doquy trình công nghệ quyết định )
- Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc
không thể làm được Các tư liệu sản xuất khác phải tuỳ thuộc vào mức độphát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuấtkhác hoàn thiện hơn có hiệu quả kinh tế hơn
- Tính cố định về vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định vị trí trong sử dụng.
Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi, chỗ mọi nơi có thể di chuyểntrên các khoảng cách khác nhau tuỳ theo sự cần thiết
- Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ
không bị hư hỏng, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả
sử dụng đất Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phươngthức sử dụng là tính chất có giá trị đặc biệt, không tư liệu sản xuất nào cóđược Các tư liệu sản xuất khác đều bị hư hỏng dần (hiệu ích sử dụng giảm vàcuối cùng bị loại khỏi quá trình sản xuất)
Trang 251.2.3 Vai trò của đất đai trong sản xuất và đời sống
Đất đai do tự nhiên tạo ra, có trước con người và là cơ sở để tồn tại vàphát triển của xã hội loài người Sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngườicho thấy đất đai là một tài nguyên vô giá và chứa đựng sẵn trong đó các tiềmnăng của sự sống, tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con ngườitrên trái đất Chính vì vậy, đất đai có vai trò ngày càng quan trọng Đất đai là tưliệu sản xuất đặc biệt, tham gia vào hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, có vịtrí cố định, không di chyển được cũng không thể tạo ra thêm tuy nhiên đất đai lại
có khả năng tái tạo thông qua độ phì nhiêu của đất Con người không thể tạo rađất đai nhưng bằng lao động của mình con người tác động vào đất, cải tạo đất đểtạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho cuộc sống của con người Vì thế đấtđai vừa là sản phẩm của tự nhiên lại vừa là sản phẩm của lao động Đối với mỗilĩnh vực, đất đai lại có vai trò quan trọng khác nhau
- Trong ngành nông nghiệp, đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng, nó
vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động Con người khai phá đấthoang để chăn nuôi trồng trọt, cũng nhờ có đất mà cây trồng mới có thể sinhtrưởng và phát triển được, cung cấp lương thực thực phẩm để nuôi sống conngười Cho nên nếu không có đất, các hoạt động sản xuất nông nghiệp sẽkhông thể tiến hành được
- Trong ngành công nghiệp và các ngành khai khoáng, đất được khai
thác để làm gạch ngói, đồ gốm phục vụ cho ngành xây dựng Đất còn làm nềnmóng, là địa điểm để tiến hành các hoạt động thao tác, là chỗ đứng cho côngnhân trong sản xuất công nghiệp
Trong cuộc sống, đất đai còn là địa bàn phân bố khu dân cư, là nơi đểxây dựng nhà ở, hệ thống đường sá giao thông, các toà nhà cao tầng, các côngtrình văn hoá kiến trúc tạo nên bộ mặt tổng thể của một quốc gia
Ngoài ra, đất đai còn là nơi để xây dựng các tụ điểm vui chơi giải trí,thể dục thể thao, xây dựng các di tích lịch sử, các danh lam thắng cảnh đểthoả mãn nhu cầu cuộc sống hàng ngày của con người
Trang 26Mặt khác, đất đai còn là bộ phận lãnh thổ quốc gia Nói đến chủ quyềncủa một quốc gia là phải nói đến sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia đó Để bảo
