* Những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp, tự túc: - Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: muốn hàng hoá chất lượng, mẫu mãphù hợp, giá thành hợp lý thì đòi hỏi người
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ
HỆ THỐNG CÂU HỎI ÔN TẬP MÔN KINH TẾ CHÍNH TRỊ - MÁC LÊ NIN (45T – 2 tín chỉ) CÂU 1 Trình bày sự ra đời của sản xuất hàng hóa và những ưu thế của sản xuất hàng hóa so với sản xuất tự cấp tự túc; cho biết những biện pháp để thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa ở vùng sâu vùng xa?
Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm của nó dùng để traođổi, mua bán Sản xuất hàng hoá khác với sản xuất tự cấp, tự túc là dùng để phục vụcho nhu cầu của mình
Hai trình độ của sản xuất hàng hoá: sản xuất hàng hoá giản đơn và sản xuấthàng hoá tư bản chủ nghĩa
Điều kiện ra đời của sản xuất hàng hoá:
- Có sự phân công lao động xã hội: là sự chuyên môn hoá sản xuất, mỗi ngườisản xuất một hoặc vài sản phẩm Nó là điều kiện cần cho sự ra đời của sản xuất hànghoá
- Có chế độ tư hữu và các hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất:nghĩa là phải có người sở hữu sản phẩm đứng ra quan hệ trao đổi mua bán, sản phẩmmới trở thành hàng hoá Nó là điều kiện đủ cho sự ra đời của sản xuất hàng hoá
* Những ưu thế của sản xuất hàng hoá so với sản xuất tự cấp, tự túc:
- Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: muốn hàng hoá chất lượng, mẫu mãphù hợp, giá thành hợp lý thì đòi hỏi người sản xuất phải luôn năng động cải tiến kỹthuật, áp dụng công nghệ hiện đại…từ đó thúc đẩy LLSX phát triển, nâng cao năngsuất lao động
- Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá sản xuất: khi sản xuất hàng hoá phát triển nóđẩy mạnh quá trình hiệp tác và phân công lao động sâu sắc hơn, dẫn đến quá trình tích
tụ, tập trung sản xuất mạnh mẽ, dẫn đến quá trình xã hội hoá sản xuất ngày càng pháttriển
- Tạo ra nhiều hàng hoá đáp ứng nhu cầu đa dạng cho xã hội: sản xuất hànghoá tạo ra sản phẩm đa dạng, phong phú nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng của
xã hội cả về vật chất lẫn tinh thần
- Tạo điều kiện cho nền sản xuất lớn ra đời: sản xuất hàng hoá phát triển tạonguồn vốn ban đầu cho quá trình công nghiệp hoá và cách mạng kỹ thuật để từngbước xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất lớn ra đời
Trang 2* Có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hoá ở vùng sâu, vùng
xa nhưng cần tập trung các biện pháp sau:
- Thứ nhất, quy hoạch và đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật như
hệ thống đường giao thông, hệ thống lưới điện,…nhằm phục vụ nhu cầu dân sinh vàđảm bảo các yêu cầu cần thiết cho hoạt động sản xuất hàng hoá
- Thứ hai, xây dựng được nguồn nhân lực tại chỗ có trình độ, chất lượng
- Thứ ba, tiếp cận thị trường và tìm hiểu, khai thác những ngành nghề, sảnphẩm là thế mạnh của vùng mà xã hội đang cần, có những chính sách thu hút đầu tưcủa các doanh nghiệp đến sản xuất và kinh doanh (ví dụ: bao tiêu sản phẩm, liên kếtsản xuất giữa các vùng với nhau, giảm phương thức sản xuất nhỏ lẻ…)
- Thứ tư, có những cơ chế đặc thù dành riêng cho từng vùng thúc đẩy hoạtđộng sản xuất, kinh doanh hàng hoá và xây dựng chính quyền thân thiện, gần gũi, tạođiều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp hoạt động sản xuất hàng hoá
- Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa 03 nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhànước giúp cho nông dân tiếp cận kỹ thuật, công nghệ mới, có chính sách ưu đãi vềvốn, đồng thời hỗ trợ về giá đầu vào đầu ra của sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng,
hạ giá thành sản phẩm Từ đó, sản phẩm có sức cạnh tranh, thúc đẩy sản xuất hànghoá ở vùng sâu vùng xa hiệu quả
CÂU 2 Hàng hoá là gì? phân tích hai thuộc tính của hàng hoá; tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính? Vận dụng những vấn đề đó vào sản xuất kinh doanh như thế nào?
