Bài tiểu luận về hoán đổi lãi suất là một cách nhìn nhận đầy đủ về hoán đổi lãi suất cho học viên, ngoài ra bài luận cũng dẫn ra những nguy cơ và phương hướng quản trị khi thực hiện hoán đổi lãi suất và tiền tệ. Bên cạnh đó, bài luận cũng kèm theo file PPT để cho học viên đỡ mất thêm thời gian trình bày.
Trang 1-oOo -TIỂU LUẬN MÔN NGÂN HÀNG QUỐC TẾ
ĐỀ TÀI:
HOÁN ĐỔI LÃI SUẤT (INTEREST RATE SWAP)
Nhóm TH : Nhóm
TP.HCM, Tháng 0 năm 201
Trang 21
2
3
4
5
6
Trang 3MỤC LỤC
Lời mở đầu Trang 4
1 Rủi ro lãi suất .5
2 Quản trị rủi ro lãi suất 5
3 Các công cụ quản trị rủi ro lãi suất 8
3.1 Hợp đồng lãi suất kỳ hạn 8
3.2 Hợp đồng lãi suất tương lai 10
3.3 Hợp đồng hoán đổi lãi suất 13
4 Công ty Cartlon: hoán đổi thành lãi suất cố định 14
Kết luận 16
Tài liệu tham khảo 17
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Mọi công ty dù là nội địa hay quốc tế, lớn hay nhỏ, dùng nợ hay không đều rất nhạy cảm với những diễn biến lãi suất theo các kênh khác nhau Rủi ro lãi suất lớn nhất đối với các công ty phi tài chính là nghĩa vụ nợ, đối với các công ty đa quốc gia sử dụng nhiều đồng tiền khác nhau thì vấn đề này càng trầm trọng hơn “Hoán đổi” là một trong những công cụ tài chính phổ biến nhất Cũng giống như tất cả các sản phẩm phái sinh khác, các hoán đổi cũng được sử dụng để điều chỉnh một vị thế bằng cách làm tăng thêm hoặc loại bỏ bớt rủi ro
Cơ chế hoán đổi lãi suất được sử dụng phổ biến trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng trên thế giới Ở các ngân hàng nước ngoài thì hoán đổi lãi suất được họ sử dụng nhuần nhuyễn như là một công cụ để phòng chống rủi ro, vừa đa dạng dịch vụ cho khách hàng, vừa để kiếm lời Tại Việt Nam, NHNN đã cho phép thực hiện nghiệp vụ hoán đổi lãi suất từ năm 1999, đây là nghiệp vụ được thực hiện sớm nhất và có nhiều quy định quản lý nhất, nhưng cho đến nay, số lượng giao dịch thực tế rất hiếm hoi, chủ yếu là giao dịch giữa các ngân hàng với nhau, chứ số hợp đồng mà công ty thực hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay Trong điều kiện mở rộng hội nhập kinh tế và rủi ro xuất hiện ngày càng nhiều như hiện nay thì vai trò của công cụ bảo hiểm Swap thêm quan trọng và có thể trở thành yếu tố tồn tại, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường Do đó, trong bài tiểu luận này nhóm đã thực hiện nghiên cứu về loại sản phẩm hoán đổi lãi suất
“interest rate swap”, qua đó tìm hiểu về rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng, các công cụ quản
lý rủi ro và phân tích cách công ty Carlton áp dụng để thực hiện quản trị rủi ro lãi suất Qua bài tiểu luận, nhóm hy vọng sẽ góp phần cung cấp thêm những kiến thức cơ bản về công cụ tài chính phái sinh này
Trang 51 Rủi ro lãi suất:
Tất cả các loại hình công ty, từ công ty nội địa đến đa quốc gia, công ty nhỏ hoặc lớn, có sử dụng đòn bấy tài chính hay không, đều nhạy cảm với sự thay đổi lãi suất theo cách này hay cách khác Mặc dù tồn tại nhiều rủi ro lãi suất trong lý thuyết cũng như thực tiễn, bài thuyết trình này chỉ tập trung vào vấn đề quản lý tài chính của những công
