1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thơ thiền trong văn học lý trần

23 254 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 58,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển từ lâu đời nay và trong đó có sự xen lẫ của các yếu tố phật giáo, chính yếu tố Phật giáo với tư tưởng nhân văn là từ bi bác ái đó đã l

Trang 1

Thơ Thiền trong văn học Lý Trần

MỞ ĐẦU 1.Lí do chọn đề tài

Văn học là một hình thái ý thức xã hội gắn liền với xã hội cụ thể, nhất là văn học trung đại Khi nghiên cứu về văn học dân tộc, nhất là văn học trung đại Việt Nam chúng ta không thể nào quên nền văn học Phật giáo hay nói đúng hơn là những yếu tố Phật giáo nằm trong văn học thi ca Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời vì một đại sự nhân duyên “KHAI THỊ NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN CHO CHÚNG SANH” – Ngọn đuốc trí tuệ đó Đức Phật đã thắp lên từ hơn 25 thế kỷ qua vẫn tiếp tục soi sáng cho chúng ta ngày nay Để tiếp nối hạnh nguyện cao cả của Đức Phật, các Thiền sư thời Lý – Trần đã sống và hành động theo lời dạy của Đức Phật

Khi nghiên cứu văn học dân tộc, nhất là văn học trung đại Việt Nam chúng ta không thể nào quên nền văn học Phật giáo và đặc biệt là các văn thơ của thơ Thiền Lý Trần

Văn học trung đại Việt Nam hình thành và phát triển từ lâu đời nay và trong đó có sự xen lẫ của các yếu tố phật giáo, chính yếu tố Phật giáo với tư tưởng nhân văn là từ bi bác ái đó đã làm cho nền văn học trung đại Việt Nam ngày một phát triển Chính yếu tố Phtj giáo đó đã làm nên một giai đoạn văn học trung đại Việt Nam trầm hùnh thanh thoát và sâu lắng, nó đi sâu vào tâm thức người Việt với những giá trị nhân văn cao đẹp

Đề tài thu hút nhiều nhà nghiên cứu tham gia và tìm hiểu, mặc dù chỉ được tìm hiểu qua một thờigian hạn hẹp, song qua những bài giảng, cộng với sự tận tuỵ nhiệt tình của giảng viên, tôi cũng muốn tìm hiểu một khía cạnh nào đó về yếu tố phật giáo và đạo giáo trong văn học trung đại Học phần “Văn học so sánh” vấn đề nào cũng hấp dẫn và thú vị, nhưng tôi vẫn tâm đắc nhất là vấn đề “ Yếu tố phật giáo và Đạo giáo trong văn học trung đại”

Vậy khi xem xét phương diện này ta sẽ thấy điều gì hấp dẫn và đặc sắc? Trả lời câu hỏi đó chúng

ta hãy cùng nhau nghiên cứu về vấn đề này và đó cũng là lí do để tôi chọn vấn đề làm đề tài nghiên cứu

Và nhiều công trình khác nhưng tôi không thể đưa vào hết, từ những công trình đó tôi mạnh dạn

đi vào nghiên cứu vấn đề

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Ở đầ tài này đối tượng nghiên cứu của nó là “Yếu tố Phật giáo và đạo giáo trong văn học trung đại”

Phạm vi nghiên cứu: Với đề tài là nghiên cứu: “Yếu tố Phật giáo và đạo giáo trong văn học trungđại” Nhừg tôi chỉ đi nghiên cứu về Phật giáo trong văn học trung đại, mà phạm vi nghiên cứu chủ yếu là: Thơ Thiền trong văn học Lý- Trần

4 Phương pháp nghiên cứu.

Để nghiên cứu đề tài này trước tiên tôi đã tìm hiểu về lịch sử nghiên cứu của vấn đề, tìm hiểu và

Trang 2

nhìn nhận các khía cạnh mà các tác giả đã nghiên cứu từ đó rút ra vấn đề chung nhất cho vấn đề cần giải quyết Kết hợp tổng hợp và phân tích để đi đến kết luận.

5 Bố cục đề tài.

Đề tài tôi nghiên cứu gồm ba phần, ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của đề tài gồmhai chương chính:

Chương 1: Những vấn đề chung

Chương 2: Thơ Thiền trong văn học Lý Trần

Cuối cùng là thư mục tài liệu tham khảo

NỘI DUNG CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1Văn học trung đại Việt Nam

Văn học trung đại còn được gọi bằng những cái tên khác nhau như văn học thành văn, văn học phong kiến, văn học cổ điển Bởi từ TK X đến TK XIX, văn học trung đại phát triển trong một môi trường xã hội phong kiến với ý thức hệ nho giáo, lực lượng sáng tác chủ yếu là tầng lớp trí thức, những người có trình độ cao, được đào tạo từ ''cửa Khổng sân Trình'' và những sánh tác chỉ lưu truyền trong tầng lớp công chúng ấy, bên cạnh đó văn học thời kì này còn chịu ảnh hưởng bởi thi pháp văn chương cổ điển Văn học trung đại tồn tại và phát triển trong suốt mười thế kỉ nhưng không bao giờ tách rời khỏi cảm hứng yêu nước; cảm hứng nhân đạo, thế sự

Khi vận mệnh đất nước gặp nguy nan thì cảm hứng chủ đạo của văn học là cảm hứng yêu nước

và văn học trung đại luôn bám sát lịch sử dân tộc, phản ánh những sự kiện trọng đại liên quan đến vận mệnh đất nước Cảm hưng yêu nước luôn gắn liền với tư tưởng trung quân như là một tất yếu trong lịch sử xã hội phong kiến, bởi xã hội phong kiến quan niệm nước là vua, vua là nước Do đó văn học có một quan niệm: yêu nước là phải trung với vua và trung với vua là phải yêu nước (trung quân ái quốc) Cảm hứng yêu nước được thể hiện phong phú, đa dạng qua mội thời kì lịch sử, khi đất nước có giặc ngoại xâm (căm thù giặc ngoại xâm, xót xa trước cảnh người

bị đàn áp, ý chí tiêu diệt kẻ thù, sẵn sàng xả thân vì nước), khi đất nước hòa bình (khát khao xây dựng Tổ quốc, yêu thiên nhiên, con người, tự hào với truyền thống dân tộc), âm hưởng hào hùng,khi thì bi tráng, khi thì trầm lắng, thiết tha

