1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu thuyết số đỏ (vũ trọng phụng) dưới góc nhìn thể loại

64 439 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chọn đề tài khóa luận nhằm tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Số đỏ Vũ Trọng Phụng từ góc nhìn thể loại nhằm hiểu một cách thấu đáo hơn phương thức xây dựng tác phẩm, những đặc sắc tr

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Lí luận văn học

Người hướng dẫn khoa học

TS MAI THỊ HỒNG TUYẾT.

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước hết tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Mai Thị Hồng Tuyết Cô

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu cũngnhư luôn động viên khuyến khích tôi thực hiện đề tài này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong tổ Lí luận văn học, khoa ngữvăn, trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện

và hoàn thành khóa luận này

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Trần Thị Hồng Phượng

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kết quả nghiên cứu này là của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Mai Thị

Hồng Tuyết Khóa luận không trùng với kết quả nghiên cứu của những tác giả

khác Tôi xin cam đoan rằng:

- Khóa luận là kết quả nghiên cứu, tìm tòi của riêng tôi

- Mọi tư liệu trích dẫn trong khóa luận là hoàn toàn trung thực

Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu mọi trách nhiệm

Hà Nội, ngày 02 tháng 05 năm 2018

Tác giả khóa luận

Trần Thị Hồng Phượng

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận 5

5.1 Mục đích nghiên cứu 5

5.2 Nhiệm vụ của khóa luận 5

6 Bố cục của khoá luận 5

NỘI DUNG 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI TIỂU THUYẾT 6 1.1 Lịch sử phát triển của tiểu thuyết 6

1.2 Đặc trưng của tiểu thuyết 7

1.2.1 Tiểu thuyết nhìn cuộc sống đang diễn ra và ở góc độ đời tư 7

1.2.2 Cuộc sống không thi vị hóa, lý tưởng hóa 8

1.2.3 Con người nếm trải trong tiểu thuyết 9

1.2.4 Khai thác yếu tố thừa như là một thành phần chính trong tiểu thuyết 9

1.2.5 Xóa bỏ khoảng cách người trần thuật và nội dung trần thuật 11

1.2.6 Khả năng tổng hợp 12

1.2.7 Một số đặc điểm khác của tiểu thuyết 14

1.2.7.1 Dung lượng 14

1.2.7.2 Kết cấu 15

1.2.7.3 Không gian và thời gian 16

1.2.7.4 Nhân vật trong tiểu thuyết 18

Chương 2 SỐ ĐỎ - TIỂU THUYẾT TRÀO PHÚNG XUẤT SẮC 20

Trang 6

2.1 Khái niệm trào phúng 20

2.2 Cuộc sống đời tư mang màu sắc biếm họa trong Số đỏ 20

2.2.1 Cuộc sống đời tư đang diễn ra trong Số đỏ 20

2.2.2 Cuộc sống trong tác phẩm như một tấn hề kịch 24

2.3 Nhân vật của Số đỏ là nhân vật trải nghiệm mang màu sắc biếm họa 31

2.3.1 Nhân vật của Số đỏ là nhân vật trải nghiệm 31

2.3.2 Nhân vật của Số đỏ mang đặc điểm của nhân vật biếm họa 34

2.3.2.1 Nhân vật có sự mâu thuẫn giữa bên ngoài và bên trong, giữa hành động và cảnh huống 35

2.3.2.2 Nhân vật có những nét tính cách tầm thường 37

2.3.2.3 Nhân vật là đối tượng của sự chê cười 40

2.4 Xóa bỏ khoảng cách sử thi trong trần thuật 44

2.5 Ngôn ngữ trào phúng trong Số đỏ 48

2.5.1 Ngôn ngữ trần thuật hài hước 48

2.5.2 Ngôn ngữ đối thoại sinh động 51

2.5.2.1 Nhân vật lặp lại những từ ngữ và mệnh đề quen thuộc 51

2.5.2.2 Nhân vật nhại lại ngôn ngữ của nhân vật khác 52

2.5.2.3 Nhân vật đối thoại kịch tính 53

KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO

.

Trang 7

từ giai đoạn này đến giai đoạn khác Các thể loại văn học thịnh hành ngày nay:truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết, kí, kịch đều đã xuất hiện từ xưa ở phương Tây,đặc biệt biến động lớn vào thời kì Phục Hưng, nhưng phải đến thời kì cận đại, nhất

là vào thế kỉ XVIII – XIX mới có hình thức hoàn chỉnh trong sáng tác của các bậcthầy như: H Fielding, Sterne, M Twen, J Austen, W Thackeray, A Pushkin, N.Gogol, L Tolstoi… Ở Việt Nam, thể loại văn học phát triển muộn Do ảnh hưởngcủa văn hóa Hán và trong điều kiện chế độ phong kiến trung đại kéo dài, các thể

loại trữ tình như: thơ, phú, các thể loại truyện truyền kì như Việt điện u linh, Lĩnh

Nam chích quái, Hoàng Lê nhất thống chí… đều viết bằng tiếng Hán Văn học tiếng

Việt phát triển loại thơ Nôm, ngâm khúc và truyện thơ Nôm như Quốc âm thi tập,

Truyện Kiều, Chinh Phụ ngâm Các thể loại văn học hiện đại phải bắt đầu từ những

năm 20 của thế kỉ XX mới xuất hiện đầy đủ Các sáng tác truyện dài đã thấy ở HồBiểu Chánh những năm 20, nhưng phải sang những năm 60, 70 của thế kỉ XX mới

xuất hiện những tác phẩm quy mô như Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Cửa biển của Nguyên Hồng, Vùng trời của Hữu Mai.

Trang 8

1.2 Theo M Bakhtin, trong hệ thống thể loại, tiểu thuyết là thể loại duy nhấtcòn đang vận động, do đó nó có diện mạo vô cùng phong phú Ngay từ thế kỉ XIXtiểu thuyết đã được coi là hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ Từ đó cho đếnnay, trải qua hơn một thế kỉ văn học, thể loại này vẫn giữ một vị trí then chốt trongđời sống văn học toàn nhân loại nói chung và văn học Việt Nam nói riêng Là mộthình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có khả năng phản ánh hiện thực một cách baoquát và sinh động theo hướng tiếp cận cả bề rộng lẫn chiều sâu của nó.

1.3 Số đỏ của Vũ Trọng Phụng là một trong những tiểu thuyết tiêu biểu của thể loại tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Số đỏ được coi là “cuốn sách ghê gớm có thể

làm vinh dự cho mọi nền văn học ” (Nguyễn Khải – Tham luận tại Đại hội III, Hội

nhà văn Việt Nam, tháng 9 năm 1983), đồng thời nó cũng nó kết tinh tư tưởng và tàinăng trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng Việc chọn đề tài khóa luận nhằm

tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Số đỏ (Vũ Trọng Phụng) từ góc nhìn thể loại nhằm

hiểu một cách thấu đáo hơn phương thức xây dựng tác phẩm, những đặc sắc trongviệc miêu tả, nội dung hiện thực được phản ánh và những nét riêng biệt của nhà văn

so với các tiểu thuyết gia cùng thời Từ đó nhằm khẳng định những đóng góp củaông cho sự phát triển thể loại

hóa… Trong đó, Số đỏ được coi là tác phẩm tiểu biểu, thể hiện thành công nhất bút

pháp trào phúng của Vũ Trọng Phụng Nghiên cứu về Vũ Trọng Phụng đã có rấtnhiều, nhưng mỗi công trình lại có hướng nghiên cứu, tiếp cận khác nhau

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã tiếp cận được một số bài viết và

công trình nghiên cứu về Số đỏ và Vũ Trọng Phụng đáng lưu ý như:

Trang 9

Về cuộc đời sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng có: Vũ Trọng Phụng về tác gia

và tác phẩm (2000) biên tập các bài viết của nhiều tác giả Chuyên luận Vũ Trọng Phụng nhà văn hiện thực (1957) của Văn Tâm Vũ Trọng Phụng (1912-1930)

(1988) của Nguyễn Hoành Khung Vũ Trọng Phụng tài năng và sự thật (1997) của Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn Vũ Trọng Phụng bàn về phóng sự và tiểu

thuyết tả chân (2002) của Nguyễn Ngọc Thiện.

Kể từ khi ra đời cho đến nay tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã có nhiều

những công trình nghiên cứu theo các hướng nghiên cứu khác nhau đồng thời cũngnhận được nhiều những ý kiến nhận xét trái ngược nhau theo từng giai đoạn

Năm 1943, trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng là một cuốn tiểu thuyết hoạt kê nhưng là một hoạt kê không lấy gì làm

cao cho lắm”, “cái lối khôi hài của ông trong Số đỏ là một lối khôi hài nông nổi,

tuy nhạo đời nhưng không căn cứ” [9,174] Với nhận định này, tác giả chưa đánh

giá đúng được giá trị nghệ thuật cũng như giá trị tư tưởng của cuốn tiểu thuyết Đến

năm 1989 với bài Đánh giá lại Số đỏ, Phan Cự Đệ đã trả lại cho Số đỏ giá trị đích thực của nó và khẳng định vị trí của nó trong sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng: “Với

Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã cắm một cái mốc quan trọng trong nghệ thuật điển hình

hóa hiện thực, trong nghệ thuật trào phúng của văn xuôi Việt Nam” Trong bài Những bài giảng chọn lọc theo chương trình lớp 12 (1991) tác giả Nguyễn Đăng

Mạnh đã đánh giá cao nghệ thuật trào phúng trong tiểu thuyết Số Đỏ của Vũ Trọng

Phụng “Số đỏ là cuốn trào phúng được viết theo khuynh hướng hiện thực chủ

nghĩa Về mặt là cuốn tiểu thuyết trào phúng thành công của nó là đã gây được một tiếng cười, đúng hơn, một chuỗi cười giòn giã từ đầu đến cuối thông qua một loạt tình tiết, tình huống hài hước và một loạt chân dung kí họa, biếm họa hết sức độc đáo và sinh động” [6,89] Cuốn Số đỏ - tác phẩm và dư luận (2002) của Tôn Thảo

Miên tổng hợp và chọn lọc những ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu xoay

quanh tiểu thuyết Số đỏ.

