I. Bẫy thanh khoản:1.Khái niệm “ Bẫy thanh khoản “ (LIQUITIDY TRAP):Là hiện tượng trong đó chính sách tiền tệ được nới lỏng bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất xuống thấp quá một mức nhất định khiến cho mọi người quyết định giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt và chính sách tiền tệ trở nên bất lực. Khi đó việc điều tiết chu kỳ kinh tế chỉ còn trông cậy vào chính sách tài chính. Đây là một trong những lý luận của kinh tế học Keynes. (Theo Wikipedia VN)Là hiện tượng khi ngân hàng trung ương bơm tiền vào hệ thống ngân hàng nhằm hạ lãi suất và kích thích kinh tế nhưng thất bại. Dấu hiệu nhận biết của hiện tượng này là lãi suất ngắn hạn về gần bằng 0, và thanh khoản trong ngắn hạn không thể làm lãi suất giảm. Trong giai đoạn này, gần như hoạt động đầu tư bị gián đoạn, các doanh nghiệp sụp đổ hàng loạt, thất nghiệp tăng cao, và ngân hàng thừa tiền ngắn hạn với lãi suất cực thấp, nhưng không thể đẩy vào nền kinh tế. Trục ngang là cầu về tiền, trục dọc là lãi suất.Trong một mức giới hạn, khi cầu tiền trong nền kinh tế được đáp ứng ngày càng nhiều thì lãi suất ngày càng giảm. Nhưng tới một giới hạn lãi suất X, dù ngân hàng nhà nước có cố gắng bơm tiền khủng khiếp tới bao nhiêu thì lãi suất cũng không thể giảm hơn mức X.2.Nguyên nhân dẫn đến “ Bẫy thanh khoản”a.Mong đợi giảm phát:Người dândoanh nghiệpngân hàng thích nắm giữ tiền mặt hơn khi họ kỳ vọng rằng thời gian tới sẽ xảy ra thiểu phát, tức giá cả giảm đi. Lúc đó, dù có giữ tiền mặt thì trên thực tế số tiền đó của người ta vẫn tăng lên về giá trị trong tương lai tới; b.Ưu tiên cho tiết kiệm:Người dândoanh nghiệpngân hàng thích tích cóp, tiết kiệm hơn là đầu tư, chi tiêu. Trường hợp này xảy ra khi có suy thoái kinh tế hay triển vọng kinh tế u ám. Lúc đó tất cả các chủ thể kinh tế bi quan hơn và tiến hành “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro bằng cách tăng cường tiết kiệm hơn là mang tiền ra chi tiêu, đầu tư. Cũng trong lúc suy thoái thì ngân hàng lại càng ngần ngại cho vay hơn vì sợ rủi ro đến từ các doanh nghiệp khách hàng phá sản, mất khả năng thanh toán. Vì vậy, NHNN hạ lãi suất cơ bản x% cũng không đồng nghĩa với lãi suất cho vay thương mại cũng sẽ giảm đi y% như kỳ vọng vì đơn giản là các ngân hàng không muốn cho vay để giảm rủi ro; c.Khủng hoảng tín dụngCác ngân hàng bị mất một khoản tiền đáng kể do mua nợ dưới chuẩn và vỡ nợ . Vì vậy, họ tìm nguồn để cải thiện bảng cân đối kế toán của họ. Họ không sẵn lòng cho vay nên ngay cả nếu như các công ty và người tiêu dùng muốn tận dụng lãi suất thấp để vay, các ngân hàng sẽ không cho họ vay tiền. Ngân hàng không muốn chia sẻ lợi ích thu được từ việc Ngân Hàng Nhà Nước hạ lãi suất chính sách, trần lãi suất huy động cho khách hàng vay tiền.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG
KHOA KINH TẾ QUỐC TẾ
Môn học: KINH TẾ VĨ MÔ
Đề tài: BẪY THANH KHOẢN
GVHD: Trần Thị Thùy Dung
SV THAM GIA:
1 Nguyễn Lê Hồng Ân 030431150002
2 Hoàng Thị Thanh Hiển 030631150445
3 Lương Dạ Ngân 030731150066
4 Mai Trang Thanh 030431150106
Trang 3MỤC LỤC
khoản………
Vì sao chính sách tiền tệ không hiệu quả?