Khái niệm Hàng hóa:
Hàng hóa là sản phẩm của lao động, thoả mãn nhu cầu nào đó của con ngườithông qua trao đổi, mua bán; Hàng hóa bao gồm cả sản phẩm hữu hình và sản phẩm
vô hình
Từ khái niệm trên ta thấy:
- Hàng hoá phải là sản phẩm của lao động, còn những sản phẩm không do laođộng tạo ra, mặc dù rất cần thiết cho con người như: nước, không khí… đều khôngphải là hàng hoá…
- Hàng hoá phải qua trao đổi mua bán, nếu sản xuất ra để tiêu dùng như ngườinông dân sản xuất thóc để ăn, dệt vải để mặc… thì sản phẩm đó không phải là hànghoá
- Hàng hoá phải được tiêu dùng, nếu nó là vô dụng thì cũng không phải là hànghoá
Phân tích hai thuộc tính của hàng hoá: Hàng hoá có hai thuộc tính:
+ Giá trị sử dụng
Trang 3+ Giá trị
* Giá trị sử dụng của hàng hoá
Là công dụng hay tính có ích của vật phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu nào đócủa con người; Do thuộc tính tự nhiên quyết định, Một vật có thể có nhiều công dụng;Khoa học kỹ thuật càng PT thì con người càng phát hiện ra nhiều công dụng của vậtphẩm; GTSD là phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng của hàng hoá do công dụng của nó quy định Công dụng đónhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó của con người, có thể là nhu cầu cho tiêu dùng cánhân như: quần áo, giầy dép, lương thực, thực phẩm, có thể là nhu cầu cho tiêudùng sản xuất như máy móc, nguyên liệu, vật liệu phụ
Bất cứ hàng hoá nào cũng có một hoặc một số công dụng nhất định Chínhcông dụng đó làm cho nó có giá trị sử dụng, giá trị sử dụng được phát hiện dần trongquá trình phát triển của khoa học, kĩ thuật và lực lượng sản xuất
Ví dụ: than đá ngày xưa chỉ dùng để đun, sưởi, khi phát minh ra nồi súpde thìthan đá được dùng làm chất đốt, về sau ngoài các công dụng đã có nó được dùng làmnguyên liệu cho công nghiệp hoá chất
=> Giá trị sử dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên của nó quyết định Vìvậy giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn C.Mác viết: "giá trị sử dụng cấu thànhcái nội dung vật chất của của cải, chẳng kể hình thái xã hội của của cải đó như thếnào"
Như vậy, trong bất kì một xã hội nào, của cải của xã hội xét về mặt vật chấtcũng đều là một lượng nhất định những giá trị sử dụng Xã hội càng tiến bộ thì sốlượng giá trị sử dụng càng nhiều, chủng loại giá trị sử dụng càng phong phú, chấtlượng giá trị sử dụng ngày càng cao
Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó khôngphải là giá trị sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng chongười khác, cho xã hội thông qua trao đổi, mua - bán Trong kinh tế hàng hoá, giá trị
sử dụng là vật mang giá trị trao đổi
* Giá trị của hàng hoá
Muốn hiểu được giá trị của hàng hoá phải đi từ giá trị trao đổi Giá trị trao đổi
là quan hệ tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với giá trị sử dụng khác
Thực chất: trao đổi là trao đổi lao động ẩn dấu trong các hàng hóa (Lao động
xã hội), Giá trị của HH là lao động xã hội kết tinh trong HH, nó biểu hiện quan hệgiữa những người SXHH với nhau; GT là một phạm trù lịch sử, gắn liền với SXHH
Ví dụ: 1m vải = 10 kg thóc Vải và thóc là hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau về chất, tại sao chúng lại có thể trao đổi với nhau và trao đổi theo tỷ lệ nào đó
Trang 4Khi hai sản phẩm khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau thìgiữa chúng phải có một cơ sở chung nào đó Cái chung đó không phải là giá trị sửdụng của chúng, bởi vì, giá trị sử dụng của vải là để mặc, hoàn toàn khác với giá trị sửdụng của thóc là để ăn Cái chung đó là: cả vải và thóc đều là sản phẩm của lao động,đều có lao động kết tinh trong đó Nhờ có cơ sở chung đó mà các hàng hoá có thể traođổi được với nhau Vì vậy, người ta trao đổi hàng hoá cho nhau chẳng qua là trao đổilao động của mình ẩn dấu trong những hàng hoá ấy.