vệ toàn vẹn lãnh thổ, nhà nước phải sử dụng quyền lực của mình để bảo vệđất đai, ngăn chặn sự xâm lấn của các thế lực bên ngoài Trải qua các cuộcđấu tranh dựng nước và giữ nước, đất đai của nước ta ngày nay là thành quảcủa bao thế hệ đã hy sinh xương máu, dày công vun đắp mới có được Từ đóđất đai trở thành giá trị thiêng liêng và vô cùng quý giá, đòi hỏi chúng ta phảigiữ gìn, sử dụng hợp lý đất đai
Vai trò to lớn của đất đai chỉ có thể phát huy một cách đầy đủ khi mà
có sự tác động tích cực của con người một cách thường xuyên Nếu như conngười sử dụng, khai thác kiệt quệ độ phì nhiêu của đất mà không bồi dưỡngcải tạo đất thì vai trò to lớn của đất đai sẽ không thể được phát huy Sự hạnchế về mặt diện tích đất cùng với sự hạn chế trong việc khai thác tiềm năngđất do tiến bộ khoa học kỹ thuật đòi hỏi con người phải biết tính toán đánh giáđầy đủ về đất đai để có thể khai thác hiệu quả nhất
1.2.4 Phân loại đất
Phân loại đất để phục vụ cho mục tiêu quản lý, khai thác sử dụng chotừng mục đích cụ thể Mục đích của phân loại là nắm vững tính chất đặc điểmcủa từng loại đất, thực trạng khai thác quản lý sử dụng đất để tìm ra nhữngbiện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng từng loại đất
Đất đai ở nước ta bao gồm nhiều loại Điều 13, Luật Đất đai năm 2003
đã quy định: Căn cứ vào mục đích sử dụng đất, đất đai được phân thành 3nhóm như sau:
- Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất:
1 Đất trồng cây hàng năm gồm đất lúa, đất đồng cỏ dùng vào chănnuôi, đất trồng cây hàng năm khác;
2 Đất trồng cây lâu năm;
3 Đất rừng sản xuất;
Trang 274 Đất rừng phòng hộ;
5 Đất rừng đặc dụng;
6 Đất nuôi trồng thuỷ sản;
7 Đất làm muối;
8 Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuấtnông nghiệp trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thínghiệm về nông nghiệp Đất nông nghiệp vừa là đối tượng lao động vừa là tưliệu lao động cho nên nó có vai trò hết sức quan trọng để tạo ra lương thựcthực phẩm nuôi sống con người
- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm:
1 Đất ở gồm: đất ở tại nông thôn và đất ở tại đô thị;
2 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp;
3 Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;
4 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khucông nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinhh doanh; đất sửdụng cho hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm;
5 Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi;đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thểthao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lamthắng cảnh; đất xây dựng các công trình công cộng khác theo quy đinh củaChính phủ;
6 Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng;
7 Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;
8 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;
9 Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ
- Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục
đích sử dụng đất Nó đồng nghĩa với đất hoang theo nghĩa chưa có chủ cụ thể
Trang 28và chưa được đưa vào khai thác sử dụng, nó bao hàm đất có khả năng nôngnghiệp - lâm nghiệp thuỷ sản hoặc đất có thể đưa hoặc đã đưa vào hoạt độngnhưng còn đang trong quá trình chuyển giao hoặc xác lập quyền sử dụng hợppháp tạm thời chưa sử dụng.
