Ở đây, chúngtôi mạnh dạn đi theo một con đường mới, khó khăn hơn nhưng sẽ vô cùng lí thú khikhám phá giá trị một tác phảm đã quá quen thuộc, đó là áp dụng những kiến thức mới về ngôn ngữ
Trang 1MỞ ĐẦU
Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Vũ Trọng Phụng không phải là một tác giả
xa lạ Không thể kể hết những công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về tác giảnày Viết về một tác giả vốn đã quá quen thuộc không phải là điều gì khó khăn Nhưng
đó là những lối đi vốn đã quen thuộc mà mọi người thường chọn Tiểu thuyết Số đỏ
cũng vậy, có rất nhiều bài công trình, bài viết xung quanh tác phẩm này Ở đây, chúngtôi mạnh dạn đi theo một con đường mới, khó khăn hơn nhưng sẽ vô cùng lí thú khikhám phá giá trị một tác phảm đã quá quen thuộc, đó là áp dụng những kiến thức mới
về ngôn ngữ học tri nhận, cụ thể là ẩn dụ tri nhận để nghiên cứu về tiểu thuyết Số đỏ
bản thôi thúc, dẫn chúng tôi tới quyết định lựa chọn đề tài: “Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng – nhìn từ góc độ ẩn dụ tri nhận” là đối tượng nghiên cứu của bài tiểu
luận
Nghiên cứu đề tài: “Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng – nhìn từ góc độ
ẩn dụ tri nhận” chúng tôi mong muốn giúp ích cho việc tìm hiểu tiểu thuyết Số đỏ nói
riêng và những tác phẩm của nhà văn Vũ Trọng Phụng nói chung trong nhà trường đạt
kết quả cao Ngoài ra, có thể đóng góp một tiếng nói nhỏ vào quá trình phát triển việc
nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận, một vấn đề lý luận còn mới mẻ đối với ngôn ngữhọc nước ta
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, bài tiểu luận gồm hai chương: Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Ẩn dụ tri nhận trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
Trang 2NỘI DUNG CHƯƠNG 1
ở Ga-ra Charles Boillot, mất sớm khi ông mới được 7 tháng tuổi Mẹ là bà Phan ThịKhách dù còn rất trẻ (24 tuổi) nhưng vẫn ở vậy, tần tảo nuôi mẹ chồng và con thơ
Vũ Trọng Phụng chỉ học hết bậc Tiểu học ở trường Hàng Vôi, Hà Nội rồi phải đilàm, kiếm sống vào khoảng năm 14 tuổi Ông có may mắn được hưởng thụ chế độ giáodục mới do Toàn quyền Pháp Albert Sarraut đề xướng, miễn phí hoàn toàn trong sáunăm tiểu học Vũ Trọng Phụng là một trong những lứa thanh niên Việt Nam đầu tiênđược giáo dục bằng tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ, đó là nguyên nhân khiến ông luônthần tượng nền văn hóa Pháp và là lớp nhà văn tích cực truyền bá văn học chữ Quốcngữ
Sau hai năm làm ở các sở tư như Nhà hàng Gô-đa, Nhà in IDEO (Viễn Đông), Vũtrọng Phụng chuyển hẳn sang làm báo, viết văn Ông đã để lại một kho tác phẩm đángkinh ngạc: hơn 30 truyện ngắn, 9 tập tiểu thuyết, 9 tập phóng sự, 7 vở kịch, cùng 1 bảndịch vở kịch từ tiếng Pháp, một số bài viết phê bình, tranh luận văn học và hàng trămbài báo viết về các vấn đề chính trị, xã hội, văn hóa… Cụ thể vào năm 1930, Vũ Trọng
Phụng đã có truyện ngắn đầu tay Chống nạn lên đường đăng trên tờ Ngọ báo Thời
gian này, ông viết một số truyện ngắn nhưng không được chú ý Năm 1931, ông viết vở
kịch Không một tiếng vang thì bắt đầu nhận được sự quan tâm của bạn đọc Năm 1934,
Vũ Trọng Phụng mới cho ra mắt cuốn tiểu thuyết tâm lý đầu tay Dứt tình đăng trên tờ Hải Phòng tuần báo Năm 1936, ngòi bút tiểu thuyết của ông nở rộ, chỉ trong vòng
một năm, bốn cuốn tiểu thuyết lần lượt xuất hiện trên các báo, thu hút sự chú ý của
công chúng Cả bốn cuốn tiểu thuyết Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê và Làm đĩ đều mang tính
hiện thực, đi sâu vào các vấn đề xã hội
Trang 3Là một nhà báo, Vũ Trọng Phụng đã viết nhiều phóng sự nổi tiếng Với phóng sự
đầu tay Cạm bẫy người (1933) đăng báo Nhật Tân dưới bút danh Thiên Hư, Vũ Trọng Phụng đã gây được sự chú ý của dư luận đương thời Năm 1934, báo Nhật Tân cho đăng Kỹ nghệ lấy Tây Với hai phóng sự đó, Vũ Đình Chí và Vũ Bằng đã cho ông là
một trong hàng vài ba “nhà văn mở đầu cho nghề phóng sự của nước ta” Những
phóng sự tiếp theo như Cơm thầy cơm cô, Lục sì đã góp phần tạo nên danh hiệu “ông
vua phóng sự đất Bắc” cho Vũ trọng Phụng.
