Hợp đồng là một công cụ pháp lý để xác lập quan hệ của các chủ thể phát sinh từ các giao lưu dân sự, kinh tế. Thực tế nhu cầu của các tổ chức, cá nhân trong đời sống xã hội là vô cùng đa dạng và phong phú. Để đáp ứng nhu cầu đó, con người phải quan hệ với nhau thông qua các hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa với nhau. Công việc của các bên được thực hiện thông qua những cam kết đó là hợp đồng
Trang 1MỞ ĐẦU
Hợp đồng là một công cụ pháp lý để xác lập quan hệ của các chủ thểphát sinh từ các giao lưu dân sự, kinh tế Thực tế nhu cầu của các tổ chức, cánhân trong đời sống xã hội là vô cùng đa dạng và phong phú Để đáp ứng nhucầu đó, con người phải quan hệ với nhau thông qua các hoạt động mua bán,trao đổi hàng hóa với nhau Công việc của các bên được thực hiện thông quanhững cam kết đó là hợp đồng Tuy hợp đồng là sự thỏa thuận tự nguyện củacác bên nhưng để sự tự nguyện đó không ảnh hưởng tới lợi ích của ngườikhác và lợi ích của cộng đồng thì cần thiết phải có sự điều chỉnh của phápluật Trải qua các giai đoạn khác nhau, pháp luật về hợp đồng ở nước ta cũng
có nhiều thay đổi Trong thời kỳ kinh tế tập trung (trước năm 1986) vấn đềhợp đồng chủ yếu mang tính hành chính mà tập trung nhiều và biểu hiện rõnét đó là các hợp đồng theo chỉ tiêu pháp lệnh, nó không thể hiện đúng bảnchất của hợp đồng Sự ra đời của Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế, Pháp lệnh Hợpđồng dân sự, Bộ luật Dân sự năm 1995 và đặc biệt sự ra đời Bộ luật Dân sựnăm 2005 (gồm 215 điều quy định về hợp đồng dân sự trên tổng số 777 điềuluật) chế định hợp đồng đã được hoàn thiện
Mặc dù Bộ luật Dân sự năm 2005 có nhiều quy định mới tiến bộ về hợpđồng nhưng việc áp dụng trong thực tế đang bộc lộ những điểm bất cập, nhữngthiếu sót nhất định Thực tế đó đã đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu làm rõ các quyđịnh mới của Bộ luật dân sự 2005 liên quan đến hợp đồng; đánh giá sự tác độngcủa nó đến thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng, phát hiện những quy địnhbất hợp lý và từ đó đề xuất khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh phápluật đối với quan hệ hợp đồng, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường
Với lý do đó tác giả chọn chủ đề: "Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng đáp yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay" làm nội dung tiểu luận môn Luật kinh tế.
Trang 2NỘI DUNG
I MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VÀ PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG
1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của hợp đồng
1.1 Khái niệm và những đặc điểm của hợp đồng
a Khái niệm về hợp đồng
Ở Việt Nam, các quy định về khế ước cũng như hợp đồng được thể hiện
cụ thể nhất trong hệ thống pháp luật của nhà Lê về các nội dung: hiệu lực và sự
vô hiệu của hợp đồng, hình thức hợp đồng; nghĩa vụ thực hiện hợp đồng; phạthợp đồng và đền bù thiệt hại (theo cổ luật Việt Nam lược khảo) được thể hiện
ẩn dưới các quy định hình luật
Về bản chất, hợp đồng là một giao dịch mà trong đó các bên thỏa thuậnvới nhau nhằm đi đến thống nhất để cùng nhau làm phát sinh các quyền vànghĩa vụ nhất định Trên phương diện này, hợp đồng vừa được xem xét ởdạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát Qua các thời kỳ phát triểnkinh tế - xã hội, pháp luật Việt Nam đưa ra những khái niệm khác nhau về
hợp đồng Theo Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991: “Hợp đồng là
sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng”
Bộ luật Dân sự năm 2005 đưa ra định nghĩa về hợp đồng một cách khái
quát hơn: "Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự" (Điều 388 Bộ luật Dân sự năm
2005) Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thỏa thuận để một bênchuyển tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thỏathuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó Đối với các hợp đồng được kýkết nhằm mục đích kinh doanh ngoài có những dấu hiệu chung của hợp đồngthì hợp đồng kinh doanh có sự khác biệt thêm Hợp đồng kinh doanh được hiểu
Trang 3là sự thỏa thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết về việcthực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hóa, dịch vụ, nghiên cứu, ứng dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật và các thỏa thuận khác có mục đích tìm kiếm lợinhuận với sự quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Tóm lại, từ những nội dung cơ bản trên chúng ta có thể khái quát Hợp đồng nó chính là thoả thuận của các bên nhằm thống nhất các quyền và nghĩa vụ pháp lý.