Chính lao động hao phí để tạo ra hàng hoá là cơ sở chung của việc trao đổi và
nó tạo thành giá trị của hàng hoá
Như vậy, giá trị của hàng hoá là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoákết tinh trong hàng hoá Còn giá trị trao đổi mà chúng ta để cập ở trên, chẳng qua chỉ
là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trịtrao đổi Đồng thời, giá trị biểu hiện mối quan hệ giữa những người sản xuất hànghoá Cũng chính vì vậy, giá trị là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hànghoá
Tại sao hàng hóa lại có hai thuộc tính:
Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị là vì lao động sảnxuất hàng hóa có tính hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụthể tạo ra giá trị sử dụng còn lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hóa Khôngphải có hai thứ lao động khác nhau, mà chỉ có một loại lao động sản xuất hàng hóa,nhưng loại lao động đó được xem xét ở hai mặt Nếu với mục đích tìm hiểu xemngười lao động đã lao động như thế nào, bằng cách nào để tạo ra sản phẩm hàng hóathì đó là lao động cụ thể Cũng lao động sản xuất hàng hóa đó, nhưng lại xem xét đểbiết nó tốn bao nhiêu sức lực, hết bao nhiêu thời gian thì đó là lao động trừu tượng
* Mối quan hệ giữa hai thuộc tính: thống nhất 2 thuộc tính của 1 hàng hóa 2 giátrị thuộc tính mâu thuẩn với nhau, tách rời nhau cả không gian và thời gian nhưng thịtrường quyết định
Vận dụng những vấn đề đó vào sản xuất kinh doanh như thế nào
- Đẩy mạnh phân công lao động để phát triển kinh tế hàng hoá, đáp ứng nhucầu đa dạng và phong phú của xã hội
- Phải coi trọng cả 2 thuộc tính của hàng hoá để không ngừng cải tiến mẫu mã,nâng cao chất lượng, hạ giá thành
- Trong sản xuât kinh doanh phải chú ý cả hai mặt giá trị sử dụng và giá trị của
Trang 5phải đổi mới kỹ thuật và công nghệ, hợp lý hóa sản xuất, tiết kiệm các nguồn lựctrong sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động v.v.
Vì GTSD là vật mang giá trị, nên những người SXHH phải quan tâm đến chất lượng, mẫu mã và giá thành sản phẩm sao cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng, thì mới bán được hàng hóa Còn người tiêu dùng phải “thông thái” khi mua hàng thì mới lựa chọn được những hàng hóa có GTSD và giá cả phù hợp
CÂU 3 Phân tích nhận định sau đây: “Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ thuận với thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa, tỷ lệ nghịch với năng suất lao động và không thay đổi khi cường độ lao động tăng lên”
Lượng giá trị của một hàng hóa là do lao động trừu tượng của người sản xuất hànghóa kết tinh trong hàng hóa Vậy lượng giá trị hàng hóa là do lượng lao động tiêu hao
để làm ra hàng hóa quyết định Lượng lao động tiêu hao ấy được tính theo thời gianlao động
Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ thuận với lượng lao động hao phí: Giá trịcủa hàng hóa là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa,
nó phản ánh quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa; Lượng giá trị củahàng hóa là số lượng lao động của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa vàđược đo bằng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa Đó là thời gian cần
để sản xuất hàng hóa trong điều kiện sản xuất bình thường của xã hội Tức là với trình