Vì còn bà nội và mẹ già cho nên dù lao động cật lực, ngòi bút của ông vẫn không
đủ nuôi gia đình Tuy viết về nhiều các tệ nạn, thói ăn chơi nhưng Vũ Trọng Phụng làmột người có đạo đức và sống rất kham khổ Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn túngquẫn, Vũ Trọng Phụng phải làm việc quá sức nên ông bị mắc bệnh lao phổi Nhữngngày cuối đời, trên giường bệnh ông từng phải thốt lên với nhà văn Vũ Bằng rằng:
“Nếu mỗi ngày tôi có một miếng bít tết để ăn thì đâu có phải chết non như thế này”.
Vũ Trọng Phụng mất ngày 13 tháng 10 năm 1939, mới 27 tuổi khi mà tài năngđang độ chín, để lại một gia đình gồm bốn người yếu ớt: bà nội, mẹ đẻ, vợ (Vũ MỹLương) và người con gái chưa đầy một tuổi là Vũ Mỵ Hằng
dựng thành kịch, phim Nhân vật chính của Số đỏ là Xuân – biệt danh là Xuân Tóc Đỏ,
từ chỗ một kẻ bị coi là hạ lưu bỗng nhảy lên tầng lớp danh giá của xã hội nhờ trào lưu
Âu hóa của giới tiểu tư sản Hà Nội khi đó
Truyện dài 20 chương và được bắt đầu khi bà Phó Đoan đến chơi ở sân quần vợtnơi Xuân Tóc Đỏ làm việc Vô tình Xuân Tóc Đỏ vì xem trộm một cô đầm thay đồ nên
bị cảnh sát bắt giam và được bà Phó Đoan bảo lãnh Sau đó, bà Phó Đoan giới thiệuXuân đến làm việc ở tiệm may Âu hóa, từ đó Xuân bắt đầu tham gia vào việc cải cách
xã hội Nhờ thuộc lòng những bài quảng cáo thuốc lậu, hắn được vợ chồng Văn Minhgọi là “sinh viên trường thuốc”, “đốc tờ Xuân” Hắn gia nhập xã hội thượng lưu, quenvới những người giàu và có thế lực, quyến rũ được cô Tuyết và phát hiện cô HoàngHôn ngoại tình Xuân còn được bà Phó Đoan nhờ dạy dỗ cậu Phước, được nhà sư Tăng
Trang 4Phú làm cố vấn cho báo Gõ Mõ Vì vô tình, hắn gây ra cái chết cho cụ cố tổ nên đượcmọi người mang ơn Văn Minh vì nghĩ ơn của Xuân nên dẫn Xuân đi xóa bỏ lí lịchtrước kia rồi đăng kí tranh giải quần vợt nhân dịp vua Xiêm đến Bắc Kì Bằng thủ đoạnxảo trá, hắn làm hai vận động viên quán quân bị bắt ngay trước hôm thi đấu nên Xuânđược dịp thi tài với quán quân Xiêm Vì để giữ tình giao hảo, hắn được lệnh phải thua.Kết thúc trận đấu, khi bị đám đông phản đối Xuân hùng hồn diễn thuyết cho đám đôngdân chúng hiểu hành động “hi sinh vì Tổ quốc của mình”, được mời vào hội Khai trítiến đức, được nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh và cuối cùng trở thành con rể cụ cốHồng.
Cho dù tiểu thuyết Số đỏ từ khi ra đời đã phải gánh chịu một số phận khá thăng
trầm nhưng cuối cùng nó vẫn là tác phẩm kết tinh được những giá trị đích thực củanghệ thuật
Số đỏ là một cuốn tiểu thuyết trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực
chủ nghĩa Ở phương diện một cuốn tiểu thuyết trào phúng, thành công của nó đã gâyđược một tiếng cười, đúng hơn là một trận cười giòn giã từ đầu đến cuối, thông qua mộtloạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung hí họa, biếm họa hết sức độcđáo và sinh động Ở phương diện một tác phẩm hiện thực chủ nghĩa, nó đã phát hiệnđược một cách chính xác và sâu sắc bản chất, quy luật khách quan của xã hội Về
phương diện nghệ thuật, Số đỏ đã đạt đến sự mẫu mực của nghệ thuật trào phúng Khi
nói đến nghệ thuật trào phúng trong cuốn tiểu thuyết này, không thể nào không nhắcđến tình huống truyện trào phúng, nghệ thuật trần thuật cho đến hệ thống nhân vật đầytrào phúng và cả lớp sóng ngôn từ của tác phẩm Bên cạnh đó, với kết cấu hoành tráng,
Số đỏ còn là một đóng góp lớn của Vũ Trọng Phụng trong lĩnh vực tiểu thuyết
Văn học là một quá trình, các nhà văn hiện thực phê phán khác sẽ đi tiếp conđường mà Vũ Trọng Phụng chỉ mới là một người khai phá, mở đường
1.2 Khái quát về ngôn ngữ học tri nhận và ẩn dụ tri nhận
1.2.1 Ngôn ngữ học tri nhận
Lịch sử ngôn ngữ học thế giới đã ghi nhận một ngành ngôn ngữ mới ra đời – ngônngữ học tri nhận, nó được biết đến là một khuynh hướng mới của ngôn ngữ học thế giớinửa cuối thế kỉ XX và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Nguyên lý phương phápluận của ngôn ngữ học tri nhận là hướng tới nghiên cứu ngôn ngữ trong mối quan hệvới con người – con người suy nghĩ, con người hành động Đối tượng của ngôn ngữ