b Những đặc điểm cơ bản của hợp đồng
Từ khái niệm và bản chất của hợp đồng chúng ta có thể thấy một số đặcđiểm cơ bản của hợp đồng như sau:
Thứ nhất, chủ thể của hợp đồng: Phạm vi chủ thể của hợp đồng rất rộng
lớn Tùy từng lĩnh vực và ngành nghề khác nhau mà pháp luật giới hạn phạm
vi chủ thể cho phù hợp để nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trong hợpđồng Chủ thể của hợp đồng bao gồm cá nhân có năng lực pháp luật và nănglực hành vi dân sự, các tổ chức, doanh nghiệp, và các pháp nhân khác đượcpháp luật thừa nhận có tư cách pháp lý độc lập với nhau, hoàn toàn bình đẳngvới nhau khi tham gia quan hệ hợp đồng Tuỳ từng loại hợp đồng mà phápluật có thể quy định những điều kiện ràng buộc cho các chủ thể hợp đồng phảiđáp ứng, ví dụ: cá nhân phải đủ độ tuổi, doanh nghiệp phải có ngành nghềkinh doanh phù hợp
Thứ hai, sự tự nguyện khi thỏa thuận và ký kết hợp đồng: Trên cơ sở tự
do ý chí của các bên khi thỏa thuận và ký kết hợp đồng, sự can thiệp của phápluật về vấn đề hợp đồng sẽ bảo đảm cho các quan hệ hợp đồng được phát triển
ổn định và đúng định hướng đã dự định
Thứ ba, các bên bình đẳng về quyền và nghĩa vụ: Trong hợp đồng,
quyền lợi của bên này có nghĩa đó là nghĩa vụ của bên còn lại và ngược lạinghĩa vụ của bên này chính là quyền của bên còn lại Quyền và nghĩa vụ củacác bên hình thành từ sự tự nguyện thoả thuận của các bên, các bên tự mìnhđàm phán, trao đổi và ghi nhận quyền và nghĩa vụ đó
Trang 4Thứ tư, về hình thức của hợp đồng: Theo quy định của Bộ luật Dân sự
thì hợp đồng được ký kết dưới nhiều hình thức khác nhau như: văn bản, lờinói hay các hành vi cụ thể; trong một số trường hợp khác pháp luật quy địnhhợp đồng phải ký dưới một hình thức nhất định (như hợp đồng phải ký bằngvăn bản có công chứng, chứng thực hợp lệ) thì phải tuân thủ hình thức đó.Văn bản là hình thức có thể thể hiện một cách hữu hình nội dung của hợpđồng mà các bên đã thỏa thuận với nhau Đó có thể là bản hợp đồng với đầy
đủ chữ ký của các bên hoặc công văn, tài liệu giao dịch chứa đựng những nộidung chủ yếu của hợp đồng mà các bên đã thỏa thuận được với nhau
1.2 Vai trò của hợp đồng
Xuất phát từ bản chất, đặc điểm, các hình thức khác nhau của hợp đồng
ta thấy hợp đồng có một số vai trò như sau:
- Hợp đồng là cơ sở quan trọng để xây dựng và thực hiện kế hoạch củacác bên Có thể khẳng định rằng trong tất cả mọi vấn đề nếu không xây dựng
kế hoạch cụ thể và chi tiết thì mọi công việc tiến hành đều rơi vào tình trạngkhông có phương hướng và để bảo đảm việc xây dựng kế hoạch được bảođảm thì một trong những cơ sở quan trọng bắt nguồn của vấn đề chính là hợpđồng Hợp đồng là một phương tiện để kiểm tra việc thực hiện kế hoạch củacác bên ký kết
- Hợp đồng làm cho lợi ích của các bên ký kết phù hợp với lợi íchchung của nền kinh tế quốc dân Cho dù nội dung của hợp đồng chủ yếu đượccác bên tự thoả thuận nhưng sự thoả thuận đó phải trong khuôn khổ pháp luật
