Môi trường là tất cả những gì xung quanh con người, tác động ảnh hưởng tới đời sống con người, cũng như chịu ảnh hưởng của những hoạt động của con người. Môi trường trong lành có tác dụng bảo vệ con người khỏi các nguy cơ đối với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống. Ngược lại môi trường trở lên không trong lành khi chính các chất thải không được con người quản lý tốt gây nên, phá hoại ngay chính sức khẻo và cuộc sống của chính mình. * Sức khoẻ môi trường và các yếu tố gây nguy hại: Sức khoẻ môi trường là trạng thái sức khoẻ của con người liên quan và chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh. Môi trường không trong lành gây nên 25 % trong tổng số các loại bệnh; trong đó 80% bệnh tật là do nước hoặc liên quan đến nước. Năm 2003, 10/26 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc/ 100.000 dân cao nhất theo thứ tự là cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết, lỵ trực khuẩn,quai bị, lỵ amib, HIV/ AIDS, viêm gan virus, thuỷ đậu…Như vậy khoảng một nửa trong số các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh liên quan tới nước và VSMT (Thống kê các bệnh truyền nhiễm 2003 - Cục Y tế dự phòng Việt Nam)
Trang 1DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
VSVT Vệ sinh môi trường
SD/SXHD Sốt Dengue/Sốt xuất huyết Dengue
KHHGĐ Kế hoạch hoá gia đình
SKMT Sức khoẻ môi trường
Trang 2TỔNG QUAN TÀI LIỆU:
1.Môi trường và sức khoẻ:
Môi trường là tất cả những gì xung quanh con người, tác động ảnhhưởng tới đời sống con người, cũng như chịu ảnh hưởng của những hoạtđộng của con người Môi trường trong lành có tác dụng bảo vệ con ngườikhỏi các nguy cơ đối với sức khoẻ và chất lượng cuộc sống Ngược lại môitrường trở lên không trong lành khi chính các chất thải không được conngười quản lý tốt gây nên, phá hoại ngay chính sức khẻo và cuộc sống củachính mình
* Sức khoẻ môi trường và các yếu tố gây nguy hại:
Sức khoẻ môi trường là trạng thái sức khoẻ của con người liên quan
và chịu tác động của các yếu tố môi trường xung quanh
Môi trường không trong lành gây nên 25 % trong tổng số các loạibệnh; trong đó 80% bệnh tật là do nước hoặc liên quan đến nước Năm
2003, 10/26 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ mắc/ 100.000 dân caonhất theo thứ tự là cúm, tiêu chảy, sốt rét, sốt xuất huyết, lỵ trực khuẩn,quai
bị, lỵ amib, HIV/ AIDS, viêm gan virus, thuỷ đậu…Như vậy khoảng mộtnửa trong số các bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc cao nhất là những bệnh
liên quan tới nước và VSMT (Thống kê các bệnh truyền nhiễm 2003 - Cục
Y tế dự phòng Việt Nam)
Các yếu tố truyền thống gây nguy hại tới môi trường như: Thiếu nướcsạch, ô nhiễm không khí trong nhà do chất đốt, nhà cửa ẩm thấp, ở ngaycạnh chuồng gia súc, bệnh tật do côn trùng trung gian truyền bệnh như sốtrét, SD/SXHD, phong tục tập quán, thói quen của người dân không hợp vệsinh
Các yếu tố hiện đại gây nguy hại tới môi trường như: Hoá chất và cáchất gây ô nhiễm nước và đất (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), ô nhiễmkhông khí ngoài trời do các chất thải từ khu công nghiệp, các khu đô thị…
Trang 3* Một số bệnh liên quan đến môi trường:
Gồm 5 nhóm bệnh:
- Các bệnh đường ruột: tả, lỵ, thương hàn, viêm gan A, ỉa chảy…
- Các bệnh ký sinh trùng: Giun đũa, giun móc, giun tóc, giun kim…
- Các bệnh do muỗi truyền: Bệnh sốt rét SD/SXHD, viêm não…Các loại muỗi là vật trung gian truyền bệnh:
- Các bệnh về mắt, ngơài da, phụ khoa: đau mắt hột, đau mắt đỏ,ghẻ, chàm, nấm, viêm phần phụ…
Bệnh thường lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành mà nguyênnhân chính là do thiếu nước sạch
- Bệnh do hoá chất và chất độc: một số chất hoá học có trong nước cóthể gây bệnh cho người khi bị thừa hoặc thiếu chúng ở trong nước nhưflour, iốt, chì, thạch tín…
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu và thực tế của địa phương, chúng tôi
đi sâu vào phân tích vấn đề môi trường và bệnh SD/SXHD
2 SXH và các yếu tố nguy cơ từ môi trường:
Bệnh Sốt Degue/SXH Degue (SD/SXHD) là bệnh nhiễm virus cấptính, gây dịch do muỗi truyền Bệnh lưu hành trên 100 nước thuộc các khuvực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây TháiBình Dương Bệnh có tác hại đến khoảng 2.5 tỷ người Đại dịchSD/SXHD bắt đầu từ những năm cuối thế kỷ 20 với số mắc hàng nămkhoảng 10 triệu người, trong đó có hơn 90% trường hợp mác ở độ tuổi dưới
15 Tỷ lệ chết trung bình khoảng 5% với khoảng 240.000 trường hợp mỗinăm Tại Đại hội đồng Tổ chức Y tế Thế giới tháng 5-1998, bà Tổng Giámđốc Gro Harlem Brundtlan đã tuyên bố: “Thế kỷ 21 là thế kỷ phòng chốngbệnh SXH…
Việt Nam có số mắc và chết do SD/SXHD gia tăng kể từ năm 1994trở lại đây Bệnh đã và đang trở thành vấn đề y tế nghiêm trọng ở nước ta.Năm 1998, số mắc và tử vong do SD/SXHD rất cao với 234.920 trường
Trang 4hợp mắc, 337 trường hợp tử vong tại 56/61 tỉnh, thành phố Vì vậy, ngày10-1014998, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 196/1998/QĐ-TTgđưa dự án phòng chống SD/SXHD trở thành một mục tiêu trong chươngtrình Mục tiêu Quốc gia thanh toán một số bệnh xã hội và bệnh dịch nguy
hiểm (PGS.TS Lê Ngọc Trọng - Hướng dẫn giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh SXH – NXB Y học năm 2000).