Đất chưa sử dụng dùng để bổ sung cho các loại đất khác, đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy vậy hiện nay đất chưa sử dụng vẫn cònnhiều Chính sách giao đất cho các nông - lâm trường trước đây không cânđối giữa điều kiện khai thác với đất đai làm cho đất đai bị bỏ hoang hoá Ngaytại các trung tâm công nghiệp, các thành phố cũng để đất đai không sử dụng
do chính sách cho không đất cho các xí nghiệp, do chưa có sự đầu tư mộtcách hợp lý
1.3 Quản lý nhà nước đối với đất đai theo nguyên tắc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
1.3.1 Khái niệm
QLNN đối với đất đai là hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước vừavới chức năng đại diện sở hữu toàn dân về đất đai, vừa với chức năng quản lýnhà nước về đất đai như tất cả các nhà nước khác
Xét về mặt pháp lý, QLNN về đất đai được phân ra thành chủ thể quản
lý và khách thể quản lý, đối tượng quản lý
+ Chủ thể quản lý: là Nhà nước
+ Khách thể quản lý: là các tổ chức
+ Đối tượng quản lý: là toàn bộ tài nguyên đất đai thuộc lãnh thổ
- Sự tác động của chủ thể quản lý (được lập ra theo yếu tố chủ quan củacon người do tác động của mục tiêu quản lý của Nhà nước) lên đối tượngquản lý là yếu tố khách quan, nó tồn tại và phát triển theo qui luật của nó, (tuynhiên nó luôn chịu tác động của chủ thể quản lý) Khách thể quản lý (luật gọichung bằng thuật ngữ là người hoặc đối tượng) SDĐ thông qua môi trườngquản lý (là tổng thể các thể chế quy định về các mối quan hệ đất đai theo quy
Trang 29định của pháp luật) Môi trường quản lý chịu ảnh hưởng của cơ sở hạ tầng của
xã hội, chế độ chính trị và mục tiêu phát triển xã hội của giai cấp thống trị xã hội
- Sự tác động là quá trình hoạt động mang tính quyền lực của Nhànước, của chủ thể quản lý và khách thể quản lý lên đối tượng quản lý là đấtđai Nó được thực hiện qua chức năng quản lý và bằng các công cụ quản lý,theo những nguyên tắc và bằng những phương pháp nhất định, tuỳ thuộc vàotừng thời điểm cụ thể do hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội qui định
Hệ thống các công cụ QLNN đối với đất đai đang được triển khai thực
hiện ở nước ta hiện nay gồm: Pháp luật; Quy hoạch; Kinh tế; Hành chính
- Như vậy, có thể xác định khái niệm quản lý nhà nước đối với đất đai
ở nước ta như sau: QLNN đối với đất đai là sự tác động liên tục, có địnhhướng mục tiêu của bộ máy nhà nước lên đối tượng SDĐ, nhằm thực hiệnmục tiêu chung đề ra trong những điều kiện và môi trường kinh tế nhất định,trên nguyên tắc cao nhất Nhà nước là đại diện sở hữu toàn dân về đất đai trựctiếp tham gia vận hành thị trường, để thực hiện quyền về kinh tế của sở hữu
và các chức năng khác của Nhà nước
Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản
lý Nhà nước đại diện cho nhân dân để quản lý toàn bộ quỹ đất đai trongphạm vi lãnh thổ của nhà nước Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền địnhđoạt số phận của đất đai thông qua việc nhà nước giao đất, cho thuê, thu hồiđất khi cần thiết Các đối tượng sử dụng đất chỉ có quyền sử dụng đất theoquy định của pháp luật
Quản lý đất đai là một biện pháp cách thức quan trọng mà nhà nước sửdụng nhằm hạn chế hoặc ngăn chặn những hành vi xâm phạm chế độ cônghữu đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chủ sở hữu đất đai vàngười sử dụng đất, ổn định phương thức sử dụng đất đai XHCN Nói tóm lại
đó là toàn bộ các quy phạm pháp luật mà nhà nước sử dụng để điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước đối với đất đai Các
Trang 30quan hệ xã hội đối với đất đai bao gồm quan hệ về sở hữu đất đai, quan hệ về
sử dụng đất đai, quan hệ về phân phối các sản phẩm tạo ra do sử dụng đất
1.3.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về đất đai
