SỰ DUNG HỢP CHẤT “SỬ THI” VÀ CHẤT “TIỂU THUYẾT” TRONG TÁC PHẨM “SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNGMỞ ĐẦU Thể loại tiểu thuyết sử thi Roman - épopée hình thành ở Nga vào thế kỷ XIX
Trang 1SỰ DUNG HỢP CHẤT “SỬ THI” VÀ CHẤT “TIỂU THUYẾT” TRONG TÁC PHẨM “SỐNG MÃI VỚI THỦ ĐÔ” CỦA NGUYỄN HUY TƯỞNG
MỞ ĐẦU
Thể loại tiểu thuyết sử thi (Roman - épopée) hình thành ở Nga vào thế kỷ XIX
và sang thế kỷ XX thì phổ biến rộng rãi trong các nước XHCN Thể loại này mangtrong mình một cấu trúc rất phức tạp, bởi có sự kết hợp hai tính chất trái ngượcnhau như lửa với nước, đó là “chất sử thi” và “chất tiểu thuyết” Trong lịch sử vănhọc thế giới, người ta đã chứng kiến sự hình thành và phát triển của tiểu thuyết trên
cơ sở phá bỏ phong cách cao cả và tính khuôn mẫu của sử thi bằng tiếng cườiCarnaval Nhưng sự dung hoà trở lại hai tính chất này đã tạo nên “bi kịch thể loại”.Trong đời sống văn học Việt Nam thời chiến tranh, diễn ra nhiều vụ phê bình quychụp, uốn nắn làm cho nhiều tác phẩm bị thăng trầm cũng bắt đầu từ việc xử lýchưa hợp thời mối tương quan giữa chất sử thi và chất tiểu thuyết của nhà văn “Sống mãi với thủ đô” như Nguyễn Minh Châu từng nhận xét: “Những cái tên
sách gợi lên hình ảnh một cái đài tưởng niệm bằng ngôn ngữ, một vòng nguyệt quế
từ bàn tay nhà văn Nguyễn Huy Tưởng đặt lên trán những trai thanh, gái lịch của
Hà Nội rất giàu lòng yêu nước” Theo Vũ Tuấn Anh thì đó là một cuốn tiểu thuyết lịch sử “bề thế, có một dáng dấp ổn định và chững chạc”, một cuốn tiểu thuyết sử thi “thực thụ”, có sự dung hợp hài hòa giữa chất “sử thi hoành tráng” và chất tiểu thuyết “đời thường, giản dị”.
Trang 2NỘI DUNG Chương 1 Tiểu thuyết sử thi và những đặc điểm thể loại
1.1 Khái niệm tiểu thuyết sử thi
“Từ điển thuật ngữ văn học” do Lê Bá Hán chủ biên (1992) định nghĩa như
sau: “Tiểu thuyết sử thi Còn gọi là tiểu thuyết anh hùng ca Tên gọi ước lệ (ghép tên gọi thể loại “sử thi” épopée với tên gọi “tiểu thuyết” - roman) để chỉ những tiểu thuyết (từ thế kỷ XIX - XX) có dung lượng lớn, thể hiện những đề tài lịch sử - dân tộc Những tác phẩm này vừa là tiểu thuyết, đồng thời vừa có nhiều thuộc tính gần gũi với thể loại sử thi cổ đại hoặc trung đại (tầm bao quát, tính hoành tráng của sự kiện có tầm thời đại, cảm hứng dân tộc hoặc lịch sử, mô tả các sự kiện và xung đột có tính chất bước ngoặc như chiến tranh cách mạng )”.
Còn “Từ điển văn học” (bộ mới) nêu định nghĩa của Nguyễn Văn Khỏa như
sau: “Tiểu thuyết anh hùng ca Còn gọi là tiểu thuyết sử thi Thuật ngữ chỉ một loại hình của thể loại tự sự, là sự phát triển tổng hợp, nâng cao và đổi mới của loại hình anh hùng ca dân gian cổ điển và loại hình tiểu thuyết Tiểu thuyết anh hùng
ca phản ánh những sự kiện, những biến cố lịch sử quan trọng, lớn lao và có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của một nhân dân, một dân tộc Đó là hiện thực lịch sử có ý nghĩa toàn dân Trên cơ sở của việc tái hiện đúng bản chất một giai đoạn lịch sử và miêu tả khá cụ thể về sinh hoạt tư tưởng, tình cảm, đời sống xã hội, phong tục tập quán, tiểu thuyết anh hùng ca gắn bó số phận những nhân vật của mình với sự kiện, biến cố lịch sử, đặt số phận nhân vật trước câu hỏi, trước thử thách của lịch sử tạo thành mối liên hệ quy định tất yếu của lịch sử đối với số phận nhân vật Cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết anh hùng ca là khẳng định sức mạnh của chủ nghĩa anh hùng và chiến công của nhân dân như là động lực của lịch sử”.
Trang 31.2 Đặc điểm của thể loại tiểu thuyết sử thi
Nó bao gồm “chất sử thi” và “chất tiểu thuyết”:
1.2.1 Đề tài
Đề tài của sử thi là lịch sử dân tộc, chủ yếu nói về các cuộc chiến tranh giữa các
dân tộc với nhau “Tình huống phù hợp nhất với thơ sử thi đó là các xung đột của trạng thái chiến tranh Thực vậy, trong chiến tranh, chính là toàn bộ dân tộc đang vận động Nó bị kích thích phải hành động bởi vì nó phải bảo vệ toàn bộ mình”
(Hêghen)
Còn đề tài của tiểu thuyết là thế sự đời tư, chủ yếu nói về các chuyện nhân tình
thế thái ở đời hoặc những chuyện tình cảm riêng tư của trai gái “Yếu tố đời tư càng phát triển thì chất tiểu thuyết càng tăng, ngược lại, yếu tố lịch sử dân tộc càng phát triển thì chất sử thi càng đậm đà”.
Tiểu thuyết sử thi kết hợp cả ba đề tài trên Nội dung thế sự đời tư được phôdiễn trên sân khấu nhưng nằm trong bối cảnh phông màn của nội dung lịch sử dântộc
1.2.2 Đối tượng phản ánh
Đối tượng miêu tả của sử thi là những sự kiện đã hoàn tất trong quá khứ dân
tộc Đó là “quá khứ tuyệt đối” theo cách hiểu của Gớt và Sinle Là quá khứ đầu
tiên, cao thượng nhất, lưu giữ những ký ức của cộng đồng tổ tiên Ở đó, mọi thứ đãhoàn tất và thế hệ con cháu không can thiệp vào được Nó tách hẳn với thời hiện tại
của người kể chuyện bằng một “khoảng cách sử thi tuyệt đối” Từ đó, tạo ra giá trị
tôn ti, sùng kính
Theo Bakhtin: “Tiểu thuyết hình thành chính trong quá trình phá bỏ khoảng cách sử thi, trong quá trình thân mật hóa con người và thế giới bằng tiếng cười, hạ thấp đối tượng miêu tả nghệ thuật xuống cấp độ hiện thực đương thời dang dở không hoàn thành và luôn biến động”
Như vậy, sử thi chuộng quá khứ, tiểu thuyết chuộng hiện tại, còn tiểu thuyết sửthi sẽ xử lý vấn đề này như thế nào?
