1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

CÂU HỎI VÀ ĐÁP ÁN MÔN LÝ LUẬN PHÁP LUẬT

3 284 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 17,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là câu hỏi nhận định đúng sai môn Lý luận về pháp luật, đầy đủ và chính xác giúp các bạn sinh viên luật và những người có chuyên ngành về luật làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu mà không phải mất công tìm kiếm và tải xuống.

Trang 1

2.Mối liên hệ giữa ý thức PL và PL

Giữa ý thức pháp luật và pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau Những nguyên lý và cơ sở để xây dựng và thực hiện pháp luật đồng thời cũng là những nguyên lý và cơ sở để hình thành và phát triển ý thức pháp luật Mối quan hệ giữa ý thức pháp luật với pháp luật được biểu hiện ở những điểm sau:

1 Ý thức pháp luật là tiền đề tư tưỏng trực tiếp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Pháp luật là sự biểu hiện ý thức pháp luật của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Những thay đổi khách quan trong đời sống xã hội trước hết được phản ánh trong ý thức pháp luật sau đó mới được thể hiện thành các quy phạm pháp luật tương ứng Không có ý thức pháp luật phù hợp với bản chất và những điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của xã hội thì cũng không thể xây dựng được hệ thống pháp luật đồng bộ và phù hợp

2 Ý thức pháp luật là nhân tố thúc đẩy việc thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội

Pháp luật được ban hành nhằm để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển theo hướng phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nhưng mục đích điều chỉnh của pháp luật được thực hiện thông qua hành vi xử sự của con người và các tổ chức xã hội, trong đó việc xử sự tự giác của công dân theo yêu cầu của pháp luật là vấn đề có ý nghĩa quan trọng để bảo đảm cho pháp luật phát huy được hiệu lực

Ý thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của công dân và thái độ của họ đối với quy định của pháp luật Vì vậy, nếu ý thức pháp luật càng được nâng cao thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật càng được bảo đảm

3 Ý thức pháp luật là cơ sở bảo đảm cho việc áp dụng đúng đắn các quy phạm pháp luật

Ý thức pháp luật giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc áp dụng pháp luật Để

áp dụng đúng đắn một quy phạm pháp luật đòi hỏi phải có sự hiểu biết chính xác nội dung và yêu cầu của quy phạm đó, phải giải thích và làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của quy phạm đó Muốn thực hiện điều này đòi hỏi ý thức pháp luật của những người áp dụng pháp luật phải đã phát triển đầy đủ, họ phải có một nền tảng văn háo pháp lý vững chắc

4 Pháp luật là cơ sở để củng cố, phát triển nâng cao ý thức pháp luật

Đến lượt mình, pháp luật như là sản phẩm trực tiếp của hoạt động sáng tạo pháp luật, do đó nó phản ánh ý thức pháp luật của cơ quan làm luật, của nhân dân và được hình thành trên cơ sở của ý thức pháp luật Việc nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật, kiên quyết ngăn chặn vi phạm pháp chế trong một mức độ nhất định làm cho các quan điểm, quan niệm về pháp luật được hình thành và phát triển một cách đúng đắn và rõ nét hơn Viêc giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật sẽ

Trang 2

là điều kiện quan trọng để góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh

và tổ chức thực hiện pháp luật có hiệu quả

Câu 3: Mối quan hệ giữa VPPL và trách nhiệm pháp lý (trang 510 giáo trình ĐH Luật HN)

VPPL là căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền truy cứu TNPL Tức là để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức hay cá nhân nào đó cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý cho việc truy cứu Về cơ sở thực tiễn để truy cứu TNPL thì phải có VPPL xảy ra Về cơ sở pháp lý đó là những quy định PL hiện hành có liên quan đến VPPL đó và thẩm quyền, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó

- Thứ nhất là xét về cơ sở thực tiễn: cần xem xét từng yếu tố của cấu thành VPPL TNPL chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra hành vi VPPL, nếu trong thực tế không

có VPPL thì không được truy cứu TNPL TNPL chỉ được phép AD đối với các chủ thể VPPL + Điều đầu tiên là phải tiến hành xác định được trong thực tế đã xảy ra hành vi trái PL nguy hiểm, nếu không xác định được hành vi trái luật nguy hiểm trong thực tế thì không truy cứu TNPL + Tiếp theo là đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi VPPL đó là qua việc xác định hậu quả (thiệt hại) cả về vật chất, về tinh thần và những thiệt hại khác nếu có do hành vi đó gây ra cho XH 1 hành vi trái PL nhưng gây nguy hiểm cho XH không nhiều (không đủ căn cứ để truy cứu TNPL) thì sẽ không bị truy cứu TNPL Trong một số trường hợp mức độ nguy hiểm của hành vi còn là căn cứ để xác định loại TNPL truy cứu là loại trách nhiệm gì + Mối mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái PL với hậu quả, tuyệt đối không được suy diễn về hậu quả mà phải chắc chắn rằng sự thiệt hại đó là do hành vi VPPL gây ra Không thể bắt chủ thể phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại mà hành vi trái PL của họ không trực tiếp gây ra (giữa hành vi trái luật của họ và sự thiệt hại của XH không có mối quan hệ nhân quả) + Việc xác định lỗi, động cơ và mục đích VPPL trong nhiều trường hợp khi truy cứu TNPL là rất cần thiết, nó cho phép lựa chọn biện pháp cưỡng chế thích hợp Về nguyên tắc, TNPL chỉ AD đối với các chủ thê

có NL TNPL khi họ thực hiện hành vi trái luật có lỗi, tức là chủ thể có khả năng nhận thức được những hậu quả nguy hiểm cho XH do hành vi của mình gây ra nhưng cố ý hoặc do vô ý gây ra Tuy nhiên, trong một số truòng hợp PL còn cho phép truy cứu TNPL đối với cả những hành vi trái PL được thực hiệ do những nguyên nhân khách quan hoặc trường hợp thiệt hại do những nguồn nguy hiểm cao

độ như phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động gây ra và một số trường hợp khác trong quan hệ DS mặc

dù không có lỗi chủ thể vẫn phải chịu TNPL như cha mẹ hoặc người giám hộ phải bồi thường thiệt hại do con mình gây ra (dưới 15 tuổi) hoặc người bị mất

NLHVDS gây ra

Trang 3

- Thứ hai là xét về cơ sở pháp lý: + Khi xác định chủ thể VPPL cần chú ý tới NL TNPL của mỗi chủ thể trong mỗi trường hợp cụ thể Nếu chủ thể là cá nhân thì phải xác định xem người đó đã đạt độ tuổi theo quy định của PL phải chịu TNPL trong trường hợp đó chưa? Và trạng thái thái tâm lý của họ như thế nào ở thời điểm

họ thực hiện hành vi trái PL đó Nếu chủ thể là tổ chức thì phải chú ý tới tư cách pháp nhân hoặc địa vị pháp lý của tổ chức đó + Khi xác định cơ sở pháp lý cho việc truy cứu TNPL đối với các trường hợp VPPL đó cần chú ý tới trước hết là thẩm quyền của cơ quan nhà nước hay hà chức trách trong việc giải quyết vụ việc, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó, các biện pháp mà PL quy định có thể AD đối với các chủ thể vi phạm + Thời hiệu truy cứu trách nhiệm pháp lý là thời hạn

do PL quy định mà khi thời hạn đó kết thúc thì chủ thể VPPL sẽ không bị truy cứu TNPL nữa Đối với các loại VPPL khác nhau thì thời hiệu truy cứu TNPL sẽ khác nhau

Ngày đăng: 06/05/2018, 20:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w