1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Loại hình nhân vật hoàng đế – thiền sư – thi sĩ trong văn học Lý – Trần

9 112 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 553,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học Việt Nam thời Lý - Trần vừa có tính chức năng vừa mang giá trị nghệ thuật. Trong đó, việc truyền tải các yếu tố văn hóa chính trị được xem là nhiệm vụ của văn học giai đoạn này. Từ buổi đầu độc lập đến giai đoạn Lý – Trần, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáo.

Trang 1

ĐẠI HỌC SÀI GÒN OF SAIGON UNIVERSITY

Email: tcdhsg@sgu.edu.vn ; Website: https://tapchikhoahoc.sgu.edu.vn

LOẠI HÌNH NHÂN VẬT HOÀNG ĐẾ – THIỀN SƯ – THI SĨ

TRONG VĂN HỌC LÝ – TRẦN

Types of emperor - zen master - poet character in Ly – Tran literature

ThS Trịnh Huỳnh An

Trường Đại học Bình Dương

TÓM TẮT

Văn học Việt Nam thời Lý - Trần vừa có tính chức năng vừa mang giá trị nghệ thuật Trong đó, việc truyền tải các yếu tố văn hoá chính trị được xem là nhiệm vụ của văn học giai đoạn này Từ buổi đầu độc lập đến giai đoạn Lý – Trần, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáo Các hoàng đế triều Lý – Trần tôn sùng đạo Phật và trị nước bằng nền văn trị, đức trị Qua sáng tác văn chương, các hoàng đế giai đoạn này đã tự hoạ nên mẫu hình nhân vật hoàng đế – thiền sư – thi sĩ

Từ khóa: nhân vật hoàng đế – thiền sư – thi sĩ, văn học Lý – Trần

ABSTRACT

Vietnamese literature in Lý – Trần dynasty contained not only functionality, but also artistry Besides, conveying cultural, social and political features was the task of literature From the beginning of independence to Lý – Trần Dynasty, Buddhism developed significantly and became the national religion The Emperors of Lý – Trần dynasty adored Buddhism and reigned the people through literature and morality The emperors of this period modeled the character of the emperor - Zen master - poet through their literature compositions

Keywords: emperor - Zen master – poet character, literature in Lý – Trần dynasty

1 Đặt vấn đề

Phật giáo đạt cực thịnh ở nước ta dưới

triều đại Lý – Trần với các thiền phái:

Tì-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo

Đường, Trúc Lâm Yên Tử Phật giáo giai

đoạn này được các hoàng đế tôn sùng và đã

trở thành quốc giáo Bên cạnh vận dụng

đường lối đức trị, thân dân, các hoàng đế

Đại Việt lúc này xem lễ nhạc, văn chương

là phương tiện trị nước Đó là những căn rễ

hình thành nên loại hình nhân vật hoàng đế

– thiền sư – thi sĩ Sáng tác của các hoàng

đế trong giai đoạn này mang đậm tiếng nói

đế vương, đồng thời cũng chứa chan những chiêm nghiệm cuộc đời và đi vào cõi thiền Văn học Việt Nam thời Lý – Trần ghi nhận nhiều hoàng đế tham gia sáng tác văn học, tiêu biểu phải kể đến Lý Thái Tông,

Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông Trước thời Lý, các hoàng đế hầu như chưa tham gia sáng tác thơ văn, hoặc có sáng tác nhưng đã thất truyền theo thời gian Đầu