Khi vận mệnh cá nhân con người, quyền sống, quyền hạnh phúc của con người bị đe dọa thì cảmhứng nhân đạo lại thăng hoa rực rỡ Văn học trung đại Việt Nam luôn gắn bó với số phận con người Cảm hứng nhân đạo có hàm chứa cảm hứng yêu nước bởi có những bài ca yêu nước thể hiện nỗi băn khoăn, day dứt trước số phận con người Tư tưởng nhân đạo trong văn học trung đạiViệt Nam là sự kế thừa của truyền thống tư tưởng lớn của con người Việt Nam: thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách; tư tưởng của phật giáo: từ bi bác ái, yêu thương con người rộng rãi; và tư tưởng của nho giáo: cái nhân cái nghĩa ĐIều này được thể hiện một cách đadạng qua việc ca ngợi vẻ đẹp con người, đồng cảm với bi kịch con người, đồng tình với ước mơ, khát vọng của con người, lên án các thế lực bạo tàn Tư tưởng nhân đạo được thể hiện một cách đầy đủ nhất trong nội dung của tác phẩm Truyện Kiều, đỉnh cao của tư tưởng nhân văn chủ nghĩa

Các tác phẩm trong giai đoạn văn học này cũng thể hiện một quan niệm thẩm mĩ truyền thống của người Việt Nam Người Việt Nam rất yêu thiên nhiên, yêu đời sống vui vẻ, lạc quan, có nghị lực và sức mạnh vượt qua thử thách

Trung đại” là một thuật ngữ của khoa học lịch sử phương Tây để chỉ một thời đại nằm giữa thời

Trang 3

cổ đại và thời cận đại, có nghĩa là giai đoạn lịch sử gắn liền với chế độ phong kiến Thuật ngữ

“Văn học trung đại” được dùng khá phổ biến ở Việt Nam trong vòng vài chục năm trở lại đây(1),thay cho khái niệm tương tự: văn học thời “trung cổ” hay “trung thế” (thậm chí “trung thế kỷ”

như cách dịch trong công trình Phương Đông và Phương Tây của N.Konrat(2)), tuy cũng không

phải đồng nhất hoàn toàn Một trong những nghĩa khác của “Trung cổ” hay “Trung thế” là chỉ một giai đoạn trong văn học thời phong kiến mà thôi

1.2Thơ thiền trong văn học trung đại.

1.2.1 Khái niệm thơ thiền

Trong từ điển Nho, Phật, Đạo, NXB Văn học Hà Nội (2001) cho rằng, thơ Thiền lúc đầu là những bài kệ Đây là thể văn Phật giáo, còn gọi là “tụng”, nói chung là do bốn câu tổ thành Có các loại, 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 32 chữ Là văn vần, loại thể tài giống như thơ Nhưng từ đời Đường, kệ được “thơ hoá” Nhà thơ nói bang hình ảnh, kêu gọi chứ không dung khái niệm khô khan Do vậy, thơ kệ làm thành một bộ phận của tghơ Thiền, tức dòng thơ thể hiện cảm xúc mang ý vị Thiền học nhưng vẫn đậm đà chất thơ Kệ thường được viết trong những hoàn cảnh: lúc nhà thơ sắp viên tịch, khi ngộ đạo, khi trả lời đệ tử về giáo lí đạo Phật… Các bài kệ hầu hết không có nhan đề, nhan đề là do người đời sau đặt ra Theo GS Trần Đình Sử, thơ Thiền phải có

ba tính chất: Truyền nhận được cảm nhận thế giới của Thiền học, bộc lộ được vẻ đẹp của thế giới, của tâm hồn và là thơ của tầng lớp tăng lữ cao cấp, tầng lớp trí thức đặc biệt, không giống với tình cảm Phật giáo dân gian

Nguyễn Phạm Hùng trong luận án PTS “Vận dụng quan điểm thể loại vào việc nghiên cứu văn học Việt Nam thời Lý – Trần” đã tổng kết quan niệm về thơ Thiền như sau: “Thơ Thiền là các bài

kệ, là thơ bao gồm cả kệ và thơ, nêu lên một triết lý, một quan niệm Thiền hay một bài học Thiềnnào đó, hoặc vừa ảnh hưởng Thiền vừa mang rung động thi ca có tính trần thế Thơ Thiền là thơ cuảt các nhà sư và của cả những người không tu hành nhưng am hiểu và yêu thích triết lý Phật giáo, bày tỏ trực tiếp hay gián tiếp triết lý, cảm xúc hay tâm lý Thiền”

Như vậy, khái niệm thơ Thiền mang một nghĩa tương đối rộng, có tính chất mở Ta có thể thấy

đó là những bài kệ trong Thiền uyển tập anh, khoá hư lục, tuệ trung thượng sĩ ngũ lục hoặc

những bài thơ mang cảm hứng Thiền Trong văn học đời Trần, số thơ này xuất hiện ở một tần số cao hơn văn học Phật giáo thời Lý

1.2.2 Đặc diểm hình thức nghệ thuật của thơ Thiền

Thơ Thiền trong văn học trung đại không những mang đặc điểm lớn về mặt nội dung mà ở hình thức nghệ thuật cũng có nhữn đặc điểm khiến chúng ta quan tâm chú ý

Về ngôn ngữ: Trong một số bài thơ Thiền thường xuất hiện một số từ ngữ nhà Phật như: sắc, không, chân như, hữ huyền, duyên, nghiệp, tứ diệu đế… những điển tích, điển cố phật giáo Thơ

thiền thường hay xuất hiện hình ảnh núi

Về hình tượng nghệ thuật: Thơ thiền thường xuất hiện những hình ảnh ẩn dụ, so sánh, biểu tượng

để nói về giáo lý đạo Phật như: hoa sen, hoa mai, đình núi, dòng song, song nước…

Theo quan niệm “sắc”, “không” của Phật giáo thì sự tồn tại của con người cũng như vạn vật là

“sắc” (hiện hữu) mà cũng là “không” (vô hình), sắc mà không, không mà sắc Thân như bóng

chớp có rồi không nhưng chẳng phải là mất mà là chuyển sang trạng thái trở về với bản thể

Về kết cấu thơ, bài thơ: Thơ thiền thường sử dụng kiểu câu nghi vấn, phi cảm xúc thong thường