và việc các nhà xây dựng pháp luật trong quá trình soạn thảo để ban hành đãphải tính toán các lợi ích của nền kinh tế quốc dân
- Hợp đồng là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời của cơ chế quản
lý mới Một trong những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa là sự điều tíêt của nền kinh tế được đặt dưới điều tiếtcủa Nhà nước và sự tự điều tiết của các quy luật thị trường Nhà nước chỉ tậptrung quản lý ở tầm vĩ mô, còn quá trình tổ chức và quản lý sẽ thuộc về các
Trang 5doanh nghiệp Như vậy, một trong những nội dung quan trọng để Nhà nướcquản lý và bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân và tổ chức đó là hợpđồng Bên cạnh Nhà nước sử dụng hợp đồng như một công cụ quản lý mới thìchính các tổ chức với tổ chức, tổ chức với cá nhân thành viên có liên quan, cánhân với cá nhân, hợp đồng cũng là cơ sở tạo sự ràng buộc lẫn nhau và trởthành công cụ quản lý hiệu quả.
2 Khái niệm, nguyên tắc của pháp luật về hợp đồng
2.1 Khái niệm pháp luật về hợp đồng
Từ khái niệm về hợp đồng, các đặc điểm của hợp đồng cũng như vai tròcủa hợp đồng cho ta thấy các quan hệ về hợp đồng tồn tại trong nhiều lĩnhvực khác nhau Điều này cho thấy quan hệ hợp đồng có phạm vi rất rộng Đểbảo đảm các quan hệ hợp đồng được phát triển đúng mục đích và yêu cầu củaNhà nước cũng như quan hệ hợp đồng được ký kết và thực hiện trên nguyêntắc bình đẳng và tự nguyện của các bên, bảo đảm lợi ích cũng như nghĩa vụcho các bên tham gia ký kết thì quan hệ hợp đồng cần thiết phải có sự điềuchỉnh của pháp luật Bộ luật Dân sự là văn bản pháp luật chứa dựng nhiều quyđịnh nhất về hợp đồng, đây cũng là văn bản quy định luật chung về hợp đồng
Ở Việt Nam, do tính chất riêng biệt của quan hệ hợp đồng tồn tại trong nhiềunhành nghề khác nhau, nhiều lĩnh vực khác nhau mà Quốc hội của nước ViệtNam sẽ không ban hành văn bản pháp luật quy định riêng biệt về hợp đồng.Các quy định pháp luật về hợp đồng của nước ta tồn tại trong nhiều văn bảnquy phạm pháp luật khác nhau Ngoài các quy định chung về hợp đồng trong
Bộ luật Dân sự có thể tìm thấy những quy định về từng hợp đồng cụ thể trongcác văn bản khác nhau như: Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo hiểm Cáchợp đồng trong những lĩnh vực khác nhau sẽ do pháp luật chung về hợp đồngkết hợp với pháp luật chuyên ngành điều chỉnh Chẳng hạn, hợp đồng thươngmại sẽ do Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại điều chỉnh; hợp đồng lao động sẽ
do Bộ luật Lao động điều chỉnh Khi nói tới pháp luật về hợp đồng, nhiềungười có quan điểm rằng phải tách riêng từng loại hợp đồng riêng biệt Chẳng
Trang 6hạn, hợp đồng dân sự sẽ có những nội dung và đặc điểm khác với hợp đồngtrong kinh doanh, hợp đồng thương mại khác với hợp đồng lao động…
Tuy nhiên, để cho hợp đồng được ký kết giữa các chủ thể được thựchiện có hiệu quả và bảo đảm được sự quản lý của Nhà nước thì Nhà nước banhành nhiều quy phạm pháp luật để áp dụng trong việc cụ thể hóa các vấn đềcủa hợp đồng Như vậy, pháp luật về hợp đồng bao gồm một hệ thống các vănbản pháp luật khác nhau, trong mỗi văn bản pháp luật đó sẽ bao gồm nhiều điềuluật quy định cụ thể hóa các nội dung của hợp đồng, định hình các quy tắc xử