thời Lý, hoàng đế Lý Thái Tổ đã viết Thiên

đô chiếu nhưng phải đến Lý Thái Tông

mới định hình tương đối rõ nét kiểu tác gia

Trang 2

hoàng đế – thiền sư – thi sĩ

Hoàng đế – thiền sư – thi sĩ là ba loại

hình nhân vật khác nhau Tuy nhiên trong

giai đoạn Lý – Trần, các loại hình nhân vật

này có sự giao thoa, đan xen nhau trong

chủ thể là hoàng đế Thời Lý – Trần, các

thiền gia không chỉ là những người tu hành

mà còn tích cực tham gia vào mọi mặt của

đời sống trong đó có hoàng đế Các hoàng

đế giai đoạn này có sự phân thân một bên

là con người chức năng, một bên là dấu

hiệu của cái tôi cá thể Với tư cách con

người chức năng, hoàng đế dùng văn

chương vào công cuộc trị quốc và hoằng

dương Phật pháp Các thể loại hành chính,

công vụ đều được đưa vào văn chương để

phục vụ công việc triều đình như: kệ, bài

giảng, hành trạng, cáo, chiếu, biểu, tấu.v.v

Cái tôi cá thể của hoàng đế trong văn học

giai đoạn này chưa được thể hiện nhiều

Tuy nhiên, trước những cảm xúc với thiên

nhiên, những hoàn cảnh của cuộc sống đời

thường đã giúp con người cá nhân trong

hoàng đế có dịp được thể hiện

2 Các đặc điểm của loại hình nhân

vật hoàng đế – thiền sư – thi sĩ trong văn

học Lý – Trần

2.1 Nhân cách thiền sư trong hoàng đế

Trong xã hội chịu ảnh hưởng của Phật

giáo, các hoàng đế triều Lý chủ yếu dùng

văn chương để truyền đạo, chú trọng tôn

giáo, đề cao thần quyền, coi nhẹ cuộc sống

trần tục Mối quan hệ giữa thần quyền và

vương quyền được thể hiện khăng khít

dưới triều Lý Lý Thái Tông được xem là

người đã đặt nền móng cho loại hình nhân

vật hoàng đế – thiền sư – thi sĩ Ngoài việc

thực thi các chính sách hướng về đạo Phật,

qua văn chương, Lý Thái Tông còn cho

thấy hình ảnh về một vị hoàng đế gắn bó

với đời sống, có trách nhiệm với đất nước,

một con người hành động và có tinh thần nhập thế Tác phẩm của ông có những bài chiếu, lời bàn luận, kệ, truy tán in đậm dấu

ấn của văn học chức năng và chứa đựng những nội dung của Phật giáo

“Bát nhã chân vô tông Nhân không ngã diệc không Quá, hiện, vị lai Phật Pháp tính bản tương đồng”

(Thị chư thiền lão tham vấn thiền chỉ)

(Viện Văn học, 1977, tr.242) (Ánh sáng của trí tuệ thật không có nguồn gốc nào cả

Người là không mà ta cũng là không Các vị Phật quá khứ, hiện tại và tương lai Tính Phật vốn giống nhau)

Bát nhã nghĩa là trí tuệ Hoàng đế Lý Thái Tông xác định “bát nhã chân vô tông” tức trí tuệ không có nguồn gốc Bát nhã là đỉnh cao của trí tuệ và không gì có thể sánh bằng “Không” ở đây được hiểu mọi thứ đều là hư ảo, mọi sự vật hiện tượng đều có tính Phật và bình đẳng như nhau Có thể thấy đây là tinh thần của Kim cương Bát nhã La Mật là một trong những bài kinh quan trọng của Phật giáo Đại Thừa có nguồn gốc từ Ấn Độ

Đến thời Trần, các hoàng đế vẫn chuộng đạo Phật nhưng Nho giáo đã bắt đầu khởi sắc Chế độ khoa cử đã sản sinh

ra lớp nho sĩ ngày càng đông đảo và có sức ảnh hưởng đến cả hệ thống chính trị Mặc

dù vận dụng Nho giáo vào việc trị nước nhưng nhiều hoàng đế triều Trần đã dấn thân vào đường tu hành Các đế vương đã nới rộng đường biên tư tưởng thẩm mĩ bằng việc dùng văn chương để xây dựng chế độ quân chủ và con đường truyền bá Phật pháp Điểm đặc biệt của triều Trần là xuất hiện nhiều hoàng đế nhường ngôi cho con để lên làm Thái thượng hoàng và tiếp

Trang 3

tục con đường tu hành đạo Phật Tiêu biểu

là hoàng đế Trần Nhân Tông, trên cơ sở kế

thừa những nền tư tưởng trước đó, ông đã

sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

mang đậm dấu ấn và bản sắc Việt Nam

Các hoàng đế triều Trần đem Phật giáo

gắn với đời sống xã hội, kêu gọi không

thoát ly cuộc đời mà tích cực nhập thế Mặc

dù Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông đã

đi theo con đường tu hành nhưng khi đất

nước lâm nguy họ sẵn sàng trút áo cà sa để

mặc áo bào xông pha ra trận Khi đất nước

giành thắng lợi, họ lại quay về với chốn

thiền môn Tư tưởng này đã đưa Phật giáo

thoát khỏi những yếu tố tư tưởng ngoại lai

như dưới triều Lý Hoàng đế triều Trần vẫn

tiếp tục phát triển về mẫu hình hoàng đế –

thiền sư – thi sĩ, tiêu biểu như Trần Thái

Tông, Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông

Về văn học, thời Trần nở rộ các sáng

tác mang đậm các nội dung về Phật giáo

Tiêu biểu trong giai đoạn này là các tác

phẩm: Thiền tông chỉ nam tự và Kim cương

Tam muội kinh tự (của Trần Thái Tông);

