Thuật ngữ Supply Chain Management (SCM) vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty mặc dù nó đang trở thành “mốt thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại. Công ty nào cũng luôn tìm mọi cách để tạo một kênh liên lạc thông suốt giữa nhà cung ứng và khách hàng của họ, xóa bỏ những nhân tố tạo khả năng sinh lời. Giảm chi phí , tăng thị phần và dành được đông đảo khách hàng. Vì lí do đó mà SCM được xem là một giải pháp tốt để tăng hiệu quả kinh doanh. Với SCM việc chia sẻ dữ liệu kinh doanh sẽ không bị bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà đã lan truyền đến nhà cung ứng, nhà sản xuất và nhà phân phối. Có thể nói dây chuyền cung ứng chú trọng tới mọi hoạt động sản xuất của công ty bạn, cả trong hiện tại lần tương lai, nhằm cân đối giữa cung và cầu, đồng thời phản hồi lại sự thay đổi trên thị trường.Người ta bàn về các giải pháp thiết lập SCM, mạng lưới SCM, các bộ phần mềm SCM, ... nhưng vẫn băn khoăn tự hỏi : Thực chất SCM là gì, ứng dụng SCM ra sao, phần nghiên cứu dưới đây sẽ giúp phần nào giải đáp những thắc mắc đó. Bài thảo luận dưới đây của Nhóm 9 chúng em sẽ đi giải đáp tất cả thắc mắc trên và đi sâu khảo sát về hệ thống ký túc xá trường ĐH Công Nghiêp. Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ cô giáo cũng như các bạn để Nhóm hoàn thiện hơn PHẦN A. NỘI DUNGI.Nguồn gốc của SCMSCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistic (hậu cần). Trong tiếng Anh, một điều thú vị là từ Logistics này không hề có liên quan gì đến từ “Logistic” trong toán học. Khi dịch sang tiếng Việt, có người dịch là hậu cần, có người dịch là kho vận, dịch vụ cung ứng. Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó đều chưa thoả đáng, không phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất của Logistics. Vì vậy, tốt hơn cả là chúng ta hãy giữ nguyên thuật ngữ Logistics và sau đó tìm hiểu tường tận ý nghĩa của nó.Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần. Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ. Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:1Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution):Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:•Vận tải.•Phân phối.•Bảo quản hàng hoá.•Quản lý kho bãi.•Bao bì, nhãn mác, đóng gói.2Giai đoạn 2: Hệ thống LogisticsGiai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm.3Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng (SCM)Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất đến người tiêu dùng. Khái niệm SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin.II.Khái niệm chuỗi cung ứng, quản lý chuỗi cung ứng SCMChuỗi cung ứng: Là mạng lưới các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà lắp ráp, nhà phân phối và các trang thiết bị hậu cần. Nhằm thực hiện các chức năng :+ Thu mua nguyên liệu+ Chuyển thành các sản phẩm trung gian đến cuối cùng+ Phân phối các sản phẩm đến khách hàngQuản lí chuỗi cung ứng : Là phối hợp tất cả các hoạt động và các TT liên quan đến việc mua, sản xuất và di chuyển sản phẩm.+ SCM tích hợp nhu cầu hậu cần nhà cung cấp,nhà phân phối và khách hàng thành 1 quá trình liên kết.+ SCM là mạng lưới các điều kiện dễ dàng cho việc thu mua NVL, chuyển NVL thô thành sản phẩm trung gian và cuối cùng, và phân phối sản phẩm cuối cùng đến khách hàng.Quản lí chuỗi cung ứng ( Supply Chain Management – SCM ) là một sự quản lí toàn bộ chuỗi giá trị thặng dư ( value added ), từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất rồi tới các nhà bán buôn, bán lẻ và cuối cùng là tới khách hàng đầu cuối. SCM có 3 mục tiêu chính :+ Giảm hàng tồn kho+ Tăng lượng giao dịch thông qua việc đẩy mạnh trao đổi dữ liệu với thời gian thực+Tăng doanh thu bán hàng với việc triển khai đáp ứng khách hàng một cách hiệu quả hơnMột dây chuyền cung ứng là một mạng lưới các cơ sở và các tùy chọn phân phối thực hiện chức năng mua sắm vật tư, chuyển đổi của các vật liệu này thành và hoàn thành sản phẩm trung gian, và sự phân bố các thành phẩm cho khách hàng.SCM (Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng ) là sự kết hợp của khoa học và công nghệ phần mềm bao trùm tất cả các hoạt động có liên quan đến chuỗi cung ứng, bao gồm việc tìm kiếm, khai thác, lưu trữ các nguyên liệu đầu vào;Lập kế hoạch và quản lí các quá trình sản xuất; chế biến ;lưu kho và phân phối sản phẩm đầu ra.Ưng dụng: Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng được ứng dụng để theo dõi việc lưu thông của sản phẩm dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng. SCM cũng được sử dụng để quản lí các yêu cầu, nhà kho, lưu vận, lưu hành, các yêu cầu liên quan khác và các sản phẩm đến được với khác hàng cuối cùng . Các chức năng cơ bản của SCM bao gồm việc tối ưu hóa chuỗi cung cấp, quản lí các biến cố, quản lí tồn kho, quản lí RFID, quàn lí lưu hành. Ngoài ra SCM có thể còn bao gồm việc quản lí thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa các nhà cung cấp.III.Các mô hình SCM1Mô hình:a.Mô hình đơn giản: Mô tả: Một công ty sản xuất sẽ nằm trong “mô hình đơn giản”, khi họ chỉ mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sau đó tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng. Ở đây, bạn chỉ phải xử lý việc mua nguyên vật liệu rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và tại một địa điểm duy nhất (singlesite).