sự của các bên tham gia quan hệ hợp đồng Từ đó ta có thể kết luận pháp luật
về hợp đồng như sau: Pháp luật về hợp đồng là một hệ thống các quy tắc xử
sự, do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm bảo vệ quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hợp đồng
2.2 Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng
* Tôn trọng quyền thỏa thuận tự nguyện của các bên
Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có quyền tự do cam kết, thỏathuận phù hợp với pháp luật trong việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụdân sự Mọi cam kết và thỏa thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ
Khi cam kết, thỏa thuận các bên hoàn toàn tự nguyện, không được aidùng bất cứ thủ đoạn nào nhằm buộc một người cam kết, thỏa thuận trái với ýchí của người đó Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên
có thể coi là vô hiệu
Khi tiến hành thỏa thuận các chủ thể đều bình đẳng, không được lấy bất
cứ một lí do nào về sự khác biệt để đối xử không bình đẳng Các chủ thể bìnhđẳng về năng lực pháp luật, bình đẳng giữa các hình thức sở hữu khi giao kếthợp đồng
Trong quan hệ hợp đồng các bên phải hợp tác, giúp đỡ nhau để tạo lập
và thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận Ngoài ra, đòi hỏi các bênphải tìm mọi biện pháp cần thiết để khắc phục và hạn chế thiệt hại Tuy nhiên,
Trang 7trong quan hệ dân sự các bên được suy đoán là trung thực, thiện chí Nếu mộtbên cho rằng bên kia không trung thực, thiện chí phải có chứng cứ.
* Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ hợp đồng
Trách nhiệm trong hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý nhưngtrước tiên là trách nhiệm của người vi phạm đối với người bị vi phạm Người
có nghĩa vụ phải thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của họ nếu các quyền vànghĩa vụ đó phát sinh từ các căn cứ hợp pháp Nếu không thực hiện phải tựchịu trách nhiệm và có thể bị cưỡng chế thi hành nghĩa vụ và phải bồi thườngthiệt hại (nếu có) Mỗi chủ thể tham gia phải tự chịu trách nhiệm về hành vi
của mình (Điều 7 Bộ luật Dân sự).
Quyền sở hữu và các quyền tài sản khác là những quyền quan trọngnhất của công dân cũng như tổ chức trong giao lưu dân sự, kinh tế; là cốt lõitrong các quyền dân sự của các chủ thể và chi phối các quyền năng khác Mọichủ thể có nghĩa vụ tôn trọng quyền sở hữu, quyền tài sản của các chủ thểkhác Khi có hành vi xâm phạm đến tài sản của người khác, ngoài việc ápdụng các biện pháp cưỡng chế (hình sự, hành chính…) cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền áp dụng các biện pháp dân sự với mục đích khôi phục lại tìnhtrạng tài sản của người bị xâm phạm, bảo đảm quyền sở hữu tài sản của các
chủ thể được thực hiện bình đẳng (Điều 9 Bộ luật Dân sự).