Trang 4Vẫn theo Bakhtin, có thể miêu tả thời hiện tại trong sử thi với điều kiện là, phải
đặt điểm nhìn từ tương lai để nhìn về hiện tại “Tất nhiên, có thể tri giác cả "thời đại của chúng ta” như một thời đại sử thi anh hùng, từ giác độ ý nghĩa lịch sử của
nó, tri giác từ xa, từ cự ly thời gian (không phải bằng con mắt mình, con mắt ngườiđương thời, mà dưới ánh sáng tương lai) Như vậy, chúng ta vẫn có thể tạo ra được
“khoảng cách sử thi” khi miêu tả hiện thực đương thời Nhưng không phải hiện
thực đương thời nào cũng tạo ra thái độ thành kính, bởi vậy cần có sự chọn lọc đốitượng “Hiện thực đương thời chỉ có thể xâm nhập các thể loại cao thượng ở nhữnggiai tầng có ngôi bậc cao nhất, và cũng đã được cự ly hóa do vị trí của chúng trong
chính hiện thực” (Bakhtin) Trong cuộc chiến tranh Việt Nam 1945 - 1975, “giai tầng có thứ bậc cao nhất” là người chiến sĩ cách mạng vô sản “Ơi anh giải phóng quân / Kính chào anh con người đẹp nhất!” (Tố Hữu) Hình ảnh của anh bộ đội cụ
Hồ đã được mọi người thành kính ngưỡng mộ ngay trong thời hiện tại, bởi vậy, tạo
ra được khoảng cách sử thi Tuy nhiên, khoảng cách này không quá xa vời nhưtrong sử thi cổ điển Mặc dù tác giả không dám suồng sã với nhân vật chính diệnnhưng cũng không coi nhân vật là bậc quá xa cách với mình Giữa tác giả và nhânvật có khoảng cách gần nhau nhưng vẫn tôn trọng nhau
1.2.3 Chất liệu
Chất liệu của sử thi cổ điển lấy từ truyền thuyết dân tộc, là sản phẩm của toàndân chứ không phải của riêng nhà thơ Bởi vậy, tác giả không được phép đưa ra
những ý kiến riêng của mình Hêghen nói: “Nhà thơ trình bày trước mắt chúng ta
cả một thế giới khách quan những biến cố và những hành động không cho phép người đọc thơ có một thái độ nào khác ngoài thái độ thụ động với những điều anh
ta kể lại Anh ta càng không nêu bật mình thì điều đó càng tốt” Nhà thơ phải ẩn
náu mình sau sự kiện và ngay cả ngôn từ cũng không phải là của ông ta Công lao
của tác giả là lựa chọn, sắp xếp tình tiết, diễn đạt sao cho hay, “tác giả bắt đầu từ đâu vẫn được, kết thúc ở đâu vẫn được, bởi vì tác giả và người nghe đều đã biết rõ chuyện” (A.Ph.Lôxep) Vai trò của tác giả sử thi rất mờ nhạt và nhìn chung là
Trang 5không để lại dấu ấn của mình trong tác phẩm “Hômêrơ, với tư cách cá nhân, trong các bản trường ca của mình đã bị hy sinh đến nỗi ngày nay, người ta không thừa nhận cho rằng ông đã tồn tại, nhưng các nhân vật của ông vẫn bất tử” (Hêghen
Còn tiểu thuyết thì ngược lại, mang đậm dấu ấn tác giả Người ta khuyến khíchmỗi nhà văn phải có phong cách riêng của mình Nhà tiểu thuyết được phép sángtạo ra những lối diễn đạt lạ thường, những nhân vật dị dạng, những tính cách lạđời Cốt truyện tiểu thuyết là do nhà văn sáng tạo ra trên cơ sở kinh nghiệm cá
nhân, bởi vậy nội dung của nó có thể xa lạ với dân tộc “Việc sử dụng kinh nghiệm
cá nhân nhà văn (kinh nghiệm cá nhân theo nghĩa rộng nhất, bao hàm cả sự quan sát, tập hợp tài liệu, sự phát hiện đề tài, chủ đề, nhân vật ) đã khiến cho nghệ thuật sử thi ở đây phải giải quyết nhiều tương quan, phải dung nạp nhiều phạm trù nghệ thuật vốn dĩ không gắn với nghệ thuật sử thi” (Lại Nguyên Ân) Nếu như xem tiểu thuyết là “bịa” còn sử thi là “thực” thì tiểu thuyết sử thi phải “bịa như thật”.
Trong một số tiểu thuyết phi sử thi như Tây du ký, Dế mèn phiêu lưu ký, Số đỏ nhà văn không muốn bắt ép độc giả phải tin chuyện mình kể là thật
Nhưng nhà tiểu thuyết sử thi phải cố gắng tạo không khí chân thật Bằng cách
là, đưa ra những sự kiện lịch sử có thật để làm bối cảnh cho câu chuyện Miêu tảthật những hình ảnh như cảnh chiến trường, súng đạn, trang phục, kỷ luật quân đội,phong tục tập quán, thiên nhiên Cuối tác phẩm, rất nhiều người ghi lại thời gian
và địa điểm sáng tác để tăng tính chân thực Nhà tiểu thuyết sử thi được phép hư
cấu nhưng phải phù hợp với quan niệm cộng đồng, tức là “hư cấu có định hướng”.
Anh ta phải lấy tư liệu từ thực tiễn và những chi tiết này được mọi người kiểm
nghiệm là có thật (và có thể có thật) Sau đó, anh ta sắp xếp “những huyền thoại của thời đại nguyên tử” này một cách có nghệ thuật sao cho lôi cuốn người đọc Tự
đặt tên cho nhân vật, chỉnh lý các chi tiết, thêm thắt chút ít, thổi hồn vào câu chữ
Một cuốn tiểu thuyết sử thi vừa là của “tôi” nhưng cũng vừa là của “chúng ta” Cá
tính riêng của tác giả trong tiểu thuyết sử thi có thể không đậm đà như trong tiểuthuyết phi sử thi Nhưng không hề gì vì nó chẳng ảnh hưởng tới chất lượng tác
Trang 6phẩm Bằng chứng là trong các sử thi cổ đại hay tiểu thuyết chương hồi TrungQuốc , tuy hình bóng của tác giả mờ nhạt nhưng tác phẩm vẫn có sức hấp dẫnvĩnh cửu.