Đối với nước ta, xuất phát từ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là xâydựng Việt Nam thành một nước XHCN theo cơ chế thị trường Với mục tiêunhư vậy, trong các Đại hội Đảng đã xác định nước ta đi theo con đường CNH-HĐH nhưng xuất phát điểm của nước ta là từ một nước nền kinh tế nghèo nànlạc hậu Chúng ta phải xây dựng nhà nước pháp quyền để quản lý mọi lĩnhvực đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai Nhà nước giao đất cho các hộ gia đình
sử dụng lâu dài ổn định, nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vàquyền sở hữu nhà ở
Khi tham gia vào nền kinh tế thị trường, đất đai có sự thay đổi căn bản
về bản chất kinh tế - xã hội: Từ là tư liệu sản xuất, điều kiện sống chuyểnsang là tư liệu sản xuất chứa đựng yếu tố sản xuất hàng hoá, phương diệnkinh tế của đất trở thành yếu tố chủ đạo quy định sự vận động của đất đai theohướng ngày càng nâng cao hiệu quả Đặc biệt trong tình hình hiện nay, giá đấtcũng như lợi nhuận khi đầu tư vào đất tăng cao vùn vụt đã khiến cho tìnhtrạng tranh chấp lấn chiếm đất đai xảy ra, làm ảnh hưởng đến mọi mặt củađời sống kinh tế - xã hội Trong sản xuất nông nghiệp, khi tham gia vào cơchế thị trường đất đai cũng chứa đựng nguy cơ quay về sản xuất tự cấp tựtúc nếu người sử dụng đất không đủ năng lực, nếu thị trường bất lợi kéodài Hơn nữa, đất đai cũng là một nguồn vốn tham gia vào sản xuất hànghoá, việc sử dụng đất lại rất cần có vốn cho nên hình thành thị trường đấtđai là một là một động lực quan trọng để góp phần hoàn thiện hệ thống thịtrường quốc gia Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước về đất đai là hết sứccần thiết nhằm phát huy những ưu thế của cơ chế thị trường và hạn chếnhững khuyết tật của thị trường khi sử dụng đất đai, ngoài ra còn làm tăngtính pháp lý của đất đai
Trang 31Tóm lại, việc khai thác những ưu điểm và hạn chế những khuyết tật của
cơ chế thị trường đặc biệt là các quan hệ đất đai vận động theo cơ chế thịtrường thì không thể thiếu được sự quản lý của nhà nước với tư cách là chủthể của nền kinh tế quốc dân Nhà nước thực hiện chức năng quản lý là mộtđòi hỏi khách quan, là nhu cầu tất yếu trong việc sử dụng đất đai Nhà nướckhông chỉ quản lý bằng công cụ pháp luật, các công cụ tài chính mà nhà nướccòn kích thích, khuyến khích đối tượng sử dụng đất hiệu quả bằng biện phápkinh tế Biện pháp kinh tế tác động trực tiếp đến lợi ích của người sử dụng đất
và đây là một biện pháp hữu hiệu trong cơ chế thị trường, nó làm cho các đốitượng sử dụng đất có hiệu quả hơn, làm tốt công việc của mình, vừa bảo đảmđược lợi ích cá nhân cũng như lợi ích của toàn xã hội Như vậy, để sử dụng vàquản lý đất đai, một cách tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả nhất thiết phải tăngcường việc QLNN
1.3.3 Mục đích của quản lý nhà nước về đất đai
Nhà nước thống nhất quản lý đất đai là nhằm vào các mục đích sau:
- Phù hợp với nền kinh tế thị trường có nhiều thành phần kinh tế trongquản lý và sử dụng đất đai
- Xoá bỏ tình trạng vô chủ trong quản lý và sử dụng đất đai bảo đảmquyền làm chủ thực sự gắn liền với lợi ích kinh tế và tạo điều kiện để người
sử dụng đất khai thác thật tốt tiềm năng đất đai và hoàn thành tốt nghĩa vụ của
họ đối với nhà nước
- Giao đất trên cơ sở hiệu quả kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình tậptrung ruộng đất hợp lý theo từng vùng, và từng loại đất gắn với việc phâncông lại lao động xã hội, giải quyết các quan hệ đất đai trên cơ sở phát triểnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý củaNhà nước ở tầm vĩ mô, khuyến khích mọi hình thức sử dụng đất đai có hiệuquả đồng thời nghiêm cấm đầu cơ đất đai để thu lợi bất chính
Trang 32- Đảm bảo công bằng, bình đẳng trong quan hệ đất đai, đảm bảo ổnđịnh và đoàn kết trong nhân dân, tạo được động lực mới để tiếp tục phát triểntoàn diện kinh tế - xã hội ở cả khu vực nông thôn và thành thị.