Ở Việt Nam, hai loại muỗi truyền bệnh SD/SXHD là Aedes aegypti vàAedes albopictus, trong đó quan trọng nhất là Aedes aegypti Muỗi Aedesaegypti rất thích đốt người vào ban ngày Bọ gậy Aedes có thể phát triển ởcác loại nước sạch và nước giàu chất hữu cơ Cách phòng bệnh duy nhất và
có ý nghĩa quan trọng là người dân cần ngủ màn, dọn vệ sinh sạch sẽ nhà ở,đậy nắp kín hoặc thả cá để diệt ấu trùng, loăng quăng, phun thuốc trừ muỗihtực hiện phương châm: “Không có bọ gậy, không có muỗi vằn, không cóbệnh SXH…
Trang 5I ĐẶT VẤN ĐỀ:
Sức khoẻ môi trường là tạo ra và duy trì một môi trường trong lành,bền vững để nâng cao sức khoẻ cộng đồng Quá trình cải thiện tình trạng vệsinh, chất lượng nước uống, vệ sinh an toàn thực phẩm, kiểm soát bệnh tật
và cải thiện điều kiện nhà ở là nhiệm vụ trung tâm của quá trình thực hiệnviệc nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống củangười dân trong thời kỳ đổi mới có nhiều thay đổi: việc đô thị hoá, tăngdân số, thay đổi lối sống, nạn phá rừng, tăng sử dụng hoá chất bảo vệ thựcvật trong nông nghiệp, dùng các hormon tăng trưởng trong chăn nuôi, sựphát triển công nghiệp và không kiểm soát được những chất thải côngnghiệp…làm cho môi trường đang bị suy thoái Trong những năm qua,thảm hoả thiên nhiên đã gây nên nhiều thiệt hại lớn ở nước ta Nhữngtrường hợp bị nhiễm độc hoá chất, ngộ độc hoá chất bảo vệ thực vật, ngộđộc thực phẩm…vẫn xảy ra thường xuyên Có nhiều chỉ thị và nghị quyếtbàn về phương hướng phát triển bền vững, nghĩa là đảm bảo cho môitrường và môi trường trong sạch, giảm thiểu ô nhiễm, nhằm nâng cao sứckhoẻ con người như Luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã nêu
1 Thông tin về vị trí địa lý, dân số, kinh tế, văn hoá – xã hội:
Phường Yên sở thuộc quận Hoàng Mai ở phía nam Thành phố HàNội Là khu vực hiện có tốc độ đô thị hoá khá cao, địa hình thấp trũng, cónhiều ao hồ, mùa mưa hay bị ngập úng cục bộ Mặt khác, trên đại bànphường còn có hai con sông Kim Ngưu và Tô Lịch dẫn nước thải củaThành phố chảy qua trước khi đổ ra Sông Hồng Vì vậy, Phường Yên Sởđược coi là khu vực trọng điểm về VSMT của Quận, nơi tiềm ẩn nguy cơdịch bệnh ảnh hưởng đến sức khoẻ người dân Với tổng diện tích đất tựnhiên là 744,36 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 350,21ha chiếm47,05% Phường có 2.756 hộ gia đình, chia thành 26 tổ dân phố Là một địabàn mới được chuyển từ xã thành phường vào năm 2006, nhưng cơ cấungành nghề chính của người dân địa phương vẫn là lao động nông nghiệp,
Trang 6chiếm 32.4% (Phụ lục 1) Nguồn sống chính của người dân địa phương phụ
thuộc vào việc canh tác, nuôi trồng trên đất nông nghiệp Nhưng hiện nay,
do nhà nước thu hồi đất xây dựng một sô công trình lớn như Hồ điều hoànước thải của Thàn phố, Siêu thị Metro, Đường vành đai 3,… do tốc độ đôthị hoá diễn ra nhanh chóng, nên diện tích đất canh tác chỉ còn2047m2/người, giảm >800m2/người so với năm 1999 Năm 2006, thu nhậpbình quan đầu người đạt 3.900.000đ, toàn phường còn 26 hộ nghèo (theochuẩn mới) chiếm 0,94%
Năm 2006, tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp, dịch vụ thương mại:45.482 tỷ đồng đạt 101% so với kế hoạch năm đầu, tăng 6.8% so với cùng
kỳ năm trước
Công tác thực hiện dự toán thu- chi ngân sách năm 2006;
-Thu ngân sách: Thực hiện đến 31/12/2006: 4.309.192.578đ đạt 117%
- Chi Ngân sách: Thực hiện đến 31/12/2006: 2.494.371.153đ tại 77%Dân số toàn phường tính đến 31/12/2006 là 11.781 người, trong đó:
- Dân số Nam chiếm 52.9% 0-14 tuổi: 35.1%
- Dân số Nữ chiếm 47.1% 15-64 tuổi 59.2%
2 Thông tin về TYT phường và công tác CSSKBĐ:
TYT Phường Yên Sở mới được đầu tư xây dựng năm 2005, cơ ngơikhang trang với đầy đủ trang thiết bị phục vụ công tác KCB và chăm sóc
Trang 7sức khoẻ nhân dân trên địa bàn Trạm được biên chế 6 nhân viên, trong đó
có 1 bác sĩ trạm trưởng TYT phường đã được công nhận chuẩn Quốc giatháng 9/2005 Hiện nay, ngoài việc đảm bảo chất lượng công tác KDBthông thường, thường trực cấp cứu, TYT đã và đang triển khai có hiệu quảcác chương trình y tế quốc gia khác như: phòng chống dịch bệnh – VSMT,TCMR, phòng chống bệnh xã hội, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ BMTE…
(Chi tiết xin xem phụ lục 2).
Năm 2006, với kinh phí 1.550đ/đầu dân, TYT đã được ngân sách nhànước cấp 18.260.550đ, ngân sách địa phương hỗ trợ 7.000.000đ để chi cho
hoạt động CSSK nhân dân trên địa bàn phường (Chi tiết xem phụ lục 3).
3 Phân tích thông tin về các vấn đề môi trường – Xác định vấn đề SKMT ưu tiên:
Theo báo cáo tổng kết công tác KCB năm 2006 của TYT phường, tỷ
lệ mắc các bệnh liên quan đến môi trường trong năm vừa qua đều tăng so
với những năm trước (Phụ lục 4)
Bên cạnh việc phân tích số liệu thứ cấp từ sổ sách, báo cáo của TYT,chúng tôi cũng đã tiến hành thảo luận nhóm với cán bộ y tế, phỏng vấn sâungười dân, kết hợp quan sát thực tế dưới sự hướng dẫn của cán bộ phụtrách công tác VSPD của TYT và đã xác định được 4 vấn đề SKMT hiệnđang được quan tâm tại phường Đó là các vấn đề:
- Qua công tác điều tra cơ bản tình hình VSMT và sử dụng 3 côngtrình tự vệ sinh trong nhân dân, hiện nay trên địa bàn phường, tỷ lệ các hộ
sử dụng 3 công trình vệ sinh đạt tiêu chuẩn còn rất thấp so với tỷ lệ chungcủa toàn dân, như tỷ lệ sử dụng nước sạch trong sinh hoạt (80.23%) và hố
xí hợp vệ sinh (79.18%) (Phụ lục 5)
- Qua thảo luận với cán bộ y tế, kết hợp quan sát thực tế, có thể nhậnthấy tình trạng ngập úng cục bộ tại phường là khá nghiêm trọng Toàn bộtrục đường chính thuộc các tổ 10,11, ngập úng xảy ra ngay cả khi trờikhông mưa Theo ý kiến của cán bộ y tế và người dân trong khu vực tình
Trang 8trạng trên Đây là do những vùng thấp trũng nhất trong phường Mặt khác,tất cả các hệ thống thoát nước của phường đều được thiết kế để đổ ra cácao/hồ trên địa bàn Diện tích các hồ/ao trên được sử dụng để nuôi trồngthủy sản, tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động, mang lại nguồn thulớn cho địa phương Nếu buộc các hộ chăn nuôi hạ mức nước trong các ao
hồ để giải quyết vấn đề ứ đọng nước thải tại hệ thống cống thoát nước thìlại gây giảm năng suất, thậm chí gây thất thu từ nguồn nuôi trồng thuỷ sảntrên, ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận nhân dân lao động Đã córất nhiều đơn thư kiến nghị, nhiều cuộc họp được tổ chức bàn về vấn đềnày, nhưng vẫn chưa được giải quyết dứt điểm
- Trên địa bàn phường hiện có 157 hộ chăn nuôi gia sức, gia cầm với
số lượng lên đến hàng trăm con lợn, hàng ngàn con gà, vịt Các hộ chănnuôi này tập trung ở khu vực các tổ 14,15,25,26 là nơi giáp gianh với tuyến
đê Hữu Hồng Do điều kiện kinh tế cũng như hạn chế về nhận thức, hầu hếtcác hộ chăn nuôi này đều không đầu tư xây dựng chuồng trại và cũngkhông lưu ý đến công tác xử lý chất thải chăn nuôi, thậm chí có nhiều hộcòn cho thải phân gia súc, gia cầm chưa qua xử lý ra hệ thống cống thoátnước chung của khu dân cư gây ô nhiễm môi trường
- Trong những năm gần dây, kinh doanh nhà cho thuê trọ mang lạinguồn thu nhập tương đối lớn và ổn định cho nhiều hộ gia đình nhưng đồngthời cũng tác động nhiều mặt đến đời sống, kinh tế - xã hội của địa phương
Số lượng người thuê trọ đông (1664 người trong năm 2006, theo số liệukhai báo tạm trú tạm vắng của CA phường) làm gia tăng mật độ dân số, các