1.2.4 Phạm vi phản ánh
Tác giả sử thi cổ đại có tham vọng bao quát nhiều lĩnh vực của cuộc sống để
tác phẩm trở thành bộ bách khoa toàn thư của dân tộc “Tác phẩm của Hômerơ là cuốn từ điển bách khoa hoàn thiện nhất của thời cổ đại” (Gơnêđisơ) Ngạn ngữ Ấn
Độ có câu: "Cái gì không thấy trong Mahabharata thì cũng không thấy trên đất Ấn Độ" Hêghen nhận xét: "Các sử thi thực sự độc đáo đều cung cấp cho ta một bức tranh của tinh thần dân tộc như nó biểu hiện trong luân lý của cuộc sống gia đình, trong chiến tranh và trong hòa bình, trong các nhu cầu, các nghệ thuật, các phong tục, các hứng thú, tóm lại, nó cấp cho ta một bức tranh toàn vẹn về các giai đoạn ở đấy có ý thức và phẩm chất của ý thức" (Mỹ học) Để làm được điều đó, sử thi phải
dùng thao tác tổng hợp, còn tiểu thuyết thì ngược lại, thường dùng thao tác phântích
Bởi vậy, tiểu thuyết không cần phải mở rộng hoàn cảnh mà chú trọng mổ xẻcuộc sống riêng tư chật hẹp của một hoặc vài cá nhân
Còn trong tiểu thuyết sử thi, mặc dù cuộc sống cá nhân vẫn được nhắc đếnnhưng nó vẫn nằm trong cái tổng thể xã hội Có nghĩa là thông qua một vài cá nhânhay một địa phương nhỏ, tác giả phải làm sao để cho người đọc thấy được trạngthái chung của cả dân tộc và thời đại Nói cách khác là hình tượng phải mang tínhđiển hình Để làm được điều đó phải cần đến biện pháp khái quát hóa nghệ thuật
Giáo sư Phan Cự Đệ nói: "tiểu thuyết sử thi của thời đại chúng ta phải là sự tổng hợp trên cơ sở phân tích, là sự thống nhất biện chứng giữa tổng hợp và phân tích ( ) cô đúc trong từng mảnh tinh chế rồi từ đó khái quát lên".
1.2.5 Cảm hứng
Sử thi là “thi ca lý tưởng” nên nó miêu tả cuộc sống trong tính thi vị Nó có cảm
hứng mạnh mẽ trước cái đẹp, cái cao cả, cái hùng vĩ Và ý thức mình là thể hiện
Trang 7cao quý nên nó không dung nạp các thể loại “thấp hèn” và những yếu tố mỹ học
nào có thể phá vỡ phong cách cao cả của sử thi
Còn tiểu thuyết thì ngược lại, nó dung nạp tất cả các thể loại và hòa trộn tất cảcác sắc màu thẩm mỹ lại với nhau Nó mạnh dạn miêu tả cái bi, cái hài, cái lố bịch,cái tầm thường, cái gớm ghiếc, cái dị dạng Nó có mặt mạnh trong việc miêu tảcác đề tài dung tục như chuyện lừa đảo làm tiền, những cuộc tình ô trọc, nhữngchuyện vặt vãnh trong nhà ngoài chợ Nó không ngại miêu tả tỉ mỉ những sự vật
xấu xa, bẩn thỉu, hỗn độn Đó là “chất văn xuôi” của cuộc sống, là cái thực tại
“nôm na thô thiển” đối lập với cái “thế giới nên thơ”, là “thời đại anh hùng” của sử
thi (Hêghen)
Các nhà tiểu thuyết sử thi phải xử lý vấn đề này một cách khó khăn.Trước hết,phải chấp nhận dung nạp ở mức độ vừa phải các thể loại khác như bi kịch, hài kịch,
trữ tình Nó chấp nhận sự có mặt của “chất văn xuôi” nhưng nổi trội hơn hết vẫn
là “chất thi ca” Nói chung, các nhà tiểu thuyết sử thi dẫn bạn đọc đi trên ranh giới
giữa cái thật và cái giả, cái thiện và cái ác, cái đẹp và cái xấu nhưng cái đích cuốicùng đạt đến vẫn là bến bờ Chân - Thiện - Mỹ
1.2.6 Cách thức xây dựng tác phẩm
Sử thi xây dựng cơ cấu tác phẩm theo dòng sự kiện, dọc theo các biến cố lịch
sử Chính các xung đột xã hội là bộ xương sống của sử thi
Trong khi đó, những xung đột xã hội đầy kịch tính lại không phải là điều bắt
buộc đối với tiểu thuyết “Kết cấu của tiểu thuyết là logic vận động của tính cách, còn anh hùng ca là logic của sự phát triển các biến cố lịch sử ( ) Trong tiểu thuyết thì chính số phận nhân vật và logíc của sự phát triển tính cách sẽ quy định cốt truyện” (Phan Cự Đệ)
Còn trong tiểu thuyết sử thi có sự dung nạp cả hai cách trên Nghĩa là trên đạithể, nó xây dựng cốt truyện theo dòng biến cố lịch sử, nhưng trên cơ sở đó triểnkhai các dòng tính cách nhân vật Sự phát triển các tính chất này có thể thuận hoặcnghịch chiều lịch sử Thông thường, trong tiểu thuyết sử thi cách mạng, nhân vật
Trang 8chính phát triển tính cách theo chiều tiến bộ của lịch sử Còn nhân vật phản diệnthường theo chiều hướng ngược lại, bị đào thải Tiểu thuyết thường kết thúc theolối mở, chưa hoàn tất, xung đột chính có thể chưa giải quyết Còn sử thi kết thúctheo lối có hậu, thiện thắng ác, mọi thứ được hoàn tất, xung đột được giải quyết do
“áp lực sử thi”, “cái khung sử thi” đã quy định như thế Còn trong tiểu thuyết sử
thi, cuối tác phẩm, xung đột chính phải được giải quyết theo hướng tiến bộ của lịch
sử, theo mong muốn của cộng đồng Tuy nhiên các xung đột nhỏ có thể vẫn tồn tại.Dòng tính cách ngược chiều lịch sử có thể vẫn tiếp tục chảy nhưng bị suy yếu dần
và tiềm ẩn Đó là lối kết thúc vừa khép vừa mở của tiểu thuyết sử thi
1.2.7 Con người
Con người sử thi là con người bổn phận, là những anh hùng cao cả có sứ mệnhphấn đấu vì lợi ích cộng đồng Nó mang gương mặt tập thể và thuộc về quầnchúng Số phận của nó trùng khít với bộ cánh xã hội mà nó khoác
Trong khi đó, con người tiểu thuyết thì ngược lại “Nhân vật không tương hợp với số phân và vị thế của nó Con người hoặc là lớn hơn số phận mình, hoặc là nhỏ
bé hơn tính cách của mình” (Bakhtin) Bởi vậy, con người tiểu thuyết thường bất