Bản……… 5
IV.Liên hệ thực trạng nền kinh tế Việt Nam những năm gần
khảo………
Trang 4I Bẫy thanh khoản:
1 Khái niệm “ Bẫy thanh khoản “ (LIQUITIDY TRAP):
-Là hiện tượng trong đó chính sách tiền tệ được nới lỏng bằng biện pháp giảm lãi suất để rồi lãi suất xuống thấp quá một mức nhất định khiến cho mọi người quyết định giữ tài sản của mình dưới dạng tiền mặt và chính sách tiền tệ trở nên bất lực Khi đó việc điều tiết chu kỳ kinh tế chỉ còn trông cậy vào chính sách tài chính Đây là một
trong những lý luận của kinh tế học Keynes (Theo Wikipedia VN)
-Là hiện tượng khi ngân hàng trung ương bơm tiền vào hệ thống ngân hàng nhằm hạ lãi suất và kích thích kinh tế nhưng thất bại Dấu hiệu nhận biết của hiện tượng này là lãi suất ngắn hạn về gần bằng 0, và thanh khoản trong ngắn hạn không thể làm lãi suất giảm Trong giai đoạn này, gần như hoạt động đầu tư bị gián đoạn, các doanh nghiệp sụp đổ hàng loạt, thất nghiệp tăng cao, và ngân hàng thừa tiền ngắn hạn với lãi suất cực thấp, nhưng không thể đẩy vào nền kinh tế
Trục ngang là cầu về tiền, trục dọc là lãi suất.Trong một mức giới hạn, khi cầu tiền trong nền kinh tế được đáp ứng ngày càng nhiều thì lãi suất ngày càng giảm Nhưng tới một giới hạn lãi suất X, dù ngân hàng nhà nước có cố gắng bơm tiền khủng khiếp tới bao nhiêu thì lãi suất cũng không thể giảm hơn mức X
2 Nguyên nhân dẫn đến “ Bẫy thanh khoản”
a.Mong đợi giảm phát:
Người dân/doanh nghiệp/ngân hàng thích nắm giữ tiền mặt hơn khi họ kỳ vọng rằng thời gian tới sẽ xảy ra thiểu phát, tức giá cả giảm đi Lúc đó, dù có giữ tiền mặt thì trên thực tế số tiền đó của người ta vẫn tăng lên về giá trị trong tương lai tới;
b.Ưu tiên cho tiết kiệm:
4
Trang 5Người dân/doanh nghiệp/ngân hàng thích tích cóp, tiết kiệm hơn là đầu tư, chi tiêu Trường hợp này xảy ra khi có suy thoái kinh tế hay triển vọng kinh tế u ám Lúc đó tất
cả các chủ thể kinh tế bi quan hơn và tiến hành “tích cốc phòng cơ”, đề phòng rủi ro bằng cách tăng cường tiết kiệm hơn là mang tiền ra chi tiêu, đầu tư Cũng trong lúc suy thoái thì ngân hàng lại càng ngần ngại cho vay hơn vì sợ rủi ro đến từ các doanh nghiệp khách hàng phá sản, mất khả năng thanh toán Vì vậy, NHNN hạ lãi suất cơ bản x% cũng không đồng nghĩa với lãi suất cho vay thương mại cũng sẽ giảm đi y% như kỳ vọng vì đơn giản là các ngân hàng không muốn cho vay để giảm rủi ro;
c.Khủng hoảng tín dụng
Các ngân hàng bị mất một khoản tiền đáng kể do mua nợ dưới chuẩn và vỡ nợ Vì vậy, họ tìm nguồn để cải thiện bảng cân đối kế toán của họ Họ không sẵn lòng cho vay nên ngay cả nếu như các công ty và người tiêu dùng muốn tận dụng lãi suất thấp
để vay, các ngân hàng sẽ không cho họ vay tiền Ngân hàng không muốn chia sẻ lợi ích thu được từ việc Ngân Hàng Nhà Nước hạ lãi suất chính sách, trần lãi suất huy động cho khách hàng vay tiền
d.Sự không sẵn lòng nắm giữ trái phiếu:
Nếu lãi suất thấp một cách bất thường, người ta sẽ kỳ vọng lãi suất sẽ tăng trở lại Khi đó, giá của trái phiếu sẽ sụt giảm đi (do giá trái phiếu tỷ lệ nghịch với lãi suất của trái phiếu) Vì thế, nhà đầu tư/ngân hàng muốn nắm giữ tiền mặt (cho những mục đích đầu tư khác) hơn là nắm giữ trái phiếu
*Vì sao chính sách tiền tệ không hiệu quả?