* Bảo vệ trật tự công và lợi ích của người thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng
Việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ hợp đồng nhằm thỏa mãnnhu cầu vật chất và tinh thần của các bên tham gia vào quan hệ đó Tuy nhiên,khi thực hiện các hành vi không được phép thực hiện tùy tiện mà phải thựchiện trong khuôn khổ, giới hạn của hợp đồng Quyền của một chủ thể đượcgiới hạn bởi quyền của các chủ thể khác, lợi ích của Nhà nước, lợi ích côngcộng, nhằm bảo đảm việc các chủ thể gây thiệt hại cho các chủ thể còn lại thìphải bồi thường các thiệt hại như đã thỏa thuận trong hợp đồng
* Tuân thủ pháp luật, đạo đức và truyền thống tốt đẹp
Quan hệ hợp đồng luôn luôn đề cao tính tự nguyện và sự tự do ý chí
Trang 8của các bên trong việc thoả thuận ký kết hợp đồng, nội dung này của hợpđồng luôn được pháp luật ghi nhận và bảo đảm Tuy nhiên, việc phát huyquyền tự do hợp đồng của các bên luôn phải được đặt trong mối quan hệ vớilợi ích của người khác và những giá trị văn hoá truyền thống Chính vì vậy,quyền tự do hợp đồng luôn phải được đặt trong khung khổ pháp luật của Nhànước, nghĩa là các bên được quyền phát huy tối đa quyền tự do hợp đồngnhưng việc phát huy đó phải đặt trong sự kiểm soát của pháp luật Bên cạnhviệc tuân thủ đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật các bên tham gia hợpđồng cần phải tôn trọng những giá trị đạo đức và những truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc v.v
II QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HỢP ĐỒNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CỦA NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Quá trình phát triển pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam từ 1995 đến nay
Qua nghiên cứu về quá trình phát triển pháp luật hợp đồng tác giả trìnhbày khái lược và phân chia thành các giai đoạn cơ bản như sau:
* Giai đoạn trước năm 1995: Trong những năm đầu giành được chính
quyền, pháp luật của Việt Nam dân chủ cộng hoà còn sử dụng nhiều hình thứcpháp luật cũ, do vậy pháp luật hợp đồng cũng tồn tại trong nhiều văn bản phápluật của giai đoạn Pháp thuộc để lại
Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 90/SL chophép tạm sử dụng một số luật lệ hiện hành ở Bắc - Trung - Nam cho đến khi
ban hành những bộ luật duy nhất cho toàn quốc nếu "những luật lệ ấy không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chỉnh thể dân chủ cộng hòa" Đồng thời, các Bộ luật Dân sự Nam Kỳ giản yếu 1883; Bộ dân luật Bắc
Kỳ 1931 và Bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ Hộ luật) 1936 đượctiếp tục thi hành Như vậy, tại ba miền Bắc - Trung - Nam tồn tại ba bộ dânluật 1883, 1931, 1936
Trang 9Tiếp đó, ngày 22/5/1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh 97/SL
"Sửa đổi một số quy lệ và chế định trong dân luật", việc này có ý nghĩa đặc biệt
trong sự phát triển của luật dân sự Sắc lệnh này một mặt không hủy bỏ nhưngquy định của các bộ dân luật cũ, mặt khác nó bổ sung, thay đổi làm cho các bộluật của "đế quốc phong kiến" có nội dung mới, đáp ứng yêu cầu hiện tại củacác vấn đề luật dân sự và đặc biệt là các vấn đề về hợp đồng, đem đến nhữngbiến đổi thực sự trong cách thức sinh hoạt và tư tưởng của nhân dân Việt Nam;đặt cơ sở, những nguyên tắc cơ bản cho sự hình thành và phát triển của luật dân
sự - pháp luật dân sự của một Nhà nước độc lập, có chủ quyền "Khi lập ước mà
có sự tổn thiệt do sự bóc lột của một bên vì điều kiện kinh tế của hai bên chênh lệch thì khế ước có thể bị coi là vô hiệu" (Điều 13)…
Đây cũng là giai đoạn các đơn vị kinh tế cơ quan, xí nghiệp Nhà nước,tiến hành song song với hoạt động kinh tế tư nhân Để thu hút mọi hoạt độngkinh tế và xây dựng quan hệ sản xuất mới – qun hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa.Thủ tướng đã ban hành Nghị định 735/TTg ngày 10/4/1957, kèm theo nghị định
