Theo quan niệm củaluật dân sự, hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2- Mua bán hang hóa luôn được thể hiện dưới hình thức hợp đồng Theo quan niệm củaluật dân sự, hợp đồng mua bán hàng hóa có bản chất chung của hợp đồng, hợp đồng là sựthỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.Như vậy, thỏa thuận ý chí giữa các bên là một điều kiện quan trọng của hợp đồng.
b) Hình thức Hợp đồng mua bán hàng hóa
- Theo Điều 24, Luật Thương mại, hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá có thế là:+ Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc đượcxác lập bằng hành vi cụ thể
+ Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lậpthành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó
- Nhìn chung, vấn đề hình thức của hợp đồng mua bán hang hóa được Luật Thương mạiquy định cụ thể theo hương tiếp cận các thành tựu khoa học kỹ thuật hiện đại Trên quanđiểm này, các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm: điện báo, telex, fax,thong điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật
2 Phân biệt hợp đồng thương mại với hợp đồng dân sự
a) Hợp đồng dân sự
- Hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền, nghĩa vụ dân sự Như vậy hợp đồng được hiểu là sự thể hiện ý chí của các bênbằng việc thoả thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ của các bên, xác định khi nào vàtrong điều kiện nào thì các quyền và nghĩa vụ này được xác lập, được thay đổi và chấmdứt
- Nguyên tắc quan trọng và được pháp luật bảo vệ là nguyên tắc tự do thoả thuận, bìnhđẳng và thiện chí trong việc giao kết, thực hiện hợp đồng, không phân biệt mục đích củahợp đồng là kinh doanh thu lợi nhuận hay nhằm phục vụ cho tiêu dùng
Trang 3- Các chủ thể tham gia hợp đồng có thể là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc các loại chủ thểkhác Khách thể của hợp đồng chính là đối tượng của hợp đồng, có thể là tài sản, hànghoá hoặc dịch vụ.
- Về hình thức của hợp đồng:
+ Một số hợp đồng dân sự và hợp đồng thương mại có thể giao kết bằngmiệng (thực hiện chủ yếu qua sự tín nhiệm, giao dịch được thực hiện ngayhoặc những giao dịch đơn giản, có tính phổ thông, đối tượng giao dịch có giátrị thấp);
+ Hoặc bằng văn bản (được thực hiện chủ yếu ở những giao dịch phức tạp,đối tượng của hợp đồng có giá trị lớn hoặc do pháp luật quy định phải thựchiện bằng văn Đối với hình thức hợp đồng này tùy từng hợp đồng cụ thểpháp luật quy định bắt buộc phải công chứng hoặc thị thực mới hợp lệ Tuynhiên nếu các bên không công chứng hoặc chứng thực thì hợp đồng vẫn cógiá trị pháp lý và không bị coi là vô hiệu trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác Ngoài ra những Trường hợp pháp luật không quy định bắt buộcphải công chứng thì các bên vẫn có thể thỏa thuận công chứng hoặc có sựchứng kiến của người làm chứng nhằm làm cho hợp đồng có giá trị pháp lýcao Các loại văn bản cũng được coi là hợp đồng nếu hai bên giao kết giántiếp bằng các tài liệu giao dịch như: Công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơnđặt hàng và được sự đồng ý của bên kia với nội dung phản ảnh đầy đủ các nộidung chủ yếu cần có và không trái pháp luật thì được coi là hợp lệ
+ Hợp đồng cũng có thể được giao kết bằng hành vi cụ thể: Thông thườngđây là một dạng quy ước đã hình thành trên cơ sở thông lệ mà các bên đã mặcnhiên chấp nhận
Trang 4- Chủ thể là thương nhân với thương nhân
- Chủ thể giao kết là thương nhân với chủthể không phải là thương nhân nhưngchọn Luật điều chỉnh là Luật ThươngMại
- Chủ thể là các cá nhân, tổchức (có thể có hoặc không
- Hợp đồng đơn vụ: trong hợp đồng đơn vụ, bên có quyền không phải thực hiện bất cứmột nghĩa vụ nào đối với bên có nghĩa vụ Ngược lại, bên có nghĩa vụ không có mộtqquyền nào đối với bên có quyền
b) Hợp đồng có đền bù và hợp đồng không đền bù
