1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quan niệm về trời trong văn học thời lí trần

31 257 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 103,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quan niệm về Trời dưới thời Lí Trần ngoài 6 hàmnghĩa giống Trung Quốc là trời đất, thiên nhiên, thượng đế, mệnh trời, đạo trời, lí trời, còn có bahàm nghĩa mở rộng mang đặc trưng của thờ

Trang 1

Quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần – Đối chiếu với tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc

Trải qua lịch sử phát triển lâu dài mấy ngàn năm, hệ thống tư tưởng này đã ảnh hưởng sâu đậmđến các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam Từ năm 939, Việt Nam giành được độc lập tự chủ

từ Trung Quốc, các triều đại dưới thời Lí Trần tiếp thu một cách có hệ thống tư tưởng triết họcTrung Quốc, đặc biệt là tư tưởng Trời, làm nền tảng tinh thần cho xã hội phong kiến, củng cốquyền lực đế vương và địa vị của người chấp chính

Sáng tác văn học thời Lí Trần tổng hợp tư tưởng Trời của ba trường phái Nho – Phật – Đạo,trong đó biểu hiện rõ rệt nhất là của Nho giáo Quan niệm về Trời dưới thời Lí Trần ngoài 6 hàmnghĩa giống Trung Quốc là trời đất, thiên nhiên, thượng đế, mệnh trời, đạo trời, lí trời, còn có bahàm nghĩa mở rộng mang đặc trưng của thời này là: Trời có phân biệt nam bắc, cảnh giới siêuthoát, không gian càn khôn vũ trụ

Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâuphân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng củathời đại này

Từ khóa: Triết học Trung Quốc, Văn học thời Lí Trần, Trời (Thiên).

越越越越越越越越越越越越越越──越越越越越越越越越越越越越越越

Trang 2

越越

阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮

阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 939 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮

阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮 阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮

阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮阮

1 Dẫn nhập

Thần thoại Trung Quốc ngay từ xa xưa đã bắt đầu đề cập đến phạm trù Trời Trong đó, tiêu biểu

nhất có thể kể Bàn Cổ khai thiên, Nữ Oa bổ thiên, Ngưu Lang Chức Nữ, Thường Nga bôn

nguyệt, Đường Nghiêu Ngu Thuấn… Nhưng những câu chuyện thần thoại thời cổ đại này rõ ràng

chỉ là một kiểu giải thích hồn nhiên, thuần phác của người xưa về Trời thông qua trí tưởng tượngphong phú của họ

Trời là một phạm trù triết học quan trọng mà hầu hết các trường phái triết học Trung Quốc khôngthể bỏ qua Trên thực tế, các nhà triết học thời Tiên Tần, bao gồm Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tửcủa Nho gia, Lão Tử, Trang Tử của Đạo gia cùng các trường phái triết học khác đã đề xuất vàtranh luận không ít về phạm trù Trời

Suốt một ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ, và cả thời gian dài giành được độc lập tự chủ dưới thời

Lí Trần, Việt Nam không ngừng tiếp thu những giá trị văn hóa tư tưởng của Trung Quốc để làmgiàu thêm cho vốn văn hóa dân tộc Thời đại Lí Trần bao gồm liên tiếp 6 triều đại: Ngô, Đinh,Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ kéo dài gần năm thế kỉ (939-1418), trong đó hai triều Lí Trần là hai triềuđại phát triển hưng thịnh nhất, đạt được nhiều thành tựu nhất trên các phương diện của đời sống

xã hội Văn học thời đại Lí Trần chính là những di sản văn học thành văn cổ xưa nhất còn lưu lạiđược đến ngày nay Nó phản ánh trung thực diện mạo xã hội ViệtNamđương thời, đặc biệt làphương diện tư tưởng triết học Do từng tiếp thu mạnh mẽ tư tưởng triết học Trung Quốc, nênvăn học thời này phản ánh đầy đủ những giá trị tinh thần đã được tiếp thu và chuyển hóa đó Hơnnữa, được hình thành trong một hoàn cảnh xã hội đặc thù, tư tưởng Trời trong sáng tác văn họcthời Lí Trần vì vậy cũng chứa đựng nhiều điểm đặc thù so với tư tưởng vốn có của Trung Quốc

Trang 3

Trên cơ sở tổng hợp, giải thích tư tưởng Trời trong hệ thống triết học Trung Quốc, bài viết đi sâuphân tích quan niệm về Trời trong văn học thời Lí Trần, chỉ ra những nét mới trong tư tưởng củathời đại này.

2 Tư tưởng Trời trong triết học Trung Quốc

Trời (Thiên) từ trước đến nay luôn là một phạm trù quan trọng trong hệ thống triết học TrungQuốc[1] Có thể nói, loài người từ khi thoát khỏi đời sống của động vật và tiến hóa lên người,hình thành năng lực phán đoán tư duy, đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu, giải thích sự vận hành củatrời đất Khi đó, việc quan sát trời đất và giới tự nhiên không ngoài mục đích truy cầu một cuộcsống ổn định, bền vững Nếu nắm bắt được quy luận vận hành của tự nhiên, sử dụng những trithức này để điều chỉnh hành động và thái độ sống của mình, con người có thể sinh tồn hòa hợpvới tự nhiên, có thể đối phó hiệu quả trước những biến đổi khắc nghiệt của hoàn cảnh cuộc sống.Khi đó, con người xem trời đất là mục tiêu, là chuẩn mực, tôn sùng giới tự nhiên, thậm chí thầnthánh hóa giới tự nhiên, xem trời là vị chủ tể tối cao sáng tạo ra và làm chủ vũ trụ Về sau, sựhiểu biết của con người về giới tự nhiên ngày càng phong phú, để duy trì lâu dài cuộc sống bìnhyên và no ấm, con người đã tiến thêm một bước để chinh phục và làm chủ giới tự nhiên Quátrình đó khiến cho tư tưởng triết học về Trời ở Trung Quốc không ngừng phong phú thêm[2],thậm chí đan xen nhiều mâu thuẫn phức tạp

Chữ Trời trong kim văn (văn tự khắc trên đồ sắt, đồng) thời cổ đại Trung Quốc có nghĩa là đỉnhđầu, phía trên đầu, là hình ảnh một con người đội trên đầu cả bầu trời Học giả đời Tống Hứa

Thận trong cuốn Thuyết văn giải tự giải thích về Trời như sau: “Trời, ở phía trên đầu, chí cao vô

thượng, kết hợp của ‘nhất’ và ‘đại’”[3] Quan niệm trên cho thấy rằng, trong cách nhìn nhận của

cư dân Trung Quốc cổ đại, Trời là thế giới sự vật và hiện tượng bao la rộng lớn trên đầu conngười, bao gồm bầu trời, mặt trời, mặt trăng, các vì sao, mây gió, mưa bão, sấp chớp… Trời rộnglớn vô tận, con người có thể dùng mắt để nhìn, dùng tai để nghe, chứ không thể đo lường được,càng không thể suy đoán đầy đủ sự biến hóa muôn hình vạn trạng của nó Đây được xem là hàmnghĩa đầu tiên, nguyên gốc của phạm trù Trời

Trời bản thân cũng là một sự vật hiện tượng của tự nhiên Trời tự nhiên đã có, không phải vì ýchí nguyện vọng của con người mà hình thành, nên Trời từ chỗ là thế giới hiện tượng trên đầucon người mở rộng thêm hàm nghĩa “tự nhiên nhi nhiên”, tức tự nhiên, bản thân nó vốn làvậy[4] Quan điểm này có nguồn gốc từ Đạo gia, khác với quan niệm về “tự nhiên”, “thiênnhiên” của Nho gia[5] Hàm nghĩa này đồng thời ám chỉ quy luật vận hành của tự nhiên, nhưkiểu bốn mùa xuân hạ thu đông trong một năm tự nhiên nối tiếp nhau không ngừng nghỉ Đócũng là bản chất tồn tại của giới tự nhiên

Trời từ hàm nghĩa hiện tượng tự nhiên và qui luật tự nhiên tiếp tục mở rộng sang hàm nghĩa vịthần linh tối cao vô thượng, tức Thượng đế[6] Trong hoàn cảnh không có cách nào để giải thích

rõ ràng bản chất của Trời, cộng thêm sức tưởng tượng phong phú dưới thời nguyên thủy, cònngười gán cho Trời hàm nghĩa thần tối cao Ngoài các cách gọi là Trời hay Thượng đế, trong điểntịch Trung Quốc xưa còn có nhiều cách gọi khác cùng mang hàm nghĩa này là: Hoàng thiên,Thượng thiên, Hạo thiên, Thương thiên, Mân thiên, Ngọc Hoàng Thượng đế, Hoàng thiênThượng đế, Hạo thiên Thượng đế, Minh Chiêu Thượng đế…[7] Trời ở đây không chỉ thống lĩnhgiới tự nhiên như trăng sao, sấm chớp, mà còn thống lĩnh cả xã hội loài người như trật tự xã hội,

