Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu: 1/ Mô tả thực trạng có triệu chứng bệnh đường hô hấp ở công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị HàNội năm 2017.. 2/ Xác định một
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO – BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
- -MỘT SỐ TRIỆU CHỨNG BỆNH ĐƯỜNG HÔ HẤP VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA CÔNG NHÂN THU GOM RÁC THẢI TẠI CÔNG TY MÔI
TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2017
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
Trang 2MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI NĂM 2017
Luận văn thạc sỹ chuyên ngành: Y tế công cộng
Mã số: 60.72.03.01
Trang 3Năm 2017
MỤC LỤC
MỤC LỤC 3
DANH MỤC BIỂU ĐỒ 6
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU 7
ĐẶT VẤN ĐỀ 9
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 12
CHƯƠNG 1 13
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 13
1.1 Một số khái niệm 13
1.2 Thực trạng một số triệu chứng và bệnh hô hấp ở công nhân TGRT đô thị 16 1.3 Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng bệnh đường hô hấp ở công nhân thu
Trang 4gom rác thải đô thị 20
1.4 Bộ công cụ đánh giá triệu chứng bệnh đường hô hấp ATS-DLD-78a (American ThoracicSociety and the Division of Lung Diseases-1978 adult) 26
1.5 Khung lý thuyết 28
1.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu [8] 30
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Đối tượng nghiên cứu 33
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 33
2.3 Địa điểm: Nghiên cứu thực hiện tại chi nhánh Hai Bà Trưng của công ty môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) 33
2.4 Thiết kế nghiên cứu 33
2.4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 33
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 34
2.6 Biến số 34
2.7 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 36
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 36
2.9 Đạo đức nghiên cứu 37
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 39
3.2 Thực trạng có các triệu chứng bệnh đường hô hấp 43
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 52
4.1 Thực trạng xuất hiện các triệu chứng bệnh đường hô hấp 52
4.2 Các yếu tố liên quan đến việc có các triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính của công nhân thu gom rác thải 52
KẾT LUẬN 57
Trang 5KHUYẾN NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
PHỤ LỤC 66
Phụ lục 1: Bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng công nhân thu gom rác thải đô thị Hà Nội năm 2017 66
Phụ lục 2: Bảng các biến số sử dụng trong nghiên cứu 74
Phụ lục 3: Dự trù kinh phí nghiên cứu 80
Phụ lục 4: Kế hoạch thực hiện nghiên cứu 81
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 38
Bảng 3.2: Đặc điểm về thời gian lao động 39
Biểu đồ 3.1: Đặc điểm của yếu tố khí hậu trong điều kiện làm việc và cảm nhận 40
về mức độ ảnh hưởng sức khỏe 40
Biểu đồ 3.2: Đặc điểm của yếu tố độc hại trong điều kiện làm việc và ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe công nhân 41
Bảng 3.3: Thực trạng xuất hiện các triệu chứng bệnh đường hô hấp của đối tượng nghiên cứu trong 1 năm 42
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ có các triệu chứng ho, đờm liên tục 3 tháng 43
trong 1 năm qua 43
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ công nhân có triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 44
Bảng 3.5: Tỷ lệ công nhân thu gom rác thải có các triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính theo một số đặc điểm, hành vi cá nhân 45
Bảng 3.6: Mối liên quan giữa các yếu tố đặc điểm, hành vi cá nhân với triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 46
Bảng 3.7: Mối liên quan giữa thời gian lao động với sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 47
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa các yếu tố điều kiện môi trường làm việc với sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 47
Bảng 3.9: Mô hình hồi quy logistis đa biến giữa các yếu tố liên quan và sự xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 48
Bảng phụ lục 1.1: Bộ câu hỏi phỏng vấn đối tượng công nhân thu gom rác thải đô thị Hà Nội năm 2017 67
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7Biểu đồ 3.1: Đặc điểm của yếu tố khí hậu trong điều kiện làm việc và cảm nhận 40
về mức độ ảnh hưởng sức khỏe 40
Biểu đồ 3.2: Đặc điểm của yếu tố độc hại trong điều kiện làm việc và ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe công nhân 41
Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ có các triệu chứng ho, đờm liên tục 3 tháng 43
trong 1 năm qua 43
Biểu đồ 3.4: Tỷ lệ công nhân có triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính 44
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Cùng với sự tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế - xã hội đã làm gia tăngcác vấn đề về môi trường trong đó có số lượng chất thải cũng tăng lên Việc thugom, xử lý, tiêu hủy chất thải là mối quan tâm hàng đầu về môi trường và sức khoẻcộng đồng Trong môi trường lao động, cơ thể tiếp xúc với các yếu tố độc hại, qua
da, đường tiêu hóa và chủ yếu qua đường hô hấp Các yếu tố độc hại tác động quađường hô hấp thường ở nhiều dạng khác nhau: hơi, khí, bụi, vi sinh vật gây bệnh Bệnh có thể phát triển ở toàn bộ bộ máy hô hấp từ mũi, họng, thanh quản, tới phếquản, phế nang và động mạch nhỏ ở phổi Các biểu hiện rất đa dạng từ các phảnứng dị ứng, phản ứng sinh xơ, đến viêm phế quản, viêm phế nang, phù phổi, viêmphổi, nhiễm khuẩn, ung thư, ảnh hưởng tới khả năng lao động, qua những biến đổi
về chức năng hô hấp
Nghiên cứu được tiến hành với 2 mục tiêu: 1/ Mô tả thực trạng có triệu chứng
bệnh đường hô hấp ở công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị HàNội năm 2017 2/ Xác định một số yếu tố liên quan đến có triệu chứng bệnh hô hấp
ở công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2017.Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích vớiphương pháp chọn mẫu toàn bộ để chọn ra 422 công nhân Công ty môi trường đôthị Hà Nội (URENCO) trực tiếp làm công việc thu gom rác thải Nghiên cứu sửdụng phần mềm Epidata 3.1 nhập liệu; sử dụng phần mềm SPSS 16.0 phân tích sốliệu
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ công nhân có triệu chứng ho là có 41,8%
Có 18,4% công nhân có ho nhiều hơn 4 ngày/tuần và 5,8% công nhân có ho kéo dàitrên 3 tháng/năm Tỷ lệ công nhân có triệu chứng đờm là 28% Có 15,6% công nhân
có đờm nhiều hơn 4 ngày/tuần và 3,4% công nhân có đờm kéo dài liên tục trong 3tháng/năm Tỷ lệ công nhân có triệu chứng thở khò khẻ là 12,6% , tỷ lệ công nhân
Trang 9có triệu chứng khó thở là 10% và 14,2% công nhân có cảm lạnh và ảnh hưởng đếnvùng ngực Tỷ lệ công nhân có triệu chứng bệnh hen suyễn là 1,5% và 22,2% côngnhân có triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính Kết quả phân tích đa biến cho thấy yếu