- Hợp đồng có đền bù: bên bán khi thực hiện nghĩa vụ giao hàng hóa cho bên mua thì sẽnhận từ bên mua một lợi ích tương đương với giá trị hàng hóa theo thỏa thuận dưới dạngkhoản tiền thanh toán
- Hợp đồng không đền bù: Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận Qua định nghĩa đó ta
nhận thấy hợp đồng tặng cho tài sản là hợp đồng hoàn toàn vì lợi ích của bên được tặngcho Bên được tặng cho chỉ tiếp nhận tài sản mà không phải thực hiện nghĩa vụ nào manglại lợi ích vật chất cho bên kia
c) Hợp đồng chính và hợp đồng phụ
- Hợp đồng chính: là hợp đồng mà hiệu lực không phụ thuộc vào hợp đồng phụ (khoản 3Điều 406, BLDS)
Trang 5- Hợp đồng phụ: là hợp đồng mà hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính (khoản 4 Điều
406 BLDS)
- Nguyên tắc tự do giao kết nhưng không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xãhội Quyền tự do giao kết hợp đồng là một trong những quyền tự do kinh doanh của các
cá nhân, tổ chức đã được pháp luật công nhận và bảo vệ Tự do giao kết hợp đồng kinhdoanh không có nghĩa là giao kết với mọi đối tượng, dưới mọi hình thức mà là tự do kinhdoanh trong khuôn khổ của pháp luật, đó là không được vượt quá giới hạn mà pháp luậtcho phép và không trái với đạo đức xã hội Không phải tất cả các loại hàng hóa đều đượcphép mua bán trong thương mại mà chỉ có những hàng hóa không bị cấm kinh doanh mớiđược phép mua bán Ngoài ra đối với những hàng hóa hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinhdoanh có điều kiện, việc mua bán hàng hóa chỉ được thực hiện khi hàng hóa và các bênmua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật Vấn đề nàyđược quy định tại một số văn bản pháp luật như: Luật thương mại 2005 tại các điều: Điều
25, Điều 26, Điều 32, Điều 33; Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chínhphủ quy định danh mục và các hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh.Nghị định số 12/NĐ-CP ngày 23/01/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành LuậtThương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán,gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài mua bán, gia công, đại lý hàng hóa quốc
tế, Thông tư số 04/TT-BTM ngày 06/04/2006 hướng dẫn một số nội dung quy định tạiNghị định 12 Pháp luật Việt Nam không cho phép được giao kết hợp đồng trái với thuầnphong mỹ tục của Việt Nam, trái với quy tắc đạo đức xã hội
- Nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Tựnguyện giao kết hợp đồng là các bên hoàn toàn thể hiện ý chí của mình mong muốn kýkết hợp đồng sau khi thống nhất thông qua các điều khoản đã thỏa thuận vì lợi ích của đôibên, không đe dọa, cưỡng ép bên kia giao kết hợp đồng mà không theo ý chí của họ Việctuân thủ các nguyên tắc giao kết hợp đồng có ý nghĩa quan trọng nhằm đảm bảo sự thỏathuận của các bên trong hợp đồng có thể mang lại lợi ích cho các bên đồng thời khôngxâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ
1 Chủ thể, nội dung và hình thức giao kết
- Về chủ thể: Chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa là các bên tham gia
vào giao kết và thực hiện hợp đồng Các bên ở đây có thể là: cá nhân, pháp nhân, hộ gia
Trang 6đình, tổ hợp tác1 Đối với pháp nhân còn được chia thành nhiều loại đó là: cơ quan nhànước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xãhội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, quỹ từ thiện và các tổ chức khác có đầy đủ các điềukiện Không phải sự thỏa thuận nào giữa các chủ thể cũng dẫn tới việc hình thành hợpđồng, cũng như không phải mọi quyền và nghĩa vụ của các chủ thể đối với nhau đều phátsinh từ sự thỏa thuận Một thỏa thuận chỉ được coi là hợp đồng và được pháp luật côngnhận và bảo vệ phải đáp ứng những điều kiện theo quy định của pháp luật như: đượcthành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân; tổ chứckhác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó; nhân danh mình tham gia các quan hệ phápluật một cách độc lập2.