Trang 4

chính trị pháp luật, đạo đức nhân luân… Do đó, Trời là vị thần tối cao đồng thời giữ tư cách chủ

tể cả giới tự nhiên và xã hội Hàm nghĩa này vô hình trung dẫn đến việc mở rộng phạm trù Trờisang các hàm nghĩa khác: mệnh trời, ý trời, lòng trời, lí trời…

Căn cứ vào Kinh Thi và Kinh Thư, Trời được xem là có đặc trưng tính cách của con người Trời

có ý chí, luôn hướng tới điều chí thiện, luôn đề cao chính nghĩa Trời không chỉ thống lĩnh điềuhành các hiện tượng tự nhiên, mà còn thống lĩnh cả “chính đạo” trong xã hội[8] Có thể thấyrằng, vì Trời vô cùng thần bí, sức mạnh vô song, vượt ra khỏi mọi sự đo lường của tư duy conngười, có khả năng chở che hóa dục muôn loại, nên Trời được tôn xưng là vị thần tối thượng có

đủ mọi năng lực Trời và con người giống nhau ở chỗ không ngừng hướng thượng để truy cầunhững điều thiện mĩ

Trời làm chủ vạn vật, nhưng Trời làm thế nào để thực hiện quyền uy tối thượng đó của mình?Người Trung Quốc xưa cho rằng Trời có ý chí và mệnh lệnh Do đó, dẫn đến phát sinh hai hàmnghĩa của Trời là ý trời và mệnh trời

Quan niệm về “ý trời” ngay từ thời Ân Thương đã có, người sau này góp công khẳng định và đềcao thuyết “ý trời” là Mặc Tử Mặc Tử nhấn mạnh Trời có ý chí, là vị thần tối cao có đủ quyền

năng thưởng thiện phạt ác Mặc Tử nói: “Người thuận ý trời, hành sự yêu quí lẫn nhau, mưu sự

lợi ích lẫn nhau, người đó ắt sẽ được thưởng; còn người nghịch với ý trời, hành sử thù ghét lẫn nhau, giao tế mưu toan ám hại nhau, người đó ắt sẽ bị trời phạt.” [9] (Mặc Tử, Thiên chí

thượng) Có thể thấy rằng, ý trời là tiêu chuẩn để Mặc Tử suy xét hành động và lời nói của mọi

người, đồng thời lấy đó để khuyên răn người cầm quyền biết hành thiện bỏ ác Ý trời cũng chính

là lòng trời, Trời mong muốn con người thương yêu nhau và mang lợi ích đến cho nhau, Trờighét những người thù ghét và mưu hại nhau; Trời mong muốn con người nhân nghĩa và ghétngười bất nhân bất nghĩa; Trời ghét nước lớn ỷ thế hiếp đáp nước nhỏ, ghét người có quyền uy

ăn hiếp kẻ thường dân Rõ ràng, tư tưởng “ý trời” của Mặc Tử có tác dụng duy trì trật tự xã hội,thiết lập chuẩn mực đạo đức và công bằng xã hội Quan niệm này rõ ràng đã mượn quyền uy củaTrời để biểu hiện lý tưởng, ý chí và nguyện vọng của bản thân ông và mọi người dân đương thời

Quan niệm về “ý trời” có mối quan hệ nhất quán với quan niệm “mệnh trời” “Mệnh” được đềcập đến ở đây vốn có nghĩa là “mệnh lệnh”, “mệnh trời” chính là mệnh lệnh do thượng đế banxuống Vậy làm sao để tiếp thu mệnh trời? Các nhà Nho Trung Quốc cho rằng, “mệnh trời” đượcthể hiện thông qua các sự vật và hiện tượng tự nhiên như: thiên tai dịch họa, núi sông cây cỏ,chim thú côn trùng… Nếu các sự vật và hiện tượng trên phát sinh điều dị thường, tức là đã đạidiện cho một chủ ý nào đó muốn truyền đạt đến con người của thượng đế Thông qua quan niệmnày, các sự vật và hiện tượng tự nhiên được liên hệ với Trời Vì vậy, “mệnh trời” là phương thứcbiểu đạt của “ý trời” Vì ý chí của Trời là cố định không thể thay đổi nên mệnh lệnh của Trờicũng trở thành một định luật kiên cố, con người chỉ có thể tuân hành, không thể đối lập phảnkháng Vì vậy, “mệnh trời” chuyển sang hàm nghĩa là số mệnh, vận mệnh, định mệnh mà conngười bị động tiếp nhận và không thể cải biến

Nho gia bàn nhiều về “mệnh trời”, người tiếp nối quan điểm truyền thống và xây dựng thành họcthuyết “mệnh trời” là Khổng Tử[10] Theo quan điểm Nho gia, “mệnh trời” là một kiểu địnhmệnh mang tính tất nhiên bên ngoài con người, con người chỉ có thể thuận ứng theo mệnh trời

mà không thể phản kháng đối nghịch tính tất nhiên đó, đồng thời cũng phải thuận theo ý chí của

Trang 5

Trời Nói như vậy, phải chăng chúng ta đã thừa nhận Trời có khả năng định đoạt mọi sự hưngvong của quốc gia, trị loạn của xã hội, thọ yểu của đời người; con người hoàn toàn bất lực trước

ý trời, bó tay trước số mệnh? Không hoàn toàn như vậy, Trời mặc dù là chủ tể thống lĩnh vạn vật,thế nhưng ý chí của Trời lại chịu sự chi phối và tác động qua lại lẫn nhau với ý chí của conngười Trong mối quan hệ với bậc đế vương, mệnh trời thông thường thuận với ý dân[11] Nhưvậy, bản thân “mệnh trời” có quy luật hình thành của nó, chứ không phải tùy tiện thiết lập màkhông dựa trên bất cứ nguyên tắc nào

Từ đời Tống trở đi, Trời có thêm hàm nghĩa là “lý trời” (thiên lý) Hai anh em môn đồ Nho giaTrình Di, Trình Hạo đề xuất mệnh đề “Thiên giả, lý dã” (Trời chính là lý), chính thức bổ sunghàm nghĩa “lý trời” cho phạm trù Trời[12] Tư tưởng “lý trời” do Trình Di vận dụng tư tưởngNho – Phật – Lão tổng hợp mà thành “Lý trời” tức là quy luật vận hành của “đạo Trời” (thiênđạo), nguyên lý về đạo đức luân lý xã hội, cùng với nguyên lý biến hóa của vạn sự vạn vật Hàmnghĩa “lý trời” của Trời rõ ràng có mối quan hệ mật thiết với ý trời, mệnh trời Không chỉ nhưvậy, quan niện về “lý trời” của Trình Di nhất định tương thông với quan niệm “đạo Trời” Vềsau, lí học gia Chu Hi đã kế thừa học thuyết “thiên lý” của Trình Di và Trình Hạo, đề xuất cácmệnh đề “Thiên tức lý dã, kì tôn vô đối” (Trời tức là lý chúng không đối lập nhau), “Thiên chi sở

dĩ vi thiên giả, lý nhi dĩ” (Trời sở dĩ được gọi là Trời, vì nó có lý), “Nghịch lý, tắc hoạch tội ưthiên hĩ” (Đi ngược lại lý, tức tạo tội với Trời) để khẳng định Trời có ý nghĩa là “lý trời”

Nhà Nho đời Minh Vương Thủ Nhân (tức Vương Dương Minh) lấy Tâm để giải thích Trời Ôngcho rằng: “Tâm giả, thiên địa vạn vật chi chủ dã, tâm tức thiên, ngôn tâm tức thiên địa vạn vậtgiai cử chi hĩ” (Tâm làm chủ trời đất vạn vật, tâm tức là Trời, nói đến tâm tức là đã bao hàm trờiđất vạn vật ở trong đó) Theo ý kiến của Vương Thủ Nhân, vạn sự vạn vật, bao hàm cả “vật lý”đến “thiên lý” đều không tồn tại ở bên ngoài tâm, ở ngoài tâm không có sự vật sự việc, cũngkhông có cả “lý” Tâm tức là Trời, Trời bao hàm cả trời đất vạn vật ở bên trong, đặc tính rộng lớn

và phổ biến khắp mọi nơi của Trời cũng chính thể hiện đặc tính của Tâm[13] Do đó, vạn sự vạnvật từ một Tâm này mà sinh ra, Tâm của Trời cũng chính là hình ảnh phản chiếu Tâm của người,chỉ có một điều khác là Tâm của Trời vốn tuyệt đối thiện lành không ác[14]