tệ nạn xã hội, các vấn đề quản lý nhân khẩu, hộ khẩu….Vấn đề VSMT,giám sát muỗi, bọ gậy đều cho thấy tình trạng mất vệ sinh nghiêm trọng ởnhững khu vực này, đặc biệt các chỉ số về dụng cụ chứa nước, phế liệu cóchứa bọ gậy và chỉ số nhà có muỗi Ae.aegypti đều rất cao Hầu hết các đốitượng đến thuê trọ tại địa bàn phường là người nghèo, đến từ các vùngnông thôn, họ chỉ đủ điều kiện để thuê các căn hộ rẻ tiền, có khi 3-5 người
Trang 9cùng thuê chung một phòng Điều kiện ăn ở chật chội cùng với thói quensinh hoạt tuỳ tiện, cẩu thả, tạm bợ khiến VSMT ở các khu nhà trọ ngày
càng nghiêm trọng, ảnh hưởng môi trường chung của địa phương và lànguyên nhân gây bùng nổ dịch SD/SXHD trên địa bàn phường trong nămvừa qua
Trên cơ sở phân tích các vấn đề môi trường còn tồn tại, để xác địnhđược vấn đề SKMT ưu tiên, chúng tôi đã tiến hành chấm điểm các vấn đềSKMT tại địa phương theo thang điểm cơ bản với các tiêu chí cụ thể và kết
quả thu được như sau:
Bảng 1: Bảng chấm điểm xác định vấn đề SKMT tại phường Yên Sở
VSMT tại các khu nhà trọ, cho
thuê Nguyên nhân gây ra các
ổ dịch SD/SXHD trên địa bàn
phường
Trong đó: A: Phạm vi vấn đềB: Tính trầm trọng của vấn đềC: Ước lượng hiệu qủa can thiệp
Qua tổng điểm các vấn đề SKMT, chúng tôi đã lựa chọn được vấn đềSKMT tại địa phương là: VSMT tại các khu nhà trọ, cho thuê – Nguyênnhân gây ra các ổ dịch SD/SXHD trên địa bàn phường Yên Sở, quậnHoàng Mai, Thành phố Hà Nội, năm 2006
II PHƯƠNG PHÁP THU THẬP THÔNG TIN VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
1 Thu thập số liệu thứ cấp:
Trang 10- Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu các số liệu sẵn có từ báo cáo côngtác của TYT, của UBND và một số ban ngành liên quan nhằm thu thập các
số liệu về tình hình kinh doanh nhà trọ, cho thuê, tình trạng VSMT và một
số vấn đề khác nhằm tìm hiểu nguy cơ của vấn đề SKMT
- Chúng tôi cũng đã nghiên cứu thông tin từ sổ sách, báo cáo củachương trình phòng chống dịch bệnh về các trường hợp mắc bệnhSD/SXHD trong năm 2006, tiến hành phỏng vấn trực tiếp để tìm hiểu tìnhhình mắc bệnh và các yếu tố dịch tễ liên quan của các đối tượng thuê trọtrên địa bàn phường
2 Áp dụng kỹ thuật phân tích định tính trong phân tích vấn đề SKMT
để xác định nguy cơ:
* Thảo luận nhóm trọng tâm:
+ Đối tượng 1: cán bộ y tế phụ trách công việc VSMT – phòng chốngdịch bệnh
- Mục đích: tìm hiểu công tác VSMT, quản lý các loại dịch bệnh liênquan đến môi trường, công tác tuyên truyền phòng chống dịch bệnh…+ Đối tượng 2: Người dân sinh sống trong các khu nhà trọ
- Mục đích: Tìm hiểu những nguyên nhân từ phía người dân (nhậnthức, hiểu biết thái độ…) dẫn đến tình trạng VSMT yếu kém tại các khunhà trọ
+ Đối tượng 3: Người dân địa phương sinh sống gần các khu nhà chothuê trọ
- Mục đích: Tìm hiểu thái độ của người dân đối với tình trạng mất vệsinh tại các khu nhà trọ và những ảnh hưởng của tình trạng trên
* Quan sát thực tế các khu nhà cho thuê trọ nhằm phát hiện, bổ sungthêm thông tin cho vấn đề quan tâm/
3 Phân tích số liệu:
Chúng tôi sử dụng phần mềm Exel và SPSS 10.0 để phân tích thôngtin thu thập được nhằm xác định rõ nguy cơ của vấn đề SKMT/
Trang 11* Rà soát lại các phiếu điều tra để đảm bảo thông tin thu được đầy đủ
III PHÂN TÍCH VẤN ĐỀ SỨC KHOẺ MÔI TRƯỜNG
1 Các yếu tố nguy cơ về môi trường ảnh hưởng đến vấn đề SKMT:
1.1 Phân tích vấn đề:
Như đã đề cấp trong phần phân tích các vấn đề môi trường, trongnhững năm gần đây, do nhiều nguyên nhân khác nhau, người dân từ cáctỉnh lân cận kéo về Hà Nội tìm công ăn việc làm Họ thuộc đủ các thànhphần xã hội nhưng cơ bản vẫn là những lao động nghèo, không có nghềnghiệp, tranh thủ lúc nông nhàn đến thành phố kiếm thêm thu thập về chogia đình Yên Sở là phường giáp ranh với khu vực nội thành, được rấtnhiều đối tượng là công nhân các khu công nghiệp, học sinh, sinh viên một