Trang 1MỤC LỤC
Thuật ngữ Supply Chain Management (SCM) vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty mặc dù nó đang trở thành “mốt thời thượng” trong các hoạt động kinh doanh hiện đại Công ty nào cũng luôn tìm mọi cách để tạo một kênh liên lạc thông suốt giữa nhà cung ứng và khách hàng của họ, xóa bỏ những nhân tố tạo khả năng sinh lời Giảm chi phí , tăng thị phần và dành được đông đảo khách hàng Vì lí do đó mà SCM được xem là một giải pháp tốt để tăng hiệu quả kinh doanh Với SCM việc chia
sẻ dữ liệu kinh doanh sẽ không bị bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp mà đã lan truyền đến nhà cung ứng, nhà sản xuất và nhà phân phối Có thể nói dây chuyền cung ứng chú trọng tới mọi hoạt động sản xuất của công ty bạn, cả trong hiện tại lần tương lai, nhằm cân đối giữa cung và cầu, đồng thời phản hồi lại sự thay đổi trên thị trường.Người ta bàn về các giải pháp thiết lập SCM, mạng lưới SCM, các bộ phần mềm SCM, nhưng vẫn băn khoăn tự hỏi : Thực chất SCM là gì, ứng dụng SCM ra sao, phần nghiên cứu dưới đây sẽ giúp phần nào giải đáp những thắc mắc đó Bài thảo luận dưới đây của Nhóm 9 chúng em sẽ đi giải đáp tất cả thắc mắc trên và đi sâu khảo sát
về hệ thống ký túc xá trường ĐH Công Nghiêp Rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ cô giáo cũng như các bạn để Nhóm hoàn thiện hơn !
PHẦN A NỘI DUNG
I Nguồn gốc của SCM
Trang 2SCM là một giai đoạn phát triển của lĩnh vực Logistic (hậu cần) Trong tiếng Anh, một điều thú vị là từ Logistics này không hề có liên quan gì đến từ “Logistic” trong toán học Khi dịch sang tiếng Việt, có người dịch là hậu cần, có người dịch là kho vận, dịch vụ cung ứng Tuy nhiên, tất cả các cách dịch đó đều chưa thoả đáng, không phản ánh đầy đủ và chính xác bản chất của Logistics Vì vậy, tốt hơn cả là chúng ta hãy giữ nguyên thuật ngữ Logistics và sau đó tìm hiểu tường tận ý nghĩa của nó.
Ban đầu, logistics được sử dụng như một từ chuyên môn trong quân đội, được hiểu với nghĩa là công tác hậu cần Đến cuối thế kỷ 20, Logistics được ghi nhận như là một chức năng kinh doanh chủ yếu, mang lại thành công cho các công ty cả trong khu vực sản xuất lẫn trong khu vực dịch vụ Uỷ ban kinh tế và xã hội châu Á Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific - ESCAP) ghi nhận Logistics đã phát triển qua 3 giai đoạn:
1- Giai đoạn 1: Phân phối (Distribution):
Đó là quản lý một cách có hệ thống các hoạt động liên quan với nhau nhằm đảm bảo cung cấp sản phẩm, hàng hoá cho khách hàng một cách hiệu quả nhất Giai đoạn này bao gồm các hoạt động nghiệp vụ sau:
• Vận tải
• Phân phối
• Bảo quản hàng hoá
• Quản lý kho bãi
• Bao bì, nhãn mác, đóng gói
2- Giai đoạn 2: Hệ thống Logistics
Giai đoạn này có sự phối kết hợp công tác quản lý của cả hai mặt trên vào cùng một hệ thống có tên là Cung ứng vật tư và Phân phối sản phẩm
3- Giai đoạn 3: Quản trị dây chuyền cung ứng (SCM)
Theo ESCAP thì đây là khái niệm mang tính chiến lược về quản trị chuỗi quan hệ
từ nhà cung cấp nguyên liệu – đơn vị sản xuất - đến người tiêu dùng Khái niệm SCM chú trọng việc phát triển các mối quan hệ với đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp, người tiêu dùng và các bên liên quan như các công ty vận tải, kho bãi, giao nhận và các công ty công nghệ thông tin
Trang 3II Khái niệm chuỗi cung ứng, quản lý chuỗi cung ứng SCM
- Chuỗi cung ứng: Là mạng lưới các nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà lắp ráp, nhà phân
phối và các trang thiết bị hậu cần Nhằm thực hiện các chức năng :
+ Thu mua nguyên liệu
+ Chuyển thành các sản phẩm trung gian đến cuối cùng
+ Phân phối các sản phẩm đến khách hàng