Nó chỉ là một tượng trưng của Phật pháp Nếu như không có một chiếc chìa khoá của giác ngộ, chân như thì không có gì giải mã được Bởi mối lien hệ của những câu thơ, nhưũng hình ảnh thơ được xác lập và tưởng tượng từ cảm hứng riêng, cảm hứng Thiền, không hẳn giống mạch thơ thông thường của các nhà thi sĩ

Tuy vậy sự gắn bó giữa hai mặt lí trí và tình cảm trong thơ không phải lúc nào cũng hoàn toàn

Trang 4

thống nhất Những rung động trực cảm đã tạo nên những hình tượng nghệ thuật bộc lộ phần nào tâm hồn nhà thơ nhiều khi mâu thuẫn hay ít ra là xa lạ với chính cái lí trí mà nhà thơ hướng tới

1.3 Vài nét về ảnh hưởng của Phật giáo trong văn học Việt Nam

Sử liệu đã khẳng định sự hiện hữu và việc đồng hành mật thiết của Phật giáo với dân tộc Việt Nam trải qua suốt chiều dài lịch sử hơn 2.000 năm Chính tinh thần hòa nhập nhuần nhuyễn của Phật giáo trong đời sống của người dân Việt đã tạo thành mô hình Phật giáo Việt Nam có sắc tháiđộc đáo, tràn đầy sức sống Trí tuệ và công sức của hàng đệ tử Phật còn lưu dấu ấn son sắt trên những trang sử oai hùng với nhiều thành quả bảo vệ đất nước một cách thần kỳ Đặc biệt, giới Phật giáo cũng góp phần đáng kể qua những tác phẩm văn thơ, làm sáng danh nền văn học Việt Nam trải qua nhiều giai đoạn khá dài

Thật vậy, trong thời kỳ nước nhà vừa độc lập, Phật giáo đã đóng vai trò khá quan trọng Lực lượng sáng tác văn học lúc đó chủ yếu cũng là các nhà sư Những tác phẩm văn học thành văn của giai đoạn này còn lại đến nay là một số bài thơ chữ Hán của các nhà sư Đỗ Pháp Thuận, NgôChân Lưu, Vạn Hạnh, v.v…

Đến thời Lý, là giai đoạn thịnh đạt của Phật giáo Việt Nam Phật giáo đã giữ vị trí độc tôn và gópphần chính yếu cho nền văn hóa dân tộc trong suốt hơn 200 năm Ảnh hưởng của Phật giáo thể hiện rõ nét ở mọi lĩnh vực hoạt động Về phương diện văn học, các Tăng sĩ đều là hàng thượng tầng trí thức, có ảnh hưởng lớn đến nền văn hóa đương thời và đóng góp nhiều nhất về sáng tác thi ca

Thời nhà Trần, các vị minh vương đã anh dũng dẹp tan giặc Nguyên Mông một cách vẻ vang Mang lại sự thái bình, độc lập cho nước nhà xong, các ngài lại đưa ra những tư tưởng trong sáng của những bậc chân tu ngộ đạo, tạo thành một dòng Thiền nổi tiếng - Trúc Lâm Yên Tử

Văn học chữ Nôm được hình thành trong thời Trần Những tác phẩm chữ Nôm của Trúc Lâm Điều Ngự và Huyền Quang còn được lưu truyền Như đã nói, văn học đời Trần chịu ảnh hưởng sâu đậm tinh thần cởi mở, dung hợp của Phật giáo Vì thế, giới sĩ phu không theo Phật giáo cũng được trọng dụng Điều này đã là tác nhân giúp cho văn học đời Trần phong phú, rực sáng, nhiều nét đẹp Về thi ca đời Trần, chúng ta thấy rõ sự ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiền học, diễn tả sự diễn tiến của mọi việc với tâm định tĩnh tuyệt vời, thể hiện cái thấy biết sâu xa của người thâm nhập thiền quán

Ngoài văn học thời Lý - Trần hưng thịnh, phần nhiều các nhà thơ cổ điển Việt Nam đều chịu ảnh hưởng đạo Phật Nhất là qua những tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác, Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Du…Tóm lại, các vị thiền sư, các vị minh vương, cùng nhiều Phật tử hoặc những người có cảm tình với Phật giáo từ thời kỳ dựng nước cho đến thế kỷ XVIII, XIX, đã sáng tác rất nhiều tác phẩm thi ca chữ Hán, chữ Nôm chuyển tải nhiều mảng đề tài liên quan đến tư tưởng Phật giáo, hay cảnh đẹp của thiền môn, hoặc nếp sống thanh cao của người tu Phật, v.v Tất cả đã đặt nền móng cho văn học Việt Nam cũng như làm phong phú thêm sự nghiệp văn chương của người dânViệt chúng ta

1.4Đạo Phật thờ Lý - Trần

Phật giáo có mặt ở Việt Nam trong hơn 20 thế kỷ qua đã có một vai trò, một vị trí quan trọng nhất định trong lịch sử dân tộc Nhất là Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện trí tuệ và từ bi sâu sắc bằng sự nhập thế sinh động và đa dạng qua tư tưởng, lời nói, hành động gắn bó với cuộc sống an vui hạnh phúc của dân tộc Cả hai triều đại Lý – Trần Phật giáo đã trở thành quốc giáo Lúc bấy giờ, cả nước từ vua, quan đến thứ dân đều theo Phật, đến chùa quy y, giữ giới, tụng kinh, Thiền định nên mới có được một tinh thần an lạc, hòa hợp và thuần từ

Thâm nhập giáo lý nhà Phật qua chính sách an dân trị nước nên các vua Lý – Trần đã chinh phục

Trang 5

trái tim, khối óc con người bằng đức trị thay pháp trị Đạo đức vô ngã đã tạo cho con người một cuộc sống hòa hợp, giản dị nhưng tạo lực tác động mạnh mẽ vô cùng Vì thế cả hai triều đại Lý –Trần đều tồn tại khá lâu Triều Lý hơn 200 năm (1010 – 1225) và Triều Trần gần 200 năm (1226 – 1400) Như vậy, hai triều đại Lý – Trần tồn tại gần 400 năm Có thể nói đây là thời đại cực thịnh của Phật giáo Việt Nam mà cũng là thời đại đất nước hùng mạnh nhất trong trang sử nước nhà Các vua thời đại Lý – Trần được thừa hưởng những thành qủa tốt đẹp của thế hệ trước, đồngthời biết phát huy những tinh hoa gạn lọc được từ bên ngoài biến thể sao cho phù hợp với quốc dân thủy thổ mà không đánh mất bản sắc dân tộc Thêm vào đó, họ đã thấm nhuần lời chỉ bảo của Thiền sư Pháp Thuận:

Quốc tộ như đằng lạc

Nam thiên lý thái bình

Vô cư như điện các

Xứ xứ tức đao binh

Muốn đất nước thái bình, thịnh trị Chính nơi bản thân các vua đã tự trau dồi bằng đạo đức vị tha, triết lý sống nhập thế trên tinh thần từ, bi, hỷ, xả của đạo Phật Các vua không ngừng học hỏi, tu tập cho đến khi thấu rõ giáo lý Phật Đà, góp phần tạo một sức sống mạnh mẽ, không khépkín mà phổ biến khắp nơi trong dân chúng, khiến họ cùng học tập theo và sống đúng Một đời sống hướng thượng, hướng con người đến chân – thiện – mỹ và đạt được chân lý ngay trong đời sống thực tại này chứ không phải nơi một thế giới xa xăm nào khác Đạo Phật đã tạo cho dân tộc Việt Nam đương thời một niềm tin mạnh mẽ vào tự lực, vào khả năng trong sáng thuần khiết của bản thân để sống đúng và sống đẹp theo tinh thần Chánh kiến, Chánh tư duy và Chánh mạng Đây chính là nguyên nhân làm cho triều đại Lý – Trần phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử với những chiến công vẻ vang và sự thành tựu to lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa … Chính đạo Phật đã chan hòa vào lòng dân tộc góp phần hình thành một quan niệm, một lối sống tích cực, hữu ích cho con người và cho cuộc sống

Hơn thế nữa, Phật giáo đời Lý đã có những Thiền sư nổi tiếng làm cầu nối cho Phật giáo đời Trần đạt đến đỉnh cao trong lịch sử để khẳng định quyền tự chủ tự cường của một đất nước Vì vậy, dân tộc Việt Nam sẵn sàng chống lại bất cứ sức mạnh nào muốn phá hoại nền hòa bình, hạnh phúc của mình Và Phật giáo Lý – Trần đã đáp ứng nguyện vọng ấy, góp phần vĩ đại vào công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước Chiến công hiển hách còn ghi lại trong lịch sử Nếu Lý Thái Tông đã đánh giặc Nùng rồi bình được Chiêm Thành Lý Thường Kiệt đem binh đánh Tốngthì Trần Thái Tông cũng thu phục được đất Chiêm và cuộc chiến thắng Nguyên Mông vẻ vang này dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Trần Nhân Tông và Hưng Đạo Vương

Nói chung, các ông vua Phật tử thuần thành đời Lý và đời Trần đều có tấm lòng thương yêu dân như vậy là nhờ thấm nhuần tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã vị tha của đạo Phật Đường lối lấy đứctrị dân của hai triều đại Lý – Trần đã minh chứng sự hội nhập của Phật giáo vào đời sống văn hóa, chính trị và xã hội của dân tộc Việt Nam

Song, điểm đặc sắc của hai triều đại Phật giáo Lý – Trần là ngoài những ông vua Phật tử thuần thành, còn có những ông vua kiêm Thiền sư, kiêm là những nhà Phật học uyên bác, viết sách, giảng kinh, không khác gì các cao Tăng thạc đức Có thể kể Lý Thái Tông, học trò đắc pháp của Thiền sư Thiền Lão, và được dự vào hàng Tổ thứ 7 của dòng thiền Vô Ngôn Thông Lý Thánh Tông được tuyền thừa làm Tổ thứ 2 của Phái Thiền Thảo Đường, và đặc biệt là hai ông vua Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là một trong những ngôi sao sáng của Phật giáo thời đó Vua Trần Thái Tông là tác giả cuốn Khóa Hư Lục, một tác phẩm Phật giáo viết bằng chữ Hán Nôm, đã được dịch ra tiếng Việt và xuất bản nhiều lần Cuốn sách chứa nhiều tư tưởng độc đáo Thí dụ, tưtưởng xem mọi người đều là Phật, đều là những vị Phật sống mà không tự biết Ông viết trong

Trang 6

bài Niệm Phật Luận: “Thân ta tức là thân Phật, không có hai tướng” Lại viết tiếp: “Tướng Phật

là tướng ta không phải hai, lặng vậy mà thường tồn tại, tồn tại mà không biết Đó là Phật sống vậy” Người là Phật, nhưng người lại không tự biết, cho nên Trần Thái Tông gọi người là Phật sống

Và điểm nổi bật của Phật giáo Lý – Trần là nó cung cấp một triết lý sống, chứ không phải là những tín điều chết, các Phật tử Lý – Trần đã quán triệt, đã thực hiện triết lý đó bằng cả cuộc sống của chính mìmh Đạo Phật đời Lý – Trần không chấp tướng, không giáo điều, không vướngmắc vào hình thức, không bó hẹp trong chùa chiền, tu viện, càng không phải là sở hữu riêng của giới Tăng, Ni mà là của tất cả mọi người biết lấy nó làm lẽ sống, dù người đó là vua chúa, Thiền

sư, quan lại, hay là người dân bình thường Ai cũng học và tu đạo Phật được, ở đâu, làm gì cũng học và tu theo đạo Phật được, miễn là biết nhìn rõ tâm mình, chuyển hóa tâm và sử dụng tâm chotốt Trong “Khóa Hư Lục”, Trần Thái Tông gọi đó là biện tâm, Trần Thái Tông viết: “Không kể

là sống ẩn trên núi hay giữa thành thị, không phân biệt tại gia hay xuất gia, tăng hay tục, điều chủyếu là biện tâm, vốn không có phân biệt nam nữ sao còn chấp tướng” Vì không chấp tướng nên Phật giáo đời Trần mới có được một nhân vật đặc biệt như Tuệ Trung Thượng Sĩ, tuy là một cư sĩtại gia, nhưng lại được mọi người Tăng cũng như tục tôn kính, học hỏi như là một bậc Thầy lớn trong đạo Thậm chí Trần Nhân Tông và Pháp Loa là hai vị Tổ thứ nhất và thứ hai của Phái Thiền Trúc Lâm cũng suy tôn Tuệ Trung Thượng Sĩ là Thầy của mình Với tinh thần không chấp tướng, vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia, đã không quản gian khổ nhọc nhằn, đi khắp nơi trong nước khuyên mọi người sống theo năm giới, mười thiện là những nguyên lý căn bản của Đạo Đức Phật giáo Nhờ vậy, ngay giữa lòng của xã hội Phong kiến, đạo Phật đời Lý – Trần đã tạo ra những mẫu người tuyệt vời, mà con người ở vào thời đại nào cũng cảm thấy tự hào Đạo Phật thời Lý – Trần là đạo Phật của từ bi và trí tuệ, là hai đức hạnh hàng đầu của Phật giáo Tinh thần từ bi của Phật giáo thời Lý – Trần là đường lối trị nước bằng đức trị còn hạnh trí tuệ là