hòa với tập thể Có khi nó sống tốt nhưng vẫn bị xã hội vùi dập, nó sống xấu nhưngvẫn được xã hội trọng vọng Nó là con người tự do cá nhân với những dục vọng
thấp hèn, ích kỷ, không vì cộng đồng hoặc đi ngược lại lợi ích cộng đồng “Nhân vật tiểu thuyết không được “anh hùng” cả theo nghĩa sử thi lẫn theo nghĩa bi kịch của từ ấy: nó phải kết hợp trong nó cả những nét chính diện lẫn phản diện, cả thấp kém lẫn cao thượng, cả nực cười lẫn trang nghiêm” (Bakhtin) Trong tiểu thuyết sử
thi, nhân vật chính phải là con người sử thi và có thể chấp nhận cho nó có một vàinhược điểm nhỏ của con người tiểu thuyết Thành phần nòng cốt của phe chínhdiện là con người sử thi Tuy nhiên cũng có thể có cả con người tiểu thuyết nhưngphải chuyển hóa nó thành con người sử thi
Trang 91.2.8 Nhân vật
Nhân vật sử thi là con người “ngoại hiện”, “ruột để ngoài da” “Nó được
“ngoại hóa” hoàn toàn, giữa bản chất thật của nó và sự biểu hiện bên ngoài của
nó không có sự khác biệt nào” “Ở con người ấy chẳng có gì phải tìm tòi, ức đoán, không thể lột mặt nạ nó” (Bakhtin) Đó là những con người hoàn tất, trọn vẹn, bất
Con người trong tiểu thuyết sử thi, về cơ bản là con người hành động Nội tâmcũng được nhắc đến nhưng không lấn át hành động Bởi vậy nó không thích hợpvới bút pháp dòng ý thức (mặc dù nếu sử dụng ở mức độ vừa phải vẫn được chấpnhận) Sự trùng hợp giữa tính cách và hành động cũng tùy theo hoàn cảnh Nhân
vật tuy lộ liễu, “ồn ào” với “phe ta” nhưng có thể “ngụy trang” kín đáo với “phe nó” Lúc này thì hành động sôi nổi nhưng lúc khác lại suy tư trầm lắng Tác giả có
thể khai thác thế giới nội tâm ở các nhân vật phụ, nhất là phụ nữ, nhưng không nênlạm dụng nó khi miêu tả nhân vật anh hùng
1.2.9 Tác giả
Tác giả sử thi phải đứng trên quan điểm dân tộc để nhìn nhận, đánh giá sự việc
“Tính dân tộc phải là một trong những điều kiện cơ bản của anh hùng ca, còn bản thân nhà thơ thì phải nhìn các sự kiện bằng con mắt của nhân dân mình”
(Biêlinxki) Tác giả đứng trên lập trường dân tộc nhưng lập trường đó là bất biến,
đã được đông cứng lại trong quá khứ Có thể thấy điểm nhìn bất biến trong các địnhngữ nghệ thuật: Asin chạy nhanh như gió, Ulixơ muôn vàn trí xảo, Apôlông bắn xamuôn dặm
Trang 10Tiểu thuyết thì ngược lại, càng tạo ra nhiều cách nhìn mới mẻ, độc đáo càngtốt Do câu chuyện tiểu thuyết là của tác giả bịa ra nên anh ta có quyền đánh giánhân vật theo quan điểm riêng mình Cái nhìn của tiểu thuyết có thể trái ngược vớicộng đồng, và cũng như vậy, trái ngược với sử thi Chẳng hạn, tác giả sử thi nhìnanh hùng Nguyễn Huệ bằng con mắt lịch sử thành kính, nhưng nhà tiểu thuyết có
thể nhìn “anh chàng mê gái” này từ góc độ đời tư, thân mật Dân tộc phản đối Lê
Chiêu Thống nhưng nhà tiểu thuyết có quyền ủng hộ Lê Chiêu Thống
Trong tiểu thuyết sử thi, những sự kiện lịch sử quan trọng phải được nhìn nhậntrên phương diện dân tộc Tuy nhiên, tác giả vẫn có quyền tự do tương đối khi đánhgiá các sự việc nhỏ Tác giả có thể đưa ra nhiều cách đánh giá khác nhau để độc giảlựa chọn Những vấn đề ngược với điểm nhìn dân tộc có thể được phát biểu từmiệng của nhân vật phản diện hoặc nhân vật phụ Còn điểm nhìn của nhân vậtchính phải hợp với quan điểm cộng đồng
Và không thể không ca ngợi phẩm chất “tuyệt nhân”, “tuyệt nghĩa” của Lưu Bị,Quan Công (mặc dù về mặt chính trị, có thể Lưu Bị sai lầm, như một số nhà sử học
đã nói)
Còn tiểu thuyết, do tiếp cận cuộc sống từ góc độ đạo đức, tình cảm nên tính chủquan càng cao Tác giả có thể công khai phát biểu thái độ yêu ghét rõ ràng màkhông sợ một số độc giả nào đó phản đối (vì ai cũng ghét những hành động vô đạo
Trang 11đức) Có khi, tác giả cũng là một nhân vật của truyện và mọi thứ đúng sai, tốt xấuđều được nhìn qua lăng kính của tác giả
Trong tiểu thuyết sử thi, tốt nhất là tác giả không nên lộ diện Và cũng tốt nhất
là cần phải có một độ lùi thời gian giữa tác giả và sự kiện phản ánh Độ lùi thờigian càng xa thì tính khách quan càng cao Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng vậy
Trong “Sông Đông êm đềm”, M.Sôlôkhốp viết về lịch sử hiện đại mà vẫn có tinh
thần khách quan sử thi Nhờ có tính khách quan mà nội dung câu chuyện thuyếtphục được bạn đọc ở mọi nơi, mọi thời đại Bởi vậy, một tiểu thuyết sử thi lý tưởngcần phải có tính khách quan cao
1.2.11 Giọng điệu
Sử thi cổ điển mang cảm hứng ngợi ca, khẳng định, đề cao sự nghiệp anh hùng.Giọng điệu cơ bản của sử thi là sôi nổi, hùng tráng Đây là lời trang trọng, thànhkính của bậc con cháu đối với tổ tiên, là lời tự hào dân tộc và hun đúc tinh thần áiquốc Nhìn chung, sử thi có văn phong cao cả
Còn tiểu thuyết thì đả phá tính nghiêm túc, trang trọng của sử thi bằng tiếngcười trào phúng, bông đùa Nó giễu nhại, mỉa mai mọi thứ, hạ bệ và làm thân mậthóa đối tượng bằng loại ngôn ngữ suồng sã, thô tục Nó mang cảm hứng phê phán,giọng điệu bi thương, buồn bã, tức là giọng điệu của một văn sĩ đa sầu trước cảnhhài đời