Trang 5học tri nhận là ngôn ngữ tự nhiên của con người với tư cách là một bộ phận cấu thànhcủa nhận thức Bên cạnh đó, ngôn ngữ lại là sự phản ánh mối tương tác giữa nhữngnhân tố tâm lí, giao tiếp, chức năng và văn hóa Điều này có nghĩa là với tư cách làthành quả của trí tuệ con người, ngôn ngữ và cấu trúc của nó chỉ rõ trí tuệ làm việc nhưthế nào? Là phương tiện giao tiếp giữa người với người trong xã hội nên ngôn ngữ cũngphản ánh nhiều bình diện của một nền văn hóa nhất định Cấu trúc của ngôn ngữ chính
là nhân tố bên trong (trí tuệ của cá thể người nói) và nhân tố bên ngoài (nền văn hóachung cho nhiều người nói cùng một thứ tiếng)
Điểm nổi bật của ngôn ngữ học tri nhận là hướng sự chú ý vào việc nghiên cứumối quan hệ tương tác giữa ngôn ngữ và tư duy, cụ thể là hiểu biết và trí tuệ, nghĩa lànghiên cứu cách con người nhìn và nhận biết thế giới qua lăng kính của ngôn ngữ vàvăn hóa dân tộc Bất kì một hiện tượng ngôn ngữ nào cũng hàm chứa nội dung văn hóa,ngôn ngữ; văn hóa tác động qua lại lẫn nhau, cái này phản ánh cái kia và ngược lại
1.2.2 Ẩn dụ tri nhận
Ẩn dụ từ trước tới nay thường được cho là một biện pháp tu từ dựa vào sự giốngnhau giữa nghĩa đen và nghĩa bóng của ngôn từ Tuy nhiên, các nhà ngôn ngữ học tri
nhận lại cho rằng ẩn dụ còn là một công cụ tri nhận hữa hiệu để con người ý niệm hóa
các khái niệm trừu tượng Ẩn dụ do vậy không chỉ là một phương phức diễn đạt ý nghĩ
bằng ngôn ngữ mà còn là một phương thức để tư duy về sự vật Ý niệm ở đây là đơn vị
của tư duy, là yếu tố của ý thức Nói một cách cụ thể, quá trình nhận thức của con
người trải qua hai giai đoạn, đó là cảm tính (cảm giác và tri giác) và lí tính (biểu tượng
và khái niệm) Đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức là khái niệm Quá trình tri nhận
lại không phân chia rạch ròi như thế Nó là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhậnđược bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người để cuối cùng
tạo ra những ý niệm là đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận.
Đã có một thời gian, các nhà ngôn ngữ học tri nhận tranh luận gay gắt về ẩn dụ.Cuộc tranh luận bắt đầu từ những công trình nghiên cứu của E.Cassirer, Nietzsche, M.Minsky, G Lakoff và M Johnson… Mở đầu cho trang sử mới của việc nghiên cứu ẩn
dụ tri nhận là hai nhà nghiên cứu G.Lakoff và M Johnson với tác phẩm lý luận
Metaphors We Live By (Ẩn dụ chúng ta đang sống) Trong đó các tác giả trình bày
những cơ sở của cách tiếp cận tri nhận đối với ẩn dụ – một hiện tượng ngôn ngữ, tri
nhận và văn hóa Cuốn sách có đoạn: Ẩn dụ xuyên suốt cuộc sống đời thường của
Trang 6chúng ta và thể hiện không chỉ trong ngôn ngữ mà cả trong tư duy và hành động Hệ thống ý niệm thường nhật của chúng ta, mà trong khuôn khổ đó chúng ta tư duy và hành động, về thực chất mang tính ẩn dụ Bản chất của ẩn dụ nằm trong tư duy và cảm xúc các hiện tượng thuộc chủng loại này trong thuật ngữ của các hiện tượng thuộc chủng loại khác
Như vây, G.Lakoff và M Johnson định nghĩa: Ẩn dụ tri nhận (ẩn dụ ý niệm) là
một trong những hình thức ý niệm hóa, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện
và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới.
Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau Bản chất của ẩn dụ
tri nhận là ở sự ngữ nghĩa hóa và cảm nhận những hiện tượng loại này trong thuật ngữcác hiện tượng loại khác
Theo cơ sở chức năng tri nhận, cơ sở hình thành, ẩn dụ tri nhận có thể xếp thành
bốn loại cơ bản sau: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể, ẩn dụ kênh liên lạc/ truyền tin và ẩn
dụ định hướng (G Lakoff, M Johnson trong cuốn Metaphors We Live By – Ẩn dụ
chúng ta đang sống).
1.2.2.1 Ẩn dụ cấu trúc
Là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức) khác.