Theo Luật thương mại 2005 thì hợp đồng mua bán hàng hóa phải có ít nhất mộtbên là thương nhân còn bên kia có thể là thương nhân hoặc là cơ quan, tổ chức, cá nhânkhác không phải là thương nhân Về hình thức thì cá nhân, tổ chức kinh tế sau khi đượccấp phép đăng ký kinh doanh thì trở thành thương nhân và có quyền tham gia giao kết vàthực hiện hợp đồng
Hiện nay, các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp theo nhiều loại hình doanhnghiệp như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốnnước ngoài, doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty như: công ty cổ phần, công tyhợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn haithành viên trở lên và hợp tác xã
- Về nội dung của hợp đồng: Nội dung của hợp đồng mua bán hàng hóa trong kinh
doanh là các điều khoản do các bên thỏa thuận, thể hiện quyền và nghĩa vụ của các bêntrong quan hệ hợp đồng Theo đó, nội dung của hợp đồng được phân thành các loại: (i)điều khoản chủ yếu hay còn gọi là điều khoản cơ bản đây là những điều khoản quan trọngnhất của hợp đồng Khi giao kết các bên phải thỏa thuận được các điều khoản chủ yếucủa hợp đồng thì mới được giao kết; (ii) Điều khoản thông thường là những điều khoản
đã được pháp luật quy định, nếu các bên mà không thỏa thuận được thì coi như mặcnhiên đã công nhận và cả hai bên đều phải thực hiện theo các quy định của pháp luật; (iii)
1 Bộ luật dân sự 2005
2 Điều 84 Bộ luật dân sự 2005
Trang 7Điều khoản tùy nghi là những điều khoản do các bên tự lựa chọn và thỏa thuận với nhaukhi pháp luật không có quy định.
Bộ luật dân sự 2005 và Luật thương mại 2005 không quy định nội dung cụ thể chomột hợp đồng nói chung và hợp đồng kinh doanh nói riêng, các bên không bắt buộc phảithỏa thuận nội dung cụ thể nào Tuy nhiên, đối với từng hợp đồng cụ thể, pháp luậtchuyên ngành có những nội dung bắt buộc, ví dụ nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụngđược quy định việc cho vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụngphải có nội dung về điều kiện vay, mục đích sử dụng tiền vay, hình thức vay, số tiền vay,lãi suất, thời hạn vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ vànhững cam kết khác được các bên thoả thuận3
- Về hình thức của hợp đồng: Hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,
bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Có nhiều hình thức để thiết lập hợpđồng để được pháp luật công nhận và bảo vệ tính hợp pháp của hợp đồng Thông thường
để thiết lập một hợp đồng mua bán các bên tham gia giao kết hợp đồng chủ yếu sử dụnghình thức thiết lập bằng văn bản nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên được thựchiện tốt nhất, giảm bớt các rủi ro phát sinh về sau này Hình thức lập thành văn bản phảituân theo các quy định của pháp luật về hợp đồng
2 Phương thức giao kết
Trong thực tiễn có 2 cách thức kí kết hợp đồng:
-Kí kết hợp đồng trực tiếp: là cách thức kí kết đơn giản, nhanh chóng Theo cách
này, các bên cử đại diện gặp nhau bàn bạc, thỏa thuận, đi đến thống nhất nội dung cácđiều khoản của hợp đồng và cùng kí vào bản hợp đồng
-Kí kết hợp đồng gián tiếp: là cách thức mà các bên kí kết thông qua các tài liệu
giao dịch (công văn, điện báo, đơn chào hàng, đơn đặt hàng) Hợp đồng được coi là hìnhthành và có giá trị pháp lí từ khi các bên nhận được tài liệu giao dịch để thể hiện sự thỏathuận những điều khoản chủ yếu của hợp đồng
3 Đề nghị giao kết và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
- Đề nghị giao kết hợp đồng: có bản chất là hành vi pháp lý đơn phương của một
chủ thể, có nội dung bày tỏ ý định giao kết hợp đồng với các chủ thể khác theo những
3 Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng 1997(đã sửa đổi bổ sung 2004)