Tiểu thuyết sử thi cần có giọng điệu ngợi ca, trang trọng đối với cái tốt và phêphán mỉa mai đối với cái xấu Có giọng hùng tráng khi xung trận nhưng cũng cóthể có giọng bi thương trước cái chết của các anh hùng Có thể chấp nhận cho tiểuthuyết sử thi có nhiều loại cảm hứng trái ngược nhau nhưng chủ đạo vẫn là cảmhứng ngợi ca
1.2.12 Ngôn ngữ
Ngôn ngữ sử thi phải theo chuẩn mực chung của dân tộc, thống nhất một giọng,mọi sự trau chuốt phải phù hợp với tâm lý tiếp nhận của cộng đồng Con người sử
Trang 12thi không có tính chủ động về mặt ngôn ngữ; thế giới sử thi chỉ biết duy nhất mộtngôn ngữ thống nhất và có sẵn
Còn tiểu thuyết thì ngược lại, nó phá bỏ tính một giọng, một phong cách của sửthi Mỗi nhân vật đều có quyền chủ động về ngôn từ Ngôn ngữ trong tiểu thuyếtrất ồn ào, đa thanh, đa phong cách Các nhà tiểu thuyết tha hồ sáng tạo ra một vănphong riêng không giống ai
Tiểu thuyết sử thi chấp nhận cho tác giả và nhân vật chủ động về mặt ngôn ngữ
và có sự sáng tạo về từ ngữ nhưng không đi quá xa chuẩn mực cộng đồng Khôngchấp nhận phổ biến loại ngôn ngữ bí hiểm, quá rắc rối, lệch chuẩn, có nguồn gốc xa
lạ với dân tộc “Trước hết, nghệ sĩ phải sáng tác cho nhân dân mình và cho thời đại mình Nhân dân và thời đại có quyền đòi hỏi tác phẩm nghệ thuật phải gần gũi và
dễ hiểu đối với nó” (Hêghen)
Nói tóm lại, sử thi luôn đòi hỏi khuôn mẫu, trong khi tiểu thuyết luôn đòi hỏi sựđổi mới, sáng tạo Tiểu thuyết sử thi phải tuân thủ các "nguyên tắc sử thi vĩnh cửu",tức là không được thiếu các đặc điểm 1, 4, 7, 9, 11 Trong các đặc điểm còn lại, cóthể thiếu một vài đặc điểm Nhìn chung không nên dung nạp quá nhiều “chất tiểuthuyết” có thể dẫn đến làm tổn hại “chất sử thi” trong kết cấu thể loại Trong thựctiễn tiểu thuyết Việt Nam 1945 - 1975, ta thấy có ba mối tương quan như sau giữachất sử thi và chất tiểu thuyết Một là: chất tiểu thuyết lấn át chất sử thi sẽ tạo racác tiểu thuyết phi sử thi như: Một nhà đại thiện xạ, Phất, Thôn Bầu thắc mắc,Những ngày bão táp, Vào đời, Tranh tối tranh sáng, Hỗn canh hỗn cư Và tiêu biểu
cho bộ phận văn học này là "Đống rác cũ" của Nguyễn Công Hoan Hai là: chất sử
thi lấn át chất tiểu thuyết Tiêu biểu như: Người người lớp lớp, Cao điểm cuối cùng,Trước giờ nổ súng đặc biệt là Đất nước đứng lên Ba là: chất sử thi ngang bằngvới chất tiểu thuyết, đây là mô hình lý tưởng của tiểu thuyết sử thi Tiêu biểu choloại này là Cửa biển, Vỡ bờ, Sống mãi với thủ đô, Bão biển, đặc biệt là Dấu chânngười lính Sự có mặt nhiều hay ít chất sử thi không hề nói lên chất lượng của tácphẩm mà chỉ xác định đặc trưng thể loại của tác phẩm đó mà thôi
Trang 13Chương 2 Cách xử lý mối quan hệ giữa chất “sử thi” và chất “tiểu thuyết” trong Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
2.1 Khái quát về tác giả và tác phẩm
2.1.1 Vài nét về tác giả
Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng sinh ngày 6/5/1912, tại làng Dục Tú, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nay là xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội Cha là một ông Tú nghèo sống nhờ vợ tần tảo buôn bán Bảy tuổi cha mất, mẹ gửi ra Hải Phòng ở với gia đình người chị, học tiểu học ở trường Bonnal Năm 1932, 20 tuổi, đậu bằng thành chung và cũng bắt đầu học chữ Hán Sau ba năm vất vả tìm việc, đến 1935 thi đậu vào ngạch thư ký nhà đoan (cơ quan hải quan- tiếng Pháp: customs office) Năm 1939, cưới vợ con quan Song song với đời sống công chức nhà đoan, NguyễnHuy Tưởng có một sinh hoạt nội tâm phong phú, rất giàu cung bậc của người trí thức: chăm đọc sách, chịu khó tìm ý tưởng, hàng ngày viết nhật ký
Từ năm 1938, Nguyễn Huy Tưởng đã hoạt động cho hội Truyền bá quốc ngữ Cuối năm 1944, bắt đầu tham dự các buổi họp bí mật của hội Văn hoá cứu quốc Tháng 4/1944, ông chuyển từ Hải Phòng lên Hà Nội công tác và được gặp các trí thức Hà thành như Nguyễn Xuân Huy, Như Phong, Nguyên Hồng, Nam Cao, Trần Huyền Trân Tháng 6/1945, Nguyễn Huy Tưởng tham gia ban biên tập tạp chí Tiên Phong của Văn hóa cứu quốc Sau đấy hai tháng, Nguyễn Huy Tưởng đi dự Đại hội quốc dân ở Tân Trào, Tuyên Quang Ông còn là đại biểu Văn hóa cứu quốc,giúp biên tập các tờ báo Cờ giải phóng, Tiên Phong Tiếp đó ông giữ chức vụ Tổng thư ký Ban Trung ương Vận động đời sống mới Cách mạng tháng Tám thành công,Nguyễn Huy Tưởng trở thành một trong những người lãnh đạo chủ chốt của Hội văn hóa cứu quốc Ông qua đời ngày 25/7/1960 tại Hà Nội, ở tuổi 48
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Huy Tưởng đã để lại cho đời sau nhiều tác phẩm có giá trị về văn chương và lịch sử như: Tiểu thuyết có Đêm hội Long Trì, (1942), An Tư công chúa (1944), Truyện Anh Lục (1955), Bốn năm sau (1959), Sống mãi với Thủ đô (1960) ; Kịch gồm có: Vũ Như Tô (1943) Cột đồng Mã
Trang 14Viện (1944), Bắc Sơn (1946), Những người ở lại (1948), Anh Sơ đầu quân (tập kịch- 1949), Lũy hoa (1960) ; Truyện ký có: Ký sự Cao Lạng (1951), Chiến sĩ ca nô ; Truyện thiếu nhi: Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Tìm mẹ, Thằng Quấy, Con cóc là cậu ông giời, An Dương Vương xây thành Ốc, Kể chuyện Quang Trung, Cô bé gan dạ và một tập Nhật ký Nguyễn Huy Tưởng, dày 1.700 trang.