Theo đó, ẩn dụ tri nhận chính là sự ý niệm hóa từng miền riêng lẻ bằng cách
chuyển sang chúng sự cấu trúc hóa một miền khác (ẩn dụ cấu trúc: nghĩa của một kháiniệm, một phạm trù A được hiểu thông qua hệ thống từ nghĩa của một khái niệm, mộtphạm trù B khác dựa trên cơ sở biểu trưng hóa và sự liên tưởng)
Ví như khi phân tích nghĩa biểu trưng của những từ ngữ sau, chúng ta nhận được cấu
trúc nghĩa của chúng: Con ong: biểu trưng cho sự cần cù, nhẫn nại lao động Con mèo:
sự lười biếng Với ẩn dụ tri nhận, những nét nghĩa biểu trưng không được bộc lộ ra bên
ngoài, chúng phải là những nét nghĩa hàm ẩn Khi nói: Hà cần cù nhẫn nại lao động
như con ong thì con ong không phải là một ẩn dụ tri nhận, vì nét nghĩa cần cù, nhẫn nại
đã bộc lộ ra bên ngoài Hà là một con ong thì con ong chính là một ẩn dụ tri nhận, bởi
nét nghĩa vẫn còn hàm chứa trong từ con ong không được bộc lộ ra bên ngoài.
Trang 7Ẩn dụ cấu trúc có thể xuất hiện ở thành ngữ, ca dao, câu đố Ngoài ra có thể bắtgặp ẩn dụ loại này ở những câu chuyện cổ tích, chuyện ngụ ngôn và ngay cả trongnhững câu nói bình thường trong cuộc sống Ví như ca dao có câu:
Thuyền về có nhớ bến chăng Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
Cấu trúc biểu trưng của thuyền – bến đã chuyển sang cấu trúc nghĩa của tình yêu Vì thế, thuyền và bến là những ẩn dụ cấu trúc.
1.2.2.2 Ẩn dụ bản thể
Ẩn dụ bản thể chính là sự phạm trù hóa những bản thể trừu tượng bằng cách
ranh giới của chúng trong không gian Việc xác định ẩn dụ bản thể dựa trên kinh
nghiệm bản thân là chủ yếu, kinh nghiệm của chúng ta xử lí những khách thể vật lí vànhững chất đã làm nên một cơ sở dễ hiểu hơn Cơ sở này vượt ra khỏi khuôn khổ của sựđịnh hướng đơn giản, kinh nghiệm của con người có thể chia thành từng mảng nhỏ vàphân loại khách thể
Ẩn dụ bản thể bao gồm: không gian hạn chế; trường thị giác (vật chứa); sự kiện,hành động, công việc, trạng thái Ẩn dụ bản thể phục vụ những mục đích khác nhau vànhững dạng khác nhau của ẩn dụ phản ánh những mục đích khác nhau Ví như vềkhông gian hạn chế, con người được hình dung như nhũng thực thể vật lí bị hạn chếtrong một không gian nhất định và tách biệt khỏi thế giới còn lại bởi bề mặt da củachúng ta Mỗi người là cái chứa đựng bị hạn chế bởi bề mặt của thân thể, cái chứa đựng
này có khả năng định hướng kiểu trong – ngoài Ẩn dụ theo kiểu này biểu tượng cho những ý được hiểu như sự làm đầy những container - những đơn vị ngôn ngữ cụ thể Mỗi vật chứa là một ẩn dụ tri nhận Ở ví dụ sau thì đầm (đối tượng – vật chứa), bùn
(chất liệu – vật chứa) là hai ẩn dụ vật chứa:
Trang 8trường thị giác là vật chứa Như câu thơ trong bài Tống biệt hành thì mắt cũng là một
ẩn dụ – vật chứa:
Bóng chiều không thắm không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong.
(Tống biệt hành – Thâm Tâm)
1.2.2.3 Ẩn dụ “kênh liên lạc/ truyền tin”
Kênh vốn có nghĩa là công trình dẫn nước đào đắp hoặc xây trên mặt đất, phục
vụ thủy lợi giao thông Kênh dẫn nước vào đồng Kênh liên lạc ở đây không phải để
dẫn nước mà để truyền (dẫn thông tin) Theo tinh thần của G Lakoff, M Johnson thì ẩn
dụ “kênh liên lạc/ truyền tin” là quá trình giao tiếp như sự vận động của nghĩa “làm
đầy” các biểu thức ngôn ngữ (vật chứa) theo kênh nối người nói với người nghe.
G Lakoff, M Johnson cũng đã đưa ra một số ví dụ như:
(1) Khó đưa được những tư tưởng này đến với nó.
(2) Tôi cho bạn ý tưởng này.
(3) Đừng nhồi nhét ý nghĩ vào trong những từ không phù hợp.
(4) Những từ của bạn hình như trống rỗng.