Tóm lại, Trời là một trong những phạm trù quan trọng của triết học Trung Quốc, nội hàm của nó

vô cùng phong phú, hàm chứa phạm vi vô cùng rộng lớn[15] Chúng tôi tạm thời chỉ ra các hàmnghĩa thượng đế, đạo trời, thiên nhiên, ý trời, mệnh trời, lý trời, tâm trời… Có thể kết luận, quátrình diễn biến về hàm nghĩa của phạm trù Trời phản ánh quá trình diễn biến tư tưởng quan niệmcủa người Trung Quốc xưa Mặt thần bí của Trời ngày một nhạt dần, mặt triết học lý tính củaTrời ngày một sâu đậm, điều này chứng tỏ sự phát triển không ngừng của khoa học tự nhiên luônảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng quan niệm của các triết gia Hơn nữa, theo xu hướng điều hòa,dung hợp giữa ba trường phái triết học Nho – Phật – Lão, tư tưởng về Trời cũng theo đó mangthêm màu sắc dung hợp tư tưởng tam giáo

3 Tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần

Người Việt luôn tự xưng mình là con cháu của thần tiên Theo truyền thuyết sáng thế Hồng Bàng

thị truyện chép trong Lĩnh Nam chích quái do sử quan Việt Nam thế kỉ thứ 15 Vũ Quỳnh biên

soạn, thì thủy tổ của người Việt là thần rồng Lạc Long Quân cùng tiên điểu Âu Cơ Cả hai nửathần nửa người, lại mang dấu vết của động vật, đặc điểm này rõ ràng thể hiện quan điểm dung

Trang 6

hòa “Thần – Nhân – Vật” của người Bách Việt xưa, nổi bật trong đó là quan niệm vạn vật hữulinh và tín ngưỡng tô-tem, cộng với tư tưởng Thiên – Nhân hợp nhất còn ở dạng thuần phác nhất.Xét về nguồn gốc, thủy tổ của người Việt ngày nay và tộc Bách Việt ngày xưa vốn tương đồng

nhau Theo Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, tổ tiên của Lạc Long Quân chính là vua Viêm

Đế (tức Thần Nông Thị), cháu ba đời của Thần Nông Thị là Đế Minh lúc đi tuần thú ở vùng đấtNgũ Lĩnh của Phương Nam (nay tỉnh Hồ Nam) đã cưới Vụ Tiên Nữ làm vợ, sau đó sinh một nam

là Khương Lộc Tục Sau đó Đế Minh truyền ngôi cho Đế Nghi làm vua phương bắc, phong LộcTục làm Kinh Dương Vương trấn thủ phương nam, quốc hiệu là Xích Quỉ Nước Xích Quỉ phíabắc giáp Động Đình Hồ, phía nam giáp Chiêm Thành, phía tây giáp vùng Tứ Xuyên, Ba Thục vàphía đông giáp Nam Hải Kinh Dương Vương lấy con gái Long Nữ của Động Đình Quân sinhmột con trai là Sùng Lãm, sau kế thừa vương vị xưng là Lạc Long Quân Sùng Lãm lấy con gáicủa Đế Lai là Âu Cơ sinh ra 100 trứng, sau đó nở ra 100 đứa con trai, tức tổ tiên của tộc BáchViệt Sau đó Lạc Long Quân và Âu Cơ mỗi người dẫn theo 50 đứa con phân bố trên rừng dướibiển khắp nơi để sinh tồn, lập nghiệp, một nhánh trong đó là họ Hồng Bàng, tức HùngVương[16] So sánh truyền thuyết sáng thế này với những tác phẩm thần thoại Trung Quốc như

Bàn Cổ khai thiên, Tam hoàng ngũ đế, Nữ Oa và Phục Hi… có thể thấy mặc dù phía Việt Nam

không bàn nhiều về quá trình khai thiên lập địa như Trung Quốc, nhưng tư tưởng sáng thế củahai bên thể hiện trong tác phẩm về cơ bản là tương đồng nhau

Tư tưởng Trời của Trung Quốc truyền vào Việt Nam được người Việt Nam tích cực tiếp thu vàchuyển hóa Do hấp thu những đặc trưng văn hóa bản địa và nhu cầu lịch sử, tư tưởng Trời ítnhiều có sự mở rộng hàm nghĩa, tạo nên nét đặc sắc của tư tưởng Trời thời Lí Trần Trong phầnnày, chúng tôi tiến hành phân tích tư tưởng Trời trong văn học thời Lí Trần từ 9 góc độ: (1) Trờimang nghĩa trời đất, (2) Trời mang nghĩa tự nhiên, (3) Trời mang nghĩa thượng đế, (4) Trời mangnghĩa mệnh trời, (5) Trời mang nghĩa đạo trời, (6) Trời mang nghĩa lý trời, (7) Trời có phân biệtnam bắc, (8) Trời mang nghĩa cảnh giới siêu nhiên, (9) Trời mang nghĩa càn khôn vũ trụ và hưkhông pháp giới

3.1 Trời mang nghĩa trời đất (Thiên địa chi thiên)

Trời là không gian vật chất tồn tại xung quanh con người, bao gồm tất cả những sự vật và hiệntượng hữu hình của thế giới tự nhiên mà các giác quan của con người có thể quan sát và nhậnthức được chúng[17]

Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cảm nhận rằng “Trời mang nghĩa trời đất” này có phạm vi

vô cùng rộng lớn, là không gian bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của thế giới tự nhiên

Thiền sư Dương Không Lộ dùng “vạn lí” (muôn dặm) để miêu tả chiều kích của Trời: “Muôn

dặm sông xanh muôn dặm trời” [18] (Ngư nhàn), Trần Thánh Tông dùng chữ “viễn” (xa) để mô

tả Trời: “Cảnh thu xa ở ngoài trời xa”[19] (Tự thuật), Trần Quang Triều lại dùng “khoát” (rộng),

“cao” (cao lớn) để miêu tả Trời: “Biển rộng trời cao tìm chốn nào”[20] (Đề Phúc Thành từ

đường) Trời ở trên đầu con người kết hợp với mặt đất dưới chân người, tạo ra một không gian tựnhiên cao rộng của trời đất Trương Hán Siêu sử dụng không gian trời đất của danh thắng Ngũ

Hồ ở Trung Quốc để so sánh và ca ngợi phong cảnh xinh đẹp của núi Dục Thúy: “Trời đất ở Ngũ

Hồ rộng thênh thang, hãy tìm lại tảng đá ngồi câu khi trước”[21] (Dục Thúy sơn), Nguyễn Phi

Khanh cũng từ không gian trời đất để miêu tả cảnh sắc buổi sáng sớm ở Hóa Thành: “Nước triều

dâng lên, trời đất sáng dần; trăng sáng bạc và sông mênh mông”[22] (Hóa Thành thần chung)

Trang 7

Không gian trời đất vật chất hữu hình này bao trùm tất cả các sự vật và hiện tượng của tự nhiên,trong đó có mặt trời mặt trăng, các vì sao, sông núi, gió mưa, cây cỏ, lam khí, sóng vỗ, chim thú:

“Một con chim âu trắng giữa khoảng trời nước liền nhau”[23] (Thiền sư Huyền Quang – Chu trung), “Nước triều xuống, tiếng sáo bên sông xa vẳng; trời rộng, mây là là ngọn cây”[24] (Chu Văn An – Nguyệt tịch bộ tiên du sơn tùng kính), “Sắc trời phau phau nhạn khuất trong mây”[25] (Trần Quang Triều – Quá An Long), “Nước mùa thu lồng trời mùa thu”[26] (Trần Thánh Tông – Hạnh Thiên Trường hành cung), “Nhân đi việc quan, lên chơi núi quê nhà; ngẩng đầu nhìn trời

cao muôn dặm… Núi Yên Phụ chỉ cách trời một nắm tay”[27] (Phạm Sư Mạnh – Hành dịch đăng

gia sơn), “Sau mưa tiếng suối chảy ầm ầm, trời tạnh lam chướng sạch làu làu”[28] (Nguyễn Phi Khanh – Du Côn Sơn), “Ven biển mặt trời thanh bình chiếu sáng con đường thiên tử đi, ở trên

trời sao Văn tinh quét sạch lam chướng”[29] (Phạm Sư Mạnh – Họa đại Minh sứ Dư Quý),

“Nhìn sóng lớn trên dưới đều là trời, lên núi cao đông nam đều là biển”[30] (Phạm Sư Mạnh – Đăng Dục Thúy sơn lưu đề), “Giữa trời sáng rỡ mặt trời và mặt trăng”[31] (Khuyết danh – Xuất xử), “Sông núi hoa chim đem mùa xuân lại cho trời đất, thành quách lâu đài gợi lên ý cổ

kim”[32] (Trần Thuấn Du – Bảo Sơn tự)… Dưới sự quan sát của các thi nhân thời Lí Trần, Trời

vô cùng cao, đất vô cùng rộng, sông biển vô cùng sâu, ba thứ hợp lại tạo thành không gian sinhtồn của vạn vật