nó không hướng đến giải quyết các vấn đề thuần túy lý luận hay là siêu nghiệm, như chúng ta có thể thấy ở một số luận sư Phật giáo Ấn Độ, mà hướng tới giải quyết các vấn đề rất cụ thể, rất bứcxúc, có tầm quan trọng đối với đời sống con người và trong công cuộc xây dựng đất nước như cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông Để đánh thắng một kẻ thù có sức mạnh về vật chất

và quân sự gấp hàng trăm lần chúng ta, dân quân ta dưới sự lãnh đạo của các ông vua Phật tử đã

áp dụng những đường lối chiến lược và chiến thuật đầy trí tuệ, cho phép triển khai mọi ưu thế của một cuộc chiến tranh nhân dân, đánh địch ngay trên đất nước của mình

Hai triều đại Lý – Trần đánh dấu đỉnh cao của sự hội nhập Phật giáo vào giòng sống của đất nước và xã hội Việt Nam Một sự hội nhập được trải dài trên mọi bình diện của đời sống Phật giáo thời Lý – Trần đã hình thành một nước Việt Nam thật sự độc lập, tự chủ, có đủ sức mạnh tự thân để đánh đuổi mọi cuộc xâm lăng của ngoại ban

Tóm lại, tính độc đáo và sáng tạo của Phật giáo Lý – Trần chính là ở chỗ luôn luôn chủ động gạnlọc, tiếp thu cái hay, gạt bỏ cái dở, từ đó sáng tạo ra một xã hội thường xuyên đổi mới, trẻ trung, cập nhật với thời thế, có nhiều sinh khí Đó là điểm nổi bật nhất của Phật giáo thời Lý – Trần trong những thế kỷ đầu xây dựng nền độc lập, tự chủ Qủa thật, Phật giáo thời đại Lý – Trần đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng nền độc lập quốc gia trong lịch sử nước nhà Các vua trị vì đã thực sự thấm nhuần lời dạy của đức Phật trong kinh Trường A Hàm: “Biết đoàn kết, biết

ăn ở hòa hảo cùng nhau và thường hội họp nhau lại để lo bàn việc nước thì không sợ gì sẽ bại vong mà nhất định sẽ được cường thịnh, phong phú thêm” Đây là những nhân tố tư tưởng góp phần tích cực vào sự tồn tại lâu dài của hai triều đại Lý – Trần

Trang 7

CHƯƠNG II: THƠ THIỀN TRONG VĂN HỌC LÝ- TRẦN

2.1 tinh thần nhập thế

Trong lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy có không ít những vị Thiền sư Việt Nam đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vì dân vì nước Các Thiền sư này xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau, khi thì đóng vai Thái sư Khuông Việt, hay người chèo đò Đỗ Thuận, lúc lại là người thầy thuốc Tuệ Tĩnh hay thợ đúc đồng Nguyễn Minh Không, thậm chí có lúc tự tại ở ngôi vị đế vương xông pha trước mũi tên lằn đạn để chống đỡ cho muôn dân thoát khỏi nạn dày xéo của ngoại bang Đối với các Ngài, hình thức cư sĩ, xuất gia, làm vua, làm quan, làm người chèo đò, làm thầy thuốc, làm thợ mộc hay thợ đúc đồng hoặc bất cứ ngành nghề gì chẳng qua chỉ là lớp áo đổi thay không dừng trên sân khấu cuộc đời, trong tâm niệm các Ngài luôn mong mỏi đem lại ấm no hạnhphúc cho dân tộc Vì vậy, tất cả những Thiền sư đi vào cuộc đời mà không bị lợi danh quyền thế làm hoen ố vẩn đục, tâm hồn các Ngài luôn thanh thoát như những đóa hoa sen thơm ngát giữa bùn lầy mà không bị bùn nhơ làm ô nhiễm đã thể hiện trọn vẹn tinh thần nhập thế

Tinh thần Nhập thế của Phật giáo thời Trần” xuất phát từ lời dạy của Quốc sư Viên Chứng với vua Trần Thái Tông là người đi đầu thực hiện đã tạo thành làn sóng Phật Giáo Việt Nam mang vịmặn dân tộc, phả vào tất cả mọi bờ mé tâm thức của từng người dân Việt và kết tụ nên tiếng vanglớn “Phật giáo đời Trần là quốc giáo” trong lịch sử Phật giáo Việt Nam Đến đời vua thứ ba triều Trần là Trần Nhân Tông, vừa thừa tiếp dòng chảy “Nhập thế” ấy và vừa thừa sức sáng tạo đã làmnên đợt sóng thần bất diệt, tác động lớn đến nền văn hóa xã hội Đại Việt thời Trần Đó là sự ra đời của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử mà chính Ngài làm Đệ Nhất Tổ

Đa số người đời cho rằng đạo Phật là đạo bi quan, tiêu cực, yếm thế; người tu Phật là kẻ chán đời, ăn bám, trốn tránh cuộc đời Nếu có được một ít thiện cảm, người ta lại nhìn những Tăng Ni trẻ bằng cặp mắt tiếc rẻ, tội nghiệp

“Đạo Phật là gì? Đạo Phật là câu hát não nùng để ru ngủ cho những dân chán đời ở cõi đông phương, ru cho êm giấc mộng nghìn năm Mà câu hát ấy, từ hai mươi lăm thế kỷ đến giờ cũng đãtừng ru cho biết bao nhiêu kẻ sầu não đau lòng! Nào những người đa sầu đa cảm, ngán nỗi đời

mà cam lòng đợi chết, nào những kẻ học giả thâm trầm, cay sự thế mà mơ màng tịch diệt, nên chắp tay mà vái lạy Phật Đà Lại những người kia nữa, số nhiều biết bao nhiêu, sống ở đời mà ghét căm sự sống, khác nào như một phường kèn thảm, thổi sau một đám rước to, chạy quanh trên vũ đài thế giới, nên lên giọng mà ngợi khen Thầy Mâu Ni đã đắc đạo Thầy là tôn Sư của cácngười Dù giọng các người căm tức mà ngạo mạn, hay than khóc mà nỉ non thâm trầm mà trịnh trọng, hay nức nở mà kêu oan, bài than vãn cũng là một, mà bài ấy là Phật đã xướng lên