tố tuổi, ca làm việc, số giờ làm việc trong ngày và yếu tố tiếp xúc với khí độc cómối liên quan có ý nghĩa thống kế với triệu chứng bệnh hô hấp mạn tính Trong đó:Những công nhân làm ca tối nguy cơ xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tínhcao gấp 51,9 lần những người làm ca khác (p<0,001, 95%OR: 8,2-329,8) Côngnhân làm nhiều hơn 8 giờ/ ngày nguy cơ xuất hiện triệu chứng bệnh hô hấp mạn tínhcao gấp 3,1 lần nhóm làm việc dưới 8 giờ/ ngày (p<0,05, 95%OR: 1,3-7) Nhữngcông nhân có tuổi trên 40 nguy cơ xuất hiện các triệu chứng bệnh hô hấp mạn tínhcao gấp 3,1 lần so với nhóm có tuổi nhỏ hơn 40 tuổi (p<0,05; 95%OR: 1,4-6,6).Với thực trạng trên, chúng tôi nhận thấy cần có những biện pháp can thiệp đểthay đổi về tổ chức lao động; truyền thông, giáo dục để nhằm cải thiện sức khỏengười lao động và nâng cao nhận thức về bảo vệ, phòng các triệu chứng bệnh hôhấp
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển kinh tế xã hội
là quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cực đối vớiphát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích
về KT-XH, đô thị hóa nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt như suy giảm chất lượngmôi trường và phát triển không bền vững Tốc độ đô thị hóa nhanh dẫn đến dân sốtập trung đông tại các thành phố; đây là một trong các yếu tố làm ảnh hưởng đếnmôi trường sống (vi khí hậu, tăng khối lượng rác thải, nước ) Khi đó công nhânmôi trường đô thị làm nhiệm vụ thu gom rác thải có thể phảỉ tăng khối lượng côngviệc và thời gian làm [1]
Công nhân thu gom rác thải (TGRT) thường xuyên phải duy trì đường phốsạch sẽ, giảm và hạn chế ảnh hưởng của rác thải với môi trường và xã hội Tại cácnước phát triển, hầu hết quá trình làm sạch đường phố đã được cơ giới hóa Đối vớicác nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam,… do nguồn lực cònhạn chế nên hầu hết quá trình làm sạch đường phố vẫn được thực hiện thủ côngbằng sức người, quá trình làm việc sử dụng các trang thiết bị thô sơ (chổi, xẻng, xeđẩy, ) Mặt khác, tại Việt Nam chất thải thu gom ít khi được lưu trữ trong thùng/túikín, khiến công nhân phải dùng xẻng xúc hoặc nhặt bằng tay, tiếp xúc trực tiếp vớichất thải nhiều hơn đáng kể so với những công nhân làm việc ở các nước phát triển -những người thu gom rác qua các túi kín hoặc được chứa trong các thùng rác [30] Bên cạnh đó, tình trạng rác thải không được phân loại đúng tại nguồn, khôngđược xử lý ban đầu một cách phù hợp, khiến công nhân TGRT phải tiếp xúc trựctiếp với bụi bẩn, các sinh vật lây nhiễm và các hoá chất độc hại trong môi trường laođộng [24], [33] Điều kiện lao động đặc thù của công nhân TGRT là làm việc ngoàitrời, trên đường phố trong mọi thời tiết, bất kể nắng nóng vào mùa hè hay lạnh giá
Trang 11vào mùa đông, mưa gió công nhân phải làm việc trong thời gian dài, làm ca đêmliên tục, không có sự luân chuyển ca, không có ngày nghỉ lễ Những yêu tố nàykhiến công nhân có nguy cơ cao mắc phải những vấn đề sức khỏe về đường hô hấp[4], [31] Một số triệu chứng có thể gặp ở công nhân TGRT là: ho, có đờm, thở khòkhè, khó thở, đau tức ngực, [33] Có 14,2% công nhân bị ho kéo dài cũng đượcphát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [20] Triệuchứng khó thở ở công nhân TGRT được phát hiện trong nhiều nghiên cứu, dao động
từ 11,7% (Halim Issever thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ) [20] đến 31,7%(Mariammal tại
Ấn Độ) [42]… Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh về đường hô hấp ở nhóm công nhân TGRTdao động trong khoảng từ hơn 7% đến 71% Cụ thể như 7,78% công nhân bị cácbệnh về đường hô hấp trong nghiên cứu của tác giả Nagaraj C tại thành phốBangalore, Ấn Độ [30] Có 21% công nhân bị mắc các bệnh về đường hô hấp đượcphát hiện trong nghiên cứu của tác giả Thayyil Jayakrishnan [44] Một số nguyênnhân làm cho công nhân TGRT có các triệu chứng bệnh đường hô hấp có thể do tiếpxúc với bụi trong môi trường làm việc ( bụi phát sinh từ phương tiện giao thông trênđường phố, bụi trong quá trình quét, nhặt, gom rác thải…) xs[20]; kết hợp với làmviệc ngoài trời trong điều kiện thời tiết bất lợi, ô nhiễm không khí tại nơi thu gomrác thải Do vậy tỷ lệ có triệu chứng bệnh đường hô hấp có thể cao ở nhóm côngnhân TGRT
Tại Hà Nội, công ty môi trường đô thị Hà Nội (URENCO) đang quản lý 7 chinhánh, 1 văn phòng đại diện và 7 công ty con, là doanh nghiệp chính chịu tráchnhiệm quản lý môi trường, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đô thị trên địabàn Hà Nội, cung ứng các dịch vụ vệ sinh môi trường đô thị và khu công nghiệptrên phạm vi toàn quốc Trong đó các chi nhánh URENCO 1,2,3,4 phụ trách thugom, vận chuyển vả xử lý chất thải tại 4 quận trung tâmnội thành của thành phố Hà
Trang 12Nội là Hoàn Kiếm, Ba Đình, Đống Đa và Hai Bà Trưng, nơi có mật độ dân cư caocùng với sự đa dạng loại hình kinh doanh dịch vụ, gây ra áp lực công việc lớn chocông nhân Tại Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung chưa có nhiều nghiên cứu
về sức khỏe công nhân TGRT, đặc biệt trong vấn đề sức khỏe hô hấp [8], mới chỉ cónghiên cứu của tác giả Đoàn Tuyết Nhung năm 1995 tập trung vào điều kiện laođộng của nữ công nhân vệ sinh môi trường đô thị [1] Vì vậy, việc tiến hành nghiên
cứu “Mô tả một số triệu chứng bệnh đường hô hấp và yếu tố liên quan của công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2017” là cần thiết để trả lời cho các câu hỏi: “Thực trạng xuất hiện một số triệu chứng bệnh đường hô hấp của công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị Hà Nội như thế nào? Đâu là những yếu tố liên quan đến vấn đề hô hấp này?” Kết
quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để đề xuất khuyến nghị phù hợp nhằm xây dựng mộtmôi trường làm việc lành mạnh, hạn chế nguy cơ gây ra những dấu hiệu của bệnh
hô hấp cho công nhân môi trường đô thị, nâng cao chất lượng sống và hiệu quả làmviệc của công nhân
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng xuất hiện một số triệu chứng bệnh hô hấp ở công nhân thugom rác thải tại một công ty môi trường đô thị Hà Nội năm 2017
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sự xuất hiện của một số triệu chứngbệnh hô hấp ở công nhân thu gom rác thải tại một công ty môi trường đô thị Hà Nộinăm 2017
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm chất thải, chất thải rắn đô thị, điều kiện lao động.
Chất thải: Chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm các hoạt động sản xuất và hoạt động sống,duy trì sự tồn tại của cộng đồng Hay nói cách khác: chất thải là sản phẩm được phátsinh trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, xây dựng, nôngnghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các hộ gia đình, trường học,các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn Lượng chất thải phát sinh thay đổi do tác độngcủa nhiều yếu tố như tăng trưởng và phát triển sản xuất, sự gia tăng dân số, quá trình
đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự phát triển điều kiện sống, trình độ dân trí [7].Tại khoản 10 Điều 3 của Luật bảo vệ môi trường 2005: Chất thải là vật chất ởthể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt
động khác Như vậy, rác thải là tất cả những thứ vật chất từ đồ ăn, đồ dùng, chất phế
thải sản xuất, dịch vụ, y tế, mà mọi người không dùng nữa và thải bỏ đi Rác thảisinh hoạt (chất thải rắn sinh hoạt) sinh ra từ mọi người và mọi nơi: gia đình, trườnghọc, nơi công cộng, nơi vui chơi giải trí, cơ sở y tế, cơ sở sản xuất kinh doanh,…xs[5]
Chất thải rắn đô thị: được định nghĩa là vật chất mà con người tạo ra và vứt
bỏ trong khu vực đô thị mà không phải bồi thường cho hành động đó Thêm vào đó,
Trang 15chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận là thứ màthành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy [3].