Trang 8điều kiện xác định Đó là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấpnhận toàn bộ nội dung của hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý địnhgiao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đãđược xác định cụ thể4 Về nguyên tắc thì hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng phảiphù hợp với những quy định pháp luật về hợp đồng Bộ luật dân sự 2005 không quy định
về hình thức của đề nghị giao kết hợp đồng, để xác định hình thức của đề nghị hợp đồng,theo đó đề nghị hợp đồng có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói hoặc hành vi cụ thểhoặc kết hợp giữa các hình thức này Trong trường hợp pháp luật quy định hình thức củahợp đồng phải bằng văn bản thì hình thức đề nghị của hợp đồng cũng phải bằng văn bản
Đề nghị hợp đồng được gửi đến cho một hay nhiều chủ thể đã xác định Hiệu lực của đềnghị giao kết hợp đồng thông thường được bên đề nghị ấn định Nếu bên đề nghị không
ấn định thời điểm có hiệu lực của đề nghị hợp đồng thì đề nghị của giao kết hợp đồng cóhiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó.Trong trường hợp đề nghị giaokết hợp đồng có nêu rõ thời hạn trả lời, nếu bên đề nghị lại giao kết hợp đồng với ngườithứ ba trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời thì phải bồi thường thiệt hại cho bênđược đề nghị mà không được giao kết hợp đồng nếu có thiệt hại phát sinh Bên đề nghịphải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình, bên đề nghị cũng có thể thay đổi hoặc rútlại đề nghị của mình trong trường hợp được quy định tại điều 392 Bộ luật dân sự Trongtrường hợp bên đề nghị giao kết hợp đồng thực hiện quyền hủy bỏ đề nghị do đã nêu rõquyền này trong đề nghị thì phải thông báo cho bên được đề nghị và thông báo này chỉ cóhiệu lực khi bên đề nghị nhận được thông báo trước khi bên được đề nghị trả lời chấpnhận đề nghị giao kết hợp đồng Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trongtrường hợp: bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận;hết thời hạn trả lời chấpnhận;khi thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực; khi thông báo vềviệc huỷ bỏ đề nghị có hiệu lực;theo thoả thuận của bên đề nghị và bên nhận được đềnghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời5
- Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự
trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của
đề nghị Theo điều 404 Bộ luật dân sự 2005 quy định thì: Hợp đồng dân sự được giao kếtvào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng cũng xem như
4Điều 390 Bộ luật dân sự 2005
5
Trang 9được giao kết khi hết thời hạn trả lời mà bên nhận được đề nghị vẫn im lặng, nếu có thoảthuận im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết Thời điểm giao kết hợp đồng bằng lời nói
là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung của hợp đồng.Thời điểm giao kết hợpđồng bằng văn bản là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản
Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lựckhi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhận đượctrả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận sau này được coi là đề nghị mới của bênchậm trả lời Trong trường hợp thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đến chậm
vì lý do khách quan thì thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng này vẫn có hiệulực
Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợpđồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lờichấp nhận giao kết hợp đồng
4 Thời điểm giao kết
-Thời điểm giao kết hợp đồng đối với hợp đồng được giao kết trực tiếp bằng vănbản thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký vào văn bản Hợp đồngđược giao kết gián tiếp bằng văn bản, thời điểm đạt được sự thỏa thuận được xác định khibên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng Đối với hợp đồng bằng lờinói thì thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thỏa thuận về nội dung củahợp đồng Các bên có thể sử dụng những chứng cứ hợp pháp để chứng minh việc các bên