là bản điều lệ tạm thời về hợp đồng kinh doanh Nội dung chính của bản điều lệquy định tính chất các quan hệ hợp đồng giữa các đơn vị kinh tế kinh doanh hợptác xã, công ty hợp doanh, tư doanh Việt Nam và ngoại kiều kinh doanh trên đấtViệt Nam Nội dung chính của điều lệ kèm theo Nghị định 735/TTg đã đề cậptới hợp đồng kinh doanh, hợp đồng kinh doanh được thiết lập trên phương thứchai hay nhiều đơn vị kinh doanh tự nguyện ký kết với nhau để thực hiện các mụcđích nhất định, nhằm phát triển kinh doanh công nghiệp và thương nghiệp, gópphầm thực hiện những công việc của Nhà nước giao cho Hợp đồng kinh doanhđược xây dựng trên nguyên tắc các bên tự nguyện ký kết, cùng có lợi và đem lạilợi ích cho nền kinh tế quốc dân Nội dung của điều lệ còn quy định thêm mộtbên tham gia ký kết hợp đồng kinh doanh là tư doanh, tuy nhiên các hợp đồngkinh doanh có tư doanh tham gia phải được đăng ký tại cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền (thông thường là cơ quan công thương tỉnh hay Ủy ban hành chínhcấp huyện) Điều lệ tạm thời về hợp dòng kinh doanh của Nghị định 735/TTg
Trang 10ngày 10/04/1975 đã đóng góp một phần nhất định trong viẹc khai thác các thànhphần kinh tế vào phát triển chung của nền kinh tế đất nước, cải tạo quan hệ cũ vàtừng bước xây dựng quan hệ mới
Hiến pháp năm 1959 ra đời đánh dấu một giai đoạn phát triển của quátrình lập pháp Việt Nam, Hiến pháp của Nhà nước dân chủ cộng hòa, Hiếnpháp của thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh thống
nhất đất nước Xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã đặt ra yêu cầu "xoá
bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện phương pháp quản lý theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, … xây dựng cách tổ chức quản lý của nền công nghiệp lớn nhằm thúc đẩy quá trình đưa nền kinh tế quốc dân từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa" Ngày 10/3/1975 Chính phủ
đã ban hành bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh doanh (ban hành kèm theoNghị định 54/CP ngày 10/3/1975 của hội đồng chính phủ) Nội dung chính củaNghị định 54/CP chủ yếu gồm các vấn đề: Vai trò của hợp đồng kinh tế,nguyên tắc ký kết, và thực hiện hợp đồng kinh tế, giải quyết tranh chấp và tráchnhiệm do vi phạm chế độ hợp đồng … Đặc điểm chính của hợp đồng theo Nghịđịnh 54/CP là khi ký kết hợp đồng phải bảo đảm hai yêu cầu: bảo đảm yếu tốtrao đổi tài sản và bảo đảm tính kế hoạch của Nhà nước Việc quy định hợpđồng phải bảo đảm yếu tố kế hoạch của Nhà nước đã làm cho bản chất của hợpđồng bị thay đổi và hợp đồng trở thành công cụ của Nhà nước để can thiệp vàocác hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, nội dung quy định Nghị định 54/CP vềhợp đồng cũng đã đáp ứng yêu cầu của công việc của công cuộc cải cách kinh
tế, đưa quan hệ hợp đồng trở thành nề nếp
Từ đầu những năm 80, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật
để áp dụng các quan hệ hợp đồng Đặc trưng của các quy định pháp luật ápdụng các quan hệ hợp đồng trong giai đoạn này là chịu ảnh hưởng sâu sắc của
cơ chế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp cao độ, biện pháp hànhchính được sử dụng phổ biến làm sai lệch bản chất của các quan hệ hợp đồng
Trang 11với những đặc trưng của nó bình đẳng, tự định đoạt giữa các chủ thể Phươngpháp áp dụng của luật hành chính đã phổ cập trong các quan hệ dân sự
Từ giữa những năm 80, khi đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, pháttriển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nướcđịnh hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cánhân, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa cácchủ trương, đường lối của Đảng về đổi mới kinh tế - xã hội Nhìn chung,các văn bản này đã góp phần phát huy tiềm năng của các thành phần kinh