Nghiên cứu về nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của tiểu thuyết

có các công trình nghiên cứu: Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ của Vũ Trọng

Trang 10

Phụng (1990) của Đỗ Đức Hiểu Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ

(1990) của Hoàng Ngọc Hiến Số đỏ và sự phá sản của ngôn ngữ (1994) của Võ Thị Quỳnh Bên cạnh đó còn có Số đỏ (2000) của Trần Đăng Suyền, “Số đỏ của Vũ

Trọng Phụng và chủ nghĩa hiện đại Việt Nam” (2002) của Peter Zinoman Các công

trình nghiên cứu trên đã phần nào nêu bật được nội dung tư tưởng cũng như phong

cách nghệ thuật của cuốn tiểu thuyết bậc thầy này Cuốn nhà văn Vũ Trọng Phụng

với chúng ta (Nxb Tp Hồ Chí Minh, 1999) do Trần Hữu Tá sưu tầm – biên soạn –

giới thiệu ra mắt nhân dịp 60 năm ngày Vũ Trọng Phụng qua đời là một công trìnhnghiên cứu nghiên cứu nghiêm túc, công phu nhằm “xem xét sơ lược vấn đề VũTrọng Phụng trong non 70 năm qua” với hướng thể hiện “sự trân trọng đúng mứccủa chúng ta hôm nay đối với thành quả sáng tạo của ông cho nền văn học Việt

Nam hiện đại Nghiên cứu về nhân vật Xuân Tóc Đỏ có bài nghiên cứu: Nhân vật

Xuân Tóc Đỏ trong “Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng (1998) của Hà Minh Đức.

Qua khảo sát, chúng tôi cũng nhận thấy vấn đề “Tiểu thuyết Số đỏ (Vũ Trọng

Phụng) dưới góc nhìn thể loại” chưa được nghiên cứu Do đó, trong công trình này,

chúng tôi cũng đặt ra và giải quyết vấn đề trên cơ sở hệ thống tư liệu phong phúhiện có

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng dưới góc nhìn thể loại.

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Do điều kiện tìm tư liệu và khuôn khổ của một số khóa luận, chúng tôi chỉ đi

vào những đặc điểm chính của tiểu thuyết Số đỏ của nhà văn Vũ Trọng Phụng về

vấn đề thể loại

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện bài khóa luận này, chúng tôi thực hiện một sốphương pháp cụ thể như sau:

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp so sánh

Trang 11

- Phương pháp cấu trúc

5 Mục đích và nhiệm vụ của khóa luận

5.1 Mục đích nghiên cứu

Khóa luận đi sâu tìm hiểu, phân tích tiểu thuyết Số đỏ để làm nổi bật lên

những đặc trưng tiêu biểu về phương diện thể loại của tiểu thuyết và những đặc sắc

về nội dung và nghệ thuật của thiên tiểu thuyết trào phúng Từ đó khẳng định tàinăng trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng

5.2 Nhiệm vụ của khóa luận

Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước Chúngtôi xác định nhiệm vụ cụ thể của khóa luận như sau:

- Tìm hiểu một số vấn đề chung về lí thuyết thể loại tiểu thuyết

- Tìm hiểu những đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật để khẳng định Số đỏ là

thiên tiểu thuyết trào phúng xuất sắc có thể làm vinh dự cho bất kì một nền văn họcnào

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần: mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, khóa luận gồm 2 chươngnhư sau:

Chương 1: Khái quát chung về thể loại tiểu thuyết

Chương 2: Số đỏ - tiểu thuyết trào phúng xuất sắc

Trang 12

NỘI DUNG Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỂ LOẠI

TIỂU THUYẾT

1.1 Lịch sử phát triển của tiểu thuyết

Là một hình thức tự sự cỡ lớn, tiểu thuyết có khả năng riêng trong việc táihiện với một quy mô lớn những bức tranh hiện thực đời sống, trong đó chứa nhiềuvấn đề sâu sắc của đời sống xã hội, của số phận con người, của lịch sử, của đạo đức,của phong tục… Lịch sử phát triển của tiểu thuyết đã để lại trong kho tàng văn họcthế giới những thành tựu rực rỡ về mặt thể loại Từ những pho tiểu thuyết chươnghồi Trung Quốc đến những tác phẩm đồ sộ của tiểu thuyết hiện thực phê phánphương Tây Từ những dòng chảy mạnh mẽ của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủnghĩa đến những nguồn mạch dồi dào của tiểu thuyết Mĩ – Latinh và của tất cả cáclục địa khác nhau trên khắp hành tinh… đã góp phần tạo nên diện mạo đặc biệtphong phú cho thể loại tiểu thuyết từ khi hình thành cho đến nay

Thời kỳ Phục hưng, tiểu thuyết không chỉ dừng lại ở sự mô tả những chi tiếtđời tư của con người riêng lẻ mà còn mở rộng phạm vi mô tả tới bức tranh xã hộilớn với ý thức phê phán rõ rệt Trong đó có những tác phẩm có giá trị hiện thực lớnlao vì đã xây dựng được những tính cách và hoàn cảnh mang ý nghĩa điển hình.Bằng tài năng nghệ thuật của mình, các nghệ sĩ bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực đãtạo nên những mẫu mực hoàn thiện của thể loại này Bên cạnh những tác phẩm có

quy mô đồ sộ như: Tấn trò đời, Chiến tranh và hòa bình, Một cuộc đời… Tất cả đều

góp phần tạo dựng nên sự đa dạng cho tiểu thuyết giai đoạn này Nếu như trước kia,tiểu thuyết còn chứa đựng quá nhiều những yếu tố li kì, phiêu lưu mạo hiểm thìbước tiến mới của tiểu thuyết giai đoạn này là nội dung phê phán quyết liệt bản chất

vô nhân đạo và những bất công ngang trái của xã hội đương thời, là khả năng phântích sâu sắc những mối quan hệ xã hội phức tạp và bút pháp tâm lí sâu sắc trongphương pháp khắc họa tính cách

Trang 13

Ở Việt Nam, tiểu thuyết xuất hiện muộn hơn, phải chờ đến những năm 30của thế kỉ XX, văn học Việt Nam mới xuất hiện những tác phẩm tiểu thuyết với đầy

đủ ý nghĩa thể loại của nó Cùng với phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại

1930-1945 đánh dấu thời kì rực rỡ huy hoàng của nền văn học dân tộc Bên cạnh tên tuổicủa các cây bút văn xuôi Tự lực văn đoàn: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam…những người đã góp phần quan trọng vào sự hình thành của thể loại - nổi bật lêncông lao to lớn của các nhà văn hiện thực phê phán: Ngô Tất Tố, Nguyễn CôngHoan, Nam Cao… đã tạo nên những thành tựu xuất sắc cho tiểu thuyết hiện đại ViệtNam 1930 - 1945

1.2 Đặc trưng của tiểu thuyết

1.2.1 Tiểu thuyết nhìn cuộc sống đang diễn ra và ở góc độ đời tư

Qua sự khảo xát về quá trình hình thành và phát triển của tiểu tuyết ở trên sẽgiúp chúng ta xác định được những phẩm chất đặc trưng cho thể loại Trong mốitương quan với các thể loại khác, tiểu thuyết nổi bật lên ở khả năng phản ánh mộtcách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống đang diễn ra và ở góc độ đời tư Nếuđối tượng của sử thi là những nhân vật của quá khứ, thì đối tượng của tiểu thuyết làcon người của hiện tại Đời tư là tiêu điểm để miêu tả cuộc sống một cách kháchquan tiểu thuyết, đặc biệt tùy theo từng thời kì phát triển cái nhìn đời tư có thể sâusắc đến mức thể hiện được, kết hợp được với các chủ đề thế sự hoặc lịch sử dân tộc,yếu tố đời tư càng phát triển, chất tiểu thuyết càng tăng, yếu tố lịch sử càng pháttriển chất sử thi càng đậm đà Sự xóa bỏ khoảng cách trong cảm nhận và miêu tảcon người hiện tại cho phép nhà văn dùng kinh nghiệm cá nhân của mình để lí giảinhân vật, nhìn ngắm nhân vật một cách suồng sã Riêng tiểu thuyết sử thi theo nhànghiên cứu Siserin là loại tiểu thuyết mà từ trong tới ngoài vượt ra khỏi cái khungcủa nó, trong đó đời tư con người thấm nhuần lịch sử, con người được thể hiện nhưmột phần tử sống động của nhân dân mình Tiểu thuyết sử thi kịp thời nắm bắtnhững sự đổi thay của một thời kì lịch sử, sự nối tiếp của các thể hệ, nó hướng tớicác số phận của tương lai, của nhân dân hay giai cấp Giữa tiểu thuyết và sử thi cổđiển có sự khác biệt Theo nhà nghiên cứu Xô Viết Bakhtin thì sự khác biệt đó được

Trang 14

thể hiện ở việc nếu sử thi thể hiện quá khứ anh hùng của dân tộc và dựa trên cơ sởtruyền thống thì tiểu thuyết miêu tả cuộc sống không ngừng biến đổi Nhưng vớitiểu thuyết cận đại, hiện đại, mà đối tượng là hiện thực đương thời dấu hiệu khu biệtchất tiểu thuyết và chất sử thi lại là yếu tố nội dung lịch sử dân tộc hiện đại Điều đócho thấy quan niệm chung của các nhà tiểu thuyết phương Tây thế kỉ VIII – XIXcho rằng: nhân vật tiểu thuyết không nên là “anh hùng” trong cái nghĩa sử thi và bikịch của từ đó mà nên thống nhất trong bản thân các nét vừa phản diện, vừa chínhdiện, vừa tầm thường vừa cao cả vừa buồn cười, vừa nghiêm túc Có thể nói quanniệm trên là đúng nhưng không tránh khỏi tuyệt đối hóa.