Không chỉ là không gian tồn tại của các sự vật và hiện tượng tự nhiên, Trời của trời đất cũng là

không gian diễn ra các hoạt động sinh hoạt và tồn tại của con người: “Thân trượng phu đội trời

đạp đất, chí khí phải cao vượt người cùng lứa… để lại được tiết tháo trung nghĩa cùng trời đất, thì đời sau còn nói chuyện cao nhã về con người toàn vẹn nghìn xưa”[33] (Nguyễn Chế Nghĩa –

Ngôn Hoài), “Thân thế mịt mù tựa vào mái thuyền, buồm khách ngoài trời xa, chim về tổ vội

vàng”[34] (Phạm Tông Ngộ – Du Phù Thạch nghiêm nãi tiên tổ tu hành chi địa chu trung tác),

“Người ta sống trong trời đất như một nhà trạm, sao có thể lìa bầy ở cô đơn một mình lâu

được”[35] (Nguyễn Phi Khanh – Tặng Đông Triều Phạm tiên sinh)…

Trời đất ngoài việc là không gian sinh tồn của con người, còn là không gian mà con người tu

dưỡng chân tính của bản thân mình: “Nghìn màu xanh, muôn vẻ thúy, tràn ngập làng nước; góc

bể bên trời là nơi nuôi dưỡng chân tính của ta”[36] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Dưỡng chân) Quanđiểm tu dưỡng mà Tuệ Trung Thượng Sĩ đề cập ở đây mang đặc trưng quan điểm tu tâm dưỡngtánh của Phật giáo Ngoài ra, không gian tự nhiên trời đất cũng là đối tượng chứng kiến mọi sựhưng vong của quốc gia, sự trị loạn của xã hội, cũng như những cuộc chiến tranh vệ quốc của các

anh hùng dân tộc: “Muôn đội thuyền bày, rừng cờ phấp phới; hùng hổ sáu quân, giáo gươm

sang chói; thắng bại chửa phân, bắc nam lũy đối; ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, bầu trời đất chừ sắp hoại.”[37] ( Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giang phú)

Tuy được cấu tạo bởi vật chất, nhưng do phạm vi của Trời vô cùng rộng lớn, con người khôngthể đo lường cùng tận, lại thêm quy luật vận hành vô cùng kì diệu, nên con người không có cáchnào chạm được đến ranh giới của Trời, cũng không thể nào cùng thông được sự vận hành biến

diệt của Trời: “Trong trời đất có ai hiểu thấu lẽ biến diệt, ngọn bút không có miệng vẫn nói

chuyện hưng vong”[38] (Đinh Củng Đán – Cù Đường đồ)

Năm 1010 dưới triều Lí, vua Lí Công Uẩn ban Chiếu dời đô, chuyển kinh đô từ thành Hoa Lư

đến thành Thăng Long Ông đã đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của loại không gian trời đất

này đến vận mệnh hưng thịnh của quốc gia: “Ở vào nơi trung tâm trời đất, được cái thề rồng

Trang 8

cuộn hổ ngồi, đã đúng ngôi nam bắc đông tây, lại tiện hướng nhìn sông dựa núi, địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng Dân cư khỏi phải chịu cảnh khốn khổ ngập lụt, muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa Thật là chốn tụ hội trọng yếu của bốn phương đất nước; cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời.”[39] (LýCông Uẩn – Thiên đô chiếu) Theo quan điểm của Lí Công Uẩn, kinh đô cần phải được thiết lập

ở nơi trung tâm của trời đất, ở chính giữa bốn phương đông tây nam bắc, phù hợp với yêu cầucủa địa thế phong thủy Làm được như vậy quốc gia ắt sẽ hưng thịnh, bá tánh ắt sẽ an cư lạcnghiệp Quan điểm của Lí Công Uẩn rõ ràng tiếp thu lí luận về địa lí phong thủy truyền thốngcủa Trung Quốc, đồng thời bao hàm cả quan điểm về Trời trong triết học Trung Quốc

Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa trời đất trong văn học thời Lí Trần chính là không gian rộng lớncủa thế giới tự nhiên trời đất Không gian đó bao trùm toàn bộ sự vật hiện tượng của giới tựnhiên và loài người sống trong xã hội Con người mặc dù có thể dùng các giác quan để quan sát

và nhận thức về Trời, nhưng tuyệt không thể nào cùng thấu những động thái biến chuyển kì diệucủa nó Trời này là Trời thuần túy mang tính vật chất, chưa từng bị mở rộng hàm nghĩa Một vấn

đề quan trọng khác là những sáng tác miêu tả Trời này đại bộ phận có tính văn học cao, đồngnghĩa với việc khiếm khuyết chất lý tính của triết học Nguyên nhân có thể là do người Việt trướcđây không có sở trường về mặt lý tính của triết học, hơn nữa đối với loại Trời vật chất này, sự tồntại của nó vốn rất rõ ràng, mọi người đều có thể trực tiếp cảm nhận mà không cần biện luậnnhiều Vì vậy, những sáng tác được dẫn ra phía trên mang đậm đặc trưng cảm tính của văn học,Trời và các sự vật hiện tượng giao hòa lẫn nhau, tạo nên bối cảnh phù hợp với cảm xúc và trạngthái nội tâm của văn sĩ

3.2 Trời mang hàm nghĩa tự nhiên (Thiên nhiên chi thiên)

“Thiên nhiên” hay “tự nhiên” được đề cập đến ở đây hoàn toàn khác với Trời của trời đất phíatrên Học giả Lí Thân của Trung Quốc nhận định về loại Trời này như sau: “Trời là tên gọi chungcủa vạn vật, cũng là trạng thái tồn tại của vạn vật, đặc điểm chung của chúng là ‘tự nhiên nhinhiên’ Vì vậy, nói đến Trời, tức là chỉ những thứ ‘tự nhiên nhi nhiên’; còn nếu nói đến nhữngthứ ‘tự nhiên nhi nhiên’, tức là đã nói đến Trời Vì vậy, Trời và tự nhiên trở thành từ đồng nghĩa,Trời mang hàm nghĩa ‘tự nhiên nhi nhiên’ Thiên nhiên, có thể gọi tắt là Thiên (Trời)” [40] “Tựnhiên nhi nhiên” được đề cập ở đây chính là trạng thái vốn có của trời đất vạn vật, tức là tự nhiênvốn chưa qua bàn tay tác động của con người Đặc trưng quan trọng của “tự nhiên nhi nhiên”chính là “vô vi”, tức mang tính chất vô ý chí, vô công năng, vô tình cảm, tùy thuận trạng thái tựnhiên vốn có Hàm nghĩa này của Trời rõ ràng xuất phát từ tư tưởng Đạo gia Đạo gia cho rằngcảnh giới tự nhiên vô vi chính là trạng thái tồn tại lí tưởng của trời đất, con người và vạn vật.Như vậy, “tự nhiên” ở đây chính là trạng thái bản chất của vạn vật, cái định luật vốn có của trờiđất, chưa qua sự can thiệp cải tạo của con người

Các tác giả văn học thời Lí Trần đều cho rằng Trời có quy luật tồn tại và vận hành một cách tựnhiên, quy luật này là thường hằng bất biến, hoàn toàn không có liên quan đến ý chí của conngười Lê Cảnh Tuân cho rằng trật tự vần xoay tiếp nối nhau của 4 mùa chính là biểu hiện tự

nhiên của Trời: “Núi sông trùng điệp, đường khách xa xăm; đông qua xuân tới, đạo trời vần

xoay; muôn việc hững hờ qua, theo thời tiết thay đổi”[41] (Giang trung phùng lập xuân nhật),

Đoàn Nhữ Hài cũng từng có cách nhìn tương tự: “Đất trời lượng che chở, đông hàn tiếp đến

dương xuân”[42] (Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), Trần Nguyên Đán lại sử

Trang 9

dụng hình ảnh nở rụng của hoa mai để bàn luận về khí trời (thiên khí): “Cây mai ngậm hạt ngọc

như đưa tin thời tiết của trời, Khóm trúc cài trâm ngọc xanh, như để lộ sự huyền bí của đất”[43](Tiểu vũ), Nguyễn Nguyên Ức đặc biệt dùng quy luật chuyển tiếp nóng lạnh tự nhiên của trời đất