đã thỏa thuận
1 Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng mua bán hàng hóa
Luật Thương mại 2005 không có quy định cụ thể các điều kiện để hợp đồng mua bán cóhiệu lực Vì vậy, khi xem xét hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa, cần dựa trênnhững điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định trong Bộ Luật Dân sự 2005.Theo Điều 122 Bộ Luật Dân sự về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, giao dịchdân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không tráiđạo đức xã hội;
Trang 10- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện;
- Hình thức giao dịch phù hợp với quy định của pháp luật (trong trường hợp pháp luật cóquy định)
Nếu thiếu một trong bốn căn cứ trên, giao dịch dân sự bị coi là vô hiệu
Căn cứ vào quy định của Điều 122 BLDS và các quy định có liên quan, có thể xác địnhmột hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:
Thứ nhất, các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán phải có năng lực chủ thể để thực hiệnnghĩa vụ theo hợp đồng Trong thực tiễn hợp đồng mua bán, chủ thể tham gia hợp đồngmua bán chủ yếu là các thương nhân Khi tham gia hợp đồng mua bán nhằm mục đích lợinhuận, các thương nhân phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối vớihàng hóa được mua bán Trường hợp mua bán sản phẩm, hàng hóa có điều kiện kinhdoanh, thương nhân còn phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định củapháp luật Bên cạnh chủ thể là thương nhân, các tổ chức, cá nhân không phải là thươngnhân cũng có thể trở thành chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa (trong trường hợpcác chủ thể chọn Luật thương mại để điều chỉnh hoạt động của mình)
Thứ hai, đại diện của các bên giao kết hợp đồng mua bán phải đúng thẩm quyền Đại diệnhợp pháp của chủ thể hợp đồng có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủyquyền Khi xác định thẩm quyền giao kết hợp đồng mua bán, theo quy định tại Điều 145BLDS, khi người không có quyền đại diện giao kết, thực hiện hợp đồng mua bán, sẽkhông phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với bên được hợp đồng đại diện, trừ trường hợpđược người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp thuận Bên đã giao kết hợpđồng với người không có quyền đại diện phải thông báo cho bên kia để trả lời trong thờihạn ấn định; nếu hết thời hạn này mà không có trả lời thì hợp đồng đó không làm phátsinh quyền, nghĩa vụ với bên được đại diện nhưng người không có quyền đại diện vẫnphải thực hiện nghĩa vụ đối với bên đã giao kết hợp đồng với mình, trừ trường hợp bên đãgiao dịch biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện
Thứ ba, mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều cấm của phápluật, không trái đạo đức xã hội Hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinhdoanh theo quy định của pháp luật Tùy thuộc vào từng giai đoạn của nền kinh tế, xuấtphát từ yêu cầu quản lý nhà nước mà những hàng hóa bị cấm kinh doanh được pháp luậtquy định một cách phù hợp Vì vậy, đối tượng của hợp đồng phải là những hàng hóa đượcpháp luật cho phép trao đổi, mua bán… vào thời điểm giao kết
Trang 11Thứ tư, hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng theo quyđịnh của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng đảm bảo sự thỏa thuậncủa các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng tới những lợi ích chính đáng của cácbên đồng thời không xâm hại đến các lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ Theo Điều 389BLDS quy định, việc giao kết hợp đồng nói chung và hợp đồng mua bán phải tuân theonhững nguyên tắc: tự do giao kết không trái pháp luật và đạo đức xã hội; tự nguyện, bìnhđẳng, thiện chí, hợp tác, trung thực và ngay thẳng Những hành vi cưỡng ép, đe dọa, lừadối để giao kết hợp đồng… là lí do dẫn đến hợp đồng mua bán không có hiệu lực.