Lại những bậc triết nhân yếm thế, các ngài nên tôn trọng Phật đà Ngày nay các ngài băn khoăn

Trang 8

trong dạ, xưa kia Phật đã khắc khoải trong lòng, các ngài làm môn đồ Phật cũng không mất giá chi Cổ lai những người được cái thiên chức làm hướng đạo cho loài người vào trong cõi siêu nhân loại không phải là có nhiều Tưởng thế cũng là đủ, cái bí tàng của tạo vật, biết chút thế cũng

đủ sống ”

“Nếu như nhập thế là một khuynh hướng tư tưởng của một học thuyết, một tôn giáo chủ trương tham gia các hoạt động chính trị và giải quyết các vấn đề chính trị xã hội thì Phật giáo không phải là một tôn giáo nhập thế-trái lại nó là tôn giáo xuất thế hay còn gọi là yếm thế.”

Rõ ràng không phải ngẫu nhiên đạo Phật khi du nhập vào Việt Nam lại có thể trở thành thứ tôn giáo tín ngưỡng của đa số dân chúng Việt Nam, thở cùng nhịp đập Việt Nam, gắn chặt với văn hóa Việt Nam và hòa quyện cùng vận mệnh thịnh suy của Việt Nam Chắc chắn phải nhờ một nétđặc thù nào đó đã kết tụ nên sắc thái Phật giáo việt Nam như thế Người ta có thể khẳng định đó

là do tinh thần khế lý khế cơ hoặc tính vô ngã, từ bi bác ái, bình đẳng, trí tuệ, của đạo Phật Tuy nhiên, một điểm son đặc biệt bao trùm lên tất cả, ấy là “tinh thần nhập thế” của đạo Phật Nhất làtinh thần ấy lại nở nụ kết hoa ở thời Trần – một thời để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam

Thật vậy, chính giai đoạn thời Trần với luồng gió “nhập thế” lớn mạnh của Phật giáo đã dựng nên một bối cảnh huy hoàng của lịch sử Việt Nam trải dài gần hai trăm năm, tạo nên những trang

sử hào hùng oanh liệt của dân tộc Đại Việt nhỏ bé đã ba lần chiến thắng đội quân xâm lược vô địch Nguyên – Mông đương thời Một thời đại điển hình về những vị vua anh minh: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông mãi mãi lưu danh trong hậu thế cùng những vị tướng tài ba, trung hiếu: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão, quyết một lòng gìn giữ xã tắc Một thời đại Phậtgiáo Việt Nam chuyển sang bước ngoặt mới mà đỉnh cao là sự khai sáng dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử đứng đầu là Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đắc đạo nhờ vị thầy lãnh đạo tinh thần phong cách siêu phóng Tuệ Trung Thượng Sĩ và các đệ tử kế thừa xuất sắc: Pháp Loa, Huyền Quang, Kim Sơn, Không những thế, chính tinh thần nhập thế của Phật Giáo thời trần cũng đã làm cho bộ mặt xã hội Việt Nam rực rỡ cả về văn hóa mỹ thuật lẫn quân sự chính trị Phải nói rằng Phật giáo thời Trần với tinh thần nhập thế đã gây nên âm hưởng vang dội không chỉ một thời mà còn vọng mãi đến bây giờ và tới ngàn sau

Chính vì ray rức với quan điểm sai lệch của những người chưa hiểu tường tận về đạo Phật, cụ thể

là hai ý kiến nêu trên; người viết chỉ muốn nhấn mạnh rằng đạo Phật chưa bao giờ là đạo yếm thế

mà là đạo nhập thế tích cực Người tu Phật đúng nghĩa không thể là kẻ chán đời mà trái lại chính

họ phải là những người can đảm, yêu đời, đầy đủ nghị lực, ý chí để dấn thân, giáp mặt và chuyểnhóa cuộc đời Tuy nhiên, khi chọn đề tài Tinh thần Nhập thế của Phật giaó thời Trần này, người viết hoàn toàn không chủ quan ca ngợi đạo Phật mà chỉ làm sáng tỏ tinh thần nhập thế của Đạo Phật dựa vào sự thật lịch sử Bởi vì cho dù người viết có muốn ca ngợi đạo Phật hay không thì lịch sử luôn là một bằng chứng sống động hùng hồn mà không ai có thể xóa mờ hay bác bỏ được Vì phạm vi của một bài tiểu luận, người viết không thể làm nổi bậc hết tinh thần nhập thế của đạo Phật mà chỉ giới hạn trong giai đoạn Phật giáo thời Trần – thời vàng son sáng ngời trong

sử sách

Để hoàn thành đề tài tiểu luận này, người viết rất may mắn được sự hướng dẫn tận tâm của Giáo

Sư tiến sĩ Lê Mạnh Thát, người dày công nghiên cứu sử và đã đang được xem như ngôi sao sáng của Phật học đương thời Đặc biệt, người viết còn được sự hỗ trợ của Thầy tổ, cha mẹ và các chị em; nhất là vị thầy ân nhân luôn luôn khích lệ, động viên người viết về mọi phương diện Dù người viết cố gắng hết sức để trình bày đề tài tiểu luận song vẫn không thể tránh khỏi những sai lầm ngoài ý muốn Kính mong các bậc cao minh niệm tình tha thứ và chỉ giáo

Trang 9

Thời Trần được khai sáng nhờ vị vua đầu triều là Trần Thái Tông Thế nhưng, người khai thông

tư tưởng cho Thái Tông và trao cho nhà vua chiếc chìa khóa tinh thần vững chãi lại là Quốc sư Viên Chứng – một nhà sư “ăn rau răm, nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng” trên núi Yên Tử Cho nên có thể nói chính Quốc sư là nhân tố gầy dựng nên vị vua mẫu mực, khơi nguồndòng chảy “đức độ vẹn toàn, miệt mài sống đạo giúp đời” liên tục suốt gần hai thế kỷ triều đại