2.1.2 Tác phẩm “Sống mãi với thủ đô”
Cuối năm 1946, Thực dân Pháp đi ngược lại với Hiệp ước sơ bộ 6/3 và Tạm ước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kí với Chính phủ thuộc địa Pháp, lính Pháp ngang nhiên khiêu khích ta ở ngay Hà Nội Cả thành phố đều sục sôi căm thù và đang từng ngày chờ đợi quyết định cuối cùng của cụ Hồ Khắp các ngôi nhà, ngõ
phố thủ đô đều như đang “lên dây cót” chuẩn bị kháng chiến Và rồi tiếng súng báo
hiệu cuộc kháng chiến chống Pháp đã nổ vào đêm 19-12-1946 Hà Nội bước vào những ngày tháng quyết liệt để bảo vệ thành quả cách mạng của chính quyền mới.Sống mãi với thủ đô được viết vào năm 1960 Là sáng tác cuối cùng trong sự nghiệp viết văn của Nguyễn Huy Tưởng Sách in năm 1961.Tập một gồm 36
chương, kể về những ngày chuẩn bị kháng chiến chống Pháp và dừng lại sau hai ngày chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội (quận Hoàn Kiếm Hà Nội ngày nay)
Nguyễn Huy Tưởng dự định dựng lại toàn bộ cuộc chiến đấu kéo dài sáu mươi ngày đêm của quân dân Hà Nội trong hai tập nhưng ông đã không kịp hoàn thành
dự định của mình Tuy Sống mãi với Thủ đô mới dừng lại ở tập một nhưng tác
phẩm vẫn bộc lộ một sự hoàn chỉnh nhất định, vẫn có sức cuốn hút của một tiểu thuyết lịch sử thực thụ
2.2 Cách xử lý mối quan hệ giữa chất “sử thi” và chất “tiểu thuyết” trong Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng
Trang 15Truyền thống viết tiểu thuyết lịch sử ở nước ta bắt đầu từ Hoàng Lê Nhất ThốngChí Ngô Thì Chí trình bày cục diện lịch sử dưới dạng chất liệu sống, với những chitiết ngoại sử để cung cấp cho người đọc những thông tin về sinh hoạt triều đình, về
xã hội, về ngôn ngữ Việt Nam thời Lê Mạt Những người đi sau như Phan Trần Chúc, Nguyễn Triệu Luật, Lan Khai thường dựa trên cơ sở Hoàng Lê Nhất ThốngChí để dựng tạo tác phẩm của mình
Nguyễn Huy Tưởng không theo hướng ấy, ông sáng biến một không khí lịch sử riêng, không có tính cách phóng tác theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí như Bà Chúa Chè, Trịnh Khải, Loạn Kiêu Binh của Nguyễn Triệu Luật, cũng không lãng mạn hóa lịch sử như Lan Khai Nguyễn Huy Tưởng dựa vào một dữ kiện lịch sử có thật, đôi khi chỉ được ghi lại vài dòng trong chính sử, rồi ông nghiên cứu về xã hội, phong tục, ngôn ngữ thời đại và hư cấu thêm tình tiết, để tạo nên một bối cảnh khá chính xác, có sức hấp dẫn của tiểu thuyết, với văn phong bi tráng, gọi hồn nước Tiểu thuyết của ông vừa gần với lịch sử, phảng phất dấu ấn sử thi lại đậm đà hơi thở của cuộc sống Điều đó được thể hiện:
2.2.1 Đề tài
Trước hết, Sống mãi với thủ đô có sự dung hợp giữa thể tài sử thi (lịch sử dântộc) và thể tài tiểu thuyết (thế sự, đời tư)
Chủ đề cơ bản của Sống mãi với thủ đô là lịch sử dân tộc Nội dung chủ yếu kể
về những ngày chuẩn bị kháng chiến chống Pháp và dừng lại sau hai ngày chiếnđấu ở Liên khu I Hà Nội (quận Hoàn Kiếm Hà Nội ngày nay) Đề tài chiến tranhchi phối hầu hết tất cả mọi hoạt động của các nhân vật sống ở thủ đô, lứa tuổi, giớitính, thành phần xã hội Tham gia chiến đấu có nhà giáo Trần Văn, người chiến đấuvới sứ mệnh công dân cao cả, có Văn Việt, một quần chúng còn nhiều suy tư, cóthanh niên dũng cảm, ngang tàng Nhật Tân, có cán bộ Quốc Vinh từng hoạt độngtrong thời kỳ bí mật, có hương sư Nguyễn Gia Định, có thanh niên học sinh nhưLoan, Quyên, Oanh, anh em lao động: Tu - anh phu khuân vác, Sờn - anh thợ xẻ,Mộng Xuân- anh kép cải lương, ông hàng phở, anh phu xe, những em nhỏ bán báo,
Trang 16đánh giày: Thắng, Lai Tất cả, “như những con chim sẻ kiếm ăn rải rác, giật mình
vì một tiếng động, ùa bay theo một hướng” Cuộc chiến này tác động đến mọi giai
tầng ở Hà Nội khi đó như thiếu nữ Trinh, kĩ sư điện trẻ tuổi Bao, nhà tư sản CựLâm, như Sinh, như Long đen Một Hà Nội đang dậy sóng, vùng lên
Bên cạnh đề tài lịch sử dân tộc, chiến tranh cách mạng Sống mãi với thủ đô còn
đề cập đến vấn đề thế sự Đó là mâu thuẫn cha con trong gia đình của nhà tư sản CựLâm Vốn là ông chủ của nhà máy sản xuất nông cụ Quảng Xương Long, ông CựLâm ích kỉ, tư lợi không muốn đóng góp cho cách mạng chỉ muốn trục lợi từ việcbán vũ khí cho quân Pháp Con trai ông, cậu Phúc đã chán ngấy cuộc sống của cậu
ấm cô chiêu bị quản lý nghiêm ngặt và không muốn đi theo con đường làm giàu tráiđạo đức mà cha anh từng làm đó là chiếm đoạt tài sản người em họ ở Hồng Kônggửi về giữ hộ khiến ông này uất ức đến tự tử mà chết, anh đau đớn khi cha anh vìlợi ích của bản thân bội tín, lật mặt nghiễm nhiên chiếm lấy đồn điền một ngườibạn ngoại quốc khi ông này nhờ đứng tên mua Anh đã đỗ tú tài, cha muốn cho anhhọc luật để ra làm quan, anh xin đi học thuốc Anh tưởng tượng khi làm thầy thuốcrồi, anh sẽ chữa bệnh không lấy tiền Gia đình bó buộc, anh thường làm những việctrái với ý gia đình Thấy nhà bo bo ích kỉ, Phúc đi hoạt động xã hội Anh đã vàolàm giáo viên hội Truyền bá quốc ngữ, mặc dầu nhà cấm vì sợ mật thám theo dõi.Anh làm huynh trưởng thiếu nhi khu phố, cho cả con nhà nghèo vào buồng mình.Việc làm này đã xúc phạm đến kỉ cương của nhà anh Bà giáo dỗi, nhịn ăn để phảnđối, và doạ bỏ nhà lên ở với Bao Anh phản đối việc cô anh - bà giáo giữ hai người