ty phi tài chính Do đó, nhóm cũng giới hạn trong những rủi ro lãi suất liên quan với công ty đa quốc gia Những rủi ro lãi suất của công ty tài chính, ví dụ như ngân hàng, thì không được đề cập đến
Rủi ro lãi suất lớn nhất của công ty phi tài chính là dịch vụ nợ Cấu trúc nợ của công
ty đa quốc gia khác nhau thì sẽ khác nhau về kỳ hạn nợ, lãi suất (như là lãi suất cố định, lãi suất thả nổi), và đơn vị tiền tệ khác nhau Lãi suất của mỗi loại đồng tiền có đặc trưng riêng Mỗi lọai tiền tệ có đường cong lãi suất riêng và tác động đến lòng tin của người vay khác nhau Do đó, sự đa tiền tệ của rủi ro lãi suất của những công ty đa quốc gia được đặc biệt chú trọng Ví dụ như minh họa bảng 14.1 - tính lãi suất khác nhau đối với từng quốc gia và đơn vị tiền tệ khác nhau
Bảng 14.1 Bảng tính lãi suất quốc tế:
Thị trường Số ngày tính trong kỳ Số ngày/ năm Số ngày tính Tiền lãi
Quốc tế Chính xác số ngày 360 28 $42,777.78 Anh Chính xác số ngày 365 28 $42,191.78 Thụy Sỹ Giả định 30 ngày/tháng 360 30 $45,833.33
Bảng tính lãi suất quốc tế khác nhau bởi số ngày trong khoảng thời gian tính toán
và việc xác định có bao nhiêu ngày trong một năm (tùy vào mục đích tài chính) Ví dụ dưới đây sẽ làm nổi bật việc những cách tính khác nhau sẽ cho kết quả khác nhau cho khỏan chi trả lãi suất một tháng 28 ngày tính trên tổng nợ vay 10 triệu đô la Mỹ, lãi suất 5.5%/năm.
Rủi ro lãi suất phổ biến thứ hai của công ty đa quốc gia là từ việc nắm giữ chứng khoán nhạy cảm với lãi suất Không như nợ được ghi vào phía bên phải bảng cân đối kế toán của công ty, danh mục đầu tư chứng khoán thị trường của công ty được ghi vào phía bên trái bảng cân đối kế toán Chứng khoán thị trường thể hiện cho lợi nhuận tiềm năng hay dòng lợi nhuận của công ty Áp lực cạnh tranh ngày càng tăng đã đẩy những nhà quản lý tài chính thắt chặt quản lý của họ cả phía bên phải và bên trái của bảng cân đối
Trang 6kế toán doanh nghiệp
Dù ở bên phải hay bên trái bảng cân đối kế toán thì tỷ lệ lãi suất tham khảo sẽ được đặc biệt chú ý khi tính toán lãi suất Tỷ lệ lãi suất tham khảo, ví dụ như là LIBOR đôla
Mỹ, là lãi suất được sử dụng để báo giá tiêu chuẩn, cho hợp đồng vay, hoặc xác định giá trị sản phẩm tài chính phái sinh LIBOR- lãi suất được cung cấp bởi liên ngân hàng Luân Đôn, cho đến nay vẫn được sử dụng rộng rãi nhất Nó được định nghĩa chính thức bởi Hiệp hội ngân hàng Anh (BBA) Lãi suất LIBOR đô la Mỹ là lãi suất được Hiệp hội ngân hàng Anh cung cấp bằng cách lấy mẫu từ liên ngân hàng của 16 ngân hàng đa quốc gia vào khoảng 11 giờ sáng giờ Luân Đôn tại Luân Đôn Tương tự như vậy, Hiệp hội ngân hàng Anh cũng tính được lãi suất LIBOR đồng Yên Nhật, lãi suất LIBOR Euro, và những lãi suất LIBOR các loại đồng tiền khác
Thị trường lãi suất liên ngân hàng không chỉ giới hạn ở Luân Đôn Những trung tâm tài chính nội địa chủ yếu xây dựng lãi suất liên ngân hàng cho chính họ cho những hợp đồng vay địa phương Những tỷ lệ lãi suất đó bao gồm PIBOR (lãi suất được cung cấp bởi liên ngân hàng Paris), MIBOR (lãi suất được cung cấp bởi liên ngân hàng Madrid), SIBOR (lãi suất được cung cấp bởi liên ngân hàng Singapore), và FIBOR (lãi suất được cung cấp bởi liên ngân hàng Frankfurt)…