1.2.2 Cuộc sống không thi vị hóa, lý tưởng hóa

Đặc điểm thứ hai mà ta cần bàn đến để thấy tiểu thuyết có cái rất riêng khônggiống với truyện thơ, trường ca, thơ trường thiên và sử thi là chất văn xuôi, tức làmột sự tái hiện cuộc sống với những chi tiết giống như thật, không thi vị hóa, lãngmạn hóa, lý tưởng hóa Tiểu thuyết miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thờiđang sinh thành Theo W Booth, ở tiểu thuyết, điều quan trọng không chỉ là kể mà

là làm cho sự sống hiển hiện để người đọc tự cảm thấy Nó không thiên về chất thơ,cái thi vị, mà hấp thu vào bản thân mình mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộcđời, bao gồm cái cao cả lẫn cái tầm thường, cái nghiêm túc và cái buồn cười, bi vàhài, cái lớn lẫn cái nhỏ Các thể loại nói trên, nói chung, không thể dung nạp chấtvăn xuôi, chất u mua, cái hài như một đặc trưng của nội dung thể loại, mặc dù trênquỹ đạo của văn học hiện đại, các thể loại ấy có thể bị “tiểu thuyết hóa” và dung

nạp ít nhiều chất văn xuôi So với tiểu thuyết của Thanh Tâm tài nhân, Truyện Kiều

của Nguyễn Du ít chất tiểu thuyết hơn, mặc dù nhà thơ đã gạt bỏ nhiều chất vănxuôi tự nhiên chủ nghĩa của nguyên tác để tái tạo lại nàng Kiều trong chất văn xuôitrong sáng hơn Chất u mua làm cho tiểu thuyết mất đi tính chất hoàn toàn nghiêmtrang Nói chung, ít có tiểu thuyết nào tuyệt đối nghiêm trang Tính u mua thỏa mãnnhu cầu trò chơi, giải trí của đông đảo người đọc Chất “văn xuôi” như vậy thể hiệnrất đậm trong tiểu thuyết của Cervantes, Balzac, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,Nam Cao, Vũ Trọng Phụng… Chính chất văn xuôi đã mở ra một “vùng tiếp xúc tối

Trang 15

đa” với thời hiện đại đang sinh thành làm cho tiểu thuyết không bị giới hạn nào trong nội dung phản ánh.

1.2.3 Con người nếm trải trong tiểu thuyết

Một nét đặc điểm khác của tiểu thuyết: Nhân vật tiểu thuyết là con ngườinếm trải Cái làm cho nhân vật tiểu thuyết khác với nhân vật sử thi, nhân vật kịch,nhân vật truyện trung cổ là do nhân vật trong tiểu thuyết là con người nếm trải.Trong khi các nhân vật trong những thể loại nêu trên thường là nhân vật hành động,nhân vật nêu gương đạo đức Sự hứng thú ở nhân vật kịch và nhân vật truyện cổ là

ở chi tiết nhân vật làm gì, nói gì, nghĩ gì Nhân vật tiểu thuyết cũng hành độngnhưng cái khác biệt ở chỗ trong nền văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa nhân vậttiểu thuyết còn tham gia cải tạo lại môi trường, nhưng với tư cách đặc trưng của thểloại nhân vật ấy xuất hiện như một con người nếm trải tư duy, chịu khổ đau dằn vặtcủa cuộc đời Tiểu thuyết miêu tả con người trong hoàn cảnh không tách nó khỏihoàn cảnh một cách nhân tạo, không cô lập cũng như không cường điệu sức mạnhcủa nhân vật Tiểu thuyết miêu tả nhân vật như một con người đang trưởng thành,biến đổi và do đời dạy bảo Trong quá trình hành động nhân vật tiểu thuyết “lãnhđủ” tất cả mọi tác động của cuộc đời M Bakhtin nhận xét, con người trong tiểuthuyết khác với sử thi là thường không đồng nhất với chính nó Một người có địa vịcao nhưng hành vi lại rất thấp, trái lại, một người dưới đáy xã hội lại có hành vi rấtcao thượng Trong kịch cũng có những “nhân vật nếm trải” nhưng nói chung kịchkhông tái hiện trọn vẹn quá trình nếm trải nhiều mặt của con người Chính vì vậy,miêu tả thế giới bên trong, phân tích tâm lí là phương diện đặc trưng cho tiểuthuyết, mặc dù nói chung, loại văn học nào cũng không thể bỏ qua được khía cạnhtâm lí

1.2.4 Khai thác yếu tố thừa như là một thành phần chính trong tiểu thuyết

Một nét đặc điểm khác mà ta nhận thấy ở tiểu thuyết làm cho tiểu thuyếtkhác với truyện ngắn trung cổ, truyện vừa hay truyện ngắn đoản thiên là ở chỗ trongcác truyện ngắn ấy, ta thấy rõ ràng cốt truyện đóng vai trò chủ yếu với nhân vật.Mọi yếu tố của tác phẩm đều được tổ chức sát với sự vận động của cốt truyện và

Trang 16

tính cách nhân vật, hầu như không có yếu tố “thừa”, tất cả nằm trọn trong các liên

hệ nhân quả Lời nói nhân vật cũng chỉ là một khâu thúc đẩy cốt truyện phát triển,hoặc mở nút Tiểu thuyết thì không thế Nó chứa bao nhiêu cái “thừa” so với truyệnvừa và truyện ngắn trung đại, mà nó lại là cái chính yếu của nhân vật về thế giới, vềđời người, sự phân tích cặn kẽ các diễn biến tình cảm, sự trình bày tường tận cáctiểu sử của nhân vật, mọi chi tiết về quan hệ giữa người và người, về đồ vật và vềmôi trường, và nói chung về toàn bộ tồn tại của con người… Khi đã xét từ phương

diện này thì ta nhận thấy tác phẩm Bước đường cùng hay Tắt đèn… tuy gọi là tiểu thuyết nhưng thực chất gần với truyện vừa Những tiểu thuyết Đất nước đứng lên,

Con trâu, Xung đột… cùng đều là truyện vừa Hay khi xét các tác phẩm có dung

lượng lớn như: Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Tây du kí lại thực chất là sự sâu

chuỗi của những truyện kể mà chất anh hùng sử thi đậm đà hơn chất tiểu thuyết

Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng không vượt xa tính chất của “truyện vừa” nhiều

nó phơi bày toàn bộ sự đầy đặn của tồn tại như một trạng thái và quá trình Riêng

tác phẩm Vỡ bờ, theo quan điểm truyện vừa thì những chi tiết như sau sẽ xem là

thừa Chẳng hạn, cảnh những người phụ nữ yếu đuối, mảnh khảnh cầm càng xe bagác chở gỗ nặng nề, xiên xẹo lao ầm ầm xuống dốc cầu Long Biên Chỉ cần mộtchút sẩy chân là con người tan xác dưới bánh xe, nhưng người ta vẫn sống, dũngcảm và sáng tạo; hay cảnh một em bé chừng lên bốn lên năm tuổi bị bệnh bại liệtteo cả đôi chân, nhưng để được chơi nó đã phải trèo qua bậc cửa cao hơn nó để rangoài sân Nó lấy hết sức đu người lên cái bậc của ghê gớm ấy, úp bụng xuống nghỉlấy hơn, rồi lại quay người, lấy tay cầm đôi chân teo lủng lẳng vắt qua bên kia bậc

Trang 17

cửa, xong lại thả mình ra ngoài… Ta có thể nhận thấy rằng những chi tiết tương tựnhư những chi tiết vừa nêu sẽ không tìm thấy được ở thể loại truyện vừa, trongTruyện Kiều hay những tác phẩm tiểu thuyết có dung lượng lớn thời nhà Minh tathấy ở chúng có những điểm khác biệt rất rõ vì các tình tiết không gắn liền với cốttruyện mà gắn với những suy tư triết lí về cuộc đời.

1.2.5 Xóa bỏ khoảng cách người trần thuật và nội dung trần thuật

Một đặc điểm nữa của tiểu thuyết là xóa bỏ khoảng cách giữa người trầnthuật và nội dung trần thật như một khoảng cách về giá trị dẫn đến lí tưởng hóa củaanh hùng ca tiểu thuyết hướng về miêu tả hiện thực như cái hiện tại đương thời củangười trần thực, là một hiện tại cùng thời Tiểu thuyết cho phép người trần thuậttiếp xúc nhìn nhận các nhân vật một cách gần gũi như những người bình thường Vàchính cái khoảng cách gần gũi này làm cho tiểu thuyết thành một thể loại dân chủ,

nó cho phép người trần thuật có thái độ thân mật khi nhân vật đáng thương hoặcsuồng sã với nhân vật mình khi nhân vật mình đáng trách Điều đó làm cho ngườitrần thuật nhìn hiện tượng từ nhiều chiều, nhiều phương diện và sử dụng đa dạngnhiều giọng khác nhau Ngoài ra ta nhận thấy cuộc sống trong tiểu thuyết là một cái

gì đó còn dang dở chưa xong xuôi Ngay từ lời trần thuật cũng là sự nửa vời chưa

xong xuôi Tiêu biểu như trong tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn Nam Cao ta thấy

lời văn Nam Cao xây dựng tạo nguyên tắt chồng chất, lặp lại có biến đổi những chitiết cùng loại hay các nhóm từ đồng nghĩa, điều đó chẳng phải nhà văn không có đủnăng lực miêu tả đối tượng qua một định ngữ hay một tính từ duy nhất phù hợp.Thật ra điều đó có tác dụng tái hiện dòng ý nghĩ vừa mở ra, đó là quá trình và đaykhông hẳn là cách duy nhất của văn tiểu thuyết, mà còn có nhiều lối văn diễn tả quátrình Dĩ nhiên, đó không phải là cách duy nhất của văn tiểu thuyết Có nhiều lốivăn tả quá trình, chẳng hạn loại văn miêu tả pha phân tích của L.Tolstoi, văn dùngnhiều “bỗng nhiên…nhưng” của Dostoievski, văn dùng nhiều câu đối lập với chữ