số trường trong khu vực, người làm nghề buôn bán nhỏ, lao động tự dochọn làm nơi thuê trọ vì giá thuê khá rẻ lại thuận tiện giao thông để họ cóthể vào thành phố làm việc, học tập và trở về nghỉ ngơi Đây cũng là lý dokhiến số hộ gia đình trong phường có phòng cho thuê trọ tăng lên nhanhchóng, từ 18 hộ với 64 phòng trọ năm 2002 tăng lên 171 hộ với 641 phòngnăm 2006 (phụ lục 6) Kinh doanh nhà cho thuê trọ mang lại nguồn thunhập tương đối lớn và ổn định cho nhiều hộ gia đình nhưng đồng thời cũngtác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội của địa phương Số lsượngngười thuê nhà trọ đông (1664 người trong năm 2006, theo số liệu khai báo
Trang 12tạm trú tạm vắng của CA phường) làm gia tăng mật độ dân số, các tệ nạn
xã hội, các vấn đề quản lý nhân khẩu, hộ khẩu… Vấn đề VSMT phòngchống dịch bệnh cũng chịu tác động rất lớn Trong năm 2006, báo cáo củaTYT phường ghi nhận 59 BN SD/SXHD, trong đó đa số BN là người dânsống trong các khu nhà trọ Cũng theo báo cáo của TYT phường, trong cácđợt kiểm tra VSMT, giám sát muỗi, bọ gậy đều cho thấy tình trạng mất vệsinh nghiêm trọng ở những khu vực này, đặc biệt các chỉ số về dụng cụchứa nước, phế liệu có chứa bọ gậy và chỉ số nhà có muỗi Ae.aegypti đềurất cao Hầu hết các đối tượng đến thuê trọ tại địa bàn phường là ngườinghèo, đến từ các vùng nông thôn, họ chỉ đủ điều kiện để thuê các căn hộ
rẻ tiền, có khì 3-5 người cùng tuê chung một phòng Điều kiện ăn ở chậtchội cùng với thói quen sinh hoạt tuỳ tiện, cẩu thả, tạm bợ khiến VSMT ởcác khu nhà trọ ngày càng nghiêm trọng, ảnh hưởng môi trường chung củađịa phương và là nguyên nhân gây bùng nổ dịch SD/SXHD trên địa bànphường trong năm vừa qua
Theo số liệu điều tra của CA phường, các tổ dân phố từ 1 đến tổ 12, làkhu vực tập chung nhiều nhà cho thuê trọ nhất, chiếm tới 80% tổng sốphòng trọ trong phường Sở dĩ có hiện tượng trên vì đầy là địa bàn giáp vớikhu công nghiệp Vĩnh Tuy, với quận Hai Bà Trưng, có đường giao thôngthuận tiện Các hộ gia đình có tới 20 phòng trọ.Qua quan sát thực tế, hầuhết các phòng trọ đều là nhà cấp 4, diện tích mỗi phòng chỉ rộng 8-12m2
Để tiết kiệm chi phí và cũng phù hợp với nhu cầu thuê nhà trọ rẻ tiền, cáckhu nhà này đều được xây một khu công trình phụ để dùng chung chokhoảng từ 15-20 người, bao gồm một bể chứa nước, một nhà tắm, và mộtnhà vệ sinh Chỉ với một bể chứa khoảng 1-2 khối nước, được chủ nhà bơm
từ giếng khoan lên là không đủ cho sinh hoạt, cộng với thói quen sử dụngnước mưa trong ăn uống nên mỗi khu nhà trọ lại có thêm vài dụng cụ chứanước khác để chứa nước mưa Cũng qua quan sát, rất ít bể và dụng cụ chứanước có nắp đậy và hầu như không được thau rửa thường xuyên, đây chính
Trang 13là môi trường thích hợp cho muỗi và bọ gậy sinh sản và phát triển Chúngtôi còn quan sát thấy quanh các khu nhà trọ có rất nhiều loại phế liệu, rácthải do chính những người dân sống trong khu nhà trọ thải ra hoặc donhững người làm nghề thu mua phế liệu thu gom về để phân loại đem bán.Điều này cũng phù hợp với kết quả thảo luận với cán bộ y tế phụ tráchcông tác VSMT – phòng chống dịch bệnh của phường Chị cho biết: “Córất đông người làm nghề thu mua phế liệu đến ở trọ tại đây Hàng ngày, họvào thành phố hoặc đến các vùng lân cận thu mua đủ loại phế liệu như giấyvụn, chai lọ, nilon, sắt thép… đem về phân loại, đóng gói để bán cho cácđại lý thu mua Có loại họ bán được ngày, có loại phải tích cóp lại cho đủ