Cư Trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền

thành đạo ca và Thượng sĩ hành trạng (của

Trần Nhân Tông).v.v

Trần Thái Tông là vị hoàng đế mở đầu

cho loại hình tác gia hoàng đế – thiền sư –

thi sĩ triều Trần Bài Tựa Thiền Tông chỉ

nam tự thể hiện những mối chiêm nghiệm

sâu sắc của hoàng đế Trần Thái Tông về

quan hệ giữa đạo và đời, hữu và vô, sinh và

tử: “Trẫm thầm nhủ: Phật không chia Nam

Bắc, đều có thể tu mà tìm; tính người có trí

ngu, cũng nhờ giác ngộ mà thành đạt Vì

vậy, phương tiện dẫn dụ đám người mê

muội; con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy

là đại giáo của đức Phật Đặt mực thước

cho hậu thế; làm khuôn mẫu cho tương lai,

ấy là trách nhiệm của tiên thánh” (Trần Lê

Sáng, 1997, tr.38) Có thể thấy, Trần Thái Tông đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa vương quyền và thần quyền, giữa nhập thế

và xuất gia Ông đã giác ngộ ra chân lí:

“Trong núi vốn không có Phật, Phật ở ngay trong lòng Lòng lặng lẽ mà hiểu, đó chính là thần Phật” (Trần Lê Sáng, 1997, tr.40) Bài Tựa Thiền Tông chỉ nam tự của

Trần Thái Tông đã làm nền tảng tư tưởng của mối liên hệ giữa Phật và tâm

“Vậy mới hay!

Bụt ở cung nhà;

Chẳng phải tìm xa

Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt;

Đến cốc hay chỉn Bụt là ta”

(Cư trần lạc đạo phú)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.376) Phật hoàng Trần Nhân Tông trên cơ sở

kế thừa tư tưởng của Tuệ Trung thượng sĩ

và hoàng đế Trần Thái Tông đã sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử Ông cho rằng Bụt ngự trị trong bản thân mình chẳng phải tìm xa Muốn có được tâm thanh tịnh hay Phật tính thì phải đạt đến cảnh giới giác ngộ, giải thoát và quay lại cái gốc của chính mình

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xa hề khốn tắc miên Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”

(Cư trần lạc đạo phú)

(Viện Văn học, 1977, tr.381) (Cõi trần vui đạo hãy tuỳ duyên

Đói cứ ăn no, mệt ngủ yên Báu sẵn trong nhà, thôi khỏi kiếm

Vô tâm trước cảnh, hỏi gì Thiền) Nội dung bài phú được tóm gọn trong những câu cuối: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” - Thiền là đối cảnh vô tâm Vô tâm

là trạng thái tâm tĩnh mịch, trống rỗng, đã diệt trừ tất cả hỷ - nộ - ai - cụ - ái - ố - dục

Trang 4

Đây là một cảnh giới tâm lý cao nhất, nhà

tu hành đạt đạo, giác ngộ Thế nào là “đối

cảnh vô tâm”? Cảnh là toàn bộ ngoại giới

Nhà tu hành đạt đạo khi đứng trước cám dỗ

tiền tài, danh lợi, sự mua chuộc hay đe dọa,

trước cái chết… đều bình thản, không mảy

may xúc động, sợ hãi, ham muốn, thế là

“vô tâm” Phật giáo quan niệm người như

vậy mới có dũng khí, có trí tuệ, có sức

mạnh tinh thần để đảm đương sự nghiệp

lớn Hơn ai hết, hoàng đế phải đạt đến cảnh

giới “đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”

Theo quan điểm nhà Phật cuộc đời con

người biến đổi như một giấc mộng Quy

luật của đời người đã được hoàng đế Trần

Thái Tông tóm tắt trong hình ảnh bốn núi:

núi thứ nhất là tướng sinh; núi thứ hai là

tướng lão; núi thứ ba là tướng bệnh; và núi

thứ tư là tướng của sự chết Tinh thần vô

uý của triết lý nhà Phật đã đưa Trần Thái

Tông đến nhận thức chung về sự hiện hữu

– sinh diệt của đời người Đó là quy luật

của đời sống mà đạo Phật với tinh thần vô

uý hướng con người sống thuận theo tự

nhiên – một đặc điểm giống với tư tưởng

“vô vi” của Lão Tử Các hoàng đế triều

Trần quan tâm đến việc giáo dục con

người, hướng con người đạt tới giác ngộ và

giải thoát:

“Dứt trừ nhân ngã thì ra tướng thực

kim cương

Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu

viên giác

Xét thân tâm rèn tính thức, há rằng

mong quả báo phô khoe

Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có

sá cầu danh bán chác”

(Cư trần lạc đạo phú)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.375) Trần Nhân Tông cho rằng tu hành phải

gắn liền với rèn tính sáng, dứt trừ nhân ngã, dứt hết tham sân mới trở thành người đắc đạo Thực chất của việc tu hành là trải qua khổ hạnh, tẩy rửa những dục vọng đời thường để đạt đến thể tâm thanh tịnh Cũng giống như các thiền sư Khuông Việt, Ngộ

Ấn, Trần Nhân Tông đọc bài kệ rồi nhập cõi tịch diệt Đứng trước cái chết cận kề, Phật hoàng vẫn ung dung, tự tại truyền giáo lại những giác ngộ chân lí cho đệ tử

Đó là trạng thái thiền định, đắc đạo, trái với trạng thái âu lo, sợ hãi của người bình thường trước cái chết Đó là cách mà hoàng đế - thiền sư đắc đạo ứng xử với thân thể theo quan điểm đạo Phật

Điểm chung của Trần Thái Tông và Trần Nhân Tông là đều xuất gia, đều lui cung về làm thái thượng hoàng và nghiên cứu Phật pháp Trải qua bao chiêm nghiệm cuộc đời, khi về làm thái thượng hoàng, Trần Thái Tông và Trần Nhân tông đã viết

ra những tác phẩm lớn có giá trị cao về tư tưởng Phật giáo, giáo dục nhân dân, thể hiện được trách nhiệm của hoàng đế đối với xã hội Từ đó có thể thấy được sự hoà hợp giữa Nho giáo và Phật giáo, giữa thần quyền và vương quyền

2.2 Nhân cách hoàng đế trong một thi sĩ

Kiểu nhân vật hoàng đế thường được thể hiện rõ nét qua các thể loại văn học hành chính Các triều đại quân chủ nước ta xem văn chương là công cụ trị quốc Những tác phẩm văn học phục vụ công việc hành chính thường do các hoàng đế đích thân thực hiện Đó là các thể loại: cáo, chiếu, biểu và thư, thơ bang giao

Các hoàng đế Đại Việt luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm của một “thiên tử” thay trời cai quản non sông Để tranh đoạt và bảo vệ quyền lực, các vương triều

Trang 5

sẵn sàng thanh trừng hay trấn áp tàn bạo,

thẳng tay với các thế lực chống đối Năm

1039, sau khi cầm quân đánh dẹp Nùng

Tôn Phúc, hoàng đế Lý Thái Tông đã viết

Bình Nùng chiếu với những lời lẽ mang

đầy khí phách bậc đế vương: “Trẫm từ làm

chủ thiên hạ tới nay, các bề tôi văn võ,

không người nào dám bỏ tiết lớn; phương

xa cõi lạ, không nơi nào không thần

phục… Nay, Tồn Phúc càn rõ, tự tôn tự

đại, tiếm xưng vị hiệu, ban hành chính

lệnh, tụ tập quân ong kiến, làm hại dân

biên thùy Vì thế, trẫm cung kính thi hành

mệnh trời trách phạt” (Viện Văn học, 1977,

tr.245) Người quân tử trong xã hội quân

chủ cần có tam lập: lập đức, lập công, lập

ngôn Nhất là hoàng đế - người đứng đầu

quốc gia ngoài có công đức phải có khả

năng lập ngôn Có thể thấy hoàng đế Lý

Thái Tông đã có những lời tuyên bố hào

hùng, đanh thép khẳng định vai trò của đế

vương là “thi hành mệnh trời trách phạt”