Thứ năm, hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Để hợp đồng mua bán
có hiệu lực, nội dung hợp đồng phải được xác lập theo những hình thức được pháp luậtthừa nhận Theo Điều 24 LTM, hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói,bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Đối với các loại hợp đồng mua bánhàng hóa mà pháp luật quy định phải được thành lập bằng văn bản thì phải tuân theo cácquy định đó Như vậy, hình thức của hợp đồng chỉ là điều kiện có hiệu lực khi pháp luật
có quy định Trường hợp các bên không tuân thủ hình thức hợp đồng khi pháp luật bắtbuộc hợp đồng đó phải tuân thủ về hình thức thì hợp đồng mua bán bị vô hiệu khi được
- Hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế, hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt độngtrung gian thương mại; Hợp đồng dịch vụ khuyến mãi; Hợp đồng dịch vụ quảng cáothương mại; Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa dịch vụ; Hợp đồng dich vụ
tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại; Hợp đồng đại diện cho thương nhân;Hợp đồng ủy thác; Hợp đồng đại lý; Hợp đồng gia công; Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấugiá hàng hóa; Hợp đồng dich vụ quá cảnh; Hợp đồng nhượng quyền thương mại đều bắtbuộc phải được thể hiện bằng hình thức văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tươngđương (thông điệp dữ liệu, điện báo, telex, fax)
Trang 122 Các điều kiện để một hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhân nước ngoài có hiệu lực
Luật Thương mại 2005 không xây dựng một chế định riêng về hợp đồng mua bán ngoạithương Tuy nhiên, có thể chỉ ra các điều kiện có hiệu lực của loại hợp đồng này qua cácquy định trong các văn bản hiện hành Cụ thể:
a) Điều kiện đối với chủ thể
Luật Thương mại hiện hành không giới hạn tư cách chủ thể tham gia hợp đồng mua bánhàng hóa quốc tế Nói cách khác tư cách chủ thể trong quan hệ mua bán trong nước vàquốc tế cơ bản như nhau Đối với bên chủ thể Việt Nam phải đáp ứng các yêu cầu như cóđăng ký kinh doanh và kinh doanh đúng ngành nghề đã đăng ký Đối với bên nước ngoàiphải bảo đảm tư cách chủ thể theo luật pháp của quốc gia mà thương nhân đó mang quốctịch Trước đây pháp luật Việt Nam quy định khá chặt chẽ về điều kiện kinh doanh xuấtnhập khẩu của thương nhân Việt Nam Hiện nay, theo Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày
23 tháng 1 năm 2006 của Chính Phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại thì: trừhàng hóa thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; thương nhân được xuất nhậpkhẩu hàng hóa không phụ thuộc vào ngành nghề đăng ký kinh doanh Đối với thươngnhân nước ngoài, thực hiện đúng cam kết WTO, Chính Phủ đã ban hành quy định theo đóthương nhân nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu tại Việt Nam mà không đòi hỏi phải
có hiện diện thương mại (tức là phải có chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam)
b) Điều kiện đối với hàng hóa-đối tượng của hợp đồng
Luật Thương mại quy định: Căn cứ vào điều kiện kinh tế-xã hôi của từng thời kỳ và điềuước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Chính phủ quy định cụ thể danh mục hàng hóacấm xuất khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thủ tụccấp giấy phép Như vậy không phải mọi hàng hóa lưu thông trong nước đều có thể xuấtkhẩu hoặc mọi hàng hóa lưu thong tại thị trường nước ngoài đều được nhập khẩu vàoViệt Nam
Cụ thể, hàng hóa cấm xuất khẩu gồm: Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ côngnghiệp), di vật, bảo vật, cổ vật quốc gia; các loại văn hóa phẩm thuôc diện cấm phổ biến