- Quản lí chuỗi cung ứng : Là phối hợp tất cả các hoạt động và các TT liên quan đến
việc mua, sản xuất và di chuyển sản phẩm
+ SCM tích hợp nhu cầu hậu cần nhà cung cấp,nhà phân phối và khách hàng
thành 1 quá trình liên kết
+ SCM là mạng lưới các điều kiện dễ dàng cho việc thu mua NVL, chuyển NVL
thô thành sản phẩm trung gian và cuối cùng, và phân phối sản phẩm cuối cùng đến khách hàng
Quản lí chuỗi cung ứng ( Supply Chain Management – SCM ) là một sự quản lí toàn bộ chuỗi giá trị thặng dư ( value- added ), từ nhà cung cấp tới nhà sản xuất rồi tới các nhà bán buôn, bán lẻ và cuối cùng là tới khách hàng đầu cuối SCM có 3 mục tiêu chính :
- Một dây chuyền cung ứng là một mạng lưới các cơ sở và các tùy chọn phân phối
thực hiện chức năng mua sắm vật tư, chuyển đổi của các vật liệu này thành và hoàn thành sản phẩm trung gian, và sự phân bố các thành phẩm cho khách hàng
- SCM (Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng ) là sự kết hợp của khoa học và công nghệ
phần mềm bao trùm tất cả các hoạt động có liên quan đến chuỗi cung ứng, bao gồm việc tìm kiếm, khai thác, lưu trữ các nguyên liệu đầu vào;
Lập kế hoạch và quản lí các quá trình sản xuất; chế biến ;lưu kho và phân phối sản phẩm đầu ra
- Ưng dụng: Hệ thống quản trị chuỗi cung ứng được ứng dụng để theo dõi việc lưu
thông của sản phẩm dịch vụ từ nhà cung cấp tới khách hàng SCM cũng được sử dụng
Trang 4để quản lí các yêu cầu, nhà kho, lưu vận, lưu hành, các yêu cầu liên quan khác và các sản phẩm đến được với khác hàng cuối cùng Các chức năng cơ bản của SCM bao gồm việc tối ưu hóa chuỗi cung cấp, quản lí các biến cố, quản lí tồn kho, quản lí RFID, quàn lí lưu hành Ngoài ra SCM có thể còn bao gồm việc quản lí thương mại quốc tế, mối quan hệ giữa các nhà cung cấp.
Mô hình đơn giản
Mô tả: Một công ty sản xuất sẽ nằm trong “mô hình đơn giản”, khi họ chỉ mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sau đó tự làm ra sản phẩm của mình rồi bán hàng trực tiếp cho người sử dụng Ở đây, bạn chỉ phải xử lý việc mua nguyên vật liệu rồi sản xuất ra sản phẩm bằng một hoạt động và tại một địa điểm duy nhất (single-site)
Trang 5Nhà phân phối
Nhà thầu phụ
Xí nghiệp anh chị
Người bán lẻ
Trung tâm phân phối
Sản xuất kinh doanh
ra sản phẩm, doanh nghiệp còn đón nhận nhiều nguồn cung cấp bổ trợ cho quá trình sản xuất từ các nhà thầu phụ và đối tác sản xuất theo hợp đồng Trong mô hình phức tạp này, hệ thống SCM phải xử lý việc mua sản phẩm trực tiếp hoặc mua qua trung gian, làm ra sản phẩm và đưa sản phẩm đến các nhà máy “chị em” để tiếp tục sản xuất
ra sản phẩm hoàn thiện
Các công ty sản xuất phức tạp sẽ bán và vận chuyển sản phẩm trực tiếp đến khách hàng hoặc thông qua nhiều kênh bán hàng khác, chẳng hạn như các nhà bán lẻ, các nhà phân phối và các nhà sản xuất thiết bị gốc (OEMs) Hoạt động này bao quát nhiều địa điểm (multiple-site) với sản phẩm, hàng hóa tại các trung tâm phân phối được bổ sung từ các nhà máy sản xuất Đơn đặt hàng có thể được chuyển từ các địa điểm xác định, đòi hỏi công ty phải có tầm nhìn về danh mục sản phẩm/dịch vụ đang
có trong toàn bộ hệ thống phân phối Các sản phẩm có thể tiếp tục được phân bổ ra thị trường từ địa điểm nhà cung cấp và nhà thầu phụ Sự phát triển trong hệ thống quản lý dây chuyền cung ứng đã tạo ra các yêu cầu mới cho các quy trình áp dụng SCM Chẳng hạn, một hệ thống SCM xử lý những sản phẩm được đặt tại các địa điểm của khách hàng và nguyên vật liệu của nhà cung cấp lại nằm tại công ty sản xuất
Trang 6vị cung cấp nguyên liệu trực tiếp như vật liệu thô, các chi tiết của sản phẩm, bán thành phẩm Các công ty cung cấp dịch vụ cho sản xuất, kinh doanh được gọi là nhà cung cấp dịch vụ.