- Khi nền kinh tế ổn định, lãi suất danh nghĩa bình thường, không quá thấp thì chi phí
cơ hội cho việc nắm giữ tiền là đáng kế Khi đó, mọi người chỉ nắm giữ số tiền cần thiết cho nhu cầu giao dịch, còn lại đầu tư vào tài sản tài chính để sinh lợi Khi nền kinh tế xảy ra giảm phát, theo mô hình IS-LM chính sách tiền tệ mở rộng có tác dụng giảm lãi suất, kích thích tiêu dùng đầu tư, tăng sản lượng Tuy nhiên, khi xảy ra giảm phát, lãi suất danh nghĩa đã rất thấp (xấp xỉ bằng 0) nên không thể giảm được nữa; khi
đó, chi phí của việc giữ tiền bằng 0 nên NHTW cung tiền tăng bao nhiêu thì mọi người muốn nắm giữ bấy nhiêu Do đó, không kích thích được chi tiêu và đầu tư Chính sách tiền tệ trở nên không có tác dụng
- Khi xảy ra giảm phát thì gánh nặng nợ tăng lên, dù nghĩa vụ trả nợ với lãi suất i thấp nhưng phải trả vốn gốc với giá trị thực tăng lên, làm gia tăng tính dễ đổ vỡ của hệ thống tài chính - phá sản, vỡ nợ Khả năng trả nợ của người đi vay ngày càng xấu; trước kia doanh nghiệp vay nợ để đầu tư cho sản xuất nhằm tối đa hóa lợi nhuận thì khi xảy ra giảm phát, tổng cầu giảm, giá giảm, các doanh nghiệp chỉ sản xuất ở mức tối thiểu hóa lỗ, việc vay nợ không nhằm đầu tư vào sản xuất mà chủ yếu dùng để trả các khoản nợ trước đó Khi đó, cả tiêu dùng và đầu tư đều giảm, tổng cầu giảm, nền
Trang 6kinh tế càng lún sâu vào suy thoái vì vậy việc NHTW tăng cung tiền để kích cầu hoàn toàn không có hiệu quả
Dựa vào mô hình IS-LM:
Y: GDP của nền kinh tế
i: lãi suất
Trong thời kỳ nới lỏng chính sách tiền tệ làm cho LM di chuyển sang phải thành LM' Điểm cân bằng của nền kinh tế trước đây là Y*, không thay đổi khi LM → LM' => nới lỏng chính sách tiền tệ thất bại trong việc thúc đẩy kinh tế
Nếu lựa chọn chính sách tài khoá mở rộng: đường IS sẽ dịch chuyển sang IS'', thúc đẩy nền kinh tế Y sẽ chạy từ Y* sang Y' mà không làm lãi suất thay đổi
3 Biện pháp để thoát khỏi bẫy thanh khoản
Bẫy thanh khoản dẫn đến suy thoái, giảm phát và trục trặc hệ thống tài chính vì vậy: 1.Theo Paul Krugman: tạo ra lạm phát kì vọng sẽ giúp nền kinh tế thoát khỏi bẫy thanh khoản
2 Theo các nhà kinh tế tiền tệ: thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng: tăng cung tiền, bơm thanh khoản vào nền kinh tế hoặc thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tăng cường mua các tài sản tài chính như trái phiếu dài hạn
3 Theo quan điểm Keynes: thực hiện chính sách tài khóa mở rộng nhằm kích vào tổng cầu Chính sách tài khóa lúc thường vốn không phát huy được hiệu lực đầy đủ do hiện tượng lấn át (crowding out) thì lúc này lại phát huy đầy đủ hiệu lực do hiện tượng lấn át không còn (vì lãi suất thấp)
6
Trang 7II QUAN HỆ GIỮA GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN:
1 Bẫy thanh khoản dẫn đến giảm phát:
Khi nền kinh tế suy thoái, ngân hàng trung ương sẽ nới lỏng chính sách tiền tệ bằng việc giảm lãi suất để kích thích tiêu dùng và kích thích đầu tư tư nhân dẫn tới tăng tổng cầu, thoát khỏi suy thoái
Tuy nhiên, nếu việc giảm lãi suất là liên tục và xuống thấp quá mức thì, theo thuyết ưa chuộng tính thanh khoản (lãi suất chính là cái giá để người ta hy sinh sự ưa chuộng tính thanh khoản của tiền mặt), khi chi phí cơ hội giữa việc giữ tiền và gửi tiền ngang nhau, người dân sẽ có tâm lý giữ tiền mặt chứ không gửi vào ngân hàng hay đầu tư vào các tài sản tài chính Hậu quả là đầu tư tư nhân khó có thể được thúc đẩy vì ngân hàng không huy động được tiền gửi thì cũng không thể cho xí nghiệp vay và chứng khoán không bán được thì xí nghiệp cũng không huy động được vốn Chính sách tiền