- Giải quyết các quan hệ đất đai trên cơ sở hiện trạng phù hợp với điềukiện lịch sử và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở từng vùng, giữ vững thànhquả cách mạng, không thừa nhận việc đòi lại "Đất ông cha"
- Xây dựng cơ sở pháp lý để điều tiết các quan hệ đất đai vận độngtrong quá trình phát triển sản xuất hàng hoá, đảm bảo cho người sử dụng đất
và cơ quan pháp lý Nhà nước về đất đai, thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa
vụ của mình, đảm bảo trật tự, kỷ cương trong quản lý sử dụng đất
1.3.4 Vai trò quản lý nhà nước về đất đai
Cơ chế quản lý kinh tế mới hiện nay ở nước ta là cơ chế thị trường có
sự quản lý của nhà nước bằng các công cụ kế hoạch, pháp luật, chính sách…Nhà nước đóng vai trò điều tiết vĩ mô nhằm phát huy những mặt tích cực, hạnchế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường Cơ chế thị trường không làm giảmnhẹ vai trò quản lý của nhà nước mà đòi hỏi tăng cường quản lý Hơn nữa chúng
ta đang thực hiện quá trình đổi mới, mở rộng quan hệ quốc tế trong xu thế toàncầu hoá, càng đòi hỏi tăng cường vai trò quản lý của nhà nước đặc biệt là tronglĩnh vực đất đai Vấn đề đặt ra là nhà nước phải có phương thức quản lý để phùhợp với sự vận động của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, phương thứcquản lý hợp lý để có thể vận dụng đầy đủ các quy luật khách quan của nền kinh
tế như quy luật giá cả, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầu
Trong điều kiện kinh tế bao cấp, các mối quan hệ về sử dụng đất thật sựchưa gắn bó với kết quả sản xuất, hiệu quả sử dụng đất Giá trị to lớn của đấtđai chưa được phát huy đầy đủ, sản phẩm làm ra là tự cấp tự túc, chưa có sựtrao đổi hàng hoá Sau khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, do chú trọng gắn lợi íchvới trách nhiệm của người sử dụng đất cho nên đất đai được sử dụng ngàycàng hiệu quả hơn
Trang 33Đất đai là một tư liệu sản xuất đặc biệt, là phương tiện để phát triển sảnxuất liên quan mật thiết đến các hoạt động kinh tế - xã hội và liên quan đếnquy hoạch tổng thể chung của cả nền kinh tế.
Vai trò của nhà nước trong quản lý đất đai là một yêu cầu cần thiết đểđiều hoà các mối quan hệ giữa chủ thể quản lý là nhà nước và người sử dụngđất Vai trò quản lý của nhà nước về đất đai như sau:
- Thông qua hoạch định chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phân bổ đất đai
có cơ sở khoa học nhằm phục vụ cho các mục đích kinh tế - xã hội của đất nước.Bằng các công cụ đó, Nhà nước sẽ đảm bảo cho việc sử dụng đất đúng mụcđích, đạt hiệu quả cao, giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ đất đai, giúp chongười sử dụng đất có biện pháp hữu hiệu để khai thác đất Nhờ có quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất, từng miếng đất, lô đất sẽ được giao cho các đối tượng cụ thể
để thực hiện các mục tiêu quan trọng của nhà nước, ví dụ như quy hoạch khuxóm Liều Thanh Nhàn để xây dựng Công viên Tuổi Trẻ Đó là mục đích đượchoạch định từ trước, thông qua quy hoạch, đất đai sẽ không bị bỏ hoang, xoá bỏđược các tụ điểm tệ nạn xã hội để xây dựng thành khu vui chơi giải trí
- Thông qua công tác đánh giá phân hạng đất, Nhà nước nắm chắc toàn
bộ quỹ đất đai cả về số lượng và chất lượng làm căn cứ cho các biện phápphát triển kinh tế - xã hội có hệ thống, có căn cứ khoa học nhằm sử dụng đấtđai hiệu quả và hợp lý
- Thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai, Nhànước tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các tổ chứckinh tế, doanh nghiệp, cá nhân trong quan hệ về đất đai Bằng hệ thống phápluật và các văn bản pháp quy, Nhà nước xác định địa vị pháp lý cho các đốitượng sử dụng Trên cơ sở đó nhà nước điều chỉnh hành vi của các đối tượng
sử dụng đất, hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là không hợp pháp