2 Quản trị rủi ro lãi suất:
Trước khi quản lý rủi ro lãi suất, nhà quản trị phải giải quyết vấn đề quản lý cơ bản là: cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro
Bộ phận ngân quỹ truyền thống được xem như là một trung tâm dịch vụ ( trung tâm chi phí) và do vậy thường không chấp nhận các trạng thái rủi ro kỳ vọng mang lại lợi nhuận Các hoạt động bộ phận ngân quỹ hiếm khi được quản lý như là trung tâm lợi nhuận, phương thức quản lý của bộ phận ngân quỹ là bảo thủ, những cơ hội mang lại lợi nhuận, giảm chi phí thì không nên bỏ qua Việc quản lý rủi ro lãi suất và tỷ giá hối đoái phải tập trung vào việc quản lý dòng tiền đang lưu thông hoặc dự kiến trong tương lai của công ty Như trong việc quản lý tỷ giá hối đoái, công ty không thể thực hiện các chiến lược quản lý hay rào chắn nếu không có các kỳ vọng , các quan điểm về hướng dịch chuyển hay mức độ biến động của tỷ giá May mắn là các biến động lãi suất trong lịch sử thường ổn định và ít biến động hơn so với biến động của tỷ giá hối đoái
Trang 7Một khi ban quản trị đã hình thành được mức lãi suất mục tiêu trong tương lai, họ phải chọn ra một phương án thích hợp bao gồm việc sử dụng các công cụ và kỹ năng thích hợp
Trước khi mô tả việc quản trị rủi ro lãi suất nói chung cần phân biệt được rủi ro tín dụng và rủi ro đánh giá lại
Rủi ro tín dụng: đôi khi gọi là nguy cơ khi tái tục khoản vay, là khả năng mà mức
độ tín nhiệm của người đi vay được đánh giá lại bởi người cho vay ngay tại thời điểm xem xét lại khoản vay để quyết định là có tái cấp tín dụng hay không Điều này có thể dẫn đến việc thay đổi phí, lãi suất, hạn mức tín dụng hoặc thậm chí bị từ chối tín dụng
Rủi ro định giá lại: là rủi ro thay đổi lãi suất áp dụng tại thời điểm hợp đồng tài
chính được xem xét lại
Ví dụ một công ty vay muốn vay 1 triệu USD trong thời hạn 3 năm có có thể thực hiện 3 chiến lược nợ như sau:
- Chiến lược 1: Mượn 1 triệu USD trong 3 năm với lãi suất cố định
- Chiến lược 2: Mượn 1 triệu USD trong 3 năm với lãi suất thả nổi, lãi suất LIBOR +2% được thiết lập lại hằng năm
- Chiến lược 3: Mượn 1 triệu USD trong 1 năm đầu với lãi suất cố định, sau đó thiết lập tín dụng lại hằng năm
Mặc dù chi phí thấp nhất của nguồn vốn luôn là một tiêu chí quan trọng để lựa chọn nhưng đó không phải là tiêu chí duy nhất Nếu công ty chọn chiến lược 1, nó đảm bảo kinh phí cho 3 năm với lãi suất được biết trước, từ đó tối đa hóa khả năng dự báo dòng tiền cho các nghĩa vụ nợ Với việc lựa chọn này sẽ loại bỏ được rủi ro lãi suất cho vay tăng lên trong khoảng thời gian vay, làm tăng chi phí đi vay Dĩ nhiên là công ty cũng không có khả năng hưởng lãi suất thấp hơn khi lãi suất giảm