và lưu hành tại Việt Nam; gỗ tròn, gỗ xẻ từ gỗ rừng tự nhiên trong nước; động vật, thựcvật hoang quý hiếm và giống vật nuôi, cây trồng quý hiếm; các loài thủy sản quý hiếm;các loại máy chuyên dụng về các chương trình phần mềm trong phạm vi bảo vệ bí mậtnhà nước; hóa chất độc hại quy định trong công ước cấm vũ khí hóa học
Hàng hóa cấm nhập khẩu bao gồm: Vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ (trừ vật liệu nổ côngnghiệp), pháo các lọai, hàng tiêu dùng đã qua sử dụng gồm: hàng dệt may, quần áo, hàngđiện tử, điện lạnh; hàng điện gia dụng, thiết bị y yế; hàng trang trí nội thất; hàng gia dụng
Trang 13bằng gốm sành sứ, thủy tinh, kim loại, cao su; các loại văn hóa phẩm cấm phổ biến vàlưu hành ở Việt Nam; phương tiện vận tải tay lái bên phải trừ các loại phương tiện hoạtđộng trong phạm vi hẹp gồm: xe cần cẩu, xe quét đường, xe đào rãnh; vật tư, phương tiện
đã qua sử dụng gồm: máy, khung, săm, lốp, phụ tùng, động cơ của ô tô, máy kéo và xehai bánh, ba bánh gắn máy; xe đạp; ô tô các loại đã thay đổi kết cấu, chuyển đổi côngnăng, đục sửa khung, số máy; phế liệu, phế thải, thiết bị làm lạnh sử dụng C.F.C; sảnphẩm, vật liệu cũ chứa amiăng thuộc nhóm amphibole; hóa chất độc bảng I được quyđịnh trong Công ước về vũ khí hóa học
Ngoài hàng hóa cấm nhập khẩu và xuất khẩu vừa nêu, pháp luật hiện hành còn quy định
về hàng hóa xuất nhập khẩu phải có giấy phép, hàng hóa xuất nhập khẩu phải đảm bảocác quy định về kiểm dịch động, thực vật, về vệ sinh an toàn thực phẩm
Liên quan đến àng hóa trong hợp đồng mua bán với thương nhân nước ngoài cần lưu ýphải bảo đảo các yêu cầu của pháp luật về nhãn hàng hóa và tên gọi, xuất xứ hàng hóa.Nhãn hàng hóa là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán,
in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa hoặctrên các chất liệu khác được gắn lên hàng hóa, bao bì thương phẩm của hàng hóa.hànghóa lưu thong trong nước, hàng hóa xuất nhập khẩu phải có nhãn hàng hóa, trừ một sốtrường hợp theo quy định của pháp luật
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứ nếu hàng hóa được ưuđãi về thuế hoặc ưu đãi khác theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều uớc quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Theo Nghị định 19/2006/NĐ-CPquy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về xuất xứ hàng hóa: Xuất xứ hàng hóa lànước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạnchế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùnglãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó Nghị định cũng quy định nhữngđiều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa và cơ quan nhà nước có thẩmquyền kiểm tra và cấp giấy chứng nhận
c) Điều kiện về nội dung của hợp đồng
Luật Thương mại 2005 không xác định tính chất (cơ bản hay không cơ bản) của các điềukhoản trong nội dung của hợp đồng Việc xác định các nội dung nào là cơ bản do hai bênthỏa thuận trong hợp đồng Tuy nhiên, một hợp đồng mua bán hàng hóa với thương nhânnước ngoài phải bảo đảm một số điều khoản tối thiểu được xem là điều kiện quan trọng;ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng thong thường trong thực tiễn giao dịch hợp đồng ởViệt Nam, các điều khoản sau được xem là chủ yếu:
Trang 14-Tên hàng;
-Số lượng;
-Quy cách, chất lượng;
-Giá cả;
-Phương thức thanh toán;
-Địa điểm và thời hạn giao nhận hàng;
-Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng;
-Luật áp dụng trong hợp đồng;
-Phương thức giải quyết tranh chấp;
d) Điều kiện về hình thức của hợp đồng
Hình thức của hợp đồng mua bán với thương nhân nước ngoài quy định phải lập thànhvăn bản