- Thông qua việc ban hành và thực hiện hệ thống chính sách về đất đainhư chính sách giá cả, chính sách thuế, đầu tư, chính sách tiền tệ, tín dụng…
Trang 34nhà nước kích thích các chủ thể kinh tế, các cá nhân sử dụng đầy đủ, hợp lýđất đai, tiết kiệm đất nhằm nâng cao khả năng sinh lời của đất, góp phần thựchiện mục tiêu kinh tế - xã hội của cả nước và để bảo vệ môi trường Các chínhsách đất đai là những công cụ để nhà nước thực hiện vai trò quản lý trongtừng giai đoạn nhất định Nhà nước tạo môi trường thông thoáng, cải cách cácthủ tục đầu tư, điều chỉnh các công cụ quản lý đó để tăng đầu tư vào đất.
- Thông qua việc kiểm tra, giám sát quản lý và sử dụng đất, Nhà nướcnắm chắc tình hình diễn biến về sử dụng đất đai, phát hiện những vi phạm vàgiải quyết nhũng vi phạm đó Với vai trò này, nhà nước đảm bảo cho các quan
hệ sử dụng đất đai được vận hành theo đúng quy định của Nhà nước Với việckiểm tra giám sát, nhà nước có nhiệm vụ phát hiện kịp thời các sai sót, áchtắc, các vi phạm trong sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân Vai trònày được nhà nước tiến hành với nhiều nội dung khác nhau: Kiểm tra tìnhhình thực hiện kế hoạch của các ngành các cấp; kiểm tra, giám sát việc chấphành thực hiện các văn bản pháp lý, chủ trương chính sách của nhà nước;kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng đất của cả nước cũng như của từng hộ giađình cá nhân; kiểm tra các công cụ và chính sách quản lý; kiểm tra việc thựchiện các vai trò, chức năng quản lý của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vựcquản lý đất đai
1.3.5 Nội dung của quản lý nhà nước đối với đất đai theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nội dung của quản lý nhà nước đối với đất đai là việc Nhà nước sửdụng những phương pháp, biện pháp, những phương tiện, công cụ quản lý,thông qua hoạt động của bộ máy quản lý để thực hiện chức năng quản lý củaNhà nước đối với đất đai, nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra:
- Thực hiện quyền đại diện sở hữu toàn dân về đất đai - đó là các quyềnđịnh đoạt đối với đất đai (quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; giáđất ), thực hiện các quyền lợi về kinh tế trong quản lý SDĐ, tiến hành giao
Trang 35đất hoặc cho thuê đất (Nhà nước tham gia trực tiếp vào vận hành thị trườngđất đai).
- Thực hiện chức năng của Nhà nước thống nhất quản lý đất đai trongphạm vi cả nước nhằm sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm và bảo vệnguồn tài nguyên đất đai
- Với bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sảnViệt Nam lãnh đạo, ở nước ta không thể tách rời chức năng đại diện sở hữuđất đai toàn dân và các chức năng khác của Nhà nước trong quản lý nhà nước
về đất đai Các nội dung QLNN về đất đai bao gồm:
1 Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đấtđai và tổ chức thực hiện các văn bản đó
2 Xác định đại giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hànhchính, lập bản đồ hành chính
3 Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản
đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
4 Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
5 Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sửdụng đất
6 Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấychứng nhận quyền sử dụng đất
7 Thống kê, kiểm kê đất đai
8 Quản lý tài chính về đất đai
9 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trườngbất động sản
10 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất
11 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp luật vềđất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai
Trang 3612 Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo các viphạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai.