• Đơn vị sản xuất: là nơi sử dụng nguyên liệu, dịch vụ đầu vào và áp dụng các quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm cuối cùng Các nghiệp vụ về quản lý sản xuất được sử dụng tối đa tại đây nhằm tăng hiệu quả, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo nên sự thông suốt của dây chuyền cung ứng
• Khách hàng: là người sử dụng sản phẩm của đơn vị sản xuất
3- Các thành phần cơ bản của SCM
Dây chuyền cung ứng được cấu tạo từ 5 thành phần cơ bản Các thành phần này
là các nhóm chức năng khác nhau và cùng nằm trong dây chuyền cung ứng:
• Sản xuất (Làm gì? Như thế nào? Khi nào?)
• Vận chuyển (Khi nào? Vận chuyển như thế nào?)
• Tồn kho (Chi phí sản xuất và lưu trữ)
• Định vị (Nơi nào tốt nhất? Để làm cái gì?)
• Thông tin (Cơ sở để ra quyết định)
a Sản xuất:
Sản xuất là khả năng của dây chuyền cung ứng tạo ra và lưu trữ sản phẩm Phân xưởng, nhà kho là cơ sở vật chất, trang thiết bị chủ yếu của thành phần này Trong quá trình sản xuất, các nhà quản trị thường phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng và hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp: Thị trường cần những sản phẩm gì? Sẽ có bao nhiêu sản phẩm được sản xuất và khi nào được sản xuất? Để trả lời các câu hỏi đó thì hệ thống SCM hỗ trợ các hoạt động về sản xuất bao gồm việc tạo các kế hoạch sản xuất tổng thể có tính đến khả năng của các nhà máy, tính cân bằng tải công việc, điều khiển chất lượng và bảo trì các thiết bị
b Vận chuyển:
Đây là bộ phận đảm nhiệm công việc vận chuyển nguyên vật liệu, cũng như sản phẩm giữa các nơi trong dây chuyền cung ứng Ở đây, sự cân bằng giữa khả năng đáp ứng nhu cầu và hiệu quả công việc được biểu thị trong việc lựa chọn phương thức vận chuyển Thông thường có 6 phương thức vận chuyển cơ bản:
• Đường biển: giá thành rẻ, thời gian vận chuyển dài và bị giới hạn về địa điểm giao nhận
Trang 7• Đường sắt: giá thành rẻ, thời gian trung bình, bị giới hạn về địa điểm giao nhận.
• Đường bộ: nhanh, thuận tiện
• Đường hàng không: nhanh, giá thành cao
• Dạng điện tử: giá thành rẻ, nhanh, bị giới hạn về loại hàng hoá vận chuyển (chỉ dành cho dữ liệu, âm thanh, hình ảnh…)
• Đường ống: tương đối hiệu quả nhưng bị giới hạn loại hàng hoá (khi hàng hóa
là chất lỏng, chất khí )
Hàng tồn kho sẽ được vận chuyển như thế nào từ một điểm trong chuỗi cung ứng tới một điểm trong chuỗi cung ứng khác? Tiền cước phí vận chuyển bằng máy bay và vận chuyển bằng các xe tải thường là rất nhanh với độ tin cậy cao nhưng chi phí lại rất đắt Vận chuyện bằng đường biển hoặc đường sắt thường có chi phí rẻ hơn nhiều nhưng lại mất nhiều thời gian quá cảnh và độ tin cậy lại không cao Tình trạng không chắc chắn này phải được đề phòng bằng việc phải có các mức dự trữ tồn kho cao Như vậy là doanh nghiệp phải xác định chế độ vận chuyển nào cho hợp lý?
c Tồn kho:
Tồn kho là việc hàng hoá được sản xuất ra tiêu thụ như thế nào Chính yếu tố tồn kho sẽ quyết định doanh thu và lợi nhuận của công ty Nếu tồn kho ít tức là sản phẩm của công ty được sản xuất ra bao nhiêu sẽ tiêu thụ hết bấy nhiêu, từ đó chứng tỏ hiệu quả sản xuất của công ty ở mức cao và lợi nhuận đạt mức tối đa
Nhưng những thành phần kho nào nên lưu trong kho ở mỗi giai đoạn trong chuỗi cung ứng? Lượng tồn kho về nguyên vật liệu, bán thành phẩm hoặc sản phẩm nên là bao nhiều thì hợp lý? Mục tiêu chính của hàng tồn kho là đóng vai trò hàng đợi dự trữ nhằm chuẩn bị cho những tình trạng không rõ ràng và không chắc chắn trong chuỗi cung ứng Tuy nhiên, việc lưu trữ hàng tồn kho có thể dẫn đến chi phí cao Vì vậy, việc tối ưu hóa lượng hàng tồn kho như làm sao để mức tồn kho là tối thiểu và đến mức nào thì nên đặt hàng ?
d Định vị:
Bạn tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu sản xuất ở đâu? Nơi nào là địa điểm tiêu thụ tốt nhất? Những địa điểm nào chúng ta nên đặt những phương tiện cho sản xuất và cho kho bãi? Địa điểm nào là hiệu quả nhất về mặt chi phí để sản xuất và đặt kho bãi?