Trong những ví dụ trên, thật khó phát hiện ra rằng ẩn dụ che lấp cái gì đó, thậmchí cũng không thể ý thức được bản thân của ẩn dụ Bởi đây là cách nói, cách viết quáquen thuộc ăn sâu vào thói quen đến nỗi đôi khi khó hình dung được rằng cái gì ở đâykhông tương ứng với hiện thực Nhưng nếu phân tích thì có thể thấy ẩn dụ che lấp mấtmột số mặt của quá trình giao tiếp
Thứ nhất, từ ẩn dụ những biểu thức ngôn ngữ là vật chứa ý nghĩa như là một bình
diện của ẩn dụ “kênh liên lạc”, có thể suy ra rằng từ và câu bản thân đã có nghĩa không
phụ thuộc vào bối cảnh hoặc người nói Từ thành tố của ẩn dụ này Ý nghĩa là đối tượng
(khách thể) có thể suy ra rằng ý nghĩa tồn tại độc lập đối với con người và đối với bối
cảnh Điều này cũng có thể được suy ra từ vị trí biểu thức ngôn ngữ là vật chứa ý
nghĩa Những ẩn dụ này áp dụng cho nhiều tình huống lời nói, cụ thể là đối với những
tình huống có sự khác nhau về bối cảnh không đóng vai trò gì và tất cả những ngườitham gia cuộc đàm thoại đều hiểu giống nhau những câu đã cho (được nói ra) Ba ví dụ
đã nêu ra ở trên tương ứng với kiểu ẩn dụ “kênh liên lạc/ truyền tin”, chúng có thể liênquan đến bất kì câu nào
Trang 91.2.2.4 Ẩn dụ định hướng
Nếu ẩn dụ cấu trúc hóa các ý niệm về mặt ẩn dụ trong một thuật ngữ của ý niệmkhác thì ẩn dụ định hướng không cấu trúc hóa một ý niệm này trong thuật ngữ của một
ý niệm khác mà tổ chức hệ thống ý niệm đối với một hệ thống ý niệm khác G Lakoff,
M Johnson gọi đây là ẩn dụ định hướng bởi một trong số đó có nhiều ẩn dụ liên quan
đến việc định hướng không gian với những đối lập kiểu như lên – xuống, vào – ra, sâu
– cạn, trung tâm – ngoại vi, trên mặt – từ trên mặt…
Những kiểu ẩn dụ như trên không phải là võ đoán mà chúng có cơ sở vật lý và văn
hóa của chúng ta Mặc dù những đối lập phân cực: trên – dưới, trước – sau, trong –
ngoài… về bản chất là mang tính vật lí song những ẩn dụ định hướng dựa trên cơ sở đó
phân biệt nhau từ nền văn hóa này sang nền văn hóa khác
Chẳng hạn như trong một số nền văn hóa, tương lai ở phía trước chúng ta nhưngtrong một số nền văn hóa khác thì nó lại ở đằng sau chúng ta Tiếng Việt có một sốphương thức đặc thù biểu hiện cách định hướng so với những ngôn ngữ khác Trần Văn
Cơ trong hai cuốn Ngôn ngữ học tri nhận và Khảo luận ẩn dụ tri nhận đã đưa ra khá
nhiều những ví dụ cho kiểu ẩn dụ này Có thể dẫn ra một số dẫn chứng cho những ẩn dụ
định hướng không gian kiểu trên – dưới theo tinh thần của tác giả Trần Văn Cơ.
(1) Hạnh phúc hướng lên trên, nỗi buồn định hướng xuống dưới
- “Hãy vui lên đi nào.”
- “Mất niềm tin vào cuộc sống, anh như rơi xuống hố sâu của sự buồn chán.”
Cơ sở vật lí: Nỗi buồn và sự chán nản đè nặng con người dẫn tới hành động cúiđầu xuống (hướng xuống), còn những cảm xúc tích cực làm con người thoải mái vàngẩng đầu lên
(2) Sức khỏe và sự sống định hướng lên trên, bệnh tật và cái chết định hướng
xuống dưới
- “Cô ấy cảm thấy khỏe lên nhiều.”
- “Anh ta sống dậy từ cõi chết.”
Trang 10(3) Nắm quyền lực hay sức mạnh thì định hướng lên trên, phục tùng quyền lực
hay sức mạnh thì định hướng xuống dưới
- “Anh ta có quyền lực trên tôi.”
- “Tôi bị hạ (giáng) chức vào ngày hôm qua.”
Cơ sở vật lí: Kích cỡ (kích thước) vật lí thường liên quan đến lực vật lí, còn ngườichiến thắng trong cuộc đấu vật thường nằm ở trên
(4) Cái tốt định hướng lên trên, cái xấu định hướng xuống dưới
- “Cô bé ấy ngày càng tốt lên.”
- “Từ khi có việc làm, anh ta ngày càng phất lên.”
Trong tiếng Việt, có một số trường hợp có thể dùng “ra” thay vì dùng “lên”, dùng “đi” thay vì dùng “xuống” để chỉ quá trình Ví như, “mập (béo) ra”, “khôn ra”,
“đẹp ra”, “dài ra”, “to ra”, “thông minh ra”, “trẻ ra”; “già đi”, “xấu đi”, “ốm (gầy) đi”, “nhỏ đi”.