13 Quản lý các hoạt động dịch vụ về đất đai
1.4 Những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đất đai
1.4.1 Nhân tố chính sách, pháp luật
Ý chí của toàn Đảng, toàn dân về vấn đề đất đai đã được thể hiện trongđường lối, chủ trương, các văn kiện, nghị quyết của Đảng, trong hệ thống cácvăn bản pháp luật như: Hiến pháp, Luật và các văn bản dưới luật Những vănbản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác lập định hướng, kế hoạch
sử dụng và đặc biệt là công tác quản lý nhà nước về đất đai, giúp giải đáp vềmặt nguyên tắc đối với những câu hỏi đặt ra: Sự cần thiết tăng cường quản lýnhà nước sử dụng đất đai? Trách nhiệm QLNN về sử dụng đất đai? Nội dungQLNN về sử dụng đất đai? Thẩm quyền QLNN của các cấp sử dụng đất đai?
Từ Đại hội Đảng khoá VI (1986), VII (1991), VIII (1996), IX (2001),Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Nghị quyết Đại
hội Đảng khoá VIII xác định: "Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN"; "Tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường"; Nghị quyết lần thứ IX xác định: "Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của thị trường; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước Thúc đẩy sự hình thành phát triển và từng bước nâng hoàn thiện các loại thị trường quan trọng nhưng hiện chưa có hoặc còn sơ khai như: thị trường bất động sản" Cơ chế quản lý đất đai cũng
được đổi mới đáp ứng yêu cầu đổi mới cơ chế kinh tế Chính sách đất đai củaĐảng đã được thể chế hoá Tiếp theo Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII
xác định: "Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường bất động sản Đất đai thuộc
Trang 37sở hữu toàn dân, không tư nhân hoá, không cho phép mua bán đất đai Trong việc giao quyền sử dụng đất và cho thuê đất phải xác định đúng giá các loại đất để sử dụng có hiệu quả"; Nghị quyết Đảng lần thứ IX tiếp tục khẳng định:
"Hình thành và phát triển thị trường bất động sản, bao gồm cả quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; từng bước mở thị trường bất động sản cho người Việt Nam ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia đầu tư"; Nghị
quyết Đại hội Đảng VIII, IX đã xác lập chủ trương, mở đường cho sự hìnhthành và phát triển thị trường bất động sản Việt Nam, góp phần tiếp tục tạolập đồng bộ các yếu tố thị trường trong cơ chế quản lý kinh tế thị trường địnhhướng XHCN
Trên cơ sở chủ trương, đường lối của Đảng, để tăng cường QLNN vềđất đai, Hiến pháp, các văn bản pháp luật đã được ban hành:
- Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã
khẳng định:
+ Về chế độ sở hữu đất đai:
(Điều 17, chương II): "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân”.
(Điều 23, chương II): "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị
quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tàisản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường"
+ Chế độ quản lý và sử dụng đất đai:
(Điều 18, chương II): "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo
quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả Nhànước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài Tổ chức và cánhân có trách nhiệm bảo vệ, bồi bổ, khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm đất, đượcchuyển quyền sử dụng đất Nhà nước giao theo quy định của pháp luật"
(Điều 23, chương II): "Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức không bị
quốc hữu hoá Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh
Trang 38và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tàisản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường".