Có nên dùng chung các phương tiện hay xây dựng mới? Một khi tất cả những quyết định trên được thực hiện thì sẽ xác định được các con đường tốt nhất để sản phẩm có
Trang 8thể vận chuyển tới nơi tiêu thụ đầu cuối một cách nhanh chóng và hiệu quả Đây chính
là những yếu tố quyết định sự thành công của dây chuyền cung ứng Định vị tốt sẽ giúp quy trình sản xuất được tiến hành một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn
e Thông tin:
Thông tin chính là “nguồn dinh dưỡng” cho hệ thống SCM của bạn Bạn cần khai thác thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và cố gắng thu thập nhiều nhất lượng thông tin cần thiết.Doanh nghiệp thường đặt ra câu hỏi :Nên thu thập bao nhiêu dữ liệu và nên chia sẻ bao nhiêu thông tin? Thông tin chính xác và đúng thời điểm sẽ tạo cho doanh nghiệp những cam kết về sự phối hợp và đưa ra quyết định tốt hơn Với thông tin “tốt”, con người có thể đưa ra các quyết định một cách hiệu quả về những vấn đề như sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, nơi nào nên đặt kho hàng và vận chuyển như thế nào là tốt nhất Nếu thông tin chuẩn xác, hệ thống SCM sẽ đem lại những kết quả chuẩn xác Ngược lại, nếu thông tin không đúng, hệ thống SCM sẽ không thể phát huy tác dụng
IV Những bước đi cơ bản khi triển khai SCM
1 Kế hoạch
Đây là bộ phận chiến lược của SCM Bạn sẽ cần đến một chiến lược chung để quản lý tất cả các nguồn lực nhằm giúp sản phẩm, dịch vụ của bạn đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng Phần quan trọng của việc lập kế hoạch là xây dựng một bộ các phương pháp, cách thức giám sát dây chuyền cung ứng để đảm bảo dây chuyền hoạt động hiệu quả, tiết kiệm chi phí và tạo ra sản phẩm có chất lượng cao để đưa tới khách hàng
2 Nguồn cung cấp
Hãy lựa chọn những nhà cung cấp thích hợp để đáp ứng các chủng loại hàng hóa, dịch vụ đầu vào mà bạn cần để làm ra sản phẩm, dịch vụ của bạn Bạn nên xây dựng một bộ các quy trình định giá, giao nhận và thanh toán với nhà phân phối, cũng như thiết lập các phương pháp giám sát và cải thiện mối quan hệ giữa bạn với họ Sau đó, ban hãy tiến hành song song các quy trình này nhằm quản lý nguồn hàng hóa, dịch vụ
mà bạn nhận được từ các nhà cung cấp, từ việc nhận hàng, kiểm tra hàng, chuyển chúng tới các cơ sở sản xuất đến việc thanh toán tiền hàng
3 Sản xuất
Trang 9Đây là bước đi tiếp theo, sau khi bạn đã có nguồn hàng Hãy lên lịch trình cụ thể
về các hoạt động sản xuất, kiểm tra, đóng gói và chuẩn bị gia nhận Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất của dây chuyền cung ứng, vì vạy bạn cần giám sát, đánh giá chặt chẽ các tiêu chuẩn chất lượng của thành phẩm cũng như hiệu suất làm việc của nhân viên
4 Giao nhận
Đây là yếu tố mà nhiều người hay gọi là “hậu cần” Hãy xem xét từng khía cạnh
cụ thể bao gồm các đơn đặt hàng, xây dựng mạng lưới cửa hàng phân phối, lựa chọn đơn vị vận tải để đưa sản phẩm của bạn tới khách hàng, đồng thời thiết lập một hệ thống hóa đơn thanh toán hợp lý
5 Hoàn lại
Đây là công việc chỉ xuất hiện trong trường hợp dây chuyền cung ứng có vấn đề Nhưng dù sao bạn cũng cần phải xây dựng một chính sách đón nhận những sản phẩm khiếm khuyết bị khách hàng trả về và trợ giúp khách hàng trong trường hợp có vần đề rắc rối đối với sản phẩm đã được bàn giao
V Các tính năng chính của SCM
Các giải pháp SCM cung cấp một bộ ứng dụng toàn diện bao gồm các phân hệ
và các tính năng hỗ trợ từ đầu đến cuối các quy trình cung ứng, bao gồm:
- Quản lý kho để tối ưu mức tồn kho (thành phẩm, bán thành phẩm, nguyên vật liệu, các linh kiện, bộ phận thay thế cho các hệ thống máy móc) đồng thời tối thiểu hóa các chi phí tồn kho liên quan
- Quản lý đơn hàng bao gồm tự động nhập các đơn hàng, lập kế hoạch cung ứng, điều chỉnh giá, sản phẩm để đẩy nhanh quy trình đặt hàng – giao hàng
- Quản lý mua hàng để hợp lý hóa quy trình tìm kiếm nhà cung cấp, tiến hàng mua hàng và thanh toán
- Quản lý hậu cần để tăng mức độ hiệu quả của công tác quản lý kho hàng, phối hợp các kênh vận chuyển, từ đó tăng độ chính xác (về thời gian) của công tác giao hàng
- Lập kế hoạch chuỗi cung ứng để cải thiện các hoạt động liên quan bằng cách dự báo chính xác nhu cầu thị trường, hạn chế việc sản xuất dư thừa
Trang 10- Quản lý thu hồi để đẩy nhanh quá trình kiểm tra đánh giá và xử lý các sản phẩm lỗi, đồng thời tự động hóa quy trình khiếu nại, đòi bồi hoàn từ các nhà cung ứng và các công ty bảo hiểm.