độ kỹ thuật trung bình , trình độ tay nghề trung bình và cường độ lao động trungbình Điều kiện sản xuất bình thường của xã hội thông thường được quyết định bởiđiều kiện sản xuất của khối lượng chủ yếu của loại hàng hóa đó Thông thường thờigian lao động xã hội cần thiết được xác định theo thời gian lao động cá biệt của nhữngngười sản xuất và cung ứng tuyệt đại bộ phận loại hàng hóa đó trên thị trường; Trongquá trình sản xuất hàng hóa, mỗi người có lượng lao động hao phí khác nhau, đó làlao động hao phí cá biệt Hao phí này là cơ sở để xác định giá trị cá biệt của hàng hóa.Trên thị trường không thể dựa vào giá trị cá biệt của hàng hóa để trao đổi mà phải dựavào giá trị xã hội của hàng hóa Giá trị xã hội của hàng hóa được tính bằng thời gianlao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa đó Yêu cầu của việc xác định lượnggiá trị hàng hóa: quy đổi lao động phức tạp thành lao động giản đơn để tính Theo đó,lượng giá trị hàng hóa bầng thời gian lao động giản đơn trung bình cần thiết
Lượng giá trị của một hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Năng suấtlao động được đo bằng hai cách Một là, số lượng sản phẩm
Được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hai là thời gian lao động chi phí để sảnxuất ra một đơn vị sản phẩm Năng suất lao động được quyết định bởi: trình độ taynghề của người lao động; trình độ phát triển khoa học, kỹ thuật –công nghệ và mức độứng dụng vào sản xuất; việc tổ chức sản xuất của xã hội; quy mô và hiệu quả của tưliệu sản xuất; những điều kiện tự nhiên
Khi năng suất lao động tăng lên, thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vịhàng hóa giảm xuống, do đó lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ít đi, nêngiá trị của một đơn vị hàng hóa giảm Ngược lại khi năng suất lao động giảm xuống,
Trang 6thời gian lao động để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa tăng lên, do đó lượng lao độnghao phí để sản xuất ra hàng hóa nhiều lên, nên giá trị của môt đơn vị hàng hóa tănglên.
Quy luật về sự biến đổi giá trị hàng hóa yêu cầu người sản xuất hàng hóa phảilấy thời gian lao động xã hội cần thiết để so sánh với thời gian lao động cá biệt củamình Tỷ lệ thời gian lao động cá biệt đã hao phí để sản xuất hàng hóa với thời gianlao động xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành bại của việc thực hiện giá trị vàkinh doanh
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, năng suất lao động sẽ khôngngừng tăng lên, số lượng hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian
sẽ tăng, lượng giá trị trong từng đơn vị hàng hóa ngày càng giảm nhưng tính phức tạpcủa lao động ngày càng gia tăng lại sẽ làm cho tổng giá trị xã hội gia tăng
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với quá trình sản xuất, kinh doanhtrong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay: Bất kểnền kinh tế thị trường thuộc loại hình và tính chất xã hội như thế nào, thì hạ thấp chiphí sản xuất bao giờ cũng là biện pháp quan trọng để doanh nghiệp đạt hiệu quả Cácbiện pháp đó là: Nâng cao năng suất lao động, giảm bớt chi phí lao động, đây là nhân
tố có tính quyết định nhằm hạ thấp giá trị các biệt của doanh nghiệp, bởi vì nâng caonăng suất lao động tức là hạ thấp mức tiêu hao lao động sống và cả lao động vật hóatrong giá thành sản phẩm; Nâng cao năng suất lao động sẽ làm cho tốc độ tăng trưởngtiền công thấp hơn tốc độ tăng năng suất lao động, từ đó giảm bớt hàm lượng tiềncông trong giá thành của từng sản phẩm; Tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật tiêntiến, giảm bớt hao phí nguyên nhiên vật liệu trên từng đơn vị sẩn phẩm; Sử dụng hợp