Điều kiện lao động: Là tổng thể các yếu tố kỹ thuật, tổ chức lao động, kinh tế,
xã hội, tự nhiên, môi trường và văn hoá xung quanh con người nơi làm việc Điềukiện lao động thể hiện qua quá trình công nghệ, công cụ lao động, đối tượng laođộng, năng lực của người lao động và sự tác động qua lại giữa các yếu tố trên tạonên điều kiện làm việc của con người trong quá trình lao động sản xuất [7]
1.1.2 Cấu tạo, chức năng đường hô hấp [5]
- Cấu tạo đường hô hấp
Cấu tạo đường hô hấp: mũi, họng, thanh quản, khí quản, phế quản, tiểu phếquản, phế nang
- Chức năng bộ máy hô hấp
Đường hô hấp trên dẫn không khí và ngăn chặn vật lạ đi vào đường hô hấpdưới bằng phản xạ ho; lọc lại các hạt bụi đi vào đường thở nhờ hệ thống lông ở mũi;làm ấm, làm ẩm luồng khí đi vào phổi nhờ các mạch máu dày đặc xung quanhđường hô hấp trên
Đường hô hấp dưới dẫn không khí đi vào trong các phế nang
Phế nang là nơi trao đổi không khí của cơ thể với môi trường: O2 đưa vào cơthể và CO2 được đào thải ra ngoài bằng hình thức khuếch tán
1.1.3 Những triệu chứng thường gặp của bệnh đường hô hấp [5]
-Đau họng: Đau họng là cảm giác đau ở trong họng, là triệu chứng chính của
viêm họng Tuy nhiên, các thuật ngữ "đau họng" và "viêm họng" thường được sửdụng thay thế cho nhau Nguyên nhân thường gặp nhất của viêm họng là bệnh dovirus, vi khuẩn, nấm… có thể gặp như cảm lạnh hoặc cúm Viêm họng do virus gây
ra thường tự cải thiện mà chỉ cần chăm sóc tại nhà Nhiễm khuẩn cũng có thể gây
Trang 16nên đau rát họng, nhưng bệnh nhân có thể có thêm triệu chứng sốt, ho, khi điều trịcần dùng thuốc kháng sinh Ngoài ra đau họng cũng có thể là hậu quả của các chấnthương, nôn,…
- Hắt hơi: Hắt hơi là sự phóng thích không khí từ phổi ra bên ngoài thông
qua mũi và miệng, thường xuất hiện khi niêm mạc mũi bị kích thích bởi các yếu tốnhư lạnh, các vật thể nhỏ bên ngoài cơ thể Hắt hơi có thể gặp trong viêm mũi dịứng, cúm, viêm xoang, lệch vách ngăn mũi,…
-Ho: Ho là một hoạt động thở ra mạnh và đột ngột, gồm có 3 giai đoạn: hít
vào sâu và nhanh; bắt đầu thở ra nhanh và mạnh, có sự tham gia của các cơ ở cổ.Lúc đó thanh môn đóng lại, khiến áp lực tăng cao trong lồng ngực; thanh môn mở rađột ngột, không khí bị ép trong phổi được đẩy ra ngoài gây ho
-Khạc đờm: Đờm là các chất tiết từ niêm mạc đường hô hấp (hốc mũi tới phế
nang) và thải ra ngoài miệng Triệu chứng của khạc đờm có thể gặp trong các bệnh
về đường hô hấp trên, bệnh phổi phế quản, lao phổi, ung thư phổi,…
-Khó thở: Khó thở là tình trạng khó khăn trong việc thực hiện động tác thở ra
của bệnh nhân Đây là cảm giác chủ quan, là triệu chứng cơ năng thường gặp donhiều nguyên nhân khác nhau Khó thở mô tả sự khó khăn và mệt mỏi trong lúc thở;
có thể khó thở khi thở ra, hít vào hoặc khó thở ở cả hai thì
-Đau, tức ngực: Là hiện tượng đau xuất hiện ở vùng ngực Cảm giác đau
ngực có thể đau nhiều hoặc chỉ hơi thấy nặng ngực khi hoạt động gắng sức Đau tứcngực có thể gặp trong các bệnh lý tim mạch, bệnh lý phổi (viêm, ung thư phổi…),đau dây thần kinh liên sườn,…
1.1.4 Các bệnh lý hô hấp thường gặp [5]
-Viêm phế quản: Viêm phế quản là tình trạng viêm lớp niêm mạc các ống
phế quản - ống mang không khí đến và đi từ phổi Viêm phế quản có thể là cấp tính
Trang 17hoặc mãn tính Ở điều kiện thông thường, viêm phế quản cấp tính thưởng phát triển
từ nhiễm trùng đường hô hấp do lạnh hay các vấn đề khác Viêm phế quản mãn tính
là tình trạng nghiêm trọng hơn, ống phế quản bị kích thích thường xuyên hoặc viêmniêm mạc của các ống phế quản, thường là do hút thuốc lá
-Viêm phổi: Viêm phổi là tình trạng viêm thường do nhiễm trùng Vi khuẩn,
virus, nấm hay ký sinh trùng có thể gây viêm phổi Viêm phổi là bệnh nguy hiểmnếu với những người trên 65 tuổi, có các bệnh mãn tính khác hoặc suy giảm hệthống miễn dịch Viêm phổi cũng là bệnh phổ biến ở trẻ em hoặc người khỏe mạnhbình thường
-Hen phế quản: Là một bệnh vêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các
thành phần tế bào tham gia Viêm đường thở mạn tính kết hợp tăng đáp ứng đườngthở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn, các triệu chứngtường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm, những đợt này thường kết hợp với tắc nghẽnđường thở lan tỏa và hồi phục tự phát hoặc sau điều trị (GINA: Global Initiative ForAsthma)
- Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính: Bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD) là
một nhóm các bệnh phổi trong đó đường thở bị thu hẹp, khiến cho sự lưu thôngkhíbị gián đoạn ngày càng khó khăn Bệnh khí thũng và viêm phế quản mãn tính làhai vấn đề chính gây nên COPD, nhưng COPD cũng có thể là hậu quả doviêm phếquản mãn tính trong hen Trong mọi trường hợp, tổn thương đường hô hấp đều sẽtrao đổi oxy và carbon dioxide trong phổi
1.2 Thực trạng một số triệu chứng và bệnh hô hấp ở công nhân TGRT đô thị
1.2.1 Trên thế giới
1.2.1.1 Thực trạng mắc một số triệu chứng bệnh đường hô hấp ở công nhân TGRT
Trang 18Các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra một số triệu chứng về bệnh hô hấp phổbiến ở công nhân TGRT là ho, khó thở, thở khò khè, khô mũi, viêm mũi, viêmxoang, tức ngực, đau họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi [17], [26], [27]
Ho
Trong ghiên cứu mô tả cắt ngang của tác giả Tandon R được tiến hành tại Ấn
Độ năm 2010 trên 313 đối tượngnghiên cứu, có đến 25% công nhân thu gom chấtthải rắn đô thị có triệu chứng ho[43].Tương tự, 14,2% công nhân bị ho kéo dài cũngđược phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [20] Một
số nghiên cứu cho thấy sự xuất hiện của triệu chứng ho ở công nhân TGRT đều caohơn so với người lao động trong các ngành nghề khác như nhân viên văn phòng,người bán rau, Cụ thể, tỷ lệ có triệu chứng ho của công nhân TGRT với nhân viênvăn phòng (18,1% so với 7,1%) [17] hay giữa công nhân TGRT với những ngườibán rau (54,9% so với 12,9%)[35] Như vậy, công nhân TGRT có nguy cơ mắc triệuchứng ho cao hơn so với những người làm trong một số ngành nghề khác
Khó thở
Triệu chứng khó thở ở công nhân TGRT được phát hiện trong nhiều nghiêncứu, dao động từ 11,7% (Halim Issever thực hiện tại Thổ Nhĩ Kỳ)[20] đến 31,7%(Mariammal tại Ấn Độ) [42] Nguy cơ xuất hiệu triệu chứng khó thở ở công nhânTGRT cũng cao hơn 2,1 lần so công nhân xây dựng [19], [20], [42], [43]
Tác giả Prisca S tiến hành nghiên cứu trên 102 công nhân thu gom rác thải và
85 người bán rau cho thấy tỷ lệ công nhân TGRT bị thở khò khè cao hơn rất nhiều
so với nhóm người bán rau (32,4% so với 14,1%) [35]
Một số triệu chứng khác
Công nhân TGRT thường gặp phải các triệu chứng/bệnh về mũi như viêm mũi,tắc nghẽn mũi, viêm xoang, mũi khó chịu, chảy nước mũi, sổ mũi Có 2,5% công
Trang 19nhân TGRT bị tắc nghẽn mũi được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả HalaSamir tại Ai Cập [19] 33% công nhân TGRT bị viêm mũi trong nghiên cứu của tácgiả Athanasiou M tại Ấn Độ, cao hơn so với nhóm chứng (27%) [9] 36,3% côngnhân TGRT có triệu chứng mũi khó chịu được phát hiện trong nghiên cứu của tácgiả Prisca S, cao hơn rất nhiều so với nhóm người bán rau (4,7%) [35] Nghiên cứucủa tác giả Mariammal trên CN TGRT và công nhân xây dựng cho thấy các triệuchứng về mũi ở CN TGRT cũng phổ biến hơn so với công nhân xây dựng, như viêmxoang (60% so với 40%), chảy nước mũi (17,3% so với 10%) và sổ mũi (30% sovới 14,3%) [42].