“nhưng” của Chekhov… Kết cấu của tiểu thuyết cũng thường là kết cấu ngỏ Chúng

ta cùng nhìn lại quá trình phát triển của tiểu thuyết văn học ở giai đoạn trước đểthấy tiểu thuyết ngày càng một hoàn thiện Tiêu biểu là tiểu thuyết giai đoạn 1930 -

Trang 18

1945 đã hướng tới những nhân vật của đời sống thường ngày Nhà văn không nhìnnhân vật với thái độ chiêm ngưỡng, sung mộ hoặc khinh khi, xa lạ mà miêu tả nhânvật như tự nó vốn thế, vừa khách quan vừa thân mật gần gũi Nhân vật trong tiểuthuyết Tự lực văn đoàn có độ nhòe giữa nhân vật phản diện - chính diện, tốt - xấu,thiện - ác Nhà văn có ý thức đi sâu vào phân tích tâm lý và thế giới bên trong của

nhân vật Trong tiểu thuyết Bướm trắng - Nhất Linh không định sẵn cho nhân vật

một tính cách rồi nhào nặn, đẽo gọt để hình thành tính cách ấy mà để nhân vật tựbộc lộ tự xây dựng và điều chỉnh trong quá trình sáng tạo của nhà văn Ở đây, nhânvật không đồng nhất và trùng khít với chính nó Các tiểu thuyết của Tự lực vănđoàn đã thành công trong nghệ thuật khám phá những cung bậc khác nhau của conngười cá nhân, với kiểu nhân vật thức tỉnh Nhưng do áp lực luận đề, nhân vật củatiểu thuyết lãng mạn chưa được cá thể hóa một cách sinh động và đầy đặn như nhânvật của các nhà tiểu thuyết hiện thực Chỉ đến các nhà văn hiện thực, tiêu biểu làNam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng mới sáng tạo nên những nhân vậtvăn học bất tử với thời gian và công chúng Trong tiểu thuyết của Nam Cao,Nguyễn Công Hoan, loại hình nhân vật truyền thống như Nghị Quế, chị Dậu, anh

Pha bị phá vỡ Trong tiểu thuyết Sống mòn, Nhân vật Thứ có một tinh thần phong

phú phức tạp Nam Cao coi trọng các diễn biến tâm lí nhân vật hơn là diện mạo vàhành động bên ngoài không can thiệp vào sự vận động nội tại của nhân vật Nhânvật của tiểu thuyết Nam Cao là nhân vật tự ý thức tự nhận thức về cái tôi cá nhân

Trong tiểu thuyết Số đỏ, Vũ Trọng Phụng lại chú ý tới sự tha hóa nhân tính của con

người với nhân vật điển hình Xuân Tóc Đỏ Nhà văn đã khắc họa thành công kiểunhân vật vô nghĩa lí, mang đậm tính hài Với kiểu nhân vật này Vũ Trọng Phụngkhông thiên về khám phá lịch sử tâm hồn mà chủ yếu khai thác lịch sử hành độngứng xử của con người trước đời sống, vận hành theo đó

1.2.6 Khả năng tổng hợp

Qua các đặc điểm đã nêu ta có thể nhận thấy rằng tiểu thuyết là thể loại vănhọc có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năng nghệ thuật của các loại văn họckhác: thơ, kịch, kí và khả năng tổng hợp thủ pháp nghệ thuật của các loại hình lân

Trang 19

cận: hội họa, âm nhạc, điêu khắc Trong nhiều trường đoạn khác nhau người viếttiểu thuyết có thể vận dụng nhiều phương thức: tự sự, trữ tình, kịch Trong quỹ đạovận động của thể loại, người viết tiểu thuyết có thể vận dụng thủ pháp nghệ thuậtcủa điện ảnh, hội họa, âm nhạc Ta có thể bắt gặp trong tiểu thuyết những rung độngtinh tế của thơ ca, những xung đột xã hội gay gắt của hình thái kịch, những mảnghiện thực nóng hổi chất sống trực tiếp của thể kí, những bức tranh thiên nhiên giàumàu sắc hội họa, những điệp khúc âm thanh của thế giới âm nhạc, những khuônhình được đặc tả đến mức chi tiết cũng như khả năng liên kết các bức màn hiện thựccủa điện ảnh , những bức chân dung cân xứng hài hòa của điêu khắc… Tiểu thuyếtthế kỉ XIX-XX đã cung cấp nhiều mẫu mực về sự tổng hợp đó Nhiều thiên tài nghệthuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể loại Tiêu biểu là

tiểu thuyết sử thi - tâm lý của L.Tolstoi (Chiến tranh và hòa bình), tiểu thuyết - kịch của Dostoievski, tiểu thuyết tâm lí - trữ tình của Macsxen prust (Đi tìm thời gian đã

mất), tiểu thuyết thế sự của Gorki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi), tiểu thuyết sử thi - trữ tình của E Hemingway (Chuông nguyện hồn ai),

truyện trữ tình của A Chekhov… Ngoài ra còn kể đến tiểu thuyết tư liệu, tiểuthuyết chính luận Bên cạnh đó tiểu thuyết còn có khả năng dung nạp các hình tháinhận thức của các lĩnh vực khoa học khác, kể cả khoa học tự nhiên, khoa học viễntưởng Đặc biệt trong sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật thời hiện đại,hiện tượng giao thoa giữa văn học và các lĩnh vực nghệ thuật khác là một xu hướngtất yếu của văn học nghệ thuật Tất nhiên, nhà văn không thể là người truyền bánhững kiến thức khoa học chính xác và tỉ mỉ mà nhiệm vụ chính của họ là lí giảibản chất của hiện thực cùng những vấn đề số phận con người trong thời đại ấy.Những hiện tượng tổng hợp đó làm cho bản thân tiểu thuyết cũng đang vận động,không đứng yên So với sử thi, bi kịch, hài kịch tức là các thể loại đã trở nên xưa cũ,thì theo Bakhtin, tiểu thuyết “Là thể loại duy nhất và chưa xong xuôi” Dĩ nhiênkhông nên tuyệt đối hóa các ý kiến trên, bởi lẽ hiện tượng tổng hợp cũng có cảtrong thơ và trong kịch Chẳng hạn thơ trữ tình chính trị - sử thi của Tố Hữu, kịch tự

sự của BectonBret Về mặt nào đó, các thể loại khác vẫn đang hình thành chưa xong

Trang 20

xuôi Tuy nhiên ở tiểu thuyết khả năng tổng hợp và khả năng vận động lớn hơn.Tóm lại, tiểu thuyết là thể loại tự sự dân chủ, năng động và giàu khả năng phản ánhđời sống nhiều mặt bậc nhất trong các thể loại văn học.

1.2.7 Một số đặc điểm khác của tiểu thuyết

1.2.7.1 Dung lượng

Dung lượng là khả năng ôm trùm và bao quát hiện thực, là sức chứa chất liệuđời sống, dung lượng được hiểu theo khả năng của nội dung phản ánh hiện thực củathể loại Tiểu thuyết là một hình thức tự sự cỡ lớn miêu tả cuộc sống trong quá trìnhphát triển, với một cấu trúc phức tạp (nhiều cốt truyện - chủ đề - nhân vật) với nhiều

tính cách số phận đan xen Trong tác phẩm Nửa chừng xuân, tác giả chủ yếu miêu

tả mối tình: Mai - Lộc, bên cạnh đó tác giả còn miêu tả cốt truyện và mảnh đời củacác nhân vật khác như: Chị em Trọng, họa sĩ Bạch Hải, bác sĩ Minh… mỗi nhân vật

có thể khai thác thành một cốt truyện riêng Bùi Việt Thắng trong truyện ngắnnhững vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại khi phân tích về đặc trưng thể loạitruyện ngắn ông đã dùng tiểu thuyết để so sánh và từ đó xác định tác phẩm truyệnngắn Trên cơ sở so sánh truyện ngắn với tiểu thuyết về mặt dung lượng ông đi đếnkết luận có thể hình dung vấn đề dung lượng trong sự đối sánh giữa tiểu thuyết vàtruyện ngắn trên các phương diện: lớn - nhỏ, nhiều - ít, đơn tuyến - đa tuyến, toàncảnh - cận cảnh Và ông cho rằng: “Truyện ngắn là một hình thức cỡ nhỏ, chỉ thểhiện một bước ngoặt, một trường hợp hay một tâm trạng nhân vật Tính cách nhânvật được làm sáng tỏ tại một thời điểm quan trọng” Hiện nay trong văn học cónhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những tác phẩm tiểu thuyết được viếtngắn lại Do đó, khi nói về dung lượng tiểu thuyết là nói về khả năng nội dung phảnánh của tác phẩm Tuy có những ý kiến truyện ngắn gần với tiểu thuyết tạo nên xuhướng tiểu thuyết hóa truyện ngắn có tên gọi là “tiểu thuyết ngắn” Như vậy ta thấyrằng dung lượng có vai trò rất quan trọng trong truyện ngắn và giữa truyện ngắn vàtiểu thuyết có dung lượng khác nhau, nhưng trong một vài trường hợp vừa nêu thìtiểu thuyết viết ngắn lại Điều này gây ra những trở ngại khi ta phân loại dựa vàodung lượng giữa tiểu thuyết viết ngắn lại và truyện ngắn Tuy nhiên chúng ta có thể

