Kết quả điều tra về việc sử dụng các biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ...56Bảng 8.. Có nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng này, một trong những nguy
Trang 1LỜI CẢM ƠN!
Bằng tấm lòng trân trọng và biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn giảng viên hướng dẫn Th.S Lê Thị Mai Hoa, người đã luôn quan tâm, tận tình giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành khóa luận này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Giáo dục mầm non- trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ, giảng dạy tận tình và hướng dẫn em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin trân trọng cảm ơn phòng tư liệu khoa Giáo dục mầm non, thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội, ban giám hiệu trường và giáo viên của các lớp mẫu giáo 5-6 tuổi 5 và 5A trường Mầm non Đống Đa đã tạo điều kiện
để em hoàn thành đề tài này.
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến bạn bè, người thân trong gia đình đã ủng hộ, động viên em trong suốt quá trình hoàn thành khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 18 tháng 04 năm 2016
Sinh viên
Phan Thị Hoa
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Phạm vi nghiên cứu 4
8 Kế hoạch nghiên cứu 4
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Tại Việt Nam 7
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng NKHHCT ở trẻ 5-6 tuổi 9
1.2.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi và đặc điểm hệ hô hấp của trẻ 9
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi 15
1.2.3 Gia đình và xã hội 16
1.3 Giáo dục phòng bệnh NKHHT cho trẻ MG ở trường MN 16
1.3.1 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính 16
1.3.2 Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính 19
Trang 41.3.3 Khái niệm phòng bệnh NKHHCT 23
1.3.4 Khái niệm giáo dục 24
1.3.5 Khái niệm giáo dục phòng bệnh NKHHCT 24
1.3.6 Khái niệm giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 25
1.4 Giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi 25
1.4.1 Mục tiêu giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi 25
1.4.2 Nội dung giáo dục phòng bệnh NKHHCT tính cho trẻ MG 5-6 tuổi.26 1.4.3 Hình thức tổ chức giáo dục phòng NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi .26 1.4.4 Phương pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi ở trường MN 30
1.4.5 Ý nghĩa của giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi 33
1.5 TCĐVCCĐ của trẻ em đối với việc giáo dục phòng bệnh NKHHCT 35
1.5.1 Khái niệm TCĐVCCĐ 35
1.5.2 Bản chất của TCĐVCCĐ 36
1.5.3 Cấu trúc của TCĐVCCĐ 38
1.5.4 Ý nghĩa của TCĐVCCĐ đối với giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi 41
1.5.5 Biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5- 6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 42
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 45
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC PHÒNG BỆNH NKHHCT CHO TRẺ MG 5-6 TUỔI THÔNG QUA TCĐVCCĐ Ở TRƯỜNG MN ĐỐNG ĐA (QUẬN ĐỐNG ĐA, HÀ NỘI) 46 2.1 Thực trạng chương trình giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG
Trang 52.1.1 Chương trình cải cách (CTCC) 46
2.1.2 Chương trình đổi mới (CTĐM) 47
2.1.3 Chương trình GDMN mới 48
2.2 Thực trạng tổ chức giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ tại trường MN Đống Đa (quận Đống Đa, Hà Nội) 50
2.2.1 Vài nét về đối tượng điều tra 50
2.2.2 Mục đích điều tra 51
2.2.3 Nội dung điều tra 51
2.2.4 Cách tiến hành điều tra 51
2.2.5 Kết quả điều tra 51
2.3 Thực trạng về hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường MN Đống Đa (quận Đống Đa, Hà Nội) 61
2.3.1 Vài nét về đối tượng điều tra 61
2.3.2 Mục đích điều tra 61
2.3.3 Nội dung điều tra 61
2.3.4 Cách tiến hành điều tra 61
2.3.5 Tiêu chí và thang đánh giá hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT ở trẻ 61
2.3.6 Điều tra thực trạng hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT của trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 65
2.3.7 Kết quả điều tra và phân tích kết quả 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 71 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC PHÒNG BỆNH NKHHCT CHO TRẺ MG 5-6 TUỔI THÔNG QUA TCĐVCCĐ .72
Trang 63.1 Cơ sở định hướng cho vệc đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 72
3.1.1 Dựa vào mục tiêu GDMN nói chung và mục tiêu giáo dục phòng bệnh cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN 72 3.1.2 Dựa trên quan điểm tích hợp trong GDMN 73 3.1.3 Dựa vào TCĐVCCĐ của trẻ MG 5-6 tuổi 75 3.1.4 Dựa vào cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường MN 76