để nhấn mạnh quy luật chuyển biến về sự hưng vong của quốc gia: “Nước trị hay loạn cốt ở

trăm quan, được (lòng) người thì nước trị, mất (lòng) người thì nước loạn Thần trải xem các bậc đế vương đời trước, thấy chưa từng ai không dùng quân tử mà hưng được nghiệp, không dùng tiểu nhân mà bị tiêu vong Tuy nhiên nguồn gốc dẫn đến những sự hưng vong đó, không phải là cái cớ một sớm một chiều Chúng xuất hiện dần dần Ví như trời đất, không thể nóng hay rét bất thần, mà phải biến chuyển dần dần qua mùa xuân thu Vua chúa cũng không thể bất thần hưng hay vong được, mà phải dần dần do làm thiện hay gây ác.”[44] (Thiên hạ hưng vong trịloạn chi nguyên luận) Có thể thấy, Trời có quy luật vận hành tự nhiên, giống như quy luậtchuyển hóa bốn mùa xuân hạ thu đông của thời tiết

Ngoài ra, mọi sự vật và hiện tượng tự nhiên đều do trời đất tạo hóa sản sinh, như: núi sông, biển

cả, đường sá, phong cảnh: “Trời đất mở ra lộ Tam Giang”[45] (Phạm Sư Mạnh – Tuần thị Chân Đăng châu), “Cảnh tốt hoà lành, đồ tựa vẽ tranh Chỉn ấy trời thiêng mẽ khéo, nhìn chi vua Bụt

tu hành Hồ sen trương tán lục, suối trúc bấm đàn tranh.”[46] (Thiền sư Huyền Quang – VịnhVân Yên Tự phú) Chức năng tự nhiên của Trời là che chở cho tất cả con người và vạn vật của

thế gian: “Trời đất cùng che chở, mặt trăng và mặt trời cùng sáng soi, cho nên mới sinh thành

muôn vật, phát triển nuôi dưỡng mọi loài.” [47] (Lê Văn Hưu – Đại Việt sử kí, Nhược tư luận).

Địa hình núi sông hiểm trở cũng đều do trời đất tự nhiên sắp đặt: “Chốn trời đất đặt bày, ấy địa

trục phương Nam mạnh thế”[48] (Nguyễn Bá Thông – Thiên Hưng trấn phú), “Từ có vũ trụ, đã

có giang san, thật là trời đất đặt ra nơi hiểm trở.”[49] (Trương Hán Siêu – Bạch Đằng Giangphú) Có thể thấy, vạn vật trong trời đất đều do tự nhiên tạo dựng, đồng thời cũng chịu sự chiphối của tự nhiên Sự tạo dựng và chi phối này vốn là chức năng tự nhiên của Trời, từ xưa đếnnay tự nó vốn là vậy, không do bất kì ý chí của cá nhân hay thần thánh nào can dự đến

Trong một bài thơ hàm chứa quan niệm Phật giáo, tác giả đã khéo léo sử dụng đặc trưng bản chấtcủa các hiện tượng tự nhiên như “gió trời” (thiên phong) và “trăng xưa” (cổ nguyệt) để làm đốitượng tham chiếu, nhấn mạnh phật tính vốn sáng suốt vô mê của mỗi con người, từ đó cổ vũ mọi

người dừng bặt hết mọi sự động niệm của tự tâm: “Đừng có tìm Thiếu Thất với Tào Khê, thể tính

vằng vặc chưa có mê lầm, mặt trăng xưa soi nào kể gì xa hay gần, gió trời thổi nào chọn nơi cao hay thấp.”[50] (Tuệ Trung Thượng Sĩ – Thị chúng) Mặt trăng từ xưa đến nay chiếu rọi khôngphân biệt xa gần, gió trời từ xưa đến nay thổi không phân biệt cao thấp, đây chính là bản chấtxảo diệu tự nhiên của vạn vật

Tóm lại, nhiều tác giả văn học Lí Trần khẳng định bản chất “vô vi”, “tự nhiên nhi nhiên” củaTrời Cách nhìn này hoàn toàn đối lập với quan điểm cho rằng Trời là vị thần linh tối cao có ý chí

và nhân cách

3.3 Trời mang nghĩa thượng đế (Hoàng thiên chi thiên)

Học giả La Quang trong cuốn Trung Quốc triết học đại cương đã chỉ ra những đặc điểm của Trời

mang nghĩa thượng đế: Trời là vị thần vô hình tướng, Trời tối cao vô thượng, Trời chí tôn chí đại,Trời không có gì là không biết, Trời không có gì không thực hiện được, Trời trường tồn không cóđiểm cuối[51] Học giả Trương Lập Văn xem Trời là vị thần có nhân cách, đồng thời chỉ ra mấy

Trang 10

đặc điểm của Trời: Trời và con người đều có những cảm xúc vui, mừng, buồn, giận giống nhau;Trời có thể định đoạt vận mệnh con người, Trời có thể thu hồi mệnh lệnh và khiển trách người,Trời có tấm lòng yêu quý điều nhân đức và đề cao điều thiện[52] Từ những ý kiến trên, có thểrút ra 3 đặc trưng chủ yếu của Trời mang nghĩa thượng đế này như sau: (1) Trời là vị thần linh tốicao thống lĩnh chư thần, tức là vị chủ tể duy nhất của thế giới thần linh, vì giữ địa vị tối cao vôthượng nên Trời có quyền lực vô hạn, có thể quan sát và chi phối đến tất cả các mặt của giới tựnhiên và đời sống xã hội; (2) Trời là vị tổ sản sinh và hóa dục nhân loại vạn vật, đồng thời thiếtlập nên trật tự xã hội loài người; (3) Trời luôn đầy ắp lòng yêu thương, có những tình cảm vuimừng buồn giận của con người, thường quan sát theo dõi công tội của từng người để thưởngthiện phạt ác Trời này từ trước đến này được gọi bằng nhiều cách khác nhau: Hoàng thiên,thượng đế, thiên công, lão thiên, Ngọc Hoàng thượng đế, Ngọc đế, thượng thiên, hóa công, tạohóa…

Tác giả văn học Lí Trần đều chủ trương Trời là vị thần tối cao sáng tạo ra càn khôn vũ trụ và xãhội loài người, cũng như thiết lập nên những quy phạm luân lí đạo đức xã hội Nguyễn Phi

Khanh chỉ ra vai trò sáng tạo vũ trụ của Trời cùng với tính chất huyền diệu của nó: “Tay thước

trời dựng xây vũ trụ, thân khuôn lớn đúc nên mọi thứ… Nếu không phải tạo vật huyền diệu, hóa công tuyệt xảo thì sao được như thế”[53] (Diệp mã nhi phú), sử gia Lê Văn Hưu cho rằng Trờihóa sinh loài người, đồng thời vì người dân mà chọn ra bậc minh quân có đầy đủ đức hạnh và tài

trí: “Trời sinh dân, lại đặt ra vua, ấy là để vua chăn dắt dân, chẳng phải để vua tự cung phụng

mình”[54] (Đại Việt sử kí – Tự phụng luận) Không chỉ sáng tạo ra sự sống, Trời còn nỗ lực giáo

hóa, dẫn dắt con người và vạn vật: “Trời không đâu không giáo hóa”[55] (Đoàn Nhữ Hài – Nghĩ Anh Tông hoàng đế tạ thượng hoàng biểu), “Trời sai sao Cảnh Tinh, chim Phượng Hoàng mở

mang điển chương”[56] (Nguyễn Phi Khanh – Hạ Trung thư thị lang) Trời vì vận mệnh của

quốc gia mà tuyển chọn lương thần để phò chính: “Trời dành một vị quốc lão để phò vận thịnh,

vua yêu vị cựu thần được ba triều nương tựa”[57] (Nguyễn Phi Khanh – Nguyên đán thượngBăng Hồ tướng công), Trời thương tiếc cho những vị hiền thần không được vua trọng dụng, nên

cảm thông cho nỗi lòng trắc ẩn của họ: “Xã tắc đương hồi thịnh, trời cũng giúp vì; đâu chịu để

tiên sinh già đi ở chốn non xanh”[58] (Trần Nguyên Đán – Tặng Chu Tiều Ẩn), “Địa vị tam cô

trọng yếu, đức càng sáng tỏ, trời chẳng để ông ở lại nơi miếu đường nữa”[59] (Trần Đình Quân– Vãn Vương Thiếu Bảo nhữ chu) Trời cũng cảm thông với nỗi lòng của những nhà Nho ưu thời

mẫn thế: “Trên đầu có trời già, nương tựa tháng ngày, cõi đời là cảnh mộng, phó mặc mây

khói”[60] (Nguyễn Phi Khanh – Thành trung hữu cảm kí trình đồng chí), “Phong độ hai ông già

đã nghìn năm xa rồi, nay trời trao chức, hoa cúc ẩn dật phải ra gánh vác”[61] (Đỗ Khắc Chung

– Vịnh cúc), “Quan nhàn hạ, ta tìm được bí quyết tu thân, già đi rồi, lòng học đạo đã có trời

biết”[62] (Nguyễn Phi Khanh – Đề Huyền thiên tự)