- Quản lý hoa hồng để giúp doanh nghiệp quản lý tốt hơn quá trình đàm phán với các nhà cung cấp, tỷ lệ giảm giá, các chính sách hoa hồng cũng như nghĩa vụ
Một số giải pháp SCM trên thị trường hiện nay còn được tích hợp thêm khả năng quản lý hợp đồng, quản lý vòng đời sản phẩm và quản lý tài sản
* Mục tiêu chính của quản lý chuỗi cung ứng là đáp ứng nhu cầu khách hàng thông qua việc sử dụng hiệu quả nhất các nguồn lực, bao gồm cả phân phối, năng lực kiểm kê và lao động Về lý thuyết, một chuỗi cung ứng tìm cách để phù hợp với nhu cầu, với nguồn cung cấp và với hàng tồn kho tối thiểu Các khía cạnh, khác nhau của việc tối ưu hóa chuỗi cung ứng bao gồm việc liên lạc với nhà cung cấp để loại bỏ tắc nghẽn, tìm nguồn cung ứng chiến lược để cân bằng giữa chi phí thấp nhất và vận chuyển vật liệu, thực hiện kỹ thuật sản xuất tối ưu hóa dòng chảy
VI Vai trò của SCM đối với hoạt động kinh doanh:
Đối với các công ty, SCM có vai trò rất to lớn Bởi vì các doanh nghiệp nằng trong bất cứ một chuỗi cung ứng nào cũng phải đưa ra các quyết định chung và các quyết định riêng đối với các hành động của họ trên 5 lĩnh vực:
lý hàng trả lại và hỗ trợ khách hàng trong việc nhận hàng
SCM giải quyết cả đầu ra lẫn đầu vào của doanh nghiệp một cách hiệu quả Nhờ
đó có thể thay đổi các nguồn nguyên vật liệu đầu vào hoặc tối ưu hóa quá trình luân chuyển nguồn vật liệu, hàng hóa, dịch vụ mà SCm có thể giúp tiết kiệm chi phí, tăng
Trang 11khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp Có không ít công ty đã gặt hái thành công lớn nhờ biết soạn thảo chiến lược và giải pháp SCM thích hợp, ngược lại, có nhiều công ty gặp khó khăn, thất bại do đưa ra các quyết định sai lầm như chọn sai nguồn cung cấp nguyên vật liệu, chọn sai vị trí kho bãi, tính toán lượng dự trữ không phù hợp, tổ chức vận chuyển rắc rối, chồng chéo…
Ngoài ra, SCM còn hỗ trợ đắc lực cho hoạt động tiếp thị, đặc biệt là tiếp thị hỗn hợp (4P: Product, Price, Promotion, Place) Chính SCM đóng vai trò then chốt trong việc đưa sản phẩm đến đúng nơi cần đến và vào đúng thời điểm thích hợp Mục tiêu lớn nhất của SCM là cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng với tổng chi phí nhỏ nhất
Điểm đáng lưu ý là các chuyên gia kinh tế đã nhìn nhận bằng hệ thống SCM hứa hẹn từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty và tạo điều kiện cho chiến lược thương mại điện tử phát triển Đây chính là chìa khóa thành công cho các công ty thương mại điện tử (B2B) Tuy nhiên, như không ít các nhà phân tích kinh doanh đã cảnh báo, chiếc chìa khóa này chỉ thực sự phục vụ cho việc nhận biết các chiến lược dựa trên hệ thống sản xuất, khi chúng tạo ra một trong những mối liên kết trọng yếu nhất trong dây chuyền cung ứng
* Lợi ích khi sử dụng SCM
Khi sử dụng SCM, các nhà cung cấp sẽ không phải dự đoán xem có bao nhiêu nguyên liệu thô sẽ được đặt hàng, các nhà sản xuất sẽ không phải thu mua quá số lượng họ cần để dự phòng trong trường hợp nhu cầu về sản phẩm đột ngột tăng cao, các nhà bán lẻ sẽ không phải để trốn các kệ hàng, nếu họ chia sẻ với nhà sản xuất các thông tin họ có về tình hình buôn bán sản phẩm của nhà sản xuất…
Với những tiện ích và vai trò mà SCM có thể mang lại cho doanh nghiệp như trên các doanh nghiệp xây dựng SCM nhằm phục vụ cho những mục đích liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Những mục đích chính đó là:
- Quản lý hiệu quả hơn toàn mạng lưới của doanh nghiệp bằng việc bao quát được tất cả các nhà cung cấp, các nhà máy sản xuất, các kho lưu trữ và hệ thống các kênh phân phối Doanh nghiệp có thể dự đoán tốt hơn các xu hướng thị trường, thỏa thuận những đơn hàng tốt nhất có thể với các nhà cung ứng, tối ưu hóa mức tồn kho,
và liên kết tốt hơn với các kênh phân phối
Trang 12- Tăng hiệu quả cộng tác liên kết trong toàn chuỗi cung ứng bằng việc chia sẻ các thông tin cần thiết như các bản báo cáo xu hướng nhu cầu thị trường, các dự báo, mức tồn kho và các kế hoạch vận chuyển với nhà cung cấp cũng như các đối tác khác.