Luật Thương mại 2005 quy định: Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể được thể hiện bằnglời nói, văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể Tuy nhiên luật cũng quy định: đốivới các loại hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành vănbản thì phải tuân theo các quy định đó
Trong giao kết hợp đồng hiện nay ở nước ta, pháp luật cũng nhìn nhận các hình thức giátrị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thứckhác theo quy định của pháp luật
Quan điểm mới của Luật Thương mại trong quy định về hình thức của hợp đồng là việcnhìn nhận các thong điệp dữ liệu, tức là những thong tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưugiữ bằng phương tiện điện tử Lần đầu tiên, bằng một điều luật, các nhà lập pháp ViệtNam đã thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại, nếucác thong điệp dữ liệu này đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định củapháp luật
3 Thẩm quyền đại diện giao kết hợp đồng
Ở vấn đề đại diện trong ký kết hợp đồng được ghi nhận tại Điều 9 của pháp luật hợp đồngkinh tế và Điều 5 trong Nghị định 17/HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quyđịnh chi tiết thi hành pháp luật hợp đồng kinh tế, theo đó: Người ký hợp đồng là đại diệnhợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh Pháp nhân chỉ có thể
Trang 15tham gia và quan hệ hợp đồng kinh tế thông qua người đại diện của mình và người đạidiện nhất thiết phải hành động nhân danh pháp nhân và vì pháp nhân Đại diện hợp phápcủa pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể ủy quyền bằng văn bảncho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế Theo quy định trên, những người có thẩmquyền ký kết hợp đồng kinh tế là đại diện hợp pháp hoặc đại diện theo ủy quyền củanhững người đại diện hợp pháp Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp về cơbản có quyền chủ động quyết định trong việc đàm phán và ký kết hợp đồng nói chung vàhợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng.
Đại diện hợp pháp:
- Người đứng đầu pháp nhân theo quy định của Điều lệ pháp nhân hoặc quyết định của
cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là
tổ chức kinh tế được pháp luật quy định tương ứng với từng loại hình doanh nghiệp,
+Người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần là chủ tịch hội đồng quản trịhoặc giám đốc (tổng giám đốc) theo quy định tại điều lệ công ty;
+Người đại diện theo pháp luật của công ty hợp danh là các thành viên hợp danh;+Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp100% vốn đầu tư ngước ngoài là giám đốc (tổng giám đốc) theo quy định tại điều
lệ công ty;
- Chủ hộ gia đình đối với hộ gia đình;
- Tổ trưởng tổ hợp tác đối với tổ hợp tác;
- Những người khác theo quy định của pháp luật
Đại diện theo ủy quyền:
Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện vàngười được đại diện Việc ủy quyền phải được lập thành văn bản Điều 9 PLHĐKT quyđịnh: Đại diện hợp pháp của pháp nhân hoặc người đứng tên đăng ký kinh doanh có thể
ủy quyền bằng văn bản cho người khác thay mình ký hợp đồng kinh tế Người được ủyquyền chỉ ký hợp đồng trong phạm vi được ủy quyền và không được ủy quyền lại chongười thứ ba Từ quy định trên có thể nêu lên một số điểm như sau:
- Thứ nhất, Người được ủy quyền phải hành động “nhân danh”, “trên tài khoản” và “vìlợi ích” của người ủy quyền trong giao kết hợp đồng Trách nhiệm trước bên thứ ba thuộc
về người ủy quyền Người được ủy quyền chỉ được ký hợp đồng trong phạm vi được ủyquyền và không ủy quyền lại cho người thứ ba, nói cách khác người được ủy quyền chỉ