Chiến lược 2 thực hiện những gì chiến lược 1 chưa làm được: sự linh động ( rủi ro định giá lại, thể hiện là lãi suất có tăng hay giảm) Nó cũng đảm bảo công ty sẽ được tài trợ đủ trong 3 năm Điều này giúp loại bỏ rủi ro tín dụng Tuy nhiên rủi ro định giá lại vẫn tồn tại trong chiến lược 2 Nếu lãi suất LIBOR thay đổi đáng kể vào năm thứ 2 hoặc thứ 3, thì người đi vay phải gánh chịu hết Vì vậy, tính linh hoạt đi kèm với chi phí trong trường hợp này: rủi ro khi lãi suất có thể lên hoặc xuống
Chiến lược 3 thì có nhiều sự linh hoạt hơn và cũng rủi ro hơn Đầu tiên, công ty
Trang 8vay ngắn hạn tại cuối đường cong lãi suất Nếu đường cong lãi suất là rất dốc, thường là trong các thị trường công nghiệp lớn, lãi suất cơ bản thấp Nhưng cuối đường cong lãi suất cũng có nhiều biến động Nó phản ứng với các sự kiện trong ngắn hạn một cách rõ nét hơn rất nhiều so với lãi suất dài hạn Chiến lược này đặt công ty trước rủi ro là xếp hạng tín dụng của nó có thể thay đổi đáng kể theo thời gian khi gia hạn tín dụng, cho tốt hơn hoặc tồi tệ hơn Lưu ý rằng xếp hạng tín dụng nói chung được thành lập trên tiền đề
mà một công ty có thể đáp ứng nghĩa vụ nợ của mình trong điều kiện kinh tế xấu đi, các công ty được đánh giá uy tín tín dụng cao (đánh giá tỷ suất đầu tư) có thể xem Chiến lược 3 như là một giải pháp thay thế phù hợp hơn so với các công ty có uy tín thấp ( đánh giá đầu cơ) Đây không phải là một chiến lược cho các công ty tài chính yếu
Mặc dù ví dụ trước chỉ đưa ra một phần bức tranh của sự phức tạp trong quyết định tài trợ vốn của công ty, nó thể hiện rủi ro tín dụng và rủi ro định giá lại là gắn bó giao thoa với nhau Rủi ro lãi suất là một khái niệm phức tạp và để đo lường một cách thích hợp những rủi ro đó trước khi đưa vào quản lý là rất quan trọng Bây giờ chúng ta tiến hành mô tả rủi ro lãi suất của các hình thức vay nợ phổ biến nhất của công ty là các khoản vay lãi suất thả nổi
3 Các công cụ quản trị rủi ro lãi suất:
Các khoản vay với lãi suất thả nổi là nguồn vay nợ được sử dụng rộng rãi cho các công ty trên thế giới Nó cũng là nguồn vay lớn nhất và thường xuyên nhất được các công ty sử dụng
Bảng 14.3 miêu tả chi phí và dòng tiền cho một khoản vay với lãi suất thả nổi trong vòng 3 năm đưa ra bởi tập đoàn Carlton Khoản vay 10 triệu USD Mỹ sẽ đi cùng với các khoản thanh toán lãi suất hàng năm và tổng vốn gốc được trả vào thời điểm cuối năm thứ 3
Trang 9Bảng 14.3: Chi phí vay và dòng tiền của khoản vay lãi suất thả nổi của công ty Carlton
LIBOR (thả nổi) 5.000% 5.000% 5.000% 5.000%
Biên độ (cố định) 1.500% 1.500% 1.500%
Tổng lãi suất 6.500% 6.500% 6.500%
Dòng tiền lãi phải trả
LIBOR (thả nổi) ($500,000) ($500,000) ($500,000
) Biên độ (cố định) (150,000) (150,000) (150,000)
Tổng lãi ($650,000) ($650,000) ($650,000
)
Số tiền vay (hoàn trả) $9,850,00
0
($10,000, 000) Tổng dòng tiền vay $9,850,00
0
($650,000) ($650,000) ($10,650,
000)
Lãi suất cơ sở 5.000% 5.000% 5.000% 5.000% 7.072% LIBOR tăng 25
điểm/năm
5.250% 5.500% 5.750% 7.565%
LIBOR giảm 25
điểm/năm
4.750% 4.500% 4.250% 6.578%
+ Một khoản cho vay được tính dựa trên lãi suất US dollar LIBOR + 1.5% (ghi chú: chi phí của tiền, chính là lãi suất, được gọi là giá cả của tiền) LIBOR được điều chỉnh mỗi năm vào ngày thỏa thuận ( ví dụ vào 2 ngày trước ngày thanh toán) LIBOR thì thả nổi hoàn toàn trong khi đó biên độ Spreads 1.5% là khoản trả lãi cố định, khoản này được cố định trong suốt thời hạn cho vay