Trời luôn quan sát mọi việc của thế gian, thể hiện sự vui mừng trước công trạng và sự tức giậntrước sai trái của con người Năm 1013, Lí Công Uẩn điều binh chinh phạt loạn quân đất DiễnChâu, đánh xong trở về qua cửa biển Biện Khẩu gặp phải sóng to gió lớn, ông cho rằng Trời nổi

giận và trách phạt sai lầm của ông, bèn lập đàn đốt hương khấn vái rằng: “Còn trong khi binh

đao xô xát, hoặc giết oan người trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận vạch rõ lầm lỗi cho tôi, thì dù cho thân này có phải chết cũng không dám phàn nàn gì Tuy nhiên, đối với sáu quân, tội đó xin dung thứ Dám mong lòng trời soi xét.”[63] (Chinh hoàn quáBiện Khẩu, ngộ bạo phong sậu vũ, đảo ư thiên) Đoạn văn trên của Lí Công Uẩn thể hiện thái độkính sợ và tuân mệnh của ông đối với Trời Đào Cam Mộc lúc khuyên bảo Lí Công Uẩn soán

Trang 11

đoạt ngôi vua của Lê Ngọa Triều cũng lấy lý lẽ Trời ghét kẻ hung bạo, phế trừ kẻ ác để tăng sức

thuyết phục: “Mới rồi chúa thượng u mê bạo ngược, làm nhiều điều bất nghĩa, trời chán ghét

ông ta thất đức nên không cho hưởng hết tuổi thọ.”[64] (Khuyến Lí Công Uẩn tức đế vị)

Trời có ý chí, nên việc thừa kế ngôi vua là do ý Trời quyết định Cuối triều Lí, do không sinhđược con trai kế vị, vua Lí Huệ Tông đã tự trách tội của mình, dự định nhường ngôi cho Trần

Cảnh nên tập hợp quần thần nghị sự Ông nói: “Trẫm vì thất đức, mang tội với trời, tuyệt đường

kế tự, đành truyền ngôi cho con gái… Thượng hoàng để chàng hai nối ngôi, đó là ý trời Trời đã cho mà không nhận thì sẽ phải chịu tội đấy.” [65](Việt sử lược, Lí Huệ Tông dục tốn vị ư Trần

Cảnh chi tranh biện) Trời ghét cảnh chiến tranh loạn lạc: “Chừng như lòng trời đang chán loạn

lạc”[66] (Phạm Nhữ Dực – Tị tặc sơn trung trừ dạ) và yêu quí cảnh thái bình thịnh thế Vì Trời

có tâm nên có thể thấu hiểu nhân tâm: “Rốt cuộc chỉ có trời già mới biết được lòng mình.”[67]

(Phạm Nhữ Dực – Họa Nguyễn Vận đồng khiển muộn thi vận kì nhất)

Trong quan niệm của các tác giả thời Lí Trần, Trời luôn luôn khen thưởng, trợ giúp, phù trợ cho

những người thiện lương biết giữ đức, đặc biệt là minh quân và lương thần Trong Lâm chung di

chiếu, vua Lí Nhân Tông đã nhấn mạnh sự phù trợ của tổ tông và hoàng thiên đối với sự nghiệp

và vận mệnh của quốc gia, dân tộc: “Nhờ anh linh của tổ tông và hoàng thiên tin giúp nên bốn

bể yên lành, biên thùy ít loạn”[68] (Lâm chung di chiếu), vua Trần Nhân Tông cũng khẳng định

sự phù trợ của hoàng thiên đối với sự nghiệp chấp chính của mình: “Trẫm nhờ ơn chăm bẫm của

hoàng thiên mới hưởng được ngôi chí tôn Việc dân quá đỗi gian nan, chính sự quá ư phiền nhiễu”[69] (Lục thời sám hối khoa nghi tự) Trần Công Cẩn trong bài Bàn Khê điếu huỳnh phúmượn câu chuyện Khương Thái Công phò trợ Chu Văn Vương diệt Thương lập Chu, đồng thời

khẳng định sự ủng hộ của hoàng thiên đối với những vương triều xem trọng chính nghĩa: “Đó

chẳng phải là trời giáng điểm làm để làm rạng rỡ đức độ vua tôi lúc bấy giờ đấy sao?… Ôi, mệnh trời đến như thế, há chẳng phải trời cho ngọc huỳnh mà báo điềm tốt đó sao?… Đó chẳng phải là trời lấy tin lành mà nêu lên điềm tốt đấy sao?”[70] (Bàn Khê điếu huỳnh phú)

Năm Canh Ngọ 1150 triều Lí, Lí Thần Tông bị trọng bệnh, quan Thái úy Đỗ Anh Vũ đã tự thântrai giới tắm gội lập đàn cầu đảo cho vua khỏi bệnh, hoàng thiên cảm động lòng trung thành đó

mà đáp ứng ý nguyện: “Thái Úy tắm gội trai giới, chọn đất lập đàn, dựng nghi trượng cầm ngọc

khuê, cầu xin chịu bệnh thay vua Hoàng thiên thương Thái úy là người trung hiếu , nên cho một phương thuốc thần, vua uống viên kim đan lập tức khỏi bệnh.”[71] (Khuyết danh – Cự Việt quốcThái úy Lí công thạch bi minh tự) Đoạn văn trên chứng minh Trời luôn ủng hộ, giúp vì bậc trungthần nghĩa sĩ

Trời đã giáng điềm lành để tán dương và phù rập cho người biết giữ gìn đức hạnh, đương nhiêncũng sẽ giáng tai ách để trừng phạt và tiêu diệt kẻ gian tặc bất chính Nguyễn Công Bật viết trên

mặt sau bia tháp Sùng Thiện Diên Linh như sau: “Sau này nếu kẻ nào trong hai xã sáu thôn hoặc

người tứ xứ chiếm ruộng tam bảo làm của riêng thì xin hoàng thiên và thập bát long thần tru diệt.”[72] (Đại Việt quốc đương gia đệ tứ đế Sùng Thiện Diên Linh tháp bi, mặt sau)

Người Việt Nam trong thời gian dưới ách thống trị của phương Bắc luôn luôn hy vọng xuất hiệnthánh nhân để dẫn dắt dân tộc đấu tranh giành độc lập tự chủ Lê Văn Hưu cho rằng hoàng thiên

có thể đáp ứng ý nguyện này của con người: “Thắp hương khấn trời, xin trời vì nước Việt ta sớm

sinh thánh nhân, để tự làm vua nước nhà, khỏi bị người phương Bắc xâm chiếm bóc lột.”[73]

Trang 12

(Đại Việt sử kí – Ngã Việt thuộc Đông Hán chi thời luận) Lê Văn Hưu trong một bài sử luậnkhác cũng cho rằng Đinh Tiêng Hoàng chính do hoàng thiên vì vận mệnh đất nước ta mà sinh ra:

“Chắc hẳn ý trời muốn vì nước Việt ta, lại sinh bậc thánh triết để tiếp nối chính thống của Triệu

Vương chăng?”[74] (Đại Việt sử kí – Đinh Tiêng Hoàng luận)

Tóm lại, Trời mang hàm nghĩa thượng đế trong văn học Lí Trần chính là vị thần tối cao sángthủy càn khôn vũ trụ và nhân loại vạn vật, cũng là đối tượng thiết lập những quy phạm đạo đứcluân lí làm rường mối cho xã hội Trời thông qua quyền lực của đế vương gián tiếp chỉ đạo điềuhành quốc chính, chọn minh quân để dựng nước trị dân, dùng lương thần để phò tá minh quân.Trời còn giữ trọng trách khuyến thiện trừng ác, thưởng công phạt tội Tư tưởng Trời này rõ ràngtiếp thu quan niệm trời là vị thần tối cao của Nho gia, đặc biệt kế thừa sâu sắc hệ thống tư tưởngtriết học của Đổng Trọng Thư

3.4 Trời mang nghĩa mệnh trời (Thiên mệnh chi thiên)

Hàm nghĩa này của Trời trước sau nhất quán với hàm nghĩa thần tối cao, tức thượng đế Mệnhtrời một mặt dùng để chỉ ý chỉ và mệnh lệnh của Trời, một mặt dùng để chỉ vận mệnh, số mệnhcủa con người do Trời sắp đặt Bởi vì con người chủ thể khi đối diện với mệnh trời thì cái chủ thể

ấy mờ nhạt đi, con người trở nên vô năng, bất lực trước mệnh trời, nên mệnh trời chính là mộtđịnh luật mang tính tất nhiên khách quan bên ngoài và chi phối cuộc sống con người Vì vậy, conngười cần phải thuận ứng theo mệnh lệnh của Trời, tuyệt không thể phản nghịch lại tính tất nhiên