số lượng, nhưng cũng có loại chưa bán được ngay, họ đem tích trữ xungquanh khu vực nhà trọ hoặc ngay trong nhà trọ Sau một thời gia, các phếliệu trở thành ổ chứa muỗi và bọ gậy…Chị cũng cho biết:”Theo yêu cầucủa chương trình quốc gia phòng chống SXH, hàng tháng, cán bộ TYT kếthợp với Cộng tác viên chương trình phải đi kiểm tra VSMT, giám sát muỗi,
bọ gậy tại các ổ dịch cũ và các khu vực trọng điểm có nguy cơ bùng phátdịch, thì tại các khu nhà trọ, cho thuê thường xuyên ghi nhận các chỉ số nhà
có muỗi/bọ gậy, dụng cụ chứa nước có bọ gậy, chỉ số Breteau cao hơn mứccho phép rất nhiều, có tới 87% số nhà cho thuê trọ được phát hiện có ổmuỗi/bọ gậy Aedes… (Phụ lục 7-8)
Do thời gian có hạn cũng như việc gặp gỡ, trao đổi với người dân sinhsống trong các khu nhà trọ là rất khó khăn vì họ thường xuyên vắng nhà,nên chúng tôi chỉ tiếp xúc được với 18 đối tượng ngẫu nhiên Đa số họ lànhững người dân đã thuê trọ ở đây khá lâu Chỉ có 11% trong số họ có trình
độ THPT Còn lại 50% tốt nghiệp tiểu học và 22.2% là mù chữ Từ nhữngvùng quê khác nhau tới Hà Nội kiếm sống, nhưng chỉ với trình độ như vậynên cũng có thể lý giải cho vấn đề nghề nghiệp của họ Có 2 hiện đang làsinh viên Cao đẳng, 2 là công nhân trong một nhà máy của khu côngnghiệp, còn lại 72.2% trong số họ làm nghề buôn bán nhỏ và thu mua phế
Trang 14liệu Cùng với nguồn thu nhập hạn hẹp, họ chỉ có thể thuê những phòng trọ
rẻ tiền, chật chội Có nhiều phòng trọ chỉ rộng 8m2 nhưng có đến 3-4nguowif cùng thuê Những câu hỏi nhằm đánh giá ý thức giữ gìn vệ sinhmôi trường và hiểu biết của họ về vấn đề quan tâm cho thấy tình trạng rấtđáng lo ngại Cần 90% trong số họ không biết về các đợt vận động vệ sinhnơi ở và khu vực xung quanh Chỉ có 27.8% trong số họ biết bệnh SXH là
do muỗi truyền và có tới> 60% không hiểu biết đúng về biện pháp phòngbệnh (Phụ lục 9)
Qua trao đổi với một số người dân địa phương sống xung quanh cáckhu nhà trọ, hầu hết các ý kiến đều rất bức xúc với vấn đề vệ sinh trong cácnhà trọ “Nếu nếp sinh hoạt của họ rất cẩu thả, giờ giấc thất thường Cóngười ban ngày đi bán hàng, buổi tối về, họ chế biến thực phẩm để ngàymai đem bán, đốt than tổ ong cả đêm Có người đi thu mua phế liệu vềphân loại rồi vứt bừa bãi quanh nhà ở, chỉ sau trận mưa vài hôm là đầy cảmuỗi….” (Chị H tổ 2) “Vì điều kiện khó khăn, họ phải thuê những cănphòng chật chội, nhưng bản thân họ cũng không có ý thức giữ gìn vệ sinh.Chật nhưng néu thu dọn ngăn nắp, quét tường sạch sẽ thì vừa thoáng mát,vừa phòng bệnh tật… (Bà B tổ 5)” Trong các đợt vận động tổng vệ sinhmôi trường, phòng chống dịch bệnh của phường, hay các đợt kiểm tra giámsát của TYT, chúng tôi đều đến để vận động bà con trong các khu nhà trọtham gia nhưng hầu hết họ đều đi vắng hoặc có nhà cũng không muốn thamgia Mỗi khi có bệnh nhân bị SXH, bà con chúng tôi đều rất lo lắng, sợ lâysang cả con cháu nhà mình….(Ô T tổ trưởng tổ dân phố 1)
Theo báo cáo tổng hợp công tác phòng chống dịch của TYT phường,năm 2006 được coi là năm bùng nổ dịch SXH trên địa bàn phường với59BN/21 ổ dịch, tăng 37BN so với năm 2005 và Bn là những người sinhsống trong các khu nhà trọ chiếm tỷ lệ lớn Chúng tôi tiến hành thu thậpthông tin về các trường hợp mắc bệnh SXH trong năm 2006 (Các thông tinđược chọn lọc cho phù hợp với việc phân tích vấn đề quan tâm) bằng cách
Trang 15phỏng vấn trực tiếp hoặc từ sổ cập nhật dịch và sổ khám bệnh của TYT(đối với các trường hợp hiện đang vắng mặt tại địa phương) qua đó phântích, tìm hiều mối liên quan giữa tình trạng VSMT ở các khu nhà trọ vànguy cơ gia tăng tỷ lệ Bn SXH trên địa b àn phường trong năm 2006 (Bộcâu hỏi điều tra các trường hợp mắc SXH và yếu tố dịch tễ liên quan xemphụ lục 10).