- Tối thiểu hóa chi phí tồn kho và tăng chu trình lưu chuyển tiền mặt bằng các quản lý tốt hơn mức tồn kho
- Tăng mức độ kiểm soát công tác hậu cần để sửa chữa kịp thời các vấn đề phát sinh trong chuỗi cung ứng trước khi quá muộn
- Với các giải pháp SCM, người quản lý có thể sắp xếp hợp lý và tự động hóa các bước lập kế hoạch, thực hiện và các hoạt động quan trọng khác Từ khi có sự xuất hiện của các đơn vị thứ ba xuyên suốt trong quá trình cung ứng, giải pháp SCM đã được thiết kế để nâng cao sự giao tiếp và liên kết giữa các nhà cung ứng, các đơn vị vận tải, các đơn vị trung gian và các đối tác khác bằng cách cho phép chia sẻ thông tin đa chiều một cách nhanh chóng
- Giải pháp SCM cho phép doanh nghiệp có thể kiểm soát được các mối quan hệ với đối tác trong khi vẫn có thể phản ứng nhanh với những nhu cầu đang thay đổi từng giờ từng phút của khách hàng
Điều quan trọng nhất khi doanh nghiệp xây dựng SCM là tiếu kiệm chi phí tối
đa, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp, tăng thị phần, giành được đông đảo khách hàng, tăng doanh thu cho doanh nghiệp và tối đa hóa lợi nhuận
bộ hoạt động kinh doanh
- Các hình thức kinh doanh với đa chi nhánh, đối tác, văn phong đại diện có thể dẫn tới sự xáo trộn không phân tích nổi
V Tình hình ứng dụng SCM tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam hiện nay
Qua nghiên cứu nhận thấy phần lớn các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics tại Việt Nam còn tán mạn, nhỏ lẻ, hoạt động chia cắt chỉ đáp ứng được một
số công đoạn trong logistics (chủ yếu ở cấp độ 2) Một vài công ty nhà nước tương đối
Trang 13lớn như Viconship, Vintrans, Vietrans… song vẫn chưa đủ năng lực để tham gia vào hoạt động Logistics Nhật Bản, các doanh nghiệp Logistic Việt Nam chỉ đáp ứng được 25% nhu cầu thì trường của Logistics trong nước Giá cả dịch vụ Logistics tại Việt Nam so với một số nước trong khu vực là tương đối rẻ song chất lượng dịch vụ chưa cao và chưa bền vững Theo đánh giá của VIFFAS trình độ công nghệ của Logistics tại Việt Nam còn yếu kém so với thế giới và các nước trong khu vực Cụ thể là trong công nghệ vận tải đa phương thức vẫn chưa kết hợp được một cách hiệu quả các phương tiện vận chuyển, chưa tổ chức tốt các điểm chuyển tải, trình độ cơ giới hóa trong bốc xếp còn kém, trình độ lao động thấp, cơ sở hạ tầng thiếu và yếu, công nghệ thông tin lạc hậu xa so với yêu cầu của Logistics Các doanh nghiệp Việt Nam còn nhỏ yếu song tính liên kết để tạo ra sức mạnh cạnh tranh lại còn rất kém Nhận thức của doanh nhân hoạt động trong lĩnh vực này thường dừng ở mức kinh nghiệm bản thân, hiểu biết về luật pháp quốc tế, tài chính, chuyên ngành còn thấp dẫn đến tỷ lệ bị phạt hợp đồng còn cao, lãng phí trong tài chính và hoạt động khai thác Hơn nữa các công ty Logistics Việt Nam chủ yếu là làm thuê cho các tập đoàn trên thế giới, nên nguồn thu chủ yếu chạy vào túi của các tập đoàn này.