Những ngôn từ rắn rỏi của bậc đế vương đã

thể hiện trí tuệ, khí phách, đúc kết thành

triết lí sống và hành động

Qua thơ ca, các hoàng đế Lý – Trần đã

thể hiện được tinh thần dân tộc và ý thức

trách nhiệm của thiên tử đối với đất nước

Trong lịch sử, triều Trần không chỉ chống

quân Nguyên Mông xâm lược mà còn

không ngừng đối phó với các thế lực

Chiêm Thành, Ai Lao, Chân Lạp luôn gây

rối loạn nơi biên ải Ý thức trách nhiệm với

sự tồn vong của đất nước, các hoàng đế

triều Trần tích cực nhập thế để bảo vệ

giang sơn xã tắc Đặc biệt tinh thần nhập

thế được thể hiện rõ nét trong thơ văn Trần

Nhân Tông Một số bài thơ của ông mang

tính chiến đấu ngập tràn lòng yêu nước, lồng

lộng hào khí Đông A Đầu năm 1285, quân

Nguyên Mông tiến hành cuộc xâm lăng Đại

Việt lần thứ hai Giặc đến như lũ tràn bờ, thế nước mong manh như nghìn cân treo sợi tóc

Để kịp thời trấn an lòng quân, Trần Nhân Tông dùng tài năng thi sĩ viết lên thuyền hai câu thơ bất hủ:

“Cối Kê cựu sự quân tu ký, Hoan, Ái do tồn thập vạn binh”

(Quân tu kí) (Viện Văn học, 1988, tr.482)

(Việc cũ ở Cối Kê ngươi nên nhớ Châu Hoan, Châu Ái đang còn hàng chục vạn quân)

Trần Nhân Tông nhắc lại điển tích thời Chiến Quốc để ổn định lòng quân, cổ vũ tinh thần, nung nấu ý chí cùng chung tay giết giặc Hào khí Đông A của đời Trần đã tạo nên sức mạnh dẹp tan những kẻ thù hung bạo Để có được những chiến thắng

vẻ vang đó, nhân dân ta đã đoàn kết một lòng và sẵn sàng đánh đổi biết bao xương máu trên trận địa Bên cạnh đó còn phải kể đến sự lãnh đạo tài tình của các hoàng đế Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông Họ đã viết nên những trang sử chói lọi, hào hùng cho dân tộc Nhìn lại những chiến tích huy hoàng, Trần Nhân Tông với khẩu khí của hoàng đế - thi sĩ, dùng thơ để bày tỏ niềm

tự hào, niềm tin tưởng vào vận mệnh đất nước:

“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã, Sơn hà thiên cổ điện kim âu”

(Tức sự) (Viện Văn học, 1988, tr.483)

(Trên nền xã tắc hai lần ngựa đá phải mệt nhọc

Nhưng núi sông nghìn đời được đặt vững như âu vàng)

Văn học phục vụ hành chính giai đoạn này không thể không kể đến những tác phẩm văn chương bang giao Thông qua những lá thư, những vần thơ ngoại giao, các hoàng đế đã thể hiện được trí tuệ, bản lĩnh và tài năng của mình dưới tâm hồn thi

Trang 6

sĩ Xuất phát từ tư tưởng “dĩ Hoa vi trung”

các hoàng đế Trung Hoa tự coi mình là

“thiên tử”, coi triều đại mình là “thiên

triều” và các nước lân bang là chư hầu,

thuộc quốc Để khẳng định vị thế “thiên

triều”, các hoàng đế Trung Hoa không

ngừng mở những cuộc viễn chinh để thể

hiện sức mạnh quân sự và thiết lập thể chế

“sách phong”, “triều cống” Ý thức được vị

thế dân tộc trong cái nhìn đối sánh với

Trung Hoa, nên các hoàng đế Đại Việt luôn

có những sách lược ngoại giao khôn khéo

với chính quyền phương Bắc Qua những

lần tiếp đón sứ giả, các hoàng đế Đại Việt

đã dùng văn chương, thơ ca để giao kết,

đối đáp, tiễn tặng

Năm 1265, Trương Hiển Khanh theo

lệnh hoàng đế nhà Nguyên sang nước ta để

tuyên dụ Hoàng đế Trần Thái Tông đã làm

bài thơ Đường luật để trực tiếp thể hiện

tiếng nói của hoàng đế phương Nam với sứ

thần phương Bắc:

“Cố vô quỳnh báo tự hoài tàm

Cực mục giang cao ý bất kham

Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp

Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am

Mạc không nan trụ yến quy Bắc

Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam

Thử khứ vị tri khuynh cái nhật

Thi thiên liêu vị đáng thanh đàm”

(Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.31) (Nhìn lại không có ngọc quỳnh báo

tặng, lòng lấy làm thẹn

Rán mắt nhìn cùng sông, suy nghĩ day

dứt

Trước ngựa gió thu thổi bao kiếm

Trên rường nhà trăng soi lọt am sách

Màn trống khó ngăn chim én về Bắc

Đất ấm buồn nghe cánh nhạn từ Nam

Chia tay lần này chưa biết bao giờ mới

gặp lại Bài thơ này gọi là thay chút lời riêng) Qua lời thơ có thể thấy được sự tinh tế

và khéo léo trong ngoại giao của hoàng đế Trần Thái Tông Tác giả dùng thơ thay

“kiếm” để nhắc nhở nền giao hảo trên tinh thần hoà giải, không dùng vũ lực Những câu từ thể hiện thái độ trân trọng đối với sứ giả nhưng Trần Thái Tông vẫn giữ được khẩu khí của bậc đế vương Hình ảnh chim

én phương Bắc và cánh nhạn phương Nam như nhấn mạnh vị thế và nền độc lập tự chủ của Đại Việt

Sau khi giành thắng lợi trước các thế lực ngoại xâm hùng mạnh, Trần Nhân tông trị vì đất nước và chủ trương theo con đường hoà hiếu Những nội dung thơ văn bang giao của ông đã cho thấy được một hoàng đế mưu lược, tài trí, dùng văn chương để tạo nên sức mạnh chống lại kẻ thù Những bài thơ tiếp sứ giả của Trần Nhân Tông đều thể hiện được khát vọng hoà bình:

“Phiêu phiêu hành lý lĩnh vân nam Xuân nhập mai hoa chỉ lưỡng tam Nhất thị đồng nhân thiên tử đức Sinh vô bổ thế trượng phu tàm”

(Hoạ Kiều Nguyên Lãng vận)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.362) (Đường đi nhẹ nhàng như mây ngàn về phương Nam

Vào xuân, hoa mai chỉ mới vài ba bông

Coi nhau như cùng thương yêu là đức của Thiên tử

Sống không bổ ích cho đời là điều thẹn của trượng phu)

Hoàng đế Trần Nhân Tông gửi lời nhắn nhủ đến “thiên triều”: “Nhất thị đồng nhân thiên tử đức” là bày tỏ khát vọng hoà bình cho đất nước Ông nhấn mạnh “đồng

Trang 7

nhân” nghĩa là hoàng đế phương Bắc hãy

thi hành những điều nhân đức và lòng yêu

thương không chỉ dành riêng cho dân mình

mà còn dành cho dân lân bang Là trượng

phu phải sống tốt đời, đẹp đạo Lòng nhân

của thiên tử là thi hành những chính sách

đức trị, thân dân mà trước hết là để nhân

dân sống trong cảnh hoà bình

2.3 Thi sĩ – Thiền sư trong hoàng đế

So với các hoàng đế triều Lý thì các

hoàng đế triều Trần đã bộc lộ ngày càng rõ

nét cái tôi trữ tình, những cảm xúc, suy tư

trước cuộc đời qua thơ văn Qua ngòi bút

của thi sĩ, cái tôi trữ tình đã thể hiện được

những nhân cách lí tưởng của hoàng đế -

thiền sư Tiêu biểu phải kể đến những tác

phẩm đặc sắc của Trần Nhân Tông

Thiên nhiên trong thơ thiền có hai

dạng Một là hình ảnh thiên nhiên siêu

phóng, mang tính chất biểu tượng, bày tỏ

tư tưởng triết lý Phật giáo Hai là hình ảnh

thiên nhiên hiện thực với vẻ đẹp sinh động

khiến tác giả đã rung cảm và đưa vào thơ

ca thông qua cảm quan thiền học Nếu như

thiên nhiên siêu phóng, biểu tượng đã được

thể hiện dưới góc độ hoàng đế – thiền sư

thì thiên nhiên hiện thực xây dựng nên hình

ảnh hoàng đế – thi sĩ Với cảm hứng thiên

nhiên thuỷ nguyệt điền viên, thơ Trần

Nhân Tông hiện lên với ánh trăng lung linh

và dòng nước trong yên ả Ánh trăng trong

thơ Phật hoàng hiện lên trong trẻo và hoà

nhập với cảnh sắc thiên nhiên:

“Bán song đăng ảnh mãn sàng thư,

Lộ trích thu đình dạ khí hư

Thụy khởi châm thanh vô mịch xứ,

Mộc tê hoa thượng nguyệt lai sơ”