tệ trở nên bất lực trong việc thúc đẩy đầu tư tư nhân và do đó là bất lực trong kích thích tổng cầu Tổng cầu tiếp tục giảm dẫn đến giảm phát Giảm phát kéo dài kết hợp với lãi suất quá thấp sẽ dẫn đến:
-Vòng xoắn sản lượng đình đốn và suy thoái
-Kỳ vọng giảm phát tạo ra lãi suất thực gia tăng ảnh hưởng đầu tư và hố cách suy thoái mở rộng
Theo phương trình Fisher
i là lãi suất danh nghĩa
r là lãi suất thực
e là tỉ lệ lạm phát kì vọng
- Như vậy, chính sách tiền tệ đã mất vai trò kích thích nền kinh tế của mình mà ngược lại rơi vào bẫy thanh khoản Trong khi đó, chính sách tiền tệ mở rộng đã làm người dân kì vọng vào tương lai tươi sáng hơn khi giá cả giảm và họ tiếp tục chờ đợi giá cả giảm hơn nữa và cuối cùng nền kinh tế vừa rơi vào bẫy thanh khoản đồng thời lại càng giảm phát nghiêm trọng hơn
2 Giảm phát dẫn đến bẫy thanh khoản:
Giảm phát do tổng cầu giảm, tiêu dùng giảm và đầu tư, giảm, tổng cung tăng -> lượng tiền lưu thông không đủ
Để giải quyết ngân hàng trung ương giảm lãi suất để kích cầu Tuy nhiên, làm xảy ra việc giữ tiền và gửi tiết kiệm
i= r + e
Trang 8III GIẢM PHÁT VÀ BẪY THANH KHOẢN Ở NHẬT BẢN:
*Thực trạng Nhật Bản lúc bấy
giờ:
Vào những năm 1990- 1991, tốc độ
tăng trưởng kinh tế của Nhật Bản tụt
dốc, bình quân đầu người của Nhật
chỉ tăng 0.5%,
-Thấp hơn rất nhiều so với các nước
-Tỷ lệ thất nghiệp cũng gia tăng
Ảnh hưởng của giảm phát đến nền kinh tế Nhật Bản:
Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của Nhật Bản trong thập niên mất mát so với các thời kỳ trước.
-Năng suất lao động giảm
-Nợ đọng
-Đầu tư tư nhân giảm
Thực trạng giảm phát của Nhật Bản
8
Trang 9*Nguyên nhân:
-Chính sách tiền tệ thiếu hợp lý : Chậm trễ trong việc nới lỏng chính sách tiền tệ (giảm lãi suất) Thậm chí còn nhanh chóng nâng lãi suất ngay khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi
- Bẫy thanh khoản: Lực lượng lao động giảm nhanh, người tiêu dùng muốn tiết kiệm nhiều hơn doanh nghiệp muốn đầu tư
- Kích cầu kém:
-Nguyên nhân khiến hiệu suất của chính phủ kích cầu kém: Chi tiêu công cộng của Chính phủ đã đổ hết vào các công trình công cộng vô bổ Lẽ ra các gói kích cầu phải dành cho chi tiêu vào mạng lưới an sinh xã hôi và giảm thuế tiêu dùng
*Hướng giải quyết của Nhật Bản:
-Từ tháng 9/1995 các doanh nghiệp vẫn không dám vay mượn thêm để đầu tư
Đầu 9/1998, NHTW Nhật Bản lại phải tuyên bố giảm mức lãi suất xuống còn 0,25% Năm 1998, Ngân hàng trung ương Nhật Bản đã giảm lãi suất xuống gần bằng 0%
Nợ xấu của ngân hàng Nhật tăng mạnh, đưa ra các chính sách giãn nợ đối với các khách hàng thiếu khả năng trả nợ
NHTW mở rộng biên độ và sự linh hoạt của các công cụ tiền tệ
Về chính sách tiền tệ : Trừ năm 1994, NHTW hạ lãi suất 8 lần trong khoảng thời gian năm 1991 và giữa năm 1995
Và sau đó NHTW chuyển sang lãi suất cơ bản với mức lãi suất mục tiêu là 0,5%
*Bài học rút ra từ khủng hoảng Nhật Bản
Khi nền kinh tế rơi vào thời kì khủng hoảng hoặc suy giảm nặng nề, điều đầu tiên và thiết yếu nhất đó là áp dụng chính sách tiền tệ, cùng với đó thì chính sách tài khoá cũng được sử dụng song song một cách linh hoạt
NHTW không nên tránh các biện pháp can thiệp mạnh tay mà nên đưa ra các giải pháp táo bạo kể cả khi khủng hoảng đã dịu bớt
Quốc hữu hóa một số ngân hàng có nguy cơ phá sản hoặc không tìm thấy được đối tác
để sát nhập, tham gia giải cứu các tổ chức tài chính và tín dụng nhỏ
IV LIÊN HỆ THỰC TRẠNG VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
*Thực trạng kinh tế Việt Nam năm 2014
Trang 10Những tiến bộ nhất định trong việc thực hiện các chính sách tiền tệ của ngân hàng:
"Tín dụng đối với nền kinh tế tăng 12,62%; huy động vốn tăng 15,76% ; dự trữ ngoại hối tăng cao; tỷ giá ngoại tệ được kiểm soát trong biên độ đề ra.”