VI Kết luận
Công ty nào cũng luôn tìm mọi cách để tạo một kênh liên lạc thông suốt giữa nhà cung ứng và khách hàng của họ, xóa bỏ những nhân tố cản trở khả năng sinh lời, giảm chi phí, tăng thị phần và giành được đông đảo khách hàng Vì lý do đó, SCM được xem như một giải pháp tốt để nâng cao hiệu quả kinh doanh Với SCM, việc chia sẻ dữ liệu kinh doanh sẽ không bị bó hẹp trong nội bộ doanh nghiệp, mà đã lan truyền đến nhà cung ứng, nhà sản xuất và nhà phân phối Có thể nói, dây chuyền cung ứng luôn chú trọng tới mọi hoạt động sản xuất của công ty, cả trong hiện tại lẫn tương lai, nhằm cân đối giữa cung và cầu, đồng thời phản hồi lại sự thay đổi trên thị trường Hãy đưa tất cả các thông tin liên quan tới dây chuyền cung ứng, từ nhà cung cấp đến hệ thống hậu cần nội bộ, đến các kênh phân phối sản phẩm, khách hàng… vào hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, bạn sẽ thấy hoạt động sản xuất của mình trở nên thông suốt và hiệu quả như thế nào
Đối với không ít các công ty trong mọi lĩnh vực, sở hữu một dây chuyền cung ứng hiệu quả có thể là tấm vé sinh tồn – và thậm chí là thịnh vượng – trong một thế giới kinh doanh mới ngày nay
Trang 14PHẦN B BÀI TẬP
Công nghệ thông tin hiện nay đã trở thành xu thế tất yếu trong phát triển đời sống
xã hội Sự bùng nổ công nghệ thông tin đã dẫn theo sự phát triển ngày càng cao của việc trao đổi thông tin và liên lạc Các ứng dụng thông tin do đó đã dần phổ cập tới nhiều khu vực, nhiều quốc gia và nhiều ngành kinh tế trên thế giới Một trong những ứng dụng đó là thiết kế hệ thống thông tin trong quản lý sinh viên trong KTX
Với mục đích tìm hiểu hoạt động của hệ thống quản lý sinh viên trong KTX dưới góc độ các luồng thông tin dữ liệu, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu, khảo sát hệ thống quản lý sinh viên trong KTX trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội với các nhiệm vụ sau:
• Xây dựng biểu đồ phân cấp chức năng hệ thống
• Xây dựng biểu đồ luồng dữ liệu mức ngữ cảnh hệ thống
• Xây dựng luồng dữ liệu mức đỉnh
• Xây dựng luồng dữ liệu mức dưới đỉnh
Bài tập chúng tôi thực hiện sẽ được dựa trên kết cấu 2 phần:
Trang 15Phần 1: Mô tả hệ thống quản lý sinh viên trong KTX trường ĐH Công Nghiệp
Hà Nội.
Phần 2: Phân tích các sơ đồ.
I. Mô tả hệ thống quản lý sinh viên trong KTX trường ĐH Công Nghiệp Hà Nội
Hoạt động quản lý sinh viên trong KTX được tiến hành qua 4 công đoạn chính:
Đăng kí, Xếp phòng, Quản lý sinh viên, Lưu trữ Các hoạt động nghiệp vụ trong quản
lý sinh viên được tiến hành như sau:
• Nhân viên Ban quản lý sẽ thông báo cho sinh viên điều kiện được ở trong KTX và thủ tục đăng ký vào KTX Sinh viên được xác nhận là đúng đối tượng được ở KTX sẽ làm bản đăng kí ở KTX theo mẫu mà nhân viên ban quản lý KTX đã lập sẵn
• Trong trường hợp không tìm được phòng nào có thể xếp thì thông báo cho sinh viên đó
• Mỗi khi đã xếp xong phòng cho một sinh viên thông tin về sinh viên đó sẽ cập nhật trong bảng danh sách sinh viên của ban quản lý
3- Quản lý sinh viên:
• Sau khi sinh viên đã ổn định chỗ ở thì ban quản lý phải làm Thẻ nội trú dùng để sinh viên ra vào kí túc xá hoặc để mỗi khi ban quản lý kiểm tra có ai không phải là sinh viên nội trú mà vẫn ở ký túc xá không
Trang 16• Trong trường hợp sinh viên chuyển ra ngoài (vì lý do không phù hợp với môi trường KTX hoặc bị trục xuất,…) thì nhân viên ban quản lý sẽ cập nhật danh sách sinh viên
để tiện cho việc quản lý sinh viên
• Làm danh sách phòng, danh sách có dán ảnh, họ tên, ngày sinh, lớp khoa, hộ khẩu thường trú của mỗi thành viên trong phòng Mỗi danh sách phòng có thể là một tập văn bản, trong đó mỗi văn bản gồm ảnh, họ tên, ngày sinh, lớp khoa, hộ khẩu thường trú của mỗi thành viên
• Người nhà hoặc bạn bè muốn tìm sinh viên ở kí túc xá mà chưa biết phòng hoặc biết chưa chính xác thì có thể kiểm tra bằng cách nhập một vài dữ liệu về sinh viên( ví dụ: hoặc họ tên, hoặc quê quán, hoặc ngày sinh, hoặc lớp, hoặc khoa )
4- Lưu trữ:
• Ban quản lý ký túc xá như một phòng ban nên cũng có nhu cầu lưu trữ các thông báo, các quyết định
• Các thông tin về sinh viên cũng được lưu trữ để tiện cho việc quản lý
II. Phân tích các sơ đồ:
Mô hình phân cấp chức năng (BPC)
a) Mô hình:
Bước 1: Liệt kê tất cả các hoạt động trong quản lý sinh viên trong KTX:
• Thống kê số lượng sinh viên có thể nhận thêm
• Thông báo điều kiện nhận sinh viên, số lượng sinh viên được ở KTX
• Làm thủ tục đăng kí vào kí túc xá
• Tìm phòng trong danh sách phòng
• X ếp phòng phù hợp với sinh viên
• Thông báo cho sinh viên không tìm được phòng
• Cập nhật thông tin về sinh viên đã được xếp
• Làm thẻ nội trú
• Cập nhật danh sách sinh viên khi có sinh viên chuyển ra ngoài
• Làm danh sách phòng