Ngoài các triệu chứng trên, công nhân TGRT còn gặp phải các triệu chứngnhư tức ngực, viêm họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi Có 14,2% công nhân TGRT
bị tức ngực kéo dài 1 năm được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả HalimIssever tại Thổ Nhĩ Kỳ [20] Tác giả Athanasious phát hiện các triệu chứng bệnhđường hô hấp ở công nhân TGRT cao hơn nhóm chứng tại Ấn Độ, cụ thể là viêmhọng (17% so với 8%, p<0,05) [9] Nghiên cứu của Prisca S cho thấymột số triệuchứng xuất hiện phổ biến hơn ở nhóm công nhân thu gom rác so với người bánraunhư có đờm (39,2% so với 7,1%) và hắt hơi (63,7% so với 8,2%) [35]
1.2.1.2 Thực trạng mắc bệnh đường hô hấp
Bệnh về đường hô hấp là một trong những bệnh phổ biến nhất ở công nhânTGRT đô thị, các bệnh đường hô hấp thường gặp trong công nhân TGRT là hen phếquản, phổi tắc nghẽn mạn tính,viêm phế quản mạn tính [36], [54]
Tỷ lệ mắc bệnh về hô hấp ở nhóm công nhân TGRT dao động trong khoảng từhơn 7% đến 71% Cụ thể như 7,78% công nhân bị các bệnh về đường hô hấp trongnghiên cứu của tác giả Nagaraj C tại thành phố Bangalore, Ấn Độ [30] Có 21%công nhân bị mắc các bệnh về đường hô hấp được phát hiện trong nghiên cứu của
Trang 20tác giả Thayyil Jayakrishnan [44]; tỷ lệ bị các bệnh về đường hô hấp ở công nhânTGRT là 71%, trong khi nhóm so sánh chỉ có 34% bị mắc bệnh trong nghiên cứucủa Jaithli H tại Calcutta [21] Có 25% công nhân TGRT bị các bệnh về đường hôhấp trong nghiên cứu của tác giả Hala Samir Abou-AlWafa tại Tây Ban Nha, caohơn hẳn so với nhóm công nhân dịch vụ (12,2%) [19].
Viêm phế quản mãn tính: Trong nghiên cứu của tác giả Yogesh D Sabde tạithành phố Nagpur, Ấn Độ cho thấy 5,9% công nhân TGRT bị bệnh viêm phế quảnmãn tính, nhóm công nhân quét rác đường phố bị bệnh viêm phế quản mãn tính caohơn đáng kể so với nhóm chứng (OR=4,2; p<0,05) [50] Bệnh viêm phế quản mãntính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu tại Đan Mạch (7,8%) [36] và nghiên cứucủa tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ (2,3%) [19]
Hen phế quản: 1,8% công nhân TGRT mắc hen phế quản, cao hơn nhiều sovới nhóm chứng (0,7%) theo Yogesh D Sabde nghiên cứu tại Ấn Độ [51] Hen phếquản cũng được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ
Kỳ với tỷ lệ là 2,8%; qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cho thấy có 3,66% công nhânđược chẩn đoán có thể bị hen phế quản [20] Nghiên cứu của tác giả Raaschou-Nielsen O cũng cho thấy tỷ lệ công nhân làm sạch đường phố tại thành phốCopenhagen, Đan Mạch bị viêm phế quản và bệnh hen suyễn cao hơn so với côngnhân dọn dẹp trong nghĩa trang [36] Theo tác giả Krajewski nguyên nhân dẫn đếnbệnh viêm phế quản mạn tính và bệnh hen phế quản là do công nhân phải tiếp xúcvới bụi và các chất độc hại từ phương tiện giao thông cao hơn so với tiêu chuẩn chophép [26]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại miền nam Brazil năm 1996 của Xavier FariaINeice Müller và cộng sự cho kết quảcó mối liên quan giữa điều kiện làm việc, mức
độ tiếp xúc với bụi hữu cơ, vô cơ trong các trang trại, với sự gia tăng về các triệu
Trang 21chứng bệnh đường hô hấp trên 1379 công nhân Cụ thể, 52% người được phỏng vấnphải tiếp xúc với bụi ở cường độ cao trong khi làm việc.So với người ít tiếp xúc vớibụi thì công nhân tiếp xúc bụi nhiều có nguy cơ mắc các triệu chứng hen suyễn(OR=1,71; 95% OR: 1,10-2,67) và các triệu chứng bệnh hô hấp mãn tính (OR =1,77; 95% OR: 1,25-2,50) cao hơn 70% [49].
Bệnh phổi tắc nhẽn mãn tính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giảHalim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ, với 22,1% công nhân có dấu hiệu mắc bệnh [20].Nghiên cứu của tác giả Nku CO và cộng sự trên nữ công nhân quét rác đường phốtại Nigeria cho thấy tất cả các giá trị chức năng phổi đều giảm một cách rõ ràng,mặc dù không có ý nghĩa thống kê [31] Tương tự như vậy, công nhân quét rác bêntrong và ngoài đô thị ở Bangkok, Thái Lan cũng có dấu hiệu suy giảm chức năngphổi [48]
Trong nghiên cứu được thực hiện trên những công nhân làm việc tại bãi đổ ráctại Chennai, Ấn Độ, chức năng phổi của công nhân quét rác giảm đáng kể so vớinhững người khuân vác và những người lái xe, công nhân nữ có giá trị chức năngphổi thấp hơn đáng kể so với công nhân nam, chức năng phổi của công nhân thấphơn so với những người dân sống gần bãi đổ rác [37] Tác giả Liang Li HHui vàcộng sự đã theo dõi chức năng phổi của 30 công nhân môi trường đô thị và 30 giáoviên trong thành phố thuộc tỉnh Fujian trong vòng 10 năm tại Trung Quốc Kết quảcho thấy, tất cả các giá trị đo chức năng phổi ở công nhân TGRT đều giảm đáng kể
so với nhóm giáo viên sau 10 năm theo dõi, các chỉ số giảm ở công nhân nam nhiềuhơn so với công nhân nữ, chức năng phổi ở công nhân tương quan nghịch với thờigian làm việc của họ [53] Qua các nghiên cứu trên đều cho thấy, chức năng phổicủa công nhân TGRT đô thị bị giảm rõ rệt, thời gian làm việc càng lâu thì chức
Trang 22năng phổi càng yếu, nguyên nhân chủ yếu là do tiếp xúc với nồng độ bụi cao trongmôi trường làm việc.