(Nguyệt) (Trần Lê Sáng, 1997, tr.347)

(Bóng đèn soi nửa cửa sổ, sách đầy

giường

Sương thu rơi ngoài sân, hơi đêm nhẹ

Thức giấc nghe tiếng chầy đập vải đâu đó Trăng vừa mọc đến ngọn hoa quế) Màn đêm vắng vẻ, tĩnh lặng đến mức thi nhân có thể lắng nghe được cả tiếng sương thu rơi trên sân Tiếng động từ sương rơi dù rất nhẹ nhàng nhưng đã phá

vỡ cái yên ắng của của màn đêm và khoảng không bao la của vũ trụ Sự đối lập giữa động - tĩnh cho thấy tâm hồn thi sĩ rất nhạy bén, rung cảm và giao hoà với thiên nhiên, tạo vật Ở hai câu thơ cuối, cảnh bắt đầu chuyển động Tiếng chày đập vải là âm thanh của cuộc sống trần thế Dù khi thức dậy đã không còn nghe tiếng chày, nhưng

ở đâu đó trong tiềm thức, dường như nó còn âm vang trong tâm tưởng thi sĩ Phải

có một tình yêu thiên nhiên, một sự tĩnh lặng cao độ, một tâm hồn cởi mở muốn giao hoà với vạn vật mới cảm nhận được hết những chuyển biến tinh tế của thiên nhiên trong khung cảnh bao la, huyền diệu Yêu thiên nhiên, giao hoà với thiên nhiên nhưng hoàng đế – thi sĩ không quên gửi vào thơ ca tình yêu thương dành cho con người Các hoàng đế Lý – Trần lựa chọn nền đức trị, thân dân nên những suy nghĩ của họ đều gần gũi và hướng về số

phận những con người trong xã hội

“Thôn hậu thôn tiền đạm tự yên Bán vô bán hữu tịch dương biên

Mục đồng địch lý quy ngưu tận, Bạch lộ song song phi hạ điền”

(Thiên Trường vãn vọng)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.346) (Sau thôn trước thôn lờ mờ đường khói phủ

Nửa không nửa có bên bóng chiều Mục đồng đều đã dẫn trâu về trong tiếng sáo

Từng đôi cò trắng cất cánh dưới đồng) Trước khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp

Trang 8

của đất nước, Phật hoàng đứng ở phủ

Thiên Trường nhìn ra ruộng đồng mênh

mông, xóm thôn trù phú Trong bóng

chiều, cảnh vật như được phủ một lớp khói

sương mờ ảo, lúc ẩn lúc hiện, dường có,

dường không Không gian làng quê như

bức tranh tuyệt mĩ hoà cùng âm thanh tiếng

sáo của mục đồng hiện lên trong cảnh

chiều của làn khói phủ Khung cảnh như

mờ ảo trong cõi hư không, cảnh thực được

lồng ghép trong cảm quan tôn giáo Không

phong, hoa, tuyết, nguyệt, không gác tía

cung son, Trần Nhân Tông với tấm lòng

thân dân đã lắng nghe âm thanh của cuộc

sống nơi thôn dã Bài thơ đã cho thấy sự

giao hoà giữa cảm – tâm – tài trong một

hoàng đế – thiền sư – thi sĩ

“Thuỵ khởi câu liêm khán truy hồng

Hoàng li bất ngữ oán đông phong

Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại

Hoa ảnh chi đầu tận hướng Đông”

(Khuê oán) (Trần Lê Sáng, 1997, tr.342)

(Ngủ dậy cuốn rèm thấy hoa hồng rụng

Chim hoàng anh chẳng hót giận gió

xuân

Bỗng dưng mặt trời lặn ngoài lầu Tây

Bóng hoa đầu cành đều hướng về phía

Đông)

Với đối tượng sáng tác phần lớn là các

nhân vật chính trị, văn học trung đại Việt

Nam thời Lý – Trần mang “hơi thở chính

trị” từ không gian đến nội dung thể hiện

Vì thế vấn đề nữ quyền trong văn học giai

đoạn này rất hiếm hoi bởi văn học bị “trói

buộc” theo quan niệm Nho giáo Người

phụ nữ hầu như không có tiếng nói cá

nhân Họ bị giam lỏng trong những quy

chế: tam tòng tứ đức, phu xướng phụ tuỳ…

Với nhân cách một hoàng đế đức cao vọng

trọng nhưng Trần Nhân Tông đã mở lòng

mình để bày tỏ niềm thương cảm cho

người chinh phụ

Tinh thần trọng dân, thân dân của Trần Nhân Tông còn được thể hiện qua tình yêu thương, lòng trân trọng của ông dành cho người lính già:

“Bạch đầu quân sĩ tại Vãng vãng thuyết Nguyên Phong”

(Xuân nhật yết Chiêu Lăng)

(Trần Lê Sáng, 1997, tr.335) (Quân sĩ có người đầu bạc vẫn còn Thường thường kể chuyện thời Nguyên Phong)

Trong gió xuân phơi phới, trước Chiêu Lăng sừng sững, tôn nghiêm, người lính già vẫn trung thành ngày đêm canh gác giữ gìn lăng tẩm Dù năm tháng đã trôi xa nhưng người lính già vẫn say sưa kể chuyện thời vua Trần Thái Tông tại vị Ký

ức và thực tại đan xen làm sống lại một thời hào hùng trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần thứ nhất Bên cạnh lòng tự hào dân tộc, lòng biết ơn

tổ phụ, hoàng đế Trần Nhân Tông còn thể hiện tình thương, lòng nhân ái, trân trọng những con người nhỏ bé

Với vai trò là một thi sĩ, các hoàng đế mượn lời thơ để bày tỏ tâm hồn hướng nội, phản tỉnh để soi xét lại bản thân, đánh giá lại những gì đã qua trong cuộc đời mình Với tư cách một con người của cộng đồng, các hoàng đế Lý – Trần tích cực nhập thế, nhất là dưới triều Trần Nhưng với con người cá nhân, qua lời thơ các hoàng đế đã

bộc lộ sự chiêm nghiệm, suy tư, trăn trở:

“Thu khí hoà đăng thất thự minh Bích tiêu song ngoại đệ tàn canh

Tự tri tam thập niên tiền thác Khẳng bá nhàn sầu đối vũ thanh” (Dạ vũ) (Trần Lê Sáng, 1997, tr.519)

(Hơi thu lồng bóng đèn mờ đi trước ánh ban mai

Trang 9

Tàu chuối xanh ngoài cửa sổ điểm

canh tàn

Tự biết sai lầm ba mươi năm trước

Đành ôm sầu mà nghe tiếng mưa rơi)

Là một quân vương nắm trong tay

quyền sinh sát nhưng Trần Minh Tông

mượn lời thơ để bày tỏ sự phản tỉnh, ray

rứt về sai lầm ba mươi năm trước đã giết

oan người vô tội Dường như thi nhân đã

trăn trở suốt đêm để đối diện với chính

mình Tạm gác lại con người cộng đồng –

hoàng đế, con người cá nhân – thi sĩ đã

dũng cảm nhận lỗi lầm và tự ray rứt lương

tâm Trần Minh Tông đã đặt lương tâm

của một con người lên trên uy quyền của

hoàng đế

3 Kết luận

Có thể thấy ba mẫu hình hoàng đế, thiền sư, thi sĩ tưởng chừng không có sự gắn kết nhưng lại có mối quan hệ mật thiết trong mẫu hình hoàng đế Phật giáo Lý – Trần Qua văn chương tự hoạ, các hoàng

đế có khi đóng vai trò là một thiền sư đắc đạo, có khi là một nhà chính trị kiệt xuất và cũng không ít lần nhập vai thi sĩ để bày tỏ những tâm tư đậm chất trữ tình Tuy nhiên nhìn chung điều các hoàng đế muốn đạt đến là văn trị, đức trị, dùng văn chương để giáo hoá, thuyết giảng, phục vụ công cuộc trị vì

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngô Sĩ Liên (2013) Đại Việt sử ký toàn thư (Cao Huy Giu dịch) Hà Nội: NXB

Thời Đại

Trần Lê Sáng (chủ biên) (1997) Tổng tập văn học Việt Nam, tập II Hà Nội: NXB

Khoa học Xã hội

Văn Tân (Chủ biên) (1997) Tổng tập văn học Việt Nam, tập I Hà Nội: NXB Khoa

học Xã hội

Viện Văn học (1977) Thơ văn Lý – Trần, tập I Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội Viện Văn học (1988) Thơ văn Lý – Trần, tập II Hà Nội: NXB Khoa học Xã hội.

Ngày nhận bài: 17/5/2019 Biên tập xong: 15/6/2019 Duyệt đăng: 20/6/2019

Ngày đăng: 11/02/2020, 19:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w