Trang 21

khẳng định: dù truyện ngắn có xu hướng tiến gần đến tiểu thuyết, hay dung lượng

có biến đổi đến đâu thì tiểu thuyết và truyện ngắn là hai thể loại có đặc trưng khácnhau và dung lượng là đặc điểm có thể căn cứ vào đó mà phân biệt với các thể loạivăn học khác

1.2.7.2 Kết cấu

Kết cấu là một yếu tố hình thức của tác phẩm, vì thế vai trò của nó được thểhiện trong việc thực hiện nhiệm vụ đối với các yếu tố nội dung như chủ đề, tưtưởng, tính cách, cốt truyện và các yếu tố ngoài cốt truyện Kết cấu tuy là một yếu

tố của hình thức tác phẩm, nhưng xét đến cùng vẫn tuân theo những yêu cầu vấn đềtối cao mà nội dung tác phẩm thể hiện Truyện ngắn có kết cấu khác với tiểu thuyết,tuy cả hai cùng là một thể loại văn xuôi tự sự nhưng kết cấu không giống nhau Ởtruyện ngắn, kết cấu là cách tổ chức của tác giả, tác giả sắp xếp các chi tiết, tìnhhuống sao cho phù hợp với dự kiến ban đầu của nhà văn Còn kết cấu tiểu thuyết làkết cấu đa tầng Kết cấu bao gồm nhiều tầng bậc, nhiều lớp và nhiều tầng ý nghĩa.Tiểu thuyết với khả năng đa dạng có thể chứa đựng một dung lượng tối đa trong tácphẩm, do đó tiểu thuyết phản ánh một vấn đề lớn trong cuộc sống Tiểu thuyết cókhả năng tổng hợp nhiều mẫu chuyện, nhiều cảnh đời trong xã hội, kể cả những vấn

đề lớn lao của thời đại Tùy theo vấn đề cần thể hiện mà tác giả có thể sử dụngnhững loại kết cấu khác nhau: kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lí, kết cấu luận đề,kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến Người viết tiểu thuyết có thể phá vỡ nhữngkhuôn sẵn có để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo hình thức kết cấu Đối vớitiểu thuyết đặc biệt là chiều hướng vận động không ngừng của thể loại, không thể

có hình thức kết cấu tối ưu Điều quan trọng là phải biết vận dụng thích hợp cáckiểu kết cấu để đạt đến giá trị nhận thức và tầm nhận thức mà thể loại mang lại Mặtkhác tiểu thuyết là thể loại văn học có khả năng miêu tả tâm lí nhân vật rất đa dạng

Do đó, kết cấu tâm lí là kết cấu thường thấy trong các tiểu thuyết hiện đại Sự pháttriển của các sự kiện, các cao trào của truyện hay cách giải quyết các vấn đề khókhan, những tình huống gặp phải trong cuộc sống Để giải quyết nhân vật thườngthực hiện những hành động tương ứng trong vấn đề nan giải, nhân vật thường có

Trang 22

thời gian hồi tưởng lại, lo lắng… và các diễn biến cốt truyện theo dòng phát triểntâm lí nhân vật Lối kết cấu tâm lí chúng ta có thể tìm thấy trong một số những tiểu

thuyết như Sống mòn của Nam Cao, Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách…

Tóm lại, kết cấu là một đặc trưng không thể thiếu của thể loại tiểu thuyết Với kếtcấu đa dạng, tiểu thuyết có cơ sở vững chắc để phân biệt với các thể loại khác

1.2.7.3 Không gian và thời gian

Thời gian và không gian trong tiểu thuyết là thời gian và không gian đatuyến Chính sự xuất hiện của thời gian và không gian đa tuyến này đã làm cho tiểuthuyết có một sức sống mãnh liệt trong đời sống văn học Bất kì tiểu thuyết nàocũng đều miêu tả thời gian nhưng không đơn thuần chỉ miêu tả duy nhất một loạithời gian mà lừ thời gian đa tuyến Thông thường mỗi tiểu thuyết chỉ miêu tả mộtloại thời gian chủ đạo chi phối toàn bộ tác phẩm và bên cạnh đó cũng miêu tả nhiềuloại thời gian khác nhau đan xen để tạo thành một hình tượng nghệ thuật của tácphẩm Do có khả năng chứa đựng một dung lượng tối đa, vì vậy tiểu thuyết khônggiới hạn thời gian – không gian miêu tả Cũng vì lẽ đó mà thời gian miêu tả trongtiểu thuyết là thời gian đa tuyến và các yếu tố thời gian được miêu tả đậm đặc như:

thời gian tự sự, thời gian nhịp độ… Chẳng hạn như trong tiểu thuyết Đoạn tuyệt của

Nhất Linh, thời gian tự sự không đơn thuần kể từ đầu tới cuối cốt truyện, mà trongsáu năm đó bao nhiêu sự kiện, biến cố xảy ra và không phải sự kiện nào có trướcmiêu tả trước mà đôi khi tác giả kể lại sự kiện xảy ra sau mới quay lại sự kiện trướcqua sự hồi tưởng được diễn tả ở trạng thái tâm lí nhân vật Trong một tác phẩm vănhọc dù muốn hay không muốn thì tác giả cũng miêu tả không gian, không gian tạinơi diễn ra các sự kiện, các biến cố và hoạt động của nhân vật Ở tiểu thuyết vấn đềmiêu tả không gian cũng đặt ra hàng đầu Không gian trong tiểu thuyết là khônggian đa tuyến Để thực hiện được điều này tác giả đã miêu tả các yếu tố không gianrất phong phú: không gian ở nhà, không gian trường học… Như trong tiểu thuyết

Sống mòn của Nam Cao tác giả miêu tả ba không gian đó là không gian trường học

- nơi mà Thứ, San, Oanh dạy; không gian nhà ông Học - nơi Thứ và San ở trọ, mộtkhông gian ảm đạm từ ngoài đến gian phòng Thứ và San ở, không gian nhà quê -

Trang 23

Quê của Thứ Cả ba không gian này tuy được phân biệt nhau nhưng không tách rờinhau Nó đan xen nhau tạo thành một không gian lớn - một không gian ngột ngạt,lúc nào con người cũng sống trong cảnh ngột ngạt khó chịu Qua ví dụ trên chúng ta

có thể khẳng định rằng tiểu thuyết có khả năng rộng lớn của nó mà các thể loại kháckhông thể đảm nhận Mặt khác, chúng ta có thể nhận thấy rằng: trong tiểu thuyếtthời gian và không gian còn được miêu tả với mối quan hệ khăng khít với nhau.Theo Đỗ Đức Hiểu, trong Mĩ học và lí luận tiểu thuyết, Bakhtin đã nhấn mạnh: thờigian và không gian nghệ thuật là một trong hai đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết.Thời gian, không gian chỉ mối quan hệ gắn chặt thời gian không gian nó là tính hiệnđại của tiểu thuyết, nó cụ thể, bám sát lịch sử mang tính xã hội hơn các thể loạikhác Và cũng trong tác phẩm này Bakhtin còn xây dựng một lý thuyết quy mô vềmối quan hệ giữa thời gian và không gian trong tiểu thuyết gọi là chronotope, tức làthời gian - không gian trong đó thời gian giữ vai trò chủ đạo Ông nhận địnhchronotope là yếu tố quyết định cấu tạo, diễn biến của tiểu thuyết, từ tiểu thuyết thời

Hy Lạp cổ đại đến tiểu thuyết hiệp sĩ thời trung đại, thời Phục Hưng đến tiểu thuyếthiện đại Yếu tố thời gian không gian này trải qua những biến động lớn qua các thờiđại trừu tượng đến cụ thể, từ mơ hồ đến chính xác Thời gian và không gian cònđược coi là trung tâm tổ chức những sự kiện trong đề tài tiểu thuyết Trong một bàiviết khác, Đỗ Đức Hiểu cũng nói đến mối quan hệ giữa thời gian và không giancũng như vai trò của nó trong tiểu thuyết: không gian không tách khỏi thời gian.Nhân vật, không gian, thời gian là những cấu thành cơ bản của tiểu thuyết, là sứcsống, là ý nghĩa, là cái đẹp của tiểu thuyết, là một khối thống nhất, một hệ thốngkhông thể chia cắt Chức năng của nhà phê bình là tìm mối liên hệ giữa những cấuthành ấy Có khi không gian xung đột kịch liệt với thời gian, có khi không gian thờigian hòa hợp Có thể khẳng định tiểu thuyết là một hiện tượng ngôn từ, là hình thức

và nội dung, là cá thể vật chất và sức sống cũng như thế mỗi từ, mỗi hình tượng,mỗi chương mỗi đoạn văn bản mang trong nó không gian, thời gian Như vậy có thểkhẳng định không gian và thời gian nghệ thuật là một yếu tố không thể thiếu trongtiểu thuyết Sự góp mặt của nó đã tạo ra những đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết

Trang 24

1.2.7.4 Nhân vật trong tiểu thuyết

Theo quan niệm truyền thống, so với các thể loại văn học khác, nhân vật tiểuthuyết được miêu tả nhiều mặt, tinh tế chi tiết như con người sống Từ tính cách đến

số phận, từ hành động đến tâm lí, từ các loại quan hệ đến ngôn ngữ đều được cácnhà tiểu thuyết quan tâm khám phá Các thuộc tính của nhân vật được miêu tả trongquá trình, trong tổng hòa mọi bình diện, từ ý thức đến vô thức, từ tư tưởng đến bảnnăng, từ mặt xã hội đến mặt sinh học… Điểm nổi bật của nhân vật tiểu thuyết là cótính cách, cá tính, tính chỉnh thể và có quá trình phát triển Nhân vật tiểu thuyết làmột chủ thể sống động Nhân vật tiểu thuyết được miêu tả tỉ mỉ để người đọc tìmhiểu, đánh giá và dự báo số phận cũng như cuộc đời của nhân vật, để từ đó có cùngđịnh hướng giải quyết với nhân vật Cuộc đời nhân vật được mô tả không chỉ đóngkhung, minh họa cho dụng ý của tác giả mà còn góp phần lí giải, thâm nhập vàocuộc đời và những vấn đề nhân vật gặp phải Tiểu thuyết không chỉ viết về một sốngười, mà còn viết về cả gia tộc, cả thế hệ thậm chí nhiều thế hệ Bức tranh tiểuthuyết không biết đến sự giới hạn Số lượng nhân vật trong tác phẩm có thể đạt tới

500 – 600 người như trong Chiến tranh và hòa bình của L.Tolstoi hay Hồng lâu

mộng của Tào Tuyết Cần Cách tiếp cận nhân vật cũng hết sức đa dạng Nhà tiểu

thuyết có thể miêu tả chân dung nhân vật qua hành động và tâm lí như tiểu thuyếtthế kỉ XIX, nhưng cũng có thể miêu tả thuần túy qua hồi ức hay dòng ý thức nhưtiểu thuyết thế kỉ XX Nhân vật tiểu thuyết không phải là người anh hùng tuyệt đối,phi thường mà là con người bình thường như mọi người khác: có ưu và khuyếtđiểm, có tầm thường và phi thường, có cái cao cả và cái ngốc nghếch, có cái đángchê trách…Và nhân vật tiểu thuyết có thể là con người khách thể đầy đủ, có thể chỉ

là một dòng nội tâm, có thể là con người chỉ là một tượng trưng, kí hiệu như K

trong Lâu đài hay Gregoa Samsa trong tác phẩm Biến hình của F.Kafka Do đó, ở

tiểu thuyết tác giả có điều kiện đi sâu vào các chi tiết thừa, những sự việc xảy ratrong cuộc sống hàng ngày Vì vậy, tiểu thuyết có khả năng miêu tả tâm lí nhân vậtcũng như số phận nhân vật và cuộc đời họ môt cách sâu sắc

Trang 25

Như vậy, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, tiểu thuyết đãkhẳng định được vị trí quan trọng của mình trong đời sống văn học nhân loại Sovới các thể loại văn học khác tiểu thuyết nổi bật với những đặc trưng riêng của thểloại trên cả phương diện nội dung và hình thức Trong mối tương quan với các thểloại văn học khác, tiểu thuyết nổi bật ở khả năng phản ánh một cách toàn vẹn vàsinh động hiện thực đời sống đang diễn ra và được soi chiếu ở góc độ đời tư Cuộcsống trong tiểu thuyết được miêu tả không thi vị hóa, lý tưởng hóa như các thể loạithơ, truyện thơ mà nó hấp thu vào bản thân mình mọi yếu tố ngổn ngang của cuộcđời Nhân vật trong tiểu thuyết là con người nếm trải, trong khi miêu tả tác giảkhông tách rời nhân vật với hoàn cảnh mà nhân vật đang trưởng thành và biến đổitrong hoàn cảnh Với đặc điểm xóa bỏ khảng cách sử thi trong trần thuật, tiểu thuyếtcho phép người trần thuật tiếp xúc, nhìn nhận các nhân vật gần gũi như nhữngngười cùng thời, có thể có thái độ thân mật thậm chí suồng sã với nhân vật Bêncạnh đó, tiểu thuyết còn là thể loại có khả năng tổng hợp nhiều nhất các khả năngnghệ thuật của các loại hình văn học khác Ngoài những đặc trưng kể trên, tiểuthuyết còn nổi bật ở một số những đặc trưng khác, trong đó dung lượng là một trongnhững đặc điểm có thể căn cứ vào đó để phân biệt tiểu thuyết với các thể loại vănhọc khác Trong tiểu thuyết, tác giả thường sử dụng loại kết cấu đa tầng tức là kếtcấu nhiều tầng bậc, nhiều ý nghĩa Không gian, thời gian là một trong những đặcđiểm làm cho tiểu thuyết có một sức sống mãnh liệt trong đời sống văn học đồngthời cũng tạo ra đặc trưng nổi bật của tiểu thuyết Nhân vật trong tiểu thuyết là mộtchủ thể sống động, có tính cách, cá tính, có chỉnh thể và có quá trình phát triển.Tiểu thuyết không giới hạn về số lượng nhân vật, nhân vật trong tiểu thuyết khôngphải là những anh hùng tuyệt đối mà là những con người bình thường có đầy đủ cácmặt: tốt - xấu, cao cả - tầm thường… Có thể nói với những đặc trưng về nội dungcũng như hình thức nghệ thuật, tiểu thuyết đã khẳng định được những ưu thế đặcbiệt của mình so với các thể loại văn học khác đồng thời đó cũng là cơ sở để khẳngđịnh vị trí then chốt của tiểu thuyết trong dòng chảy văn học.

Trang 26

Chương 2 SỐ ĐỎ - TIỂU THUYẾT TRÀO PHÚNG

XUẤT SẮC

2.1 Khái niệm trào phúng

Theo Từ điển thuật ngữ văn học: Trào phúng là “một loại đặc biệt của sáng

tác văn học và đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương, hài hước… được sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng… những cái tiêu cực, xấu

xa, lỗi thời, độc ác trong xã hội Trào phúng theo nghĩa từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác, song trong lĩnh vực văn học, trào phúng gắn liền với phạm trù mĩ học và cái hài với các cung bậc hài hước umua, châm biếm” [13,602] Như vậy, khi nói đến trào phúng, người ta không chỉ nhắc

đến tiếng cười chung chung mà ở đó tập hợp sự đa dạng và phong phú của tiếngcười được bắt nguồn từ sự phong phú và đa dạng của cuộc sống

2.2 Cuộc sống đời tư mang màu sắc biếm họa trong Số đỏ

2.2.1 Cuộc sống đời tư đang diễn ra trong Số đỏ

Một tác phẩm văn học có giá trị đòi hỏi phải phản ánh được hiện thực cuộcđời Cũng giống như nhiều thể loại khác của văn học, tiểu thuyết nổi bật lên ở khảnăng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống đang diễn ra Nếunhư trong sử thi, hiện thực được miêu tả là hiện thực của cộng đồng, của dân tộc vànhân vật được nhìn nhận ở góc độ nhân vật là người anh hùng đại diện của cộngđồng, dân tộc Thì trong tiểu thuyết cuộc sống lại không được miêu tả trong đạicảnh hoành tráng, hào hùng mà nó được miêu tả ở những góc độ đời tư, với nhữngcái bình thường thậm chí có phần vụn vặt Bởi vậy mà tiểu thuyết thường viết về

những con người ở khía cạnh con người đời tư Tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng

Phụng là một trong những tác phẩm nghệ thuật đích thực bởi nó đã phản ánh đượcmột cách sinh động hiện thực đời sống của cả một xã hội và con người Việt Nam

trước Cách Mạng từ góc nhìn đời tư Số đỏ tiêu biểu cho không gian và thời gian

đặc biệt đã sản sinh ra nó Cuộc sống trong tác phẩm là cuộc sống đang diễn ra

Trang 27

được soi chiếu từ góc độ đời tư của nhân vật Trong tiểu thuyết Số đỏ, Vũ Trọng

Phụng đã xây dựng lên một số lượng đông đảo nhân vật, mỗi nhân vật lại mangtrong mình những đặc điểm tính cách khác nhau đại diện cho các hạng người, tầnglớp người trong xã hội Bởi vậy, thông qua nhân vật tác giả đã lột trần bản chất lốlăng, bịp bợm của xã hội nửa thực dân phong kiến vào những năm 30 của thế kỉ XXtrong đó nhân vật Xuân Tóc Đỏ là một điển hình

Trong Số đỏ, cuộc đời của Xuân được tác giả miêu tả xuyên suốt từ đầu đến

cuối tác phẩm, từ lúc Xuân còn là thằng nhặt ban quần đến khi nó leo đến đỉnh caocủa danh vọng Có thể nói, nhân vật Xuân Tóc Đỏ đứng về phương diện nào đócũng là nhân vật anh hùng của cộng đồng Vì trong phần cuối của tác phẩm hắn đãchủ động thua đấu thủ Xiêm để giữ hòa khí cho dân tộc, tránh cho đất nước một

cuộc chiến tranh Cũng vì thế mà hắn được đám đông tung hô là “anh hùng cứu

quốc” và được ca ngợi như một bậc vĩ nhân Tuy nhiên, là nhân vật của tiểu thuyết

nên nhân vật Xuân Tóc Đỏ lại được khai thác ở góc độ đời tư – thậm chí là phần đờinhơ nhuốc mà có lẽ bản thân nhân vật muốn giấu đi Trong tác phẩm có nhiều phânđoạn Xuân luôn ám ảnh về quá khứ lưu manh của mình Xuân Tóc Đỏ vốn là mộtđứa trẻ mồ côi được ông bác họ nuôi nấng Nhưng vì hành vi vô giáo dục mà hắn đã

bị đuổi ra khỏi nhà, hắn trở thành kẻ lang thang bụi đời: “Thằng Xuân lấy đầu hè,

xó cửa làm nhà, lấy sấu ở các phố, cá hồ Hoàn Kiếm làm cơm Nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm chạy cờ hiệu rạp hát, bán cao đơn hoàn tán trên xe lửa, và ba cái nghề tiểu xảo khác nữa Ánh mặt trời làm tóc nó đỏ như tóc Tây Cảnh ngộ đó tạo nó nên một đứa hoàn toàn vô giáo dục tuy nó tinh quái lắm, thạo đời lắm”