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu về các vấn đề sức khoẻ ở đối tượngcông nhân TGRT, đặc biệt trong vấn đề hô hấp Nghiên cứu của tác giả Đoàn TuyếtNhung năm 1995 tập trung vào điều kiện lao động của nữ công nhân vệ sinh môitrường đô thị cho thấy nhóm công nhân quét rác có tỷ lệ mắc bệnh về tai mũi họnglên đến 99%, ở nhóm vệ sinh công cộng tỷ lệ mắc các bệnh về tai mũi họng lên đến100% [1]
1.3 Một số yếu tố liên quan đến triệu chứng bệnh đường hô hấp ở công nhân thu gom rác thải đô thị
Các nghiên cứu chỉ ra rằng các tình trạng mắc triệu chứng bệnh đường hô hấp
có thể do sự tương tác, kết hợp của nhiều yếu tố như các yếu tố cá nhân, yếu tố điềukiện lao động của công nhân, môi trường sống [15], [39]
1.3.1 Các yếu tố liên quan đến điều kiện lao động
Điều kiện lao động đặc thù của công nhân TGRT là làm việc ngoài trời, côngviệc bao gồm phải đi bộ từ 2-4 km để đẩy xe rác, quét rác, trực tiếp tiếp xúc với rácthải, chịu ảnh hưởng của điều kiện khí hậu không thuận lợi cả mùa đông lẫn mùa hè,thường xuyên tiếp xúc với bụi bẩn, hóa chất độc hại, vi sinh vật gây bệnh, trongmôi trường lao độnglàm tăng tỷ lệ mắc các triệu chứng đường hô hấp ở công nhân[15], [39], [54]
1.3.1.1 Điều kiện khí hậu và nhiệt độ
Với nhiệm vụ TGRT, công nhân phải làm việc ở ngoài trời và chịu ảnh hưởngtrực tiếp của khí hậu và nhiệt độ Một nghiên cứu trên 1735 công nhân của tác giảJordi Sunyer và công sự năm 1998 tại Tây Ban Nha cho thấy yếu tố nhiệt độ (quá
Trang 23cao và quá thấp) làm tăng nguy cơ mắc triệu chứng đường hô hấp, cụ thể là tăngnguy cơ ho gấp 3 lần (OR=2.93; 95% OR (2,24-3,33)) và tăng nguy cơ khó thở gấp
2 lần (OR 1,72; 95% OR (1,52-2,31)) [24]
Theo nghiên cứu của tác giả Đoàn Tuyết Nhung và cộng sự về điều kiện laođộng của nữ công nhân TGRT đô thị Hà Nội, do tính chất của công việc nữ côngnhân phải làm việc ngoài trời nên phải chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu tự nhiên củavùng Theo số liệu nha khí tượng thì ở miền bắc Việt Nam hàng năm trung bình cókhoảng 60-70 ngày không khí lạnh dưới 20oC, chiếm khoảng 16-18% thời gian mộtnăm (thấp hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1-5oC) và khoảng 65-75 ngày không khínóng, khó chịu từ 32-37oC và trên 37oC chiếm khoảng 17-19% thời gian một năm(vượt TCVSCP từ 2-7oC) Như vậy mỗi năm công nhân TGRT ở Hà Nội có 33-37%thời gian phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ không khí ngoài vùng TCVSCP.Chưa tính tới thời gian có thời tiết khắc nghiệt như gió mùa đông bắc nhiệt độxuống 5-10oC hay mưa bão, rét buốt khi công nhân vẫn làm việc đến 24 giờ đêmhoặc 1-2 giờ sáng hôm sau, tạo điều kiện kchịudài với những điều kiện khí hậu nhưvậy sẽ dẫn đến các triệu chứng bệnh đường hô hấp như ho, khó thở,… và chứngbệnh về đường hô hấp như viêm phế quản, viêm họng mãn, [1]
1.3.1.2 Phơi nhiễm với bụi, hơi khí độc và yếu tố vi sinh vật
Với điều kiện lao động chủ yếu là làm việc ngoài trời và trên đường phố, côngnhân TGRT thường xuyên phải tiếp xúc với lượng lớn bụi trong môi trường làmviệc Bụi được phát sinh từ các phương tiện giao thông hay trong quá trình côngnhân sử dụng chổi để quét đường phố [19] Công nhân TGRT có nguy cơ tiếp xúcvới hỗn hợp các chất ô nhiễm, là nguyên nhân thường gặp của các triệu chứng bệnhđường hô hấp về [20]
Trang 24Theo tác giả Hala Samir Abou-ElWafa và cộng sự tại Ấn Độ, phơi nhiễm visinh vật liên quan đến chất thải có thể xảy ra ở nơi chất thải được lưu trữ hoặc bãitập trung ở ngoài trời, trong quá trình phân loại, vận chuyển và dọn dẹp Nghiên cứucòn chỉ ra rằng việc tập trung rác thải tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của visinh vật như vi khuẩn Gram âm và từ đó hình thành các nội độc tố dưới dạng giọttreo, khi được hít vào, gây viêm đường hô hấp và những vấn đề sức khỏe khác [17].Một số nghiên cứu cho rằng vi sinh vật tích lũy trong quần áo có thể là nguồn gây racác triệu chứng bệnh đường hô hấp [15].
Nghiên cứu tại Việt Nam trên đối tượng công nhân TGRT còn hạn chế, mớichỉ dừng lại ở nhóm nữ công nhân TGRT đô thị làm việc trong môi trường độc hại,thường xuyên tiếp xúc với các loại bụi bẩn và hơi khí độc trong phân, rác, phế thảicông nghiệp Dưới sự tác động của điều kiện môi trường, chất thải tại các tụ điểmtập trung rác phân hủy, sản sinh các chất khí có mùi hôi thối,ô nhiễm, gây cảm giáckhó chịu, buồn nôn và đau đầu, khiến công nhân dễ bị mắc các triệu chứng bệnhđường hô hấp và ảnh hưởng lớn đến tâm lý [1],[4]
Trang 251.3.1.3 Thời gian làm việc
Do đặc thù công việc, công nhân TGRT đô thị phải làm việc trong thời giandài, làm ca đêm liên tục, khôngđược luân chuyển ca thường xuyên Trong các ngàynghỉ thông thường như lễ Tết,công nhân còn phải tăng ca do khối lượng rác thảiphát sinh nhiều hơn ngày thường [1] Trung bình ca làm việc của công nhân TGRTkéo dài khoảng 8 giờ[6, 20] Ca sáng bắt đầu từ 6 giờ sáng cho đến 15 giờ chiều, cađêm kết thúc lúc 23 giờ thậm chí đến 1-2 giờ sángđiều kiện Trong đó, thời gian
“thu gom rác” kéo dài khoảng 5 giờ [19]
Theo, cơ cấu tổ chức lao động của công nhân TGRT thườngbao gồm 3 ca làmviệc Ca thứ nhất từ 4 giờ sáng đến 13 giờ chiều, ca thứ 2 từ 12 giờ đến 21 giờ đêm,
ca thứ 3 từ 16 giờ đến khi hết rác (thường là 2 giờ sáng ngày hôm sau) Công nhânđược nghỉ giữa ca khoảng 1 giờ, tại nhữngchỗ nghỉ tạm bợ không cố định Cùngđiều kiện làm việc phải trực tiết khắc nghiệt quanh năm (oi, nóng,,,…) và tiếp xúcliên tục với nhiều loại hơi khí độc, bụi bẩn, nguy cơ mắc triệu chứng đường hô hấpcủa công nhân cũng gia tăng [7]
1.3.1.4 Trang thiết bị bảo hộ lao động
Nghiên cứu của tác giả Yuehua Yan và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy côngnhân phải thường xuyên làm việc với cường độ lao động và khối lượng công việclớnĐơn vị sử dụng người lao độngkhông đề cao việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏecho công nhân Công nhân chưa được trang bị những phương tiện bảo hộ cá nhânnhư khẩu trang, không được cấp phát nước rửa tay hoặc xà phòng, không được đàotạo tập huấn trước khi bắt đầu làm việc [53] Kết quả tương tự được tìm thấy trongnghiên cứu của Yogesh D Sabde tại Ấn Độ, vấn đề không được cung cấp thiết bịbảo hộ thường xuyên và thiếu động cơ thúc đẩy sử dụng các thiết bị bảo hộ này đãdẫn đến tỷ lệ công nhân sử dụng thấp [32]
Trang 261.3.1.5 Kiến thức, truyền thông về ATVSLĐ
Nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấysố lượng công nhân được tập huấn, giáo dụcsức khỏe còn hạn chế Cácán bộ y tế cũng không đưa ra bất cứ lời khuyên nào chocông nhân liên quan đến việc sử dụng các thiết bị bảo hộ cá nhân hoặc bỏ thói quenhút thuốc [32] Một nghiên cứu khác của J Peng tạicũng cho thấycông nhân vànhững người sử dụng lao động đều nhận thức được những mối nguy hiểm đối vớisức khỏe người lao động Tuy nhiên, do thiếu các chính sách bảo hộ cụ thể đối vớinhững người lao động không chính thức và không có địa điểm tập trung cố địnhtrong thời gian làm việc khiến cho việc đảm bảo sức khỏe và an toàn của công nhântrở nên khó khăn [29]
1.3.2 Các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân
1.3.2.1 Sử dụng trang bị bảo hộ lao động
Không sử dụng bảo hộ lao động là một trong những nguyên nhân chính dẫn tớinguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp ở công nhân TGRT Trên thế giới, có bốnloại phương tiện bảo hộ cá nhân cho nhóm công nhân TGRT là quần áo bảo hộhuỳnh quang che phủ toàn bộ bề mặt cơ thể, ủng cao su che chân, găng tay để bảo
hộ từ ngón tay đến cổ tay và khẩu trang để che miệng và mũi [32] Tại Việt Nam,qua quan sát thực tế, công nhân thường xuyên sử dụng ba loại phương tiên bảo hộlao động là quần áo bảo hộ huỳnh quang, găng tay và khẩu trang; ủng cao su ít được
sử dụng Nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ công nhân sử dụng bảo hộ lao động trongquá trình làm việc thấp Những công nhân cao tuổi có nhận thức về nguy cơ nghềnghiệp cao hơn nhóm công nhân trẻ (70% so với 55,6%) nhưng nhóm công nhândưới 40 tuổi có thói quen sử dụng thiết bị bảo vệ thời gian làm việc cao hơn nhómcông nhân trên 40 tuổi (98,4% so với 63,3%) bao gồm kính mắt (77,8% so với63,3%), kem chống nắng (55,6% so với 36,7%), các thiết bị bảo vệ khác (98,4% so
Trang 27với 63,3%) Vẫn có 6,7% công nhân không bao giờ sử dụng các trang thiết bị bảo vệ[31].
1.3.2.2 Hút thuốc lá
Bên cạnh các yếu tố điều kiện làm việc nêu trên, nguy cơ mắc bệnh đường hôhấp trong công nhân TGRT còn xuất phát từ thói quen hút thuốc của công nhân.Mốiliên quan giữa hút thuốc lá và các bệnh lý về phổi đã được chứng minh trong nhiềunghiên cứu Các triệu chứng như khó thở và thở khò khè có sự khác nhau giữa nhómcông nhân tiếp xúc với khói thuốc và nhóm không tiếp xúc,có tỷ lệ có triệu chứngbất thường (khó thở: 42,9% so với 14,7%; p=0,019) và (thở khò khè: 52,4% so với11,8%; p=0,001) [26] Một nghiên cứu khác cũng cho thấy công nhân hút thuốc lá
có tỷ lệ bị bệnh (triệu chứng như ho, có đờm mãn tính, tức ngực) cao hơn đáng kể sovới những công nhân không hút thuốc (p<0,05) [28]
1.3.2.3 Tuổi và thâm niên làm việc
Tỷ lệ mắc các triệu chứng đường hô hấp còn liên quan đến độ tuổi và của côngnhân Nghiên cứu các triệu chứng bệnh đường hô hấp cấp tính, mãn tính và nhữngthay đổi về chức năng phổi của tác giả Zuskin E và cộng sự tại Croatia năm 1996cho kết quả: nhóm công nhân trên 40 tuổi có tỷ lệ bị các bệnh hô hấp mãn tính caohơn so với nhóm công nhân dưới 40 tuổi, nhóm công nhân làm việc trên 10 năm có
tỷ lệ bị các bệnh hô hấp mãn tính cao hơn nhóm chứng với (p<0,05) [56] Trong sốnhững công nhân có hút thuốc, người có thâm niên làm việc hơn 10 năm có tỷ lệ bịcác bệnh viêm mũi và viêm xoang cao hơn so với những người làm việc trong thờigian ngắn hơn (p<0,05) [28]
1.3.3 Các yếu liên quan đến điều kiện sống
Môi trường sống và điều kiện sinh hoạt trong gia đình cũng đóng góp một phầnnguyên nhân dẫn tới tình trạng mắc các triệu chứng bệnh đường hô hấp.Quá trình đốt
Trang 28các loại nhiên liệu sử dụng để đun nấu(gas/ than/ củi) có thể sản sinh ra các chất khívàhạt gây kích ứng đường hô hấp, dẫn tớivề bao gồm cả hen suyễn thậm chíMột sốloại khí, trong đó có khí NO2 có thể gây ra các triệu chứng hen suyễn [52]
Như vậy, nguy cơ mắc triệu chứng đường hô hấp ở công nhân TGRT gia tăng
do tính chất công việc thu gom rác thải và điều kiện sinh hoạt của công nhân
1.3.4 Các biện pháp phòng chống bệnh đường hô hấp
Trong quá trình làm việc, điều kiện lao động không thuận lợi khiến công nhânhít phải lượng bụi lớn ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và có nguy cơ tiến triển cácbệnh nghề nghiệp [38] Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành trên công nhân TGRT,
từ đó đưa ra các giải pháp nhằm giúp cải thiện sức khỏe cho người lao động
Trang 291.3.4.1 Cung cấp phương tiện bảo hộ lao động cá nhân.
Nghiên cứu của tác giả Yogesh D Sabde tại Nagpur, Ấn Độ đã đưa ra các giảipháp như công nhân cần tăng cường sử dụng các thiết bị bảo hộ lao động như khẩutrang, kính bảo hộ, găng tay, giày ống để giảm tiếp xúc với bụi và các yếu tố độc hạitrong môi trường lao động [51] Tác giả Zuskin E kết luận rằng quần áo bảo hộ,găng tay, giày và khẩu trang có thể hữu ích để giúp ngăn chặn sự phát triển củađường hô hấp cấp tính, mãn tính và các triệu chứng khác.Sử dụng khẩu trang để bảo
vệ đường hô hấp được coi là biện pháp phòng ngừa phổ biến nhất làm giảm tiếp xúcvới bụi trong khi quét đường phố Vì vậy, chính quyền địa phương và các tổ chức cóliên quan cần trang bị đầy đủ các thiết bị bảo hộ cá nhân cho công nhân và côngnhân cần sử dụng tất cả các bảo hộ lao động trong quá trình làm việc [16], [37],[56]
1.3.4.2 Các biện pháp thông tin giáo dục truyền thông
Theo tác giả Ramaswamy P, người sử dụng lao động cần tổ chức các buổi giáodục sức khỏe phù hợp cho công nhân TGRT, nhằm giúp họ hiểu hơn về cách tựchăm sóc sức khỏe cho bản thân, hạn chế các mắc bệnh do ảnh hưởng từ môi trườnglàm việc, đặc biệt là các vấn đề về đường hô hấp Khuyến khích công nhân sử dụngbảo hộ lao động trong suốt quá trình làm việc thông qua việc nêu được tầm quantrọng của các trang bị nàytrong phòng bệnh [37]
1.3.4.3 Các biện pháp vệ sinh công nghiệp và kỹ thuật công nghệ
Tác giả Ramaswamy P đã đưa ra biện pháp kiểm soát bụi hiệu quả như làm ướt
bề mặt đường trước khi quét chắc chắn giảm được những ảnh hưởng cấp tính đếnđường hô hấp [37] Biện pháp này cũng được đưa ra trong nghiên cứu của tác giảSmilee Johncy S và tác giả Dr Ajay KT [16], [40] Tác giả Dr Ajay KT đưa ra biệnpháp kiểm soát bụi khác sử dụng chổi cán dài trong quét rác nhằm giảm mức độ tiếp
Trang 30xúc trực tiếp với bụi [16] Yogesh D Sabde cũng cho rằng cần tự động hóa xe quétrác để công nhân TGRT hạn chế tiếp xúc với bụi [50].