Và nghĩa là chính Quốc sư là động lực tất yếu thiết lập phong thái ưu việt của Phật giáo thời Trần Bằng lời dạy bình dị, chân chất của tâm hồn sáng đạo, Quốc sư đã gởi gắm trọn vẹn tinh hoa tư tưởng đạo Phật chỉ trong một câu nói mở lối cho vua Thái Tông bước vào đạo:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là chân Phật Nay nếu bệ hạ giác ngộ điều đó thì lập tức thành Phật, không cần khổ công tìm kiếm bên ngoài”

Và cũng bằng nhận thức thực tế, Quốc sư đã đề ra cho nhà vua một phương kế lãnh đạo thiết thực: “Phàm là bậc nhân quân phải lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình” Rõ ràng cốt tủy của đạo Phật cô đọng trong ba chữ “Phật tại tâm”, và để nhận ra được “Phật tại tâm” ấy thì phải “quay về với tâm mình” Nói cốt tủy đạo Phật là vì đây không phải là điều mới mẻ của Phật giáo đời Trần mà thật ra chỉ là một sự kế thừa

có sáng tạo của Quốc sư Viên Chứng trong trong quá trình dụng công tu tập và sáng đạo để trao truyền lại cho thế hệ sau Yếu chỉ Phật tại tâm đã được đức Thế Tôn nhắc đến rất nhiều lần thưở tại thế: “Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” Và phận sự quay lại với chính mình là điều Đức Phật không ngừng khích lệ môn đồ, thậm chí ngay cả khi trước lúc xả báo thân vẫn căn dặn rành rọt: “Các người hãy là nơi nương tựa của chính mình, đừng tìm kiếm một nơi nương tựa nào khác”, hay “ngươi là hòn đảo là nơi nương tựa của chính ngươi” Và nếu đi vào kho tàng giáo lý Đức Phật thì chúng ta chắc chắn sẽ nhận ra một điều là trong tám vạn bốn ngàn pháp môn ấy tuy nhiều nhưng tựu trung vẫn chỉ là xoay quanh một con đường chính Đó là con đường hướng nội hay con đường quay về với tự thân chính mình Cho nên có thể nói: Nếu mục tiêu của một người

tu Phật là thấy đạo thành Phật thì con đường hướng nội là con đường thành tựu duy nhất mà người ấy phải miên mật trải qua

Hướng nội được xem là tiền đề của chặng đường tu tập chính vì đây là con đường đấu tranh đầy cam go, gian khổ ở bản thân mỗi con người Dù biết rằng mỗi người đều có sẵn hạt nhân Phật, ấy

là Phật tánh nhưng bên cạnh đó con người còn mang cả những yếu tố bất toàn là tham, sân, si Hướng nội vì thế là cuộc đấu tranh thầm lặng hết sức gay gắt trong mỗi giờ mỗi phút đối với tự thân mỗi người để tự hoàn thiện chính mình ngày một tốt hơn Nếu không hướng nội, con người

sẽ mãi say sưa sống trong vọng tưởng đảo điên, chạy theo trần cảnh miên man không dứt Và rồi mang tâm tư của người bám vọng tưởng để đi vào đạo, nếu không thức tỉnh để tìm về tự thân thì khó tránh việc tìm cầu chân hạnh phúc ở tận phương trời xa xôi nào khác Như vậy, điều kiện cấpthiết đối với một người học Phật chính là phải có một phen quyết áp dụng phương pháp hướng nội cho lộ trình chuyển hóa nội tâm mới mong lần hồi tỏ rõ chân tâm, thể hội Phật tánh

Sự việc các vị vua – thiền sư thời Trần nhờ khéo hướng nội cho mỗi khoảnh khắc dụng công đã khiến cho ánh sáng Phật giáo tỏa rạng khắp bầu trời Đại Việt Và hiển nhiên, hàng loạt phẩm cách cao đẹp như: tự chủ, tự lực, tự cường, tự nắm lấy và tự lèo lái vận mệnh quốc gia của người dân Việt cũng nhờ vậy càng thể hiện mạnh mẽ hơn, như câu nói khẳng khái của Trần Thủ Độ:

“Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo(9)”, và lời tâm huyết của Trần Hưng Đạo “Nếu

bệ hạ muốn hàng xin chém đầu tôi đi đã(10)”, cũng như hình ảnh Phạm Ngũ Lão vẫn ngồi yên bất động dù bị quân hầu của Trần Hưng Đạo thọc giáo vào bắp vế,

Men theo dòng chủ lưu hướng nội vua Trần Thái Tông đã thực tu, thực chứng và khuyên nhủ mọi người hãy: Quay đầu tìm biết, quang minh ngay đó tự nhiên sanh(11)

Trang 10

Chớ mải mê làm khách, quay về sớm chiếu soi

Lang thang làm khách phong trần mãi

Ngày cách quê xa muôn dặm trình

Với Thượng Sĩ, ngoài việc bừng tỉnh con đường phải đi cho Vua Trần Nhân Tông: “Soi sáng lại mình là phận sự gốc, chẳng từ nơi khác mà được” ra, mục tiêu “hướng nội” được Ngài thức tỉnh rất nhiều trong các lời dạy:

Phật tức tâm, tâm tức Phật;

Diệu chỉ sáng ngời suốt cổ kim

Còn vua Trần Nhân Tông thì chỉ ra một kết quả cụ thể hơn: Khi ta đã thực sự nỗ lực quay về và thực sự nếm được pháp vị cũng chính là lúc Phật Di Đà, Phật Thích Ca, Phật Di Lặc, thể tánh kim cương và tâm viên giác nhiệm mầu đang ngự trị trong ta:

Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây Phương

Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực Lạc

Tích nhân nghĩa tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca

Cầm giới hạnh đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc

Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực kim cương

Dừng hết tham sân mới tỏ lòng mầu viên giác

Vậy mới hay:

Phật pháp ở tại thế gian

Không lìa thế gian mà có

Lìa thế gian tìm Bồ Đề

Giống như đi tìm sừng thỏ

Kế thừa và phát huy truyền thống “Đạo Phật không rời cuộc sống” này, các vị vua thiền sư thời Trần đã “đem đạo Phật đi vào cuộc đời” một cách hữu hiệu từ phương châm hành động: “Lấy ý muốn của thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng của thiên hạ làm tấm lòng của mình”, và