Trang 11CHƯƠNG 2
ẨN DỤ TRI NHẬN TRONG TIỂU THUYẾT SỐ ĐỎ
CỦA VŨ TRỌNG PHỤNG
2.1 Sơ khảo về ẩn dụ tri nhận trong tiểu thuyết Số đỏ
Chúng tôi tiến hành khảo sát ba loại ẩn dụ tri nhận, đó là: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng Kết quả đạt được là 1032 ẩn dụ tri nhận các loại, từ đó
sẽ phân chia thành nhiều tiểu loại chi tiết hơn Dưới đây là kết quả khảo sát cụ thể:
Bài tiểu luận đã thống kê được 190 ẩn dụ cấu trúc, chiếm 11,8% Kết quả phân loại ẩn
dụ cấu trúc được tóm tắt qua bảng sau:
Ẩn dụ
cấu trúc
Cấu trúc là cụm từ trong câu 126/190 66,32%
Bảng 2 Phân loại ẩn dụ cấu trúc trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
2.1.1.1 Cấu trúc là ngữ cố định
Ngữ cố định được chia làm 2 tiểu lại nhỏ hơn là thành ngữ và quán ngữ Chúngtôi chỉ khảo sát đối tượng thành ngữ Bởi vì thành ngữ mới thực sự là phương tiện ngônngữ tiêu biểu cho những đặc trưng của ngữ cố định
Thành ngữ tiếng Việt nói chung thường được chia thành 2 loại lớn, đó là thànhngữ đối xứng và thành ngữ phi đối xứng hay còn được gọi là thành ngữ ẩn dụ hoá đốixứng và thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng Trong mỗi loại lại chia thành nhiều dạngnhỏ hơn, chủ yếu là được phân chia theo đặc trưng ngữ pháp, đặc biệt là các mô hìnhngữ pháp Chúng tôi sẽ áp dụng cách phân loại này kết hợp với màu sắc biểu cảm –cảm xúc của thành ngữ tiếng Việt để phân loại và phân tích hệ thống các thành ngữ là
ẩn dụ cấu trúc xuất hiện trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
Kết quả phân loại các đơn vị thành ngữ là ẩn dụ cấu trúc xuất hiện trong tiểu
thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng có thể tóm tắt qua bảng sau:
Trang 12Ngữ cố định (thành ngữ)
Thành ngữ đối xứng Thành ngữ so sánhThành ngữ phi đối xứngThành ngữ miêu tả
42/64(65,63%)
1/64(1,56%)
21(32,81%)
Bảng 3 Phân loại các đơn vị thành ngữ trong tiểu thuyết Số đỏ của
Vũ Trọng Phụng
Từ kết quả khảo sát, thống kê và phân loại này, chúng ta có thể thấy Vũ Trọng
Phụng đã sử dụng rộng rãi các đơn vị thành ngữ trong việc sáng tác tiểu thuyết Số đỏ.
Các thành ngữ ở dạng nguyên mẫu có xu hướng được sử dụng nhiều hơn so với cácthành ngữ ở dạng cải biên Ông đặc biệt ưa thích sử dụng loại thành ngữ đối xứng với
số lượng đáng ghi nhận 42/64 thành ngữ, chiếm 65,63% Các đơn vị thành ngữ so sánh
và thành ngữ miêu tả xuất hiện không nhiều với 22/64 thành ngữ (chiếm 34,37%) trong
tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.
(26,19%)
11/42(26,19%)
20/42(47,62%)
Bảng 4 Màu sắc biểu cảm – cảm xúc của thành ngữ đối xứng
Có thể dẫn ra một số ví dụ cho loại này như thành ngữ đối xứng mang sắc thái dương tính:
- …cậu Phước đây thì hay ăn chóng nhớn, ba tháng nữa thì đúng mười một
tuổi.”
- Thế thì còn đâu là những cái thích của bọn khách hàng phụ nữ ưa cái nhanh
mồm nhẹ miệng và những cử chỉ ngộ nghĩnh của Xuân Tóc Đỏ nữa.
Hay thành ngữ đối xứng mang sắc thái âm tính:
- Ai mượn ngay nó làm gì cho tốn cơm tốn tiền?
- Bẩm lão ăn không ăn hỏng, đánh lừa của con một hào.
Hoặc thành ngữ đối xứng mang sắc thái trung tính:
Trang 13- Tôi, tôi cứ sợ mình người trần mắt thịt, không biết chiều ý cậu thì cậu lại đòi
về.”
- Cho nên đám bách tính quần dân kia không biết rằng giữa lúc ấy Đức Vua
nước nhà, quan Toàn quyền và quan Thống sứ đã đưa mắt nhìn nhau
b Thành ngữ phi đối xứng
Trong khi thành ngữ so sánh được Vũ Trọng Phụng sử dụng rất ít (1/64 thành
ngữ, chiếm 1,56%) thì thành ngữ miêu tả lại chiếm tỉ lệ cao trong tiểu thuyết Số đỏ, đến
21/64 thành ngữ, chiếm 32,81% để tạo nên những nét nghĩa hàm ẩn cho câu văn của
mình Đó có thể là thành ngữ so sánh, kiểu như: Con … đoán như Thánh như Thần,
có khi nào sai!, loại thành ngữ miêu tả thì nhiều hơn:
- Ông ấy chủ trương cái hợp thời, những mốt lịch sự, thì hẳn tóc ông ấy phải đẹp
lại còn khen phò mã tốt áo!