tế, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần Bước đầu thể hiệnđược những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng là tự nguyện, bìnhđẳng, hợp tác, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau phù hợp với thông lệ quốc tếtrong giao lưu dân sự
Các văn bản ban hành trong giai đoạn này có tính hiệu lực tương đốicao thể hiện dưới dạng Luật, Pháp lệnh và các Nghị định hướng dẫn thi hành,các Luật và Pháp lệnh được Quốc hội và Hội đồng Nhà nước ban hành Cácvăn bản pháp luật, Pháp lệnh Chuyển giao công nghệ nước ngoài vào ViệtNam (1988): nội dung chính của pháp lệnh là quy định các điều kiện của cácdây chuyền công nghệ khi chuyển vào Việt Nam, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế(1989), Pháp lệnh Hợp đồng dân sự (1991) Đối với pháp lệnh hợp đồng kinh
tế ở Việt Nam, nó đã thể chế hoá được những quan điểm và tư tưởng về đổimới trong quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước, bảo đảm tính chất bìnhđẳng và tự nguyện khi ký kết hợp đồng kinh tế, tách các quan hệ hợp đồngkinh tế thành một loại hợp đồng độc lập và nhằm phục vụ cho các hoạt độngsản xuất kinh doanh, (vì đây là giai đoạn Nhà nước ta đã thực hiện chủchương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơchế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.Đặc biệt, đây là giai đoạn thực hiện chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài
và sự xuất hiện các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).Việc ban hành pháp lệnh hợp đồng kinh tế đã đánh dấu sự ra đời của loại hợp
Trang 12đồng mới trong hệ thống các loại hợp đồng đó là hợp đồng kinh tế "Hợp đồngkinh tế là sự thoả thuận bằng văn bản, tài liệu giao dịch giữa các bên ký kết vềviẹc thực hiện công việc sản xuất, trao đổi hàng hoá, dịch vụ, nghiên cứu ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thoả thuận khác có mục đích kinhdoanh với sự quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của bên đẻ thực hiện kếhoạch của mình" (Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng kinh tế 25/09/1989) Pháp lệnhhợp đồng dân sự được ban hành đã cụ thể hoá các quan hệ hợp đồng dân sự
và tách biệt nó với các hợp đồng kinh tế
* Giai đoạn từ 1996 đến 2005: Nhà nước ta ban hành Hiến pháp 1992
-Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổimới Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, hàng loạt các văn bản pháp luật đượcban hành, sửa đổi, áp dụng cho phù hợp với Hiến pháp
Bộ luật Dân sự được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1/7/1996 Sự rađời của Bộ luật Dân sự năm 1996 là một bước phát triển rất tiến bộ của khoahọc pháp lý nói chung và các quan hệ hợp đồng dân sự nói riêng cũng đượcđiều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật ở cấp độ bộ luật, Trong Bộ luật dân sự
có tới 204 điều quy định về hợp đồng bao gồm nhiều nội dung như: giao kếthợp đồng, thực hiện hợp đồng, sửa đổi chấm dứt hợp đồng và quy định nhiềuloại hợp đồng thông dụng trong đời sống kinh tế Bộ luật Dân sự năm 1996 đãđóng góp quan trong trong các giao dịch dân sự nói chung và hợp đồng nóiriêng, tách biệt cụ thể gữa hợp đồng kinh tế và hợp đồng dân sự Luật Thươngmại năm 1997, đã bổ sung những thiếu sót và bất cập của pháp lệnh hợp đồngkinh tế năm 1989 như: chủ thể tham gia ký kết hợp đồng thương mại có thể làcác cá nhân là thương nhân mà không cần thiết phải là pháp nhân, mở rộnghơn phạm vi hình thức của hợp đồng như: hợp đồn có thể ký kết qua fax, thưđiện tử… Như vậy, hệ thống pháp luật về hợp đồng trong giai đoạn này chủyếu được quy định trong Bộ luật Dân sự, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế, luậtThương mại Do tính độc lập của Bộ luật Dân sự với Pháp lệnh hợp đồng kinh
tế, Luật Thương mại, hợp đồng đã hình thành hai nhóm hợp đồng lớn đó là