Trang 311.3.4.4 Các biện pháp y tế, bảo vệ sức khỏe, tổ chức lao động
Tất cả công nhân trong nghiên cứu của Thayyil Jayakrishnan đều làm việc 7ngày/tuần với trung bình giờ làm việc là 6,2 ± 1,7 giờ/ngày [44] Tuy nhiên, theo tácgiả Dr Ajay KT, công nhân cần được giới hạn số ngày TGRTchỉ từ 3 đến 4ngày/tuần đểhạn chế tần suất tiếp xúc với các yếu tố độc hại trong môi trường làmviệc[16] Trong một nghiên cứu khác của Sudhir Naya, giải pháp là kiểm tra việc sửdụng bảo hộ lao độngcủa thường xuyên, tiến hành tách /phân loại chất thải tại nguồntrong túi mã màu khác nhau [41]
Tác giả M Athanasiou và cộng sự tại thành phố Keratsini, Ấn Độ khuyến nghịrằng ngành y tế cần chăm sóc tích cực hơn đối với sức khỏe nghề nghiệp của ngườilao động Những người có vấn đề sức khỏe về đường hô hấp hoặc suy giảm chứcnăng của phổi nên được chuyển đến các phòng ban khác trong công ty Cần có cácsáng kiến để khuyến khích công nhân sử dụng các kỹ thuật quản lý chất thải an toàn
và sử dụng hợp lý các thiết bị bảo hộ cá nhân Phát triển hệ thống giám sát sức khỏecho công nhânbao gồm khám sức khỏe trước khi tuyển dụng và khám sức khỏe định
kỳ cũng được đưa ra trong nghiên cứu của tác giả Zuskin E [56]
1.4 Bộ công cụ đánh giá triệu chứng bệnh đường hô hấp ATS-DLD-78a (American ThoracicSociety and the Division of Lung Diseases-1978 adult)
1.4.1 Giới thiệu về bộ công cụ
Nghiên cứu này sử dụng bộ câu hỏi của hội lồng ngực Mỹ (ATSDLD1978a American Thoracic Society and the Division of Lung Diseases-1978 adult) để ghilại sự hiện diện các triệu chứng bệnh đường hô hấp
-Bộ câu hỏi ATS-DLD-78a được thiết kế có 7 nội dung bao gồm các câu hỏi vềcác triệu chứng đường hô hấp như: ho, đờm, thở khò khè, khó thở, cảm lạnh và bệnh
về ngực; các câu hỏi về tiền sử bệnh trong quá khứ; và các câu hỏi về thông tin cá
Trang 32nhân Các câu hỏi về thông tin chung của đối tượng sẽ hỏi về tuổi, giới, thời gianlàm việc tại vị trí, thâm niên, nhiệm vụ,… Các câu hỏi về các triệu chứng bệnhđường hô hấp chỉ có đáp án là có và không; khoảng thời gian đánh giá trong vòng 3tháng so với thời điểm phỏng vấn; tìm hiểu số lần mắc triệu chứng đó trong mộtngày, một tuần, một tháng hay ba tháng liên tục trước đấy kể từ thời điểm nghiêncứu
Cụ thể, với phần câu hỏi về ho và đờm thứ tự hỏi đều là có mắc triệu chứng hohay đờm trong một ngày, một tuần, một tháng hay ba tháng gần đây không (batháng trước đấy kể từ thời điểm được hỏi); tần suất ho/đờm trong một ngày, mộttuần, trong ba tháng gần đây không Đối với các câu hỏi về thở khò khè, khó thởhay cảm lạnh và các bệnh về ngực cũng giống như cấu trúc câu hỏi về triệu chứngho/ đờm bao gồm câu hỏi đánh giá triệu chứng trong vòng ba tháng tính từ thờiđiểm phỏng vấn hay đã từng mắc trước đó một năm Ngoài ra, có các câu hỏi thêmđối với đối tượng có gặp các triệu chứng này Chẳng hạn, các câu hỏi về thở khòkhè bao gồm các câu hỏi như: Đã từng bị thở khò khè khi bị cảm lạnh; thở khò khèngay cảkhi không bị cảm lạnh; thở khò khè cả ngày lẫn đêm, từng bị thở khò khèbaonhiêu năm; số năm bị thở khò khè;…
Đối với phần câu hỏi về tiền sử bệnh vùng ngực bao gồm các câu hỏi với câutrả lời là có và không về viêm phổi,tim mạch… Nếu có thì có được bác sĩ chẩn đoánkhông, thời gian kéo dài của bệnh như thế nào
1.4.2 Đánh giá về tính giá trị và độ tin cậy của bộ công cụ
Trên thế giới, bộ câu hỏi ATS-DLD-78a về các triệu chứng bệnh đường hôhấp đã được đánh giá như một công cụ dịch tễ học và nhấn mạnh tầm quan trọngcủa lịch sử lâm sàng trong việc đánh giá tình trạng hô hấp Nghiên cứu của các tácgiả Brodkin C.A; Barnhart S, Anderson G và cộng sự của trường Đại học
Trang 33Washington và Trung tâm nghiên cứu ung thư Fred Hutchinson sử dụng bộ câu hỏiATS để đánh giá sự tương quan giữa các triệu chứng bệnh đường hô hấp và sự suygiảm chức năng phổi trên 816 đối tượng là công nhân tiếp xúc với amiăng.Kết quảcho thấy có sự tương quan giữa các triệu chứng bệnh đường hô hấp và sự suy giảmchức năng phổi [12] Theo nghiên c u c a: Abbasi I N; Ahssan A và Nafees A A nămứu của: Abbasi I N; Ahssan A và Nafees A A năm ủa: Abbasi I N; Ahssan A và Nafees A A năm
Khairpur, Sindh, Pakistan cũng sử dụng bộ câu hỏi ATS-DLD-78a để hỏi về sự hiệndiện của các triệu chứng đường hô hấp cho thấy, triệu chứng bệnh đường hô hấp chủyếu là đờm (19%), tiếp theo là ho (17,5%), thở khò khè (14%) và khó thở(10,5%).Tỷ lệ bác sĩ chẩn đoán và kết quả tự báo cáo của bệnh hen suyễn tương ứng
là 5,5% và 9,5% Đây là một công cụ có giá trị sàng lọc các triệu chứng bệnh đường
hô hấp trong bối cảnh nguồn lực hạn chế [10]
Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang mô tả tại miền nam Brazil năm 1996 củaXavier FariaI Neice Müller và cộng sự, về điều kiện làm việc của công nhân, mức
độ tiếp xúc với bụi hữu cơ, vô cơ trong các trang trại, và với sự gia tăng về các triệuchứng bệnh đường hô hấp trên 1379 công nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, có52% người được phỏng vấn làm việc trong môi trường với cường độ cao tiếp xúcvới bụi.Người lao động tiếp xúc với bụi ở mức độ cao có nguy cơ có các triệu chứnghen suyễn và các triệu chứng bệnh hô hấp mãn tính cao hơn nhóm ít tiếp xúc với bụilần lượt là (OR=1,71; 95% OR (1,10-2,67)) và (OR = 1,77; 95% OR (1,25-2,50))[49]
Theo nghiên cứu cắt ngang mô tả tại miền nam Brazil năm 1996 của XavierFariaI Neice Müller và cộng sự, về điều kiện làm việc của công nhân, mức độ tiếpxúc với bụi hữu cơ, vô cơ trong các trang trại, với sự gia tăng về các triệu chứngbệnh đường hô hấp trên 1379 công nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 52%
Trang 34người được phỏng vấn làm việc trong môi trường với cường độ cao tiếp xúc vớibụi.Người lao động tiếp xúc với bụi ở mức độ cao có nguy cơ có các triệu chứng hensuyễn và các triệu chứng bệnh hô hấp mãn tính cao hơn nhóm ít tiếp xúc với bụi lầnlượt là (OR=1,71; 95% OR (1,10-2,67)) và (OR = 1,77; 95% OR (1,25-2,50)) [49].