- Mày nuôi ong tay áo, mày vẽ ra lắm trò, mày làm hại một đời em mày…
2.1.1.2 Cấu trúc là cụm từ trong câu
Chúng tôi đã thống kê được 126 cụm từ trong câu là ẩn dụ cấu trúc, chiếm66,32% Tiêu chí phân loại là dựa vào màu sắc biểu cảm – cảm xúc của những cụm từtrong câu Dưới đây là kết quả thống kê:
(11,11%)
82/126(65,08%)
30/126(23,81%)
Bảng 5 Phân loại cụm từ trong câu theo màu sắc biểu cảm – cảm xúc
Có thể kể ra một số ví dụ cho loại cụm từ mang màu sắc âm tính như:
- Vâng, tôi, tôi là người chồng mọc sừng!
- Ngoài số sáu chục gian phòng ngủ, khách sạn còn có đến hơn chục thiếu nữ
đi bán ái tình, những con gà mái thượng hạng xa xỉ, theo hệ thống các khách sạn ở
những nước văn minh.
2.1.2 Ẩn dụ bản thể
Chúng tôi đã thống kê được 505 ẩn dụ bản thể, chiếm 42,15%, có tần số cao nhấttrong các loại ẩn dụ chúng tôi khảo sát Kết quả phân loại ẩn dụ bản thể được tóm tắt quabảng sau:
Ẩn dụ bản thể có tính hệ thống 435/505 86,14%
Trang 14Ẩn dụ
bản thể Ẩn dụ bản thể phi hệ thống 70/505 13,86%
Bảng 6 Phân loại ẩn dụ bản thể trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Ở đây, chúng tôi chỉ đi vào phân loại sâu hơn và nghiên cứu kĩ những ẩn dụ bản thể cómối quan hệ với nhau, tạo thành nhóm Dưới đây là kết quả phân loại ẩn dụ bản thể có tính hệthống:
Những ẩn dụ bản thể liên quan đến con người xuất hiện trong Số đỏ với 309 ẩn
dụ, chiếm 71,03% và được chia thành rất nhiều tiểu loại nhỏ, thể hiện ở bảng dưới đây:
9 Ẩn dụ về nỗi (hành động) thẹn/ ghen/ ghen
tuông/ lẳng lơ/ hiếp 7/309 2,27%
10 Ẩn dụ về bổn phận/ phận sự/ trách nhiệm 21/309 6,80%
11 Ẩn dụ về số phận/ tướng số/ vận số/ hậu
13 Ẩn dụ về danh phận/ danh dự/ danh tiếng/
danh vọng/ thanh danh 33/309 10,68%
14 Ẩn dụ về danh tiết/ trinh tiết/ danh giá 20/309 6,47%
16 Ẩn dụ về thái độ/ tính nết/ cử động/ hành 7/309 2,27%
Trang 1526 Ẩn dụ về lời lẽ/ lời nói/ lời khen/ câu (câu
nói/ câu đoán /câu hô) 12/309 3,88%
- Tuyết đã liếc mắt đưa tình cho nó để tỏ ý cám ơn
- Đến đây, Văn Minh thở dài sung sướng như những người thành công trong sự
ép duyên khác.
- Tình/ duyên/ tình duyên là con người:
- Tình kia ai tưởng mà tơ tưởng tình?
- Duyên kia ai đợi mà chờ?
- Tình duyên là chất lỏng:
- Cuộc tình duyên vụng trộm ấy - nếu ta có thể nói thế - không hiểu vì đâu đã vỡ
lở tung toé.
- Tình duyên là công việc (việc làm):
- Hai người lững thững đi qua vườn hoa, tự nhiên như một cặp tình nhân chính
đương thực hành một cuộc tình duyên vụng trộm.
b Ẩn dụ về tình yêu/ ái tình/ tình dục
Trang 16- Tình yêu/ ái tình/ tình dục là thực thể:
- Bà có biết rằng từ khi chúng tôi mở cửa hiệu này ra thì bao nhiêu người vợ
được cứu vớt, tìm thấy lòng yêu của chồng, lại được hưởng hạnh phúc gia đình rồi đó
không?
- Ngoài số sáu chục gian phòng ngủ, khách sạn còn có đến hơn chục thiếu nữ đi bán ái tình
- Bàn về sự khủng hoảng tình dục của đám phụ nữ nạ giòng, (bà Phó Đoan hắt
hơi) Bác sĩ Vachet đã có những kinh nghiệm rất đúng thật.
- Tình yêu/ ái tình là con người:
- Yêu cũng yêu giả dối, tân thời cũng tân thời giả dối, hủ lậu cũng hủ lậu giả dối!
- Ấy là phải lên mặt với ái tình thì cuộc chinh phục mới dễ dàng hơn và bền chặt.
- Tình yêu là ngọn lửa:
- Vì lẽ chưa ai thấy bà có nhân tình, nên những ngọn lưỡi rắn độc phao rằng
những ngọn lửa tình do những kẻ chim bà không được đã khêu lên, bà bắt ông phán phải rập tất cả.
- Tình yêu là sức lực:
- Ăn ở với nhau độ 10 năm, ông Phó Đoan chết, chết trung thành với nhà
nước, chết chung tình với vợ, chết như những người yêu vợ quá sức.