đã hình thành “Tinh thần nhập thế tích cực” nổi bậc của lịch sử phật giáo Việt Nam Tuy nhập thếkhông phải là tính chất riêng có của phật Giáo thời Trần nhưng ảnh hưởng từ vai trò của nhà nhập thế đã đưa Phật giáo thời Trần vươn tới đỉnh cao của lịch sử tư tưởng nhân loại, cũng như lịch sử Việt Nam vươn tới đỉnh cao trên vũ đài chính trị Nếu vai trò nhập thế của nhà chính trị làchăm sóc dân tình, giữ gìn yên bình cho xã tắc thì vai trò nhập thế của người tu Phật là đem ánh sáng đạo Phật vào đời để giúp đời Những nhà nhập thế tiêu biểu thời Trần như: Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, nhờ có sự kết hợp hài hòa đủ cả hai yếu tố nhập thế này nên mới tạo được thế đứng hiên ngang của lịch sử Việt Nam thế kỷ XIII về những cuộc chiến thắng thần thánh Bởi vì nếu cả hai vai trò nhập thế trên không cùng được thể hiện thì không dễ gì các vị vua - thiền sư Đại Việt xứng đáng được lưu truyền Về điểm này, so với vị vua Phật tử Lương Võ Đế đời Đường ở Trung Hoa cho thấy: Cũng là vua, cũng là Phật tử thuần thành, thuyết pháp tuyệt hay; thế nhưng, khi đất nước Trung Hoa lâm cơn khói lửa, thay vì xông pha trận mạc nhà vua lại đóngcốc tĩnh tu đã đưa đến thảm họa đau thương cho đất nước Đối với các vị vua- thiền sư thời Trần,

dù phải tận dụng mọi lúc rảnh rang để nghiên tầm kinh điển vẫn sẵn sàng “cởi áo cà sa, khoát

Trang 11

chiến bào” khi bờ cõi tổ quốc lâm nguy

Phong cách của các nhà nhập thế thời Trần là sống “hòa quang đồng trần”, tức sống hoà lẫn trong thế tục Các thiền sư thời Trần sống cùng mọi người nhưng không hề làm ra vẻ khác người,vẫn chia xẻ buồn vui một cách tự nhiên cùng nhân tình thế thái:

Đói thì ăn chừ cơm góp mười phương

Mệt thì ngủ chừ nơi chẳng quê hương

Đó là mô hình “sống ở đời mà vui với đạo” của vua Nhân Tông:

Ở trần vui đạo cứ tùy duyên

Hễ đói thì ăn, mệt ngủ liền

Báu sẵn trong nhà thôi tìm kiếm

Lặng lòng đối cảnh hỏi chi thiền

Sống rất đạm bạc, không quan trọng hóa những thiếu thốn vật chất tầm thường:

Áo miễn chăn đầm ấm qua mùa hoặc chằm hoặc xể

Cơm cùng cháo đói no đòi bữa dầu bạc dầu thoa

Như hoa sen tinh khiết vươn lên từ chốn bùn lầy, các vị sống trà trộn giữa dòng đời nhưng mọi cám dỗ cuộc đời không làm vấy bẩn được tâm thái an tường tĩnh lặng Chỉ có sự giác tỉnh triệt để

ở tự tâm, vua Thái Tông mới có thể biểu hiện thái độ “xem ngai vàng như một chiếc giày cũ” Rõràng trong đời sống của các Ngài tuy bận rộn trăm việc nhưng không hề thiếu vắng thiền định Không phải chỉ đơn giản với việc “Mình ngồi thành thị, nết dùng sơn lâm” mà là lúc nào các Ngài cũng an trụ trong định: “Đi cũng thiền, ngồi cũng thiền” chứng tỏ ngay cả khi lâm triều họpbàn chính sự hay lúc lâm trận điều binh khiển tướng các Ngài cũng không rời thiền định Trước mắt các Ngài do vậy các pháp đều thành vi diệu nhiệm mầu: “Trong ảo sắc cũng là chân sắc; nơi phàm thân cũng thực pháp thân” Và khi tâm đã lắng mọi vọng niệm lăng xăng thì nơi nào cũng

là đạo tràng và chốn nào cũng tiện bề “hồi quang phản chiếu”:

Nguyệt bạc vừng xanh, soi mọi chỗ thiền hà lai láng

Liễu mềm hoa tốt ngất quần sanh tuệ nhật sâm lâm

Áng tư tài tánh sáng chẳng tham há vì ở cánh diều Yên Tử

Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển lọ chi ngồi am sạn non đông

Nghĩa là không gian, thời gian cũng không chi phối được những con tim đầy nhiệt huyết tu tập:

Nhận biết làu làu lòng vốn, chẳng ngại bề thời tiết nhân duyên

Chùi cho vằng vặc tính gương, nào có nhuốm căn trần huyên náo

Chỉ với phong thái nhập thế như vậy mới thật xứng đáng làm niềm tin cho Phật Pháp, làm gươngcho đời:

Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc

Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công

Tóm lại, Phật giáo thời Lý-Trần lấy “hướng nội” làm nền tảng, lấy “nhập thế” làm hướng đi đã hình thành phong cách Phật giáo Việt Nam đặc biệt: không cầu kỳ, không mê hoặc, không giáo điều cứng nhắc Đó chính là ánh sáng thực thụ Phật giáo thời Lý-Trần đủ lung linh uyển chuyển,

đủ soi rọi vào tận ngõ ngách của tâm hồn mọi người Và như vậy, tư tưởng Phật giáo trở thành tưtưởng chủ đạo và là dòng sống lưu thông trong lòng dân tộc Để từ đó, thiền Phật giáo không còn

là thứ đặc quyền của Tăng sĩ hay chùa chiền: “chẳng kể là tại gia hay xuất gia, chẳng nề tăng haytục, điều cốt yếu là biện tâm” Thiền Phật giáo đích thực đã trở thành linh hồn cuộc sống, linh hồnquốc gia Mặt khác, xã hội thời Lý-Trần với sự khiếm khuyết của Nho, Lão trong bối cảnh ngườingười học Phật, thử hỏi còn tư tưởng chủ đạo nào đáng tin cậy, đáng làm nòng cốt để bảo tồn đạođức quốc gia hơn tư tưởng đạo Phật? Và có tinh thần nào của Phật giáo huyền diệu hơn, có khả năng tự khẳng định mình hơn tinh thần nhập thế tích cực? Do vậy, có thể nói tinh thần nhập thế

Ngày đăng: 01/06/2018, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w