em gái của anh như cây cảnh, không cho đi học, không cho gặp gỡ tiếp xúc với ai
“Nhà tôi rất giàu, nhưng cũng rất buồn Người nào cũng chỉ nghĩ đến tiền, mặt lúc nào cũng cau cau có có, khổ lắm chứ không sướng đâu Buồn nhất là cậu mợ tôi,
cô tôi không thật, lúc nào cũng mưu cơ, tính toán những việc ăn người Tôi rất thèm một cuộc sống rộng rãi, như các anh.” “Tôi đã sống cách biệt quá với mọi người, bây giờ tôi muốn gần gũi mọi người” Chính vì khao khát cuộc sống mới,
gẫn gũi và làm những việc có ích cho mọi người anh đã chống đối gia đình, dẫn
Trang 17anh em phá công ty Xương Quảng Long Cha anh rất tức giận dọa từ mặt và đòi
giết anh: “Mẹ cha thằng vô phúc Mày đánh bạn với những quân du thủ du thực à? Đứa nào xúi mày? Tao không bố con gì với mày nữa Mày đứng lại không mày chết!”.Thế nhưng anh không hề sợ hãi, bỏ nhà ra ngoài cùng anh em hoạt động sôi
nổi dù điệu kiện thiếu thốn, không quen với cậu công tử nhà giàu anh cũng rất bằnglòng với cuộc sống mới, anh cùng Sinh, Oanh và thanh niên Hà Nội chuẩn bị tácchiến
Bên cạnh mâu thuẫn cha con, gia đình là những xung khắc, ganh ghét có nguy
cơ biến thành xung đột trong cán bộ chỉ huy Văn Việt từng Nam Tiến, là thanhniên tích cực, chỉ huy gan dạ nhưng từ ngày về làm uỷ viên quân sự ở khu ĐôngKinh Nghĩa Thục, Văn Việt có những chuyện buồn bực Điều làm anh cho là khôngvui nhất là cảm thấy mình không được tín nhiệm cho lắm, vì anh là một quầnchúng Mỗi khi buồn bực, anh lại tìm mấy người bạn uống rượu, nói chuyện vănthơ, rồi vùi đầu vào công việc huấn luyện kĩ thuật tác chiến cho bộ đội và anh em
tự vệ Anh có cái ám ảnh là Quốc Vinh không thật tin anh, cho anh là kiêu và nóngnảy Không những không ưa Quốc Vinh, anh còn khinh thường cả anh ta nữa Anhcho Quốc Vinh là người của đoàn thể nên được đề bạt chứ chẳng hơn gì anh QuốcVinh là một tự vệ chiến đấu, thế mà được làm Chủ tịch uỷ ban bảo vệ khu ĐôngKinh Nghĩa Thục kiêm Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ liên khu I Văn Việt còn biếtchắc chắn rằng đoàn thể đã nhằm đưa Quốc Vinh lên làm Phó chủ tịch Uỷ bankháng chiến liên khu, nếu xảy ra tác chiến Văn Việt ức là mình đã từng học ởtrường võ bị Trần Quốc Tuấn, từng đi Nam tiến, đã từng vào sinh ra tử, lại là ngườitrong khu này, biết người biết việc, thế mà vẫn cứ lẹt đẹt với chức đại đội phó Trêndanh nghĩa là uỷ viên quân sự, nhưng quyết định thì vẫn là mấy anh cán bộ chínhtrị trong cái Uỷ ban bảo vệ bên trong kia Về đời tư, Quốc Vinh cũng chẳng hơn ai.Quốc Vinh sắp lấy Phượng, chị gái Nhật Tân từ đầu đến chân chẳng có gì là công
nông cả Văn Việt nghĩ: “Đã thế, ta sẽ cứng như sắt đối với đàn bà Để xem ai mới
là tiểu tư sản” Mặc dù, Quốc Vinh không động chạm gì đến anh, anh cứ thấy Quốc
Trang 18Vinh là lảng tránh và tỏ rõ thái độ khó chịu, hậm hực trước cấp trên của mình:
“Được Các ông bảo làm gì, tôi làm cái ấy Tôi hoàn toàn chịu quyền chí huy của các ông kia mà Cái kiếp một thằng quần chúng vĩnh viễn là như thế thôi Nó có được biết cái gì đâu?” Thậm chí anh còn thẳng tay giáng một cái tát nảy đom đóm
mắt lên mặt Quốc Vinh, may sao cả hai trường hợp đều là hiểu lầm Hồng Lưucũng là người không phục Quốc Vinh, anh hay nói những lời nói đôi chữ có ý móc
máy Quốc Vinh: “ Thì Hà Nội là đất của tiểu tư sản, bấp bênh và quay quắt, cách mạng lên thì nó ào ào đi, cách mạng xuống thì nó quay lưng lại, Pháp cũng theo, Nhật cũng theo, Tàu trắng cũng theo, Việt Minh cũng theo, và nếu Mỹ vào thì cũng
đi với Mỹ Đồng chí Quốc Vinh định dựa vào họ ư? Không chắc đâu Chắc chăng
là đồng chí Quốc Vinh đã tiểu tư sản hoá rồi thì có…”
Đó là câu chuyện tình bạn mâu thuẫn giữa Nhật Tân và Tân Một người hănghái, sôi nổi đi theo cách mạng một người ăn chơi trụy lạc, chưa xác định được lýtưởng, tương lai Nhật Tân thương bạn, muốn tốt cho bạn, hướng bạn vào conđường chung của dân tộc nhưng ngược lại Tân vẫn theo nếp sống tự do, buông thả
của mình: “Tao buồn cho mày Cái Tổ quốc này, cái Thủ đô này, mày bỏ cho nó mất một lần nữa ư? Cũng là cái chết, sao mày không chết trên đài danh dự, có hơn không, Tân? Tất cả Hà Nội đã thề sống chết với Thủ đô, kể cả những người giàu có bằng vạn mày nữa Tất cả mọi người đều đoàn kết lại để chặn tay thằng Pháp Sao mày còn có thì giờ nhảm như một thằng điên! Tân, Tổ quốc kêu gọi mày đấy.” Khi