Phân tích kết quả phỏng vấn bằng phần mền SPSS phiên bản 10.0,chúng tôi rút ra một số nhận xét:
- Trong tổng số 59BN mắc SXH năm 2006 có 11BN là người địaphương chiếm 18.6%, 48Bn là người thuê trọ trên địa bàn phường chiếm81.4%
- Trả lời cầu hỏi “Khu vực anh/chị ở có nhiều muỗi hay không?” Có52BN trả lời có chiếm 88.1%
- Trả lời câu hỏi “Trong nhà hay ở gần nhà anh/chị có BN SXH haykhông” Có 53N trả lời có, chiếm 89,8%, cho gây bệnh SXH có khả nănglây truyền rất mạnh nếu ta không biết cách phòng bệnh
- Để tìm hiều mối liên quan giữa việc giữ gìn vệ sinh nhà ở và môitrường xung quanh với hiện tượng có nhiều muỗi gây bệnh, chúng tôi chọnkiểm định Chi bình thường
Với giả định Ho: không có mối liên quan giữa vệ sinh nhà ở và môitrường xung quanh với hiện tượng có nhiều muỗi gây bệnh
H1: có mối liên quan
Kết quả cho thấy X2 = 21.617;df=3;p=0.000<0.001 Có mối liênquan giữa vệ sinh nhà ở, môi trường xung quanh và hiện tượng có nhiều
muỗi gây bệnh (Phụ lục 11).
I.2 Lượng giá mức độ nguy cơ:
Bằng các thông tin thu thập được tư nhiều nguồn khác nhau, cùng vớicác kết quả phân tích các vấn đề liên quan, có thể nhận thấy tình trạng mất
vệ sinh ở các khu nhà trọ tại phường Yên Sở là khá nghiêm trọng Hậu quả
Trang 16của nó là đã góp phần làm gia tăng đột biến các ổ dịch SD/SXHD trên địabàn phường, ảnh hưởng tới mọi mặt đời sống của người dân địa phươngcũng như làm tăng gánh năng phải giải quyết ngành tế tế địa phương Vấn
đề trên nếu không được giải quyết thì nguy cơ về các loại dịch bệnh nóichung cũng như dịch SXH nói riêng tiếp tục bùng phát là rất có thể xảy ra
Sử dụng ma trận lượng giá nguy cơ, chúng tôi tính điểm nguy cơ của vấn
đề SKMT như sau:
Bảng 2: Ma trận lượng giá mức độ nguy cơ
H: Nguy cơ cao cần có sự quan tâm quản lý đặc biệt
2 Các yếu tố về xã hội ảnh hưởng đến vấn đề SKMt:
* Cấp độ cá nhân:
Tình trạng VSMT ở các khu nhà trọ, cho thuê bị ảnh hưởng rất nhiềubởi yếu tố lối sống của các cá nhân Như đã biết, hầu hết người dân sinhsống trong các khu nhà trọ là ở các vùng nông thôn đến Họ quen với cáctập quán sinh hạt ở các vùng nông thôn như sử dụng nước mưa trong ănuống, nên ở các khu nhà trọ họ cũng tận dụng các DCCN để dự trữ nướcmưa Các dụng cụ này lại không được thau rửa thường xuyên, không cónắp đậy chính là môi trường tốt cho muỗi đẻ trứng Họ cũng quên với việc
xả rác bừa bãi, không thường xuyên tổng vệ sinh nhà cửa và môi trườngxung quanh Trong kết quả phỏng vấn các BN đã mắc SXH, trả lời cầu hỏi:
“Anh/Chị có nằm màn khi ngủ không?” Có tới 47,5% trả lời không bao giờnằm màn khi ngủ và chỉ có 16.9% trả lời có nằm màn khi ngủ
Trang 170 5 10 15 20 25 30
Frequency
hàng ngày 1tuan/lan 1 1thang/lan Không
Co tong ve sinh nha o khong
co tong ve sinh nha o khong
Biều đồ trên cho thấy đại đa số các trường hợp khi được hỏi: Anh/chị
có thường xuyên tổng vệ sinh nhà ở và môi trường xung quanh không? Đãtrả lời khoảng
Trang 18PHỤ LỤC
Phụ lục1: Cơ cấu ngành nghề của người dân phường Yên sở
Phục lục 2: Một số hoạt động chính và kết quả của các chương trình y tếđang triển khai tại TYT năm 2006
Phục lục 3: Chi ngân sách cho các hoạt động y tế năm 2006
Phục lục 4: Thống kê các bệnh liên quan đến môi trường trong năm 2006Phục lục 5: Kết quả điều tra cơ bản tình hình sử dụng 3 công trình vệ sinhnăm 2006 của phường Yên sở