Khi mà khoản vay được cấp ở năm đầu tiên ( năm 0) thì xuất hiện một khoản phí trả trước là 1.5% trên vốn gốc công ty phải trả cho người cho vay Khoản phí này đã làm giảm số tiền vay thực nhận xuống 150.000 USD Mặc dù khoản vay ghi trên hợp đồng là 10.000.000 USD và Carlton sẽ hoàn trả số tiền này đầy đủ khi đến hạn nhưng số thực nhận chỉ có 9.850.000 USD
+ Carlton sẽ không biết chi phí lãi thực tế cho đến khi khoản vay được hoàn trả hoàn toàn Caitlin Kelly, giám đốc tài chính của Carlton có thể dự đoán lãi suất LIBOR sẽ diễn biến như thế nào nhưng cô ấy sẽ không biết chắc chắn cho tới khi khoản vay được hoàn trả hết Sự không chắc chắn này nó không đơn thuần là rủi ro lãi suất mà nó còn là những
Trang 10rủi ro liên quan đến dòng tiền cho việc chi trả lãi.( Một khoản vay lãi suất cố định thì chỉ
có rủi ro lãi suất, chứ không có rủi ro dòng tiền chi trả lãi)
Bảng 14.3 đề cập đến lãi suất all-in-cost (AIC) của khoản vay, chính là suất sinh lời nội bộ IRR của dòng tiền Để đơn giản trong phân tích chúng ta giả định lãi suất LIBOR
là 5% trong suốt thời hạn vay
Nếu tính luôn phí trả trước Up-front thì AIC của Carlton là 7.072% ( hoặc là 6.5% nếu không có phí Up-front) Tuy nhiên nếu LIBOR tăng 25 điểm cơ bản ( là 0.25%) một năm thì AIC của khoản vay sẽ tăng lên là 7.565% Tương tự nếu LIBOR giảm 25 điểm
cơ bản thì AIC là 6.578%
Nếu Carlton muốn quản trị rủi ro lãi suất liên quan đến khoản vay trên thì sẽ có nhiều lựa chọn sau:
Trả nợ và vay lại Carlton sẽ gặp chủ nợ để trả nợ và vay lại toàn hợp đồng.
Thường điều này là không thể vì chi phí cao
Sử dụng hợp đồng lãi suất kỳ hạn (FRAs) Carlton sẽ khóa lãi suất phải trả với
FRA, điều này rất giống với việc sử dụng FRA để cố định tỷ giá hối đoái
Sử dụng hợp đồng lãi suất tương lai Mặc dù công ty ít khi sử dụng hợp đồng
tương lai trong mua bán ngoại tệ, nhưng với hợp đồng tương lai lãi suất được sử dụng rộng rãi hơn bằng việc khóa lãi suất phải trả trong tương lai
Hoán đổi lãi suất Carlton có thể đi đến một ngân hàng hoặc người bán hợp đồng
Swap để hoán đổi dòng tiền theo cách mà lãi suất thả nổi của khoản vay sẽ được
cố định lại
3.1 Hợp đồng lãi suất kỳ hạn (FRAs):
Hợp đồng lãi suất kỳ hạn là hợp đồng mua và bán lãi suất phải trả trên một khoản vốn vay Những hợp đồng này được thực hiện bằng tiền mặt Người mua hợp đồng này
sẽ khóa được lãi suất phải trả vào một ngày trong tương lai Người bán hợp đồng kỳ hạn
sẽ thanh toán cho người mua chi phí lãi đã tăng lên tính trên khoản vốn gốc nếu lãi suất tăng lớn hơn lãi suất thỏa thuận Nhưng nếu lãi suất giảm thì người mua phải trả cho người bán nếu lãi suất giảm thấp hơn lãi suất thỏa thuận Các kỳ hạn giao dịch có thể là 1,3,6,9,12, kỳ hạn này giống với hợp đồng ngoại tệ kỳ hạn
Ví dụ, Carlton có thể khóa lãi suất thanh toán (vào cuối năm 1), vì thế họ có thể mua một FRA để khóa lãi suất phải trả là 6.5% Vào cuối năm 1, nếu LIBOR tăng lớn