đó, tức không phản nghịch lại ý chí của Trời

Các tác giả thời Lí Trần tin tưởng rằng Trời luôn ban hành các mệnh lệnh, mệnh lệnh đó là bất dibất dịch, cố định và hiển nhiên trở thành định mệnh, do đó con người nhất định phải tuân theo

mệnh trời Các triều đại nối tiếp nhau thống trị thiên hạ đều do mệnh trời sắp đặt: “Từ xưa nước

Nam Việt đã có các bậc đế vương trị vì thiên hạ, riêng nhà Lí ta vâng chịu mệnh trời, làm chủ bốn biển, các vị thánh vương truyền nối đã hơn 200 năm.”[75] (Lí Chiêu Hoàng – Thiện vịchiếu) Lí Chiêu Hoàng khẳng định, sự trị vì đất nước của các đời vua triều Lí là thuận theo mệnhtrời Cũng vậy, đối với Lí Công Uẩn, việc quốc gia đại sự như định đô và dời đô cũng đều doTrời định đoạt, bậc thiên tử phải tuân theo mệnh trời, nếu làm ngược lại ắt sẽ chuốc lấy bại vong:

“Chỉ vì muốn đóng đô ở nơi trung tâm, mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu;

trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đổi Cho nên vận nước lâu dài, phong tục phồn thịnh Thế mà hai nhà Đinh Lê lại theo ý riêng mình, khinh thường mệnh trời, không noi theo dấu cũ của Thương Chu, cứ đóng yên đô thành ở nơi đây, khiến cho triều đại không được lâu bền, số vận ngắn ngủi, trăm họ phải hao tổn, muôn vật không được thích nghi.”[76] (Thiên đô chiếu) Lí Công Uẩn cho rằng những triều đại biết tuân theo mệnh trời thìvận mệnh quốc gia sẽ trường tồn, sự nghiệp thịnh vượng, các mặt của nền văn hóa xã hội sẽ xánlạn rỡ ràng Ông phê phán hai triều Đinh Lê xem thường mệnh trời nên vận mệnh ngắn ngủi, sựnghiệp sớm phải suy vong Không chỉ việc định đô, ngay cả việc thảo phạt phản thần hay loạn

quân đều do mệnh trời sắp đặt: “Nay, Tồn Phúc càn rỡ, tự tôn tự đại, tiếm xưng vị hiệu, ban

hành chính lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân biên thuỳ Vì thế, trẫm cung kính thi hành mệnh trời trách phạt, bắt được bọn Tồn Phúc, gồm năm người, đều đem chém đầu ở chợ”[77]

(Lí Phật Mã – Bình Nùng chiếu), “Nhận chức tướng quân xong, vâng lệch trời đi chinh

phạt.”[78] (Nguyễn Ức – Tống Cúc Đường chủ nhân chinh Thích Na)

Trang 13

Tất cả mọi sự thành bại sống chết của con người đều phải tuân theo mệnh trời, hoàn toàn khôngthể kháng cự và trốn chạy khỏi nó Phạm Nhữ Dực cho rằng nhất cử nhất động trong cuộc sống

con người đều do số mệnh quyết định: “Hành tàng hay dụng xả không gì là không có số

mệnh”[79] (Kí Quách huyện thừa) Đối với ông, sự gặp gỡ của bạn bè lâu năm xa cách nhau

cũng không thể không do duyên số Trời định: “Chúng ta hội họp không phải là không có số, chớ

có chầm chậm khi dốc chén rượu biếc”[80] (Phạm Nhữ Dực – Liên Đình nhã tập) Vua Lí Nhân

Tông cũng cho rằng sự sống chết của con người chính do số mệnh quyết định: “Mọi loài sinh

vật, không có loài nào là không chết Chết, là cái số lớn của trời đất, cái lý của vạn vật là như vậy”[81] (Lâm chung di chiếu) Trần Thánh Tông xót thương cho cái chết của Trần Trọng Trưng

mà cảm thán như sau: “Vô cớ mà sổ trời lại ghi năm tháng của ông, chẳng kể gì đến trần gian ai

nên sống mà ai nên chết”[82] (Vãn Trần Trọng Trưng), Trần Thánh Tông cho rằng trên trời có sổsanh tử ghi chép về sinh mệnh của mỗi người Sau khi sủng phi Nguyễn Bích Châu của vua Trần

Duệ Tông mất, ông đã viết một bài tế văn trong đó có nói rằng: “Số mệnh đã định chừ trời kia

không vì, vì đâu nên nỗi chừ lỗi trẫm khó từ.”[83] (Nguyễn Bích Châu tế văn) Rõ ràng ôngkhẳng định mạng sống con người là do số trời định đoạt

Vua Trần Thái Tông chủ trương đời người giàu nghèo sang hèn đều được quyết bởi số trời, nếucon người vì quá nghèo hèn mà trộm cướp tài sản của người khác, người đó sẽ bị đọa lạc vào địa

ngục u minh: “Hay đâu phú quý tại trời, còn nuôi ý tham cầu xằng bậy, bả chó đào hang, khoét

vách xuyên tường, theo chân tướng quân Sơn Dương, hay tập theo gương người quân tử Lương Sơn Nghịch trời phản đất, dối pháp khinh hình, còn sống thì bị luật pháp khảo tra, chết đi thì bị minh ty đánh đập.”[84] (Luận văn ngữ lục – Giới thâu đạo) Quan điểm trên của Trần Thái Tôngthực chất là lặp lại những điều luật răn cấm trong đạo Phật, tư tưởng của ông rõ ràng thể hiệnmàu sắc tổng hợp của tư tưởng Nho và Phật

Nước Việt Nam từ thời Ngô về sau độc lập tự chủ, vua tôi các triều Lí Trần để khẳng định cươngvực lãnh thổ của quốc gia đã nhiều lần vận dụng tư tưởng mệnh trời để tăng thêm sức đanh thép

của lời tuyên bố: “Sông núi nước Nam vua Nam ở, rành rành định phận tại sách trời, cớ sao lũ

giặc phản nghịch còn sang xâm phạm, chúng bây ắt sẽ chuốc lấy bại vong.”[85] (Lí Thường Kiệt– Nam quốc sơn hà) “Sách trời” mà vị tướng quân Lí Thường Kiệt nhấn mạnh không ngoài loạisách ghi rõ sự khác biệt về cương vực lãnh thổ giữa Nam Bắc theo mệnh lệnh của Trời, nên rõràng sách trời cũng chính là mệnh trời Nhờ sử dụng quan niệm “mệnh trời”, tính chính nghĩacủa cuộc kháng chiến được khẳng định ở mức cao hơn Lí Thường Kiệt đã rất thông minh trongviệc vận dùng một học thuyết mà Trung Quốc luôn đề cao để đả phá lại dã tâm xâm lược của bọngiặc phương Bắc Ông còn khéo léo cảnh cáo bọn giặc đi ngược lại với mệnh trời (nghịch lỗ) sẽchuốc lấy thất bại thảm hại Với Lí Thường Kiệt, sách trời vạch rõ sự khác biệt về cương thổ thì

đối với Nguyễn Bá Tĩnh, sách trời còn ghi chép sự khác biệt về thổ sản giữa Nam và Bắc: “Sách

trời đã định nước Nam có những thổ sản khác biệt với phương Bắc.”[86] (Trực giải chỉ namdược tính phú)

Tóm lại, văn học Lí Trần khẳng định có mệnh trời, bao gồm mệnh lệnh do Trời ban hành và cảthứ định mệnh mang tính tất nhiên Con người khi đối diện với bất kì hoàn cảnh nào nhất thiếtđều phải tuân theo mệnh trời, bằng ngược lại ắt sẽ chuốc lấy tổn thất bại vong Tư tưởng thiênmệnh trong văn học Lí Trần rõ ràng tiếp thu từ học thuyết thiên mệnh của Nho gia, nhưng hầunhư không có tác giả nào khẳng định tính chủ động biến đổi hoàn cảnh của con người trước hoàncảnh như Tuân Tử

Trang 14

3.5 Trời mang nghĩa đạo trời (Thiên đạo chi thiên)

Hàm nghĩa “đạo trời” cũng có mối quan hệ mật thiết với hàm nghĩa “thượng đế” Đạo trời (thiênđạo) chính là quy luật và chuẩn mực vận động của trời đất vạn vật Quy luật này bao phủ tất cả

sự vật và hiện tượng của giới tự nhiên, đồng thời điều chỉnh tất cả mọi hành vi đạo đức của conngười, tạo nên quỹ đạo tồn tại và phát triển của vạn vật