1.5 Khung lý thuyết
Áp dụng khung lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến sức khoẻ và từ tổng quancác nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu chỉ ra một số yếu tốảnh hưởng đến các triệu chứng bệnh đường hô hấp ở công nhân thu gom rác thải đôthị Trong khung lý thuyết đề cập đến 3 nhóm yếu tố là yếu tố cá nhân bao gồm cácđặc điểm về tuổi, giới, trình độ học vấn, sử dụng trang thiết bị bảo hộ lao động, hútthuốc lá…, các yếu tố điều kiện làm việc như: điều kiện khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm,thời gian làm việc, trang bị bảo hộ cá nhận,… và yếu tố môi trường như điều kiện ônhiễm không khí, bụi tại nơi sinh sống, các vấn đề hô hấp trước đó, điều kiện sinhsống,…
Yếu tố môi trường
Y u t đi u ếu tố điều ố điều ều
ki n ện làm việc
Trang bị bảo hộ
cá nhân
Thời gian làm việc( số giờ làm
và ca kíp)
Truyền thông giáo dục về ATLĐ và bệnh
34
Trang 351.6 Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu [8]
Nghiên cứu được thực hiện tại công ty môi trường Đô thị Hà Nội (URENCO).URENCO là doanh nghiệp nhà nước trực thuộc UBND thành phố Hà Nội, hiện naytổng công ty URENCO đang quản lý 7 chi nhánh, 1 văn phòng đại diện và 7 công tycon, là doanh nghiệp chính chịu trách nhiệm quản lý môi trường, thu gom, vậnchuyển và xử lý chất thải đô thị trên địa bàn Hà Nội, cung ứng các dịch vụ vệ sinhmôi trường đô thị và khu công nghiệp trên phạm vi toàn quốc Tại 4 Quận trung tâmcủa thành phố Hà Nội là Hoàn Kiếm, Ba Đình, Hai Bà Trưng và Đống Đa,URENCO phụ trách thu gom, vận chuyển vả xử lý chất thải.Hiện nay, mỗi ngày HàNội phát sinh 5.370 tấn chất thải sinh hoạt, trong đó ở khu vực các quận, thị xã là
Trang 36khoảng 3.500 tấn Tính tới quý I năm 2016, chỉ có 4 quận trung tâm TP có tỷ lệ thugom, xử lý chất thải rắn đạt tỷ lệ 100%, còn lại các quận, thị khác, tỷ lệ thu gom, xứ
lý chỉ đạt từ 80 - 85%
Các chi nhánh URENCO 1, 2, 3, 4 là các chi nhánh thực hiện các nhiệm vụ vàcác ngành nghề kinh doanh khác nhau trong đó có dịch vụ thực hiện thu gom và vậnchuyển chất thải sinh hoạt, công nghiệp, y tế và xây dựng Về cơ cấu, tổ chức cán
bộ công ty thực hiện các nhiệm vụ về thu gom, vận chuyển chất thải tại mỗi chinhánh khoảng 500 công nhân Trong đó, công nhân thu gom rác thải là đối tượngchiếm số lượng lớn công nhân và có tiếp xúc trực tiếp với rác thải trong công việchàng ngày Do đó, trong khuôn khổ của đề tài này chọn ngẫu nhiên một chi nhánh
để nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại chi nhánh Hai Bà Trưng là một trong nhữngchi nhánh của URENCO với tổng số nhân viên là 503 người Trong đó số lao độnggián tiếp chiếm 3% với 15 người Lao động trực tiếp chiếm phần lớn với các chứcdanh nghề nghiệp khác nhau như:
3 Công nhân lái, vận hành các loại xe chuyên
Trang 37- Công nhân lái, vận hành các loại xe chuyên dùng chở phân, rác: công việc chính
là vận chuyển rác thải sinh hoạt từ các điểm tập kết rác lên khu xử lý chất thải NamSơn – Sóc Sơn Thời gian làm việc chia làm 3 ca:
+ Ca 1: từ 5h00’ – 13h00’
+Ca 2: từ 13h00’ – 21h00’
+ Ca 3: từ 20h00’ – 4h00’sáng
Trang 38CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Công nhân thu gom rác thải tại công ty môi trường đô thị Hà Nội URENCO đảm bảo đủ các tiêu chuẩn lựa chọn:
-Có hợp đồng lao động
-Làm trực tiếp công việc thu gom rác thải
-Làm việc tại doanh nghiệp ít nhất 1 năm trước thời điểm nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
-Thời gian: Từ tháng 1/2017 đến tháng 6/2017
2.3 Địa điểm: Nghiên cứu thực hiện tại chi nhánh Hai Bà Trưng của công ty môi
trường đô thị Hà Nội (URENCO)
2.4 Thiết kế nghiên cứu
Áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu
Áp dụng công thức:
2
) 2 / 1 (
) 1
.(
d
p p
n: cỡ mẫu tối thiểu cần thu thập tại doanh nghiệp
Trang 39Ước tính khoảng 10% đối tượng không trả lời phiếu/ phiếu không hợp lệ,do đó
cỡ mẫu cần thu thập là 422 công nhân
Trang 402.4.2 Phương pháp chọn mẫu trong nghiên cứu
Có 4 chi nhánh (URENCO 1, 2, 3, 4) với số lượng từ 400 – 500 công nhân/01chi nhánh, nghiên cứu của chúng tôi chọn ngẫu nhiên một chi nhánh từ 4 chi nhánhURENCO 1, 2, 3, 4 Chi nhánh sau khi được chọn ngẫu nhiên là chi nhánh UrencoHai Bà Trưng với tổng số công nhân TGRT là 475 công nhân Nghiên cứu tiến hànhchọn mẫu toàn bộ để cỡ mẫu nghiên cứu được tối đa nhất Thực tế nghiên cứu tiếpcận và thu lại phiếu trả lời hoàn chỉnh được 468 phiếu phỏng vấn của công nhânTGRT tại chi nhánh Hai Bà Trưng
2.4.3 Phương pháp tiếp cận đối tượng nghiên cứu
Phỏng vấn định lượng: Đối tượng nghiên cứu được khám sức khỏe định kì 1lần/năm vào tháng 3 hàng năm tại Công ty nên thực hiện phỏng vấn trực tiếp đốitượng nghiên cứu sau khi khám Đối tượng được hướng dẫn tới vị trí ĐTV để thựchiện phỏng vấn và phát vấn 1 lần duy nhất Bộ công cụ được chia làm 2 phần: phầnthông tin về sự xuất hiện các triệu chứng bệnh đường hô hấp công nhân sẽ tự điền;phần thông tin chung của đối tượng ĐTV tiến hành phỏng vấn
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu định lượng được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp đối tượngnghiên cứu qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi
Giai đoạn 2: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng trong buổi khám sứckhoẻ định kì và tại nơi làm việc của họ Nghiên cứu tiếp cận được với công nhân tạinơi tập kết sau khi hết ca làm việc hoặc trước khi họ bắt đầu vào làm ca mới
Bộ công cụ khảo sát sự xuất hiện các triệu chứng bệnh đường hô hấp dựa trên
bộ câu hỏi ATS-DLD-78a Ngoài ra, bộ công cụ thu thập thông tin về các yếu tốliên quan được xây dựng dựa trên tổng quan và tham khảo các nghiên cứu khác đã
thực hiện (Phụ lục 1)