3.2 Đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCC 78
3.2.1 Sưu tầm, lựa chọn TCĐVCCĐ phù hợp với nội dung giáo dục phòng bệnh NKHHCT và phù hợp với khả năng của trẻ 78 3.2.2 Lập kế hoạch vui chơi 82 3.2.3 Trang bị không gian chơi, đồ chơi đa dạng, phong phú và mang tính phát triển 83 3.2.4 Tạo ra các THCVĐ trong khi chơi TCĐVCC 86 3.2.5 Sử dụng kết hợp các bài hát, bài thơ, truyện có nội dung giáo dục phòng bệnh NKHHCT trong TCĐVCCĐ 89 3.2.6 Luân chuyển vai chơi để tạo điều kiện cho trẻ được tham gia vào nhiều vai chơi khác nhau 92 3.2.7 Đánh giá trẻ chơi và tạo điều kiện cho trẻ được đánh giá bạn chơi sau mỗi lần chơi 94
3.3 Điều kiện sư phạm của việc sử dụng các biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 95
3.3.1 Về nhà trường 95
Trang 73.3.3 Về sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường 97
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 98
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 99
4.1 Mục đích TN 99
4.2 Vài nét về đối tượng TN 99
4.3 Nội dung TN 99
4.4 Tiêu chí và thang đánh giá 100
4.5 Tiến hành TN 100
4.5.1 Giai đoạn 1: Đo dầu vào trước TN 100
4.5.2 Giai đoạn 2: Tổ chức triển khai TN 100
4.5.3 Giai đoạn 3: Đo đầu ra thực nghiệm 102
4.6 Kết quả TN 102
4.6.1 Kết quả đo đầu vào trước TN 102
4.6.2 Kết quả đầu ra sau TN 106
4.6.3 Kiểm định kết quả TN 113
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 115
KẾT LUẬN CHUNG VÀ KIẾN NGHỊ SƯ PHẠM 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Kết quả điều tra giáo viên về ý nghĩa của giáo dục phòng bệnh
NKHHCT đối với trẻ 51Bảng 2: Kết quả điều tra giáo viên về việc thực hiện giáo dục phòng bệnh
NKHHCT cho trẻ ở trường MN 52Bảng 3: Kết quả điều tra giáo viên về mức độ thực hiện giáo dục phòng bệnh
NKHHCT cho trẻ ở trường MN 52Bảng 4: Kết quả điều tra nội dung giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ của
giáo viên ở trường MN 53Bảng 5 Kết quả điều tra về hình thức tổ chức giáo dục phòng bệnh NKHHCT
cho trẻ 5-6 tuổi 54Bảng 6 Kết quả điều tra về việc tổ chức giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ
5-6 tuổi thông qua các trò chơi 55Bảng 7 Kết quả điều tra về việc sử dụng các biện pháp giáo dục phòng bệnh
NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 56Bảng 8 Kết quả điều tra về những khó khăn thường gặp khi giáo dục phòng
bệnh NKHHCT cho trẻ 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 57Bảng 9 Kết quả điều tra về những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục
phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 58Bảng 10 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT về nhận thức, kỹ năng và
thái độ của trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ 67Bảng 11 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi ở
trường MN 70Bảng 12 Xây dựng, lựa chọn TCĐVCCĐ có chủ đề chơi phù hợp với nội dung
giáo dục phòng bệnh NKHHCT 80Bảng 13 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT về nhận thức, kỹ năng và
thái độ thông qua TCĐVCCĐ ở 2 nhóm ĐC và TN trước khi TN 102Bảng 14 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông
Trang 9Bảng 15 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT về nhận thức, kỹ năng và
thái độ cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở hai nhóm ĐC và
TN sau TN 106Bảng 16 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông
qua TCĐVCCĐ của hai nhóm ĐC và TN sau TN 108Bảng 17 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông
qua TCĐVCCĐ của nhóm ĐC trước và sau TN 111Bảng 18 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông
qua TCĐVCCĐ của nhóm TN trước và sau TN 112Bảng 19 Kiểm định hiệu quả thực nghiệm nhóm ĐC và nhóm TN trước và sau TN 114
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT về nhận thức, kỹ năng và
thái độ của trẻ MG 5-6 tuổi qua TCĐVCCĐ 69
Biểu đồ 2 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi ở trường MN 70
Biểu đồ 3 Mức độ nhận thức về phòng bệnh NKHHCT của trẻ MG 5-6 tuổi ở 2 nhóm ĐC và TN trước TN 103
Biểu đồ 4 Mức độ về kỹ năng và thái độ phòng bệnh NKHHCT của trẻ MG 5-6 tuổi ở 2 nhóm ĐC và TN trước TN 104
Biểu đồ 5 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở 2 nhóm TN và ĐC trước TN 106
Biểu đồ 6 Mức độ nhận thức của trẻ về phòng bệnh NKHHCT ở 2 nhóm ĐC và TN sau TN 107
Biểu đồ 7 Mức độ kỹ năng và thái độ phòng bệnh NKHHCT của trẻ ở 2 nhóm ĐC và TN sau TN 108
Biểu đồ 8 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ của hai nhóm ĐC và TN sau TN 