Tác giả văn học thời Lí Trần cho rằng Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho vũ trụ vạnvật, các bậc thánh nhân căn cứ vào đạo trời mà thiết lập đạo người (nhân đạo) để giáo hóa nhân

quần Một vị Nho sĩ đời Trần phát biểu: “Lớn lao thay vị thần thánh Hy Hiên, căn cứ vào đạo

trời mà lập ra đạo “đại trung” để dạy dân Đặt ra văn tự để tiện dùng, lấy chữ nghĩa để mà ghi chép Lập ra sử quan để giữ gìn phép tắc, làm ngay ngắn mối quan hệ giữa vua tôi Đến khi Nghiêu Thuấn nối ngôi, công nghiệp lại rỡ ràng hơn thuở trước Vũ Thang khép mình nên cung kính, Kiệt Trụ buông lỏng nên bạo tàn Văn Vũ hoà mục mà khiêm cung, U Lệ hôn mê mà tàn bạo… Người lấy đức để dấy nền thịnh trị, kẻ tối tăm nên làm mất nước nhà Ai cầm bút ghi chép thẳng thắn mà được nêu đầy đủ rõ ràng nơi sử sách? Ôi! Từ khi bánh xe họ Cơ dời sang phía đông, kỷ cương của nhà vua suy đồi không dựng lại được Giáo mác ngổn ngang bờ cõi, người hoá ra cầm thú ăn thịt lẫn nhau Tôi giết vua, con lại giết cha, luân thường theo đó mà mai một.”[87] (Khuyết danh – Đổng Hồ bút phú) Phục Hi và Hiên Viên chính là những vị thánh hiềnthời cổ đại Trung Quốc, họ căn cứ vào đạo trời mà sáng tạo ra văn tự và chức quan chép sử vớimục đích ghi chép đạo làm người để giáo hóa muôn dân Nghiêu Thuấn, Vũ Thương, Văn Vũ vìnghiêm mật tuân theo nhân đạo nên quốc gia thịnh vượng, bách tính lạc nghiệp âu ca Thời KiệtTrụ, U Lệ vì thi hành bạo chính, không tuân giữ nhân đạo nên bách tính thống khổ, quốc gia suyvong Con người một khi không biết giữ gìn nhân đạo, kỉ cương xã hội ắt sẽ suy đồi, đạo lý luânthường bại hoại, loài người sống chẳng khác nào cầm thú Các tác giả vận dụng những câuchuyện và nhân vật trong lịch sử Trung Quốc cổ đại để chứng minh cho quan niệm đạo trời củamình

Trời xây dựng đạo trời để làm khuôn mẫu cho quá trình tu thân của con người, cương thường đạođức cũng do Trời thiết lập để giáo hóa con người theo lễ nghĩa, và đó cũng là yêu cầu của Trời

đối với người: “Đạo đức con người vốn do trời tạo ra”[88] (Ngụy Tự Hiền – Báo Ân thiền tự bi kí), “Hiếu tâm đà thấu trời Nghiêu rộng, nhân trạch thêm sâu đất Vũ tràn.”[89] (Phạm Nhân

Khanh – Hỗ bái Sơn Lăng hồi kinh)

Tóm lại, tác giả thời Lí Trần bàn về đạo trời không nhiều, những tài liệu còn lưu lại chủ yếu nhấnmạnh con người căn cứ vào đạo trời để thiết lập đạo đức nhân luân làm rường mối cho xã hội, trởthành khuôn mẫu để con người tu thân

3.6 Trời mang nghĩa lý trời (Thiên lý chi thiên)

Học giả Lí Thân xác định phạm trù “lý trời” như sau: “Khi con người nhận thức càng sâu sắc vềthế giới, thì họ sẽ phát hiện ra, không chỉ trạng thái tồn tại của sự vật, mà cả kết cấu tự thân của

sự vật, quan hệ tương hỗ giữa vật và vật, cùng với tính vận động tất nhiên của sự vật… đều làquá trình vận hành khách quan không chịu sự ảnh hưởng, tác động của con người; tiếp đó lạimang trật tự xã hội và các loại hành vi quy phạm do chính trật tự này quyết định đều xem nhưmột loại tồn tại mang tính tự nhiên, vạn cổ bất biến, con người chỉ có thể tuân thủ chứ không thể

Trang 15

phản đối Thứ này lúc đầu gọi là lý, về sau gọi là thiên lý Lý tức là sự tồn tại tự nhiên, là xu thếtất nhiên, cũng chính là trời, trời vì vậy có thêm hàm nghĩa là lý, mà ngay chính ý nghĩa của trờicũng đã bao hàm lý”[90]

Các tác giả thời Lí Trần cho rằng Trời có thiên tính, thiên chân Cái thiên tính, thiên chân này thểhiện rõ rệt nhất trên chính thân thể con người Vua Trần Nhân Tông thông qua việc miêu tả hình

ảnh cây trúc để tán thưởng phẩm chất cao quý của đội ngũ nô bộc của mình: “Trải tuyết lạnh mà

tâm thông suốt, dầu giải trong sương mà đốt cứng cỏi Mượn ngươi làm tôi đòi, sợ rằng trái với tính tự nhiên của nhà ngươi.”[91] (Trúc nô minh) Ông ca ngợi những người nô bộc mặc dù hứngchịu bao nhiêu gian khổ nhưng vẫn giữ trọn tấm lòng trung trinh, tiết tháo Trần Hiệu Khả lại lấy

“thiên chân” để nhấn mạnh cuộc sống ẩn dật đầy thú vị của mình: “Ngả nghiêng một giấc, vui

với tính trời, tỉnh dậy muôn việc đều quên hết.”[92] (Tức sự) Vì Trời ẩn chứa thiên chân, thiên

tính, tức cái lý tồn tại của Trời, nên Trời là đối tượng chí thanh, chí hư và chí đại: “Trong việc

‘xuất’, ‘xử’ của kẻ hiền đạt, thì ‘xuất’ là để hành động theo lẽ trời, ‘xử’ là để tìm thú yên vui, cũng theo lẽ trời Trời là gì? Là cái chí thanh chí hư, chí đại đó thôi! Bốn mùa thành năm mà không tỏ ra có công, vạn vật chịu ơn mà không lộ rõ dấu vết Không phải trời là chí thanh, chí

hư, chí đại, thì đâu được như thế?”[93] (Thanh hư động kí) Trời trong mắt của các tác giả đươngthời vốn viên mãn không khiếm khuyết, do đó cũng được xem là mục đích cuối cùng của đời

người, nên có lời khấn nguyện như sau: “Nguyện thứ 10 đạt được thanh tịnh như Trời.”[94]

(Trần Thái Tông – Lục thời sám hối khoa nghi, Chí tâm phát nguyện)

Trời vốn có cái lý sinh hóa vận chuyển vũ trụ vạn vật: “Đất trời có tượng, tỏ chở che để nuôi

dựng muôn linh; thời tiết không hình, ngầm nóng lạnh để hoá thành vạn vật Vì thế cho nên, ngó nhòm trời đất, kẻ cung phàm đều biết được mối manh; tra xét âm dương, bậc thánh triết hiếm nay cùng vận số Thế nhưng, đất trời chứa đựng âm dương, mà dễ hiểu, là vì có tượng; hai khí ở trong trời đất, mà khó hay, là bởi không hình Cho nên mới biết, tượng rõ dễ hay, tuy ngu chẳng rối; hình ngầm khó thấy, dẫu trí còn mê Phương chi, đạo Phật chuộng hư, cưỡi ‘không’ ngự

‘tịch’.”[95] (Phạm Sư Mạnh – Sùng Nghiêm sự Vân Lỗi sơn Đại Bi tự) Trời đất ẩn tàng hai khí

âm dương, hai khí này phối hợp sản sinh và dưỡng nuôi vạn vật Con người đều có thể nhận thứcđược lý trời, nhưng tuyệt không thể cùng thấu nó Nguyễn Bá Tĩnh cho rằng cái “tính nhất” biến

hóa khôn lường tạo thành vạn vật thù biệt nhau: “Trời sinh một tính, vật hóa muôn loài Đôi khí

âm dương chuyển vận, bốn mùa hàn thử vãng lai.” [96] (Nam dược quốc ngữ phú) Quan điểm

này cũng từng được Nguyễn Cố Phu phát biểu như sau: “Một khí hồng quân chuyển cả trời đất,

tám phương bốn biển đều được nhào luyện.”[97] (Bắc sứ ứng tỉnh đường tịch thượng phú thi)

Tóm lại, lý trời trong văn học Lí Trần được thể hiện không nhiều Các tác giả cho rằng Trời cóthiên tính, thiên chân, đồng thời phản chiếu lên con người tạo thành tính người (nhân tính) Trời

ẩn chứa hai khí âm dương, dưỡng dục nên vũ trụ vạn vật, từ “nhất lý” phát tán ra thành “vạnthù”, do đó con người không thể cùng thấu được đặc tính của nó Các quan điểm này về cơ bảntiếp thu tư tưởng lý học Trung Quốc thời Tống Minh

3.7 Trời có phân biệt Nam Bắc (Bắc Nam khu biệt chi thiên)

Ngày đăng: 01/06/2018, 16:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w