lý thiết bị máy móc, nâng cao hiệu suất sử dụng thiết bị; Nâng cao chất lượng sảnphẩm, giảm thiểu thứ phẩm và phế phẩm nhằm giảm bớt lãng phí lao động sống vàlao động vật hóa; Tiết kiệm chi phí quản lý doanh nghiệp và giảm bớt các loại chi phíkhông mang tính sản xuất
CÂU 4 Phân tích nguồn gốc, bản chất và các chức năng của tiền
- Hình thái đầy đủ hay mở rộng của giá trị là hình thái mà giá trị của hàng hóa
đuệoc biểu hiện ở nhiều hàng hoá khác
Ví dụ: 1 con cừu = 40 kg thóc hoặc 20kg chè
Trang 7- Hình thái chung của giá trị là hình thái mà tất cả các hàng hóa đều biểu hiện giá
trị ở một hàng hóa có vai trò làm vật ngang giá chung
Ví dụ: 2 cái rìu hoặc 40kg thóc = 1 con cừu
- Hình thái tiền tệ là hình thái khi vật ngang giá chung được cố định ở một hàng
hóa độc tôn và phổ biến
Lúc đầu có nhiều hàng hóa đóng vai trò tiền tệ, cuối cùng được cố định lại ở vàng
*Bản chất:
Khi tiền tệ ra đời thì thế giới hàng hóa phân làm hai cực: một cực là những hànghoá thông thường đại biểu cho những giá trị sử dụng, cực khác là hàng hóa đóng vaitrò tiền tệ, đại biểu cho giá trị
Chức năng của tiền tệ có 5 chức năng cơ bản:
- Thước đo giá trị
Chức năng thước đo giá trị là chức năng cơ bản nhất, với chức năng này, tiềndùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hóa
Tiền làm thước đo giá trị cho các hàng hóa khác vì bản thân nó cũng có giá trị.Tiền làm chức năng thước đo giá trị không nhất thiết phải là tiền mặt, tiền thật, mà chỉcần tiền trong ý niệm, tiền tượng trưng
Khi giá trị biểu hiện thành tiền thì gọi là giá cả Như vậy, giá trị là nội dung bêntrong, còn giá cả là hình thức biểu hiện ở bên ngoài, khi giá trị thay đổi thì giá cả biếnđổi theo
- Phương tiện lưu thông
Làm chức năng phương tiện lưu thông, tiền tệ là mô giới trong việc trao đổihàng hóa Khi tiền tệ làm mô giới trong quá trình trao đổi thì gọi là lưu thông hànghóa và có công thức:
H – T – H (Hàng - Tiền – Hàng)
Tiền làm chức năng phương tịên lưu thông phải là tiền vàng thật, chư khôngphải tiền trong ý niệm Tiền là phương tiện lưu thông phải có một khối lượng nhất
= 2 gram vàng
Trang 8định Thông thường, khối lượng này bằng tổng số giá cả hàng hóa chia cho số vòngquay của những đồng tiền cùng loại.
Công thức:
M = P Q.
V
Trong đó:
M – là khối lượng tiền cần cho lưu thông
P – Là giá cả của hàng hóa
Q – Là khối lượng hàng hóa lưu thông
V – Là số vòng quay của đồng tiền cùng loại
Tiền làm chức năng phương tiện lưu thông làm cho việc lưu thông hàng hóa trởnên thuận lợi Nhưng đồng thời cũng làm cho việc mua – bán hàng hóa tách rời nhau
cả về không gian và thời gian
- Phương tiện thanh toán
Khi sản xuất hàng hóa phát triển đến một trình độ nào đó, tất yếu dẫn đến tìnhtrạng mua – bán chịu, do đó tiền có thêm chức năng thanh toán
Tiền làm phương tiện thanh toán là tiền dùng để chi trả sau khi công việc muabán đã hoàn thành
Thí dụ: Trả tiền mua hàng chịu, thuê nhà, nộp thuế…
Trong quá trình thực hiện chức năng phương tiện thanh toán, xuất hiện nhiềuhình thức của tiền: tiền tín dụng, tiền sec…nên giảm được tiền mặt Do đó, khi tiềnlàm phương tiện thanh toán thì quy luật khối lượng tiền cần cho lưu thông được bổsung như sau:
Công thức: M=
Trong đó:
M - Khối lượng tiền cần cho lưu thông
A-B+C-D V
Trang 9A - Tổng số giá cả hàng hóa
B - Tổng số giá cả hàng hóa bán chịu
C - Tổng số giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
D - Tổng số giá cả hàng hóa khấu trừ nhau
V- Tốc độ vòng quay của đồng tiền cùng loại
CÂU 5 Trình bày nội dung, yêu cầu và tác dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá; vận dụng quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào?