-Sức mua của người dân trong năm 2014 yếu hơn nhiều so với trước đây khiến CPI giảm, gần 65.000 doanh nghiệp phá sản, so với năm ngoái, tình trạng thất nghiệp cao, hàng tồn kho cao, siêu thị không bán được hàng, tổng mức bán lẻ giảm mạnh
-Với chỉ số CPI tăng thấp như vậy, Việt Nam có thể sẽ rơi vào tình trạng giảm phát Nhưng có thể khắc phục được bằng cách: “Sử dụng lạm phát chi phí đẩy để đưa mức lạm phát lên và cân đối với mức cầu….” – theo TS Vũ Đình Ánh
*Thực trạng kinh tế Việt Nam ở quý I- 2015
Tính đến ngày 20/4/2015, tín dụng đối với nền kinh tế ước tăng 2,78%, tức tăng gấp hơn 5 lần so với cùng kỳ năm ngoái
Bước sang Quý I/2015, NHNN đã thể hiện quyết tâm trong việc xử lý nợ xấu
-> Tuy các chỉ số đang có xu hướng tăng không cao nhưng vẫn khó để có thể khẳng định rằng Việt Nam có đang rơi vào tình trạng giảm phát hay bẫy thanh khoản hay không
*Giải pháp ngăn ngừa Giảm phát và Bẫy thanh khoản ở Việt Nam
Điều hành chính sách tiền tệ trên cả 3 góc độ:
10
Trang 11Kiềm chế tăng chỉ số giá tiêu dùng
Ổn định giá trị đối ngoại của đồng Việt Nam
Người dân hạn chế việc mua vàng để tìm nơi trú ẩn tài sản
Xử lý mạnh tay với các khoản nợ xấu trong ngân hàng
Thành lập Quỹ hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ
Chính phủ bơm tiền cho nền kinh tế thông qua việc phát hành trái phiếu hoặc lấy tín phiếu ngắn hạn tại các ngân hàng sau đó hoán đổi thành các kỳ trung và dài hạn
Kết luận
Để tránh lặp lại sai lầm kinh tế như Nhật Bản, Việt Nam cần phải có những biện pháp hiệu quả, kịp thời và linh hoạt theo sự chuyển biến của thị trường
Đặc biệt, Nhà nước và NHTW luôn phải có những chính sách tài khóa, tiền tệ hợp lý
IV TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1 Bẫy thanh khoản; Wikipedia Việt Nam
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bẫy_thanh_khoản
2 Liquidity Trap/ Bẫy Thanh Khoản
http://www.saga.vn/thuat-ngu/liquitidy-trap-bay-thanh-khoan~1638
3 Bẫy thanh khoản và câu chuyện hạ lãi suất
http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=75&NewsId=242293
4 Tiểu luận Giảm phát và Bẫy thanh khoản
http://luanvan.co/luan-van/tieu-luan-giam-phat-va-bay-thanh-khoan-56920/
5 Thập niên mất mát (Nhật Bản)
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%ADp_ni%C3%AAn_m%E1%BA
%A5t_m%C3%A1t_(Nh%E1%BA%ADt_B%E1%BA%A3n)
6 CPI 2014
http://bizlive.vn/hang-hoa/cpi-nam-2014-thap-nguy-co-giam-phat-hien-huu-685490.html