[2,66] Chính môi trường bụi đời đã biến Xuân thành một kẻ lưu manh thể hiện ở thái độ, hành động xấu và lối nói năng vô văn hóa “mẹ kiếp”, “nước mẹ gì”… Bản

chất lưu manh của Xuân Tóc Đỏ được thể hiện rõ qua cuộc tỏ tình của nó với chịbán nước mía Hành động lưu manh của Xuân khiến người đọc không khỏi bật cười

nó “cứ sấn sổ đưa tay ra toan cướp giật ái tình ” rồi khi cướp giật không được nó lại lại dở kế xin ái tình “Xin một tị! Một tí tị tì ti thôi!” Nhưng khi xin tình không được nó đã dùng thủ đoạn là “mua chuộc ái tình” bằng cách mua mía để chị bán

Trang 28

hàng thọc tay bỏ hộ tiền vào túi của nó Cũng nhờ bản chất lưu manh, vô lại “vỉahè” mà Xuân Tóc Đỏ nhanh chóng hòa nhập vào cái xã hội trưởng giả thành thị đồibại, dâm ô, giả dối và bịp bợm Bị bắt về hành vi xấu, Xuân Tóc Đỏ đã may mắngặp bà Phó Đoan và được bà ta giải thoát Có thể nói bà Phó Đoan như là chiếc cầunối đưa thằng Xuân từ một con người bình dân cặn bã, dưới đáy của xã hội nhanhchóng gia nhập vào cái thế giới thượng lưu xa hoa giả dối Con đường tiến thân củaXuân hoàn toàn là do những cơ may ngay đến nó cũng không ngờ được số phận của

nó lại thay đổi mau lẹ đến vậy Lần đầu, khi bước vào dinh cơ của bà Phó Đoan, nóthấy cái gì cũng lạ Nó không hiểu sao bà Phán lại làm ơn cho nó như thế Trước

cung cách sinh hoạt của mụ me Tây nó chỉ biết lẩm bẩm “mẹ kiếp! Con với chả

cái” Trước mặt bà Phó Đoan thì nó hoàn toàn ngớ ngẩn Nó bị khinh bỉ như “một

nhà đạo đức chân chính” mặc dù nó đích thực là một thằng dâm ô trơ tráo nhất Khi

bị đẩy sang tiệm may Âu hóa, lúc đầu thằng Xuân cũng ngơ ngác như thế, mọi thứ

đối với nó đều kì quái khiến nó nhiều lần phải thốt ra “Mẹ kiếp! Chữ với chả

nghĩa!”, “Mẹ kiếp! Quần với chả áo!” Nhưng khi nó được chứng kiến nhà cải cách

tân tiến TYPN cấm vợ không được ăn mặc tân thời, tiếp đó lại thấy một người đànông nghiêm trang, bí mật tự giới thiệu mình là một ông chồng mọc sừng thì nó lạitưởng mình ngủ mê, không thể tin đó là sự thật Nhưng dần dần, nhờ những thànhcông của nó ở tiệm may Âu hóa, trong cuộc chữa bệnh cho cụ cố Tổ và được mọingười tâng bốc một cách giả dối thì nó ý thức được rằng nó cũng có một vai trò nàođấy trong cái xã hội này Từ đó nó bắt đầu lên mặt và bắt đầu biết phát huy những

sở trường của mình Với sự nhanh trí, khôn vặt, nhiều mánh lới mà Xuân Tóc Đỏ đãnhanh chóng tạo được chỗ đứng trong gia đình của ông bà Văn Minh Để từ mộtđứa nhặt ban quần, thổi loa quảng cáo thuốc lậu, một đứa cứ mở mồm ra là “Mẹkiếp”, “Nước mẹ gì” lại trở thành sinh viên trường thuốc, một quan đốc tờ, một cây

hi vọng của quần vợt Bắc Kì, một vĩ nhân cứu quốc, một bậc thượng lưu của xã hội.Từng làm nghề thổi loa quảng cáo cho thuốc lậu nên Xuân cũng có một chút hiểubiết về mặt y học, Xuân lem lém quảng cáo khiến gia đình Văn Minh kinh hoàng cảlên, vì thế mà nó được cụ cố Hồng khen là biết nhiều về mặt y lí và Văn Minh giới

Trang 29

thiệu Xuân là “sinh viên trường thuốc” và nghiễm nhiên nó trở thành “quan đốc

tờ” Cũng nhờ bài quảng cáo “nhức đầu giải cảm” mà nó đã làm cho thi sĩ lãng

mạn phải cúi đầu hổ thẹn, còn cô Tuyết thì rất sung sướng vỗ tay khen bài thơ sặcmùi thuốc ấy mang phong cách trào phúng cỡ Tú Mỡ Với tài nói năng linh hoạt,Xuân Tóc Đỏ được bà Phó Đoan suy tôn là nhà hùng biện, biết chơi quần vợt đượcđăng kí danh thủ Với sự láu lỉnh, thông minh Xuân rất được người nhà Văn Minhkhen ngợi Và đến lúc nó đã có thể tự giới thiệu mình một cách hãnh diện của một

kẻ không hiểu mình, hiểu người “Me xừ Xuân, nguyên sinh viên trường thuốc, giáo

sư quần vợt, giám đốc hiệu Âu hóa phụ nữ tân tiến” Cũng nhờ sự may mắn, thói

lưu manh và thủ đoạn gạt người mà cuối cùng Xuân đã được thi đấu với danh thủ

Xiêm La Sau trận đánh nó đã vì “nghĩa lớn” mà chịu thua và dám tự xưng là “anh

hùng cứu quốc” được tặng thưởng Bắc đẩu bội tinh Để có thể len lỏi vào xã hội

trưởng giả bản chất bịp bợm của Xuân càng được bộc lộ khi hắn cố tình che giấunguồn gốc hạ lưu, vô học của mình và cũng vì thế mà hắn đã được Tuyết - cô gáimới yêu Mặc dù biết bản chất thật của Xuân nhưng một số người trong gia đìnhông Văn Minh vẫn phải chấp nhận và hết lời ca ngợi hắn trước mặt mọi người.Xuân Tóc Đỏ với bản tính vô văn hóa dường như không thay đổi trong suốt tácphẩm nhưng có lúc hắn lại nhạy cảm và luôn tìm cách đối phó với hoàn cảnh, hắn

không ngại nói ra cái thân phận mình một cách thách thức: “Tôi thì danh giá quái

gì Hạ lưu Ma cà bông Nhặt banh quần…” Có lúc nó lại tỏ ra kiêu ngạo, hỡm

hĩnh một cách lố bịch, hắn càng kiêu ngạo làm bộ tích bao nhiêu thì lại được thiên

hạ kính trọng Từ một thằng hạ lưu, ma cà bông, nhặt ban quần, với thói lưu manh,

vô học, dâm đãng của mình Xuân Tóc Đỏ đã nhanh chóng gia nhập vào xã hội

trưởng giả và được coi là “thượng lưu trí thức”, “vĩ nhân”, “anh hùng cứu quốc”.

Có thể nói cái xã hội lố lăng, bịp bợm ấy lại chính là môi trường, hoàn cảnh thuậnlợi để Xuân Tóc Đỏ nhanh chóng phát lên như diều gặp gió, phát huy cao độ bảnchất lưu manh, vô lại của nó Khi xây dựng nhân vật Xuân Tóc Đỏ, Vũ TrọngPhụng đã kết hợp giữa tính chân thực với những yếu tố phóng đại, hài hước bởi vậynhân vật mang tính tiêu biểu cho nhiều người cùng loại trong xã hội cũ Xuân Tóc

Trang 30

Đỏ thực chất là một điển hình cho những kẻ vô học, nhố nhăng, mang bản chất gian

manh, thuộc loại cặn bã của xã hội gặp thời, nhờ cái xã hội “khốn nạn”, “chó đểu”

mà phất lên nhanh chóng Để cho Xuân Tóc Đỏ dễ dàng, nhanh chóng bước vào xãhội thượng lưu, trưởng giả, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần bản chất tuy hai mà mộtcủa hai lớp người này Có thể nói qua cuộc đời của Xuân Tóc Đỏ, Vũ Trọng Phụngbóc trần bản chất tầng lớp thượng lưu trí thức tư sản thành thị đương thời

2.2.2 Cuộc sống trong tác phẩm như một tấn hề kịch

Số đỏ của Vũ Trọng Phụng được đánh giá là cuốn tiểu thuyết trào phúng hiện

thực xuất sắc của văn học Việt Nam trong giai đoạn 1930 - 1945, toàn bộ bức tranh

về hiện thực xã hội được tác giả tái hiện một cách rõ nét, sinh động bằng những thủpháp nghệ thuật độc đáo trong đó nổi bật là nghệ thuật trào phúng Hiện thực cuộcsống xã hội Việt Nam những năm 30 qua ngòi bút trào phúng bậc thầy của VũTrọng Phụng hiện lên sinh động và mang tính hài hước Có thể nói, mỗi chươngtrong tác phẩm là những màn hài kịch, mà mỗi màn tác giả đã dụng công xây dựngnhững tình huống trào phúng ngẫu nhiên với những chân dung được vẽ bằng những

đường nét biếm họa kì quặc Bởi vậy mà cuộc sống trong Số đỏ hiện lên như một

tấn hề kịch mà mỗi nhân vật trong tác phẩm lại là những diễn viên hài xuất sắc củatấn hề kịch đó

Ngay từ chương đầu tiên của tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng mở ra trước mắtngười đọc phân cảnh một đồn cảnh sát buồn bã đến ngao ngán vì không có ai chịuchửi nhau và đái bậy để biên phạt Vì kinh tế khủng hoảng, ngân sách hao hụt màcấp trên đã ban lệnh mỗi sở cảnh sát phải phạt dân thành phố với số tiền là 4 vạnđồng và chia cho mỗi Ty nhỏ hơn số tiền phạt là 5 nghìn Là một người đứng đầu

của một chi nhánh nhỏ của Ty cảnh sát, ông Cẩm đã “vò bù cả đầu, đã rứt cả soăn

râu” để lo tiền phạt vì dân chúng ngày càng văn minh tiến bộ Thậm chí ông còn

dùng phương kế phạt vạ lẫn nhau giữa các nhân viên sở cầm Sự ngán ngẩm củaông thể hiện rõ nét nhất qua cuộc nói chuyện với viên cảnh sát Minđơ:

- Thầy có tiếc cái buổi ngày xưa, cách đây mười năm không?