Phục lục 6: Tình hình kinh doanh nhà trọ, cho thuê trên địa bàn từ năm
Phục lục 11: Phân tích kết quả điều tra các trường hợp mắc SXH năm 2006
và yếu tố dịch tễ liên quan bằng SPSS 10.0
Phục lục 12: Cây vấn đề 1 tháng/lần Ở đây không phải chỉ là vần đề thóiquen mà còn là vấn đề ý thức và nhận thức của người dân trong việc giữgìn VSMT phòng chống dịch bệnh
* Cấp độ nhóm xã hội:
Đi sâu tìm hiểu về các vấn đề này ở cấp độ nhóm xã hội chúng tôinhận thấy phần lớn trong số họ có trình độ văn hoá thấp (50% trình độ tiểuhọc, 22,2% mù chữ), đa số làm nghề buôn bán nhỏ và thu mua phế liệu.Bận rộn lo toan cuộc sống khiến họ không có thời gian quan tâm đến cácvấn đề khác Chỉ với thu nhập trên dưới 1.000.000 đ/ tháng vừa trang trải
Trang 19cuộc sống của bản thân vừa lo gửi về quê cho gia đình họ, thậm chí không
có cả sách báo, TV để tiếp cận thông tin Các cuộc tuyên truyền vận độngcủa địa phương cũng rất khó tiếp cận được với người dân trong các khu nhànhà trọ, vì giờ giấc sinh hoạt, làm việc thất thường của họ Kết quả điều tracác trường hợp mắc SXH trong năm 2006 cho thấy độ tuổi trung bình củacác bệnh nhân là 36.6 tuổi, trong đó lứa tuổi 35-40 chiếm tỷ lệ cao nhất Họchính là lực lượng lao động mang lại nguồn thu nhập chính tring gia đình.Trong số 59BN, có tới 49 trường hợp phải nghỉ việc > 10 ngày và thiệt hạikinh tế ước tính > 5 triệu đồng/ca bệnh chiếm 74.6% tất cả những điều đókhiến họ trở nên kiệt quệ cả về sức khoẻ và kinh tế Họ đồng thời cũng lànguồn lây bệnh nguy hiểm cho gia đình và cộng đồng Đó cũng là hệ quảcủa vấn đề VSMT – phòng chống dịch bệnh yếu kém đang là mối quan tâmrất lớn của cả cộng đồng
Trên đây là những yếu tố chính về xã hội ảnh hưởng đến nguy cơbùng nổ các vụ dịch SD/SXHD trong các khu nhà trọ nói riêng và trên toànđịa bàn phường nói chung Vấn đề này đòi hỏi sự đầu tư thích đáng về mọimặt của các cấp chính quyền địa phương trong đó TYT là đơn vị đóng vaitrò tham mưu và thực hiện kế hoạch
IV ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CAN THIỆP:
1 Phân tích vấn đề tìm nguyên nhân gốc rễ:
Sau khi tiến hàng phân tích vấn đề SKMT ưu tiên ở phương Yên sở
bằng phương pháp cây vần đề (phụ lục 12), chúng tôi tổng kết được nguyên
nhân chính của tình trạng mất vệ sinh tại các khu nhà cho thuê trọ và cũng
là nguyên nhân bùng nổ các ổ dịch SD/SXHD trên địa bàn phường năm
Trang 20- Hoạt động của chương trình VSMT – phòng chống dịch bệnh củaTYT chưa có hiệu quả do thiếu kinh phí, nhân lực và các phương tiệntruyền thông trực tiếp.
Các nguyên nhân gốc rễ đã được xác định và để xây dựng được mụctiêu cũng như các giải pháp can thiệp phù hợp với các chỉ tiêu về tính khảthi, tính chấp nhận, tính phù hợp, chúng tôi đã tham khảo kế hoạch hoạtđộng năm 2007 của TYT phường
2 Mục tiêu can thiệp
2.1 Mục tiêu chung
Tăng cường các biện pháp nhằm cải thiện tình trạng VSMT ở các khunhà cho thuê trọ, giảm tỷ lệ các ổ dịch SD/SXHD trên địa bàn phường Yên
Sở - Quận Hoàng Mai xuống còn 30% so với năm 2006
- 100% các hộ gia đình kinh doanh nhà trọ cho thuê trọ ký cam kết vớichính quyền về đảm bảo VSMT tại các khu nhà trọ
- 80% người dân sống tại các khu nhà trọ được tuyên truyền, nâng caohiểu biết về vấn đề VSMT và phương pháp phòng chống bệnh SD/SXHD
- 100% các khu nhà trọ được kiểm tra VSMT, giám sát muỗi bọ gậytrong các đợt chiến dịch TYT tổ chức