1 Nội dung, yêu cầu:
Định nghĩa:
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hàng hóa Quy luật này quy định việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải được tiến hành trên cơ sỡ hao phí lao động xã hội cần thiết.
Do vậy, trong sản xuất đòi hỏi người sản xuất phải làm cho giá trị cá biệt bằnghoặc thấp hơn giá trị xã hội thì mới có lãi
Còn trong lưu thông đòi hỏi mọi người phải trao đổi ngang giá, Nghĩa là phảibán theo giá trị thị trường
2 Tác dụng: có 3 tác dụng sau đây:
- Một là, điều tiết sản xuất và lưu thông
Sự điều tiết của quy luật giá trị đối với sản xuất được thể hiện ở việc phân bốlại sức lao động và tư liệu sản xuất giữa các ngành Sự điều tiết này tiến hành mộtcách tự phát thông qua giá cả thị trường
Nếu cung nhỏ hơn cầu,hàng hóa khan hiếm làm cho giá cả cao hơn giá trị do đó
có lãi nhiều, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất, một số người khác chuyểnsang sản xuất mặt hàng này Như vậy tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyểnvào ngành này nhiều hơn các ngành khác và ngược lại Nếu cung lớn hơn cầu, hàng
Trang 10hóa không bán được buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc chuyểnsang sản xuất mặt hàng khác.
Quy luật giá trị không chỉ điều tiết sản xuất mà còn điều tiết lưu thông Nó khơinguồn hàng từ nơi giá thấp đến nơi giá cao nhờ đó mà tạo ra một sự cân đối tạm thờigiữa cung và cầu hàng hóa
- Hai là, kích thích cải tiến kỹ thuật, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển
Các hàng hóa sản xuất trong những điều kiện khác nhau, nên có giá trị cá biệtkhác nhau Nhưng trên thị trường đòi hỏi người sản xuất phải tuân theo giá trị thịtrường Do vậy, mọi người phải tìm mọi cách như: cải tiến kỹ thụât, tổ chức lại sảnxuất…để làm cho giá trị cá biệt của mình nhỏ hơn giá trị xã hội mới thu được lợinhuận Lúc đầu chỉ có một vài người đi tiên phong, sau trở thành phổ biến trên toàn
xã hội Như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị đã thúc đẩy lực lựơng sản xuất pháttriển
- Ba là, phân hoá người sản xuất
Quy luật giá trị đòi hỏi người sản xuất hàng hóa phải đảm bảo thời gian laođộng xã hội cần thiết Do vậy người nào có giá trị cá biệt thấp hơn giá trị xã hội sẻphát tài, trở nên giàu có Ngược lại, người nào có giá trị cá biệt của hàng hóa cao hơngiá trị xã hội sẻ ở vào thế bất lợi, làm ăn thua lỗ và phá sản
Như vậy, do tác dụng của quy luật giá trị đã đưa tới sự phân hóa người sản xuấthàng hóa, sự phân hoá này là cơ sỡ kinh tế cho phân hóa giàu nghèo trong xã hội
*Vận dụng vào sản xuất kinh doanh:
- Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch trên sàn giao dịch chứng khoán , thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA WTO; mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để có thể đứng vững khi bão táp của quá trình hội nhập quốc tế hội nhập đến Sức cạnh tranh được nâng cao ở đây là nói đến sức canh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài , giữa các cá nhân trong nước và các nhân nước ngoài
- Tạo nên sự năng động của nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh gay gắt sẽ đưa đến một hệ quả tất yếu là làm cho nền kinh tế năng động lên Vì trong cạnh tranh, mỗi người sẽ tìm cho mình một con đường đi mới trong một lĩnh vực sản xuất, kinh doanh tạo nên sự sản xuấ hiệu quả nhất
Sự năng động thể hiện ở sự phát triển nhiều thành phần kinh tế Vì, việcphát triển nhiều thành phần kinh tế có tác dụng thu hút nguồn nhân lực vào các thành phần kinh tế, phát huy nội lực, tận dụng nội lực để sản xuất ra nhiều