không thể khuyên nhủ được bạn nữa Nhật Tân chẳng còn cách nào khác phải chấmdứt tình bạn này
Là những cám dỗ về vật chất khiến người ta có thể bị tha hóa ngay trong lúcchiến đấu (rượu ngoại, thuốc lá tây, thậm chí cả gái làm tiền vẫn còn rơi rớt giữa
Hà Nội đổ nát) Trần Văn đã tham gia bữa tiệc quái dị của Tân- một thanh niên lập
dị, anh say sưa với bữa tiệc sơn hào hải vị, với rượu ngoại, thuốc lá suýt nữa anh đã
bỏ qua giây phút quyết định của lịch sử đêm 19 tháng 12 Long đen là một giang hồnức tiếng, cứ tưởng anh ta được giác ngộ nhưng giây phút cuối cùng bị bắt gặp
Trang 19đang lục lọi đồ đạc trong nhà dân Những chuyện đầu cơ tích trữ, lợi dụng chiếntranh để trục lợi như công ty Quảng Xương Long, nhà bánh khảo Ngọc Anh, Bên cạnh đó là đề tài đời tư Rất nhiều câu chuyện tình yêu được đề cập đếntrong tác phẩm Tình yêu giữa Trần Văn và cô thiếu nữ Trinh Trinh là một cô gáinhỏ bé, ngoan ngoãn, nề nếp, đôi măt to đen, tuyệt đẹp Trần Văn từng làm gia sưcho Trinh và tình yêu giữa họ cũng bắt đầu nảy nở từ những buổi dạy kèm MẹTrinh cũng có ý gả Trinh cho Văn dù không hài lòng lắm khi anh chỉ là cậu giáotrường tư Trong một lần dự đám cưới, Trinh đã gặp Bao - một kĩ sư điện ở Phápmới về, có đủ điều kiện giàu sang, phú quý mà cô và mẹ cô mơ ước Vì là ngườiđàn bà tầm thường như mọi người đàn bà tầm thường khác, ham danh ham giá,khoe khoang và ích kỉ Trinh lấy Bao Sau khi đoạn tuyệt với Trần Văn, Trinh cũng
có nhiều lúc bứt rứt Nhưng rồi ngày một ngày hai, trôi theo hạnh phúc của giađình, câu chuyện cũ ấy như một mũi nhọn đã bị mài đi không xoáy vào lòng Trinhnữa Ngược lại Trần Văn lại rất giận Trinh, lắm lúc lại thương hại cho cô Anh tìmcách quên cô, vùi vào công việc nhưng nhiều khi không thể tránh khỏi cuộc chạmmặt thì vết thương cũ vẫn cứ âm ỉ nhưng khi xảy ra tác chiến ở nhà máy đèn, chồngTrinh bị một tên lính Pháp bắn chết, Trần Văn đã ngẫu nhiên cứu được mẹ conTrinh ra khỏi hầm trú ẩn Rồi sau một trận đánh, Trần Văn lại tình cờ gặp Trinhđang bế đứa con nhỏ trên tay, mệt mỏi, tuyệt vọng trong đám người hỗn độn chưa
kịp tản cư Lúc này, trước mặt anh “Trinh chỉ là một người cơ nhỡ, một nạn nhân của chiến tranh Nhìn Trinh nhỏ bé trong bóng tối, lảo đảo vì mệt mỏi, khuỵu luôn, trật giày luôn, anh thấy ngậm ngùi thương xót Anh nghĩ phụ nữ và trẻ con là những người phải chịu cái gánh nặng của chiến tranh nặng nề hơn cả, vì là những người yếu đuối nhất đời, mỏng manh như cái bóng nước chỉ một giọt mưa nhẹ cũng đủ làm cho tan đi như đã không có Trong lúc này, giúp họ cũng lớn như đánh giặc” Một hành động vừa công vừa tư, vừa sử thi nhưng cũng vừa tiểu thuyết Và cách giải quyết bi kịch cũng phù hợp với quan điểm cộng đồng.” Trong tác phẩm
không thiếu những đoạn tác giả đi sâu vào những mối tình, những câu chuyện tình
Trang 20yêu của những nam thanh nữ tú Hà thành: Quốc Vinh và Phượng, Nhật Tân vớiHiền, Phúc với Oanh Tất cả họ đều ao ước một cuộc sống hạnh phúc, một tình yêutrọn vẹn nhưng khi tổ quốc lâm nguy họ biết hy sinh tình yêu cá nhân cho tình yêuchung, cho hạnh phúc lớn hơn Tình yêu của họ chính là sức mạnh để họ chiến đấu,cống hiến cho đất nước.
Mặc dù trong tác phẩm có đề cập đến chuyện thế sự, đời tư nhưng nổi bật hơnhết vẫn là chủ đề cứu quốc, chuẩn bị kháng chiến, là tinh thần hăng hái, sẵn sàng hysinh để giữ nền độc lập của thủ đô
2.2.2 Đối tượng phản ánh
Là những sự kiện đã kết thúc hoàn tất trong quá khứ của dân tộc: tản cư, thảmsát ngõ Yên Ninh, nhà máy Yên Phụ, trận tác chiến ở phủ Bắc Bộ, tòa Thị Chính,nhà máy đèn, trận Xô-va, nhưng đã được tác giả dựng lại một cách hoành tráng,đậm nét như một cuốn phim lịch sử quay chậm Tất cả như sống dậy một thời kìkhốc liệt mà huy hoàng, hào hùng mà bi thương.Tranh tối tranh sáng lẫn lộn
Những con người ấy như bước ra hòa nhập vào trong chúng ta Trong tác phẩm
có nhiều nhân vật làm ta ngưỡng mộ, tôn kính như Trần Văn, Quốc Vinh, Phúc,Nhật Tân, Oanh, Loan, Quyên Về cơ bản họ là những con người sử thi anh hùngchiến đấu vì cộng đồng, ít nhiều trong họ vẫn mang tính cách con người đời thườngcủa tiểu thuyết Mức độ đậm nhạt của chất tiểu thuyết tuỳ vào địa vị xã hội (chức
vụ cao hay thấp) và vai trò của nhân vật trong tác phẩm (nhân vật chính hay phụ,chính diện hay phản diện).Trần Văn một trí thức yêu nước, hiểu biết sâu sắc truyềnthống lịch sử của dân tộc, khinh bỉ giàu sang, tự nguyện ở lại Hà Nội tham gia
chiến đấu nhưng “tự đáy lòng, anh ghét chiến tranh, ghét cả cái tên của nó”.
Nhưng rồi anh cũng tham gia một cách hăng hái Vì tính tò mò suýt nữa anh đánhmất mình nhưng anh đã sám hối và trở thành những anh hùng chiến đấu năng nổ.Quốc Vinh là phó chủ tịch Uỷ ban liên khu I, từ một anh thợ sắp chữ với ngỗn