- Tiếc lắm, mười năm trước đây, dân ta còn ngu.

Trang 31

- Ngày nay dân ta văn minh mất rồi, rõ thảm hại! Thầy phải biết là xưa kia, xã hội tinh những du côn và nặc nô, tinh những người bất lịch sự, chỗ nào cũng phóng uế, cũng đánh nhau Hồi ấy, có khi bốn người cùng ngồi một xe! Họ chửi nhau hàng nửa giờ, đánh nhau vỡ đầu, nhà cửa rác rưởi… Chó của họ cũng chạy ra ngoài đường lông nhông… Xe đi đèn, hay không đèn là nhan nhản Bây giờ mọi sự đã thay đổi cả Cái thời tốt đẹp của các cụ nhà ta không còn nữa! Thật là tai hại! Than ôi!

- Cụ tính! Bây giờ đến cả thằng phu xe cũng biết luật! Chả bao giờ chúng quên đèn! Chả mấy khi chúng đứng giữa đường nghênh ngang! Chả còn mấy người réo năm đời mười đời nhau ra ngày xưa nữa! Bao nhiêu nề nếp của xã hội này thế là hết nhẵn nhụi!

Lấy bối cảnh tại một đồn cảnh sát với hình ảnh một ông sở Cầm đang ủ rũbuồn rầu và qua cuộc nói chuyện giữa ông và viên cảnh sát, Vũ Trọng Phụng đãkhiến cho người đọc phải bật cười khi tái hiện lên hiện thực cuộc sống xã hội ViệtNam những năm 30 mà trong đó bộ máy chính quyền mục ruỗng thối nát với nhữnghành động lố lăng, bịp bợm Những người đứng đầu thì tìm cách bắt phạt vạ dânchúng để lấy tiền cho vào công quỹ đang bị hao hụt Họ buồn rầu, chán nản vì dânthành phố ngày càng tiến bộ, văn minh hơn họ tiếc nuối cái thời tốt đẹp của các cụngày xưa từng có khi mà người dân còn ngu muội còn chưa văn minh Hành độngcủa những tên cảnh sát giới trong việc tìm đủ mọi lỗi để phạt vạ lẫn nhau đến mức

vợ con vì quá ngoan ngoãn, nhà cửa quá sạch sẽ còn bị gọi là đồ khốn nạn, đồ ácphụ đã tạo ra tiếng cười hả hê cho bạn đọc Không chỉ dừng lại ở đó, tiếng cười cònđược cất lên ở chương thứ IV, tại tiệm may Âu hóa, trong một cuộc cãi lộn giữangười thợ và nhà mĩ thuật về cái thẹo lộn xuôi, cái thẹo lộn ngược:

- Bẩm, tam giác là cái gì ạ?

- Con khỉ, tam giác là…là cái thẹo! Mà cái thẹo thì là chữ A.

- Thưa ông lúc nãy ông bảo cái thẹo là chữ U…

Trong phân đoạn này, tiếng cười được bật lên bởi sự ngây ngô, dốt nát củanhững người bình dân cụ thể là anh thợ khi không hiểu chữ nghĩa, đồng thời đó còn

Trang 32

là tiếng cười đả kích cái gọi là nghệ thuật tắc tị của giới trí thức thượng lưu trongviệc cải cách xã hội Hay như ở trong chương thứ V, cũng tại tiệm may Âu hóa xuấthiện cảnh một nhà sáng tạo nghệ thuật, chuyên cải cách y phục TYPN lại mắng vợ

là “đồ đĩ”, “đồ lãng mạn” vì mặc quần áo tân thời Là người với tư tưởng cải cách,

luôn theo xu hướng văn minh, Âu hóa, ông TYPN luôn sáng tạo ra những bộ y phục

hở hang, khơi gợi nhằm tôn lên vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ Ông tự nhận

trách nhiệm là người che chở cho phái đẹp và ông quan niệm “Quần áo là để tô

điểm, để làm tăng sắc đẹp chứ không phải để che đậy Bao giờ…bao giờ mà y phục tiến bộ đến cực điểm đi đến chỗ tận thiện tận mĩ, thì nghĩa là y phục phải không còn…che đậy cái gì của người đàn bà nữa!” Vậy mà khi thấy vợ ăn mặc tân thời

thì ông đã tức giận: “Có phải thế không? Vợ tôi? Chính vợ tôi? Chính vợ tôi mà lại

ăn mặc tân thời như thế này? Hở giời? Quần trắng nữa ư? Hở giời? Đường ngôi lệch, bôi môi quả tim ư? Hở giời? Đồ đĩ! Đồ khốn nạn! ” Luôn mang trong mình

tư tưởng cải cách, hô hào mọi người phải đổi mới, phải văn minh nhưng chính ônglại không muốn vợ mình theo hướng tân thời đó mà phải tuân theo lối cổ vì ông cho

rằng “Khi người ta cổ động đàn bà thì phải biết là cũng có năm bảy thứ đàn bà!

Khi người ta nói phụ nữ… là nói vợ con chị em người khác, chứ không phải vợ con chị em của ta! Người khác thì được mà mợ, mợ là vợ tôi, thì mợ không thể tân thời như người khác được?” Bằng việc sử dụng bút pháp biếm họa, Vũ Trọng

Phụng đã vẽ lên chân dung một ông TYPN với những hành động lố lăng đã tạo lêntiếng cười châm biếm vạch trần bản chất bịp bợm giả dối của bọn tư sản thành thịtrong việc “cải cách xã hội”, người ta cười bởi những hành động, suy nghĩ mâuthuẫn nhau trong một con người luôn mang trong mình hai tư tưởng văn minh, Âuhóa trong xã hội nhưng lại cổ hủ, lạc hậu trong gia đình Là người luôn đặt tiêu chíhàng đầu trong sáng tác đó là văn chương phải phản ánh được hiện thực, vì vậytrong bất kì tác phẩm nào Vũ Trọng Phụng luôn tìm tòi, đi sâu vào những ngõ

ngách trong đời sống để tái hiện nó một cách toàn vẹn nhất Mỗi chương trong Số

đỏ có thể được coi là một mảng của cuộc sống, cuộc sống ở mỗi chương diễn ra ở

những không gian, thời gian khác nhau với những hoạt động của những con người

Ngày đăng: 10/09/2019, 21:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan Cự Đệ (1989), Đánh giá lại Số đỏ, báo Giáo viên nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá lại Số đỏ
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1989
2. Hà Minh Đức (1998), “Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng”, in trong Văn học Việt Nam hiện đại – Bình giảng và phân tích tác phẩm.Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nhân vật Xuân Tóc Đỏ trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng”", in trong "Văn học Việt Nam hiện đại – Bình giảng và phân tích tác phẩm
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1998
3. Đỗ Đức Hiểu (1990), Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ, tạp chí ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những lớp sóng ngôn từ trong Số đỏ
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Năm: 1990
4. Hoàng Ngọc Hiến (2000), “Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số Đỏ”, in trong Vũ Trọng Phụng - về tác gia và tác phẩm, Nxb GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Trào phúng của Vũ Trọng Phụng trong Số Đỏ”, "in trong "Vũ Trọng Phụng - về tác gia và tác phẩm
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
5. Nguyễn Hoành Khung, “Vũ Trọng Phụng (1912-1939)”, in trong Văn học Việt Nam (1930-1945), Tập 1, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Trọng Phụng (1912-1939)”, "in trong "Văn học ViệtNam (1930-1945)
Nhà XB: Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp Hà Nội
6. Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam (2000), Lý luận văn học, Nxb GD,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận vănhọc
Tác giả: Phương Lựu (chủ biên), Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2000
7. Nguyễn Đăng Mạnh (1991), Những bài giảng văn chọn lọc theo chương trình lớp 12, Nxb GD,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng văn chọn lọc theo chương trình lớp12
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1991
8. Nguyễn Đăng Mạnh (2001), Nhà văn, tư tưởng và phong cách, Nxb ĐHQG,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn, tư tưởng và phong cách
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2001
9. Phạm Xuân Nguyên (2014), Nhà văn như Thị Nở, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn như Thị Nở
Tác giả: Phạm Xuân Nguyên
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2014
11. Pospelov (1985), G.N Dẫn luận nghiên cứu văn học, Nxb GD,H Sách, tạp chí
Tiêu đề: G.N Dẫn luận nghiên cứu văn học
Tác giả: Pospelov
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1985
12. Vũ Trọng Phụng (1937), “Để đáp lời báo ngày nay Dâm hay không Dâm”, báo tương lai, 25/3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Để đáp lời báo ngày nay Dâm hay không Dâm
Tác giả: Vũ Trọng Phụng
Năm: 1937
13. Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi (1999), Từ điển thuật ngữ Văn học, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ Vănhọc
Tác giả: Trần Đình Sử, Lê Bá Hán, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
14. Trần Đình Sử (chủ biên), La Khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm, Nguyễn Xuân Nam, Lý luận văn học, Tập 2, Tác phẩm và thể loại văn học, Nxb ĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb ĐHSP
15. Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2000) tập 2, NxB Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Vũ Trọng Phụng
10. Vũ Ngọc Phan (1943), Nhà văn hiện đại, Nxb TP.HCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w