Mặc dù chiếm số lượng thấp 126/435 ẩn dụ, chiếm 28,9% nhưng những ẩn
dụ bản thể liên quan lên quan đến các vấn đề khác vẫn có thể sắp xếp theo từng nhóm:
Trang 1716 Ẩn dụ về văn minh/ hủ lậu/ bảo thủ/ bất hủ 13/126 10,32%
17 Ẩn dụ về sự tân tiến /cổ điển/ thành kiến 6/126 4,76%
18 Ẩn dụ về hoàn cảnh, cảnh ngộ, tình thế 5/126 3,97%
Bảng 9 Phân loại ẩn dụ bản thể liên quan đến các vấn đề khác trong tiểu thuyết
Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
2.1.3 Ẩn dụ định hướng
Ngoài những ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên – dưới, chúng tôi còn tiến
hành khảo sát ẩn dụ định hướng theo những kiểu khác như: ẩn dụ định hướng không
gian kiểu vào – ra, ẩn dụ định hướng không gian kiểu trước – sau Với 3 kiểu ẩn dụ
này, chúng tôi đã khảo sát được 407 ẩn dụ Kết quả khảo sát và thống kê:
2.1.3.1 Kiểu ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên – dưới
Đây là kiểu phổ biến nhất của ẩn dụ định hướng Ngoài những cách phân loại và
gọi tên ẩn dụ tri nhận theo tinh thần của Trần Văn Cơ, ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên – dưới còn có thể phân chia theo nhiều nhóm khác nhau, tạo thành một hệ
thống ẩn dụ định hướng không gian kiểu trên – dưới trong tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn
Vũ trọng Phụng Dưới đây là kết quả khảo sát và phân loại:
1 Sức khỏe và sự sống định hướng lên trên,
bệnh tật và cái chết định hướng xuống
dưới
Trang 182 Ý thức định hướng lên trên, vô thức định
3 Hành động di chuyển từ dưới thấp đến cao
(so với mặt đất) định hướng lên trên, hành
động di chuyển từ trên cao (so với mặt đất)
đến thấp định hướng xuống dưới
4 Hành động quan sát, nhìn ngắm vật hoặc
tiếp xúc với vật (ở vị trí trên cao) định
hướng lên trên, quan sát, nhìn ngắm vật
hoặc tiếp xúc với vật (ở mặt đất) định
hướng xuống dưới
6 Địa vị xã hội cao định hướng lên trên 3/219 1,37%
7 Cái tốt, nhiều hơn định hướng lên trên 3/219 1,37%
9 Âm thanh, mùi hương khếch tán định
10 Quá trình trưởng thành, phát triển định
11 Hành động bất ngờ, nhanh (lan truyền)
12 Phạm vi ảnh hưởng (lan truyền) rộng,
không còn mang tính chất khép kín, bí mật
định hướng lên trên
13 Đặt tay tiếp xúc với vật, bộ phận( của con
người) ở tư thế trên cao (so với mặt đất)
định hướng lên trên
14 Sự lo lắng, bối rối, không yên về một điều
15 Vật, con người tiếp xúc với mặt đất (những
vật nằm ở mặt đất) định hướng xuống dưới 15/219 6,85%
16 Hành động tôn kính, trân trọng định hướng
17 Sự đồng ý, chấp thuận một việc gì đó định
Bảng 11 Phân loại ẩn dụ định hướng với kiểu ẩn dụ định hướng không gian kiểu
trên – dưới trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng
Trang 192.1.3.2 Ẩn dụ định hướng không gian kiểu vào – ra
Những ẩn dụ này không được Trần văn Cơ nghiên cứu sâu và đưa một hê thống ví
dụ Nhưng khảo sát cho thấy, đối lập không gian “vào – ra” cũng xuất hiện khá phổ
biến trong tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, từ đó chúng tôi đưa vào thành từng nhóm
và gọi tên thích hợp theo tinh thần của Trần Văn Cơ khi khảo sát những ẩn dụ định hướng kiểu
“lên – xuống” Sau đây là kết quả khảo sát:
1 Di chuyển từ không gian nhỏ bé chật hẹp
đến không gian rộng rãi (hướng đến không
gian rộng lớn hơn) định hướng ra ngoài, di
chuyển từ không gian rộng lớn đến không
gian nhỏ bé định hướng vào trong
2 Sự di chuyển (khí, âm thanh) từ bên trong
ra ngoài định hướng đi ra, sự di chuyển
(khí, âm thanh) từ phía ngoài vào bên trong
các bộ phận (của con người) định hướng đi
vào
3 Hành động di chuyển nhanh, hành động
mang tính chất đột ngột định hướng đi ra 5/167 2,99%
4 Phạm vi ảnh hưởng rộng dần so với trước
6 Đồ vật, sự việc, cảnh vật hiện diện rõ định
7 Phát triển hơn định hướng ra ngoài 2/167 1,98%
8 Niềm vui, sức khỏe định hướng ra ngoài 3/167 1,80%
10 Sự ngạc nhiên, kinh ngạc định hướng ra
14 Lấy một cái gì đó dùng cho một mục đích 9/167 5,39%