- Luật đất đai năm 2003 cũng nêu rõ:
+ Về chế độ sở hữu đất đai:
Điều 5: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu" Điều 7: "Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất
đai và thống nhất quản lý nhà nước về đất đai"
1 Quốc hội ban hành pháp luật về đất đai, quyết định quy hoạch, kếhoạch sử dụng đất của cả nước; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việcquản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước
2 Chính phủ quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương và quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vào mụcđích quốc phòng, an ninh; thống nhất quản lý nhà nước về đất đai trong phạm
+ Người sử dụng đất (Điều 9) đã hoàn chỉnh quy định về người sử dụng
bao gồm 7 thành phần, đó là:
1 Các tổ chức trong nước
2 Hộ gia đình, cá nhân trong nước
3 Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam
4 Cơ sở tôn giáo
5 Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao
Trang 396 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư.
7 Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo pháp luật vềđầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất
+ Quyền sử dụng đất: Luật đất đai năm 2003 đã quy định các quyền
chung của người sử dụng đất và quy định chi tiết gồm 9 quyền: chuyển đổi,chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất,thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất
+ Quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản (Điều 61): lần đầu
tiên quy định cụ thể về thị trường bất động sản: quy định cụ thể các loại đấtđược tham gia thị trường bất động sản bao gồm:
+ Nguồn thu ngân sách nhà nước từ đất đai (Điều 54:)
+ Giá đất (Điều 55): quy định có có 3 loại:
1 Do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy địnhgiá theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 56 của luật này
2 Do đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án có sử dụng đất
3 Do người sử dụng đất thoả thuận về giá đất với những người có liênquan khi thực hiện các quyền chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sửdụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
- Các văn bản pháp quy về quản lý đất đai
Sau khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành, Chính phủ đã banhành 20 nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai về quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất; về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; về giá đất, tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất; về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; về
xử phạt vi phạm hành chính
Ban hành các nghị định điều chỉnh các vấn đề liên quan đến đất đai nhưcác Nghị định hướng dẫn về Luật đầu tư, Luật nhà ở, Luật xây dựng, Luật quyhoạch đô thị, Luật kinh doanh bất động sản, Luật công chứng, Luật thanh tra,Luật khiếu nại, tố cáo, Luật tài sản công, các luật thuế liên quan đến sử dụng đất
Trang 40Ban hành 12 chỉ thị và 17 quyết định chỉ đạo, đôn đốc các bộ, ngành,địa phương triển khai thi hành Luật đất đai.
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Tư pháp, Bộ Xây dựng, Bộ Tàichính và các bộ, ngành có liên quan đã ban hành hơn 230 văn bản Trong đó:
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành 28 thông tư, 17 thông tư liên tịch
và 15 quyết định; các bộ, ngành khác ban hành 30 văn bản hướng dẫn thihành Luật đất đai và hơn 140 văn bản liên quan đến lĩnh vực đất đai
1.4.2 Nhân tố xã hội
Bao gồm các yếu tố như: Chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin,quản lý, chính sách môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng,sức sản xuất, trình độ phát triển của kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân
bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giaothông vận tải, sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụnglao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồnnhân lực đưa khoa học - kỹ thuật vào sản xuất
Nhân tố kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối vớiviệc sử dụng đất đai Thực vậy, phương hướng sử dụng đất được quyết địnhbởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điềukiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng và phươngthức sử dụng đất Còn sử dụng đất như thế nào, được quyết định bởi sự năngđộng của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội kỹ thuật hiện có; quyếtđịnh bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và mức độ đáp ứng củachúng; quyết định bởi nhu cầu thị trường
Trong một vùng hoặc trên phạm vi một nước, điều kiện vật chất tựnhiên của đất đai thường có sự khác biệt không lớn, về cơ bản là giống nhau.Như điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau dẫn đến tình trạng có vùng đất đượckhai thác triệt để từ lâu đời và đã đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội rất cao; cónơi thì bỏ hoang hoá hoặc khai thác với hiệu quả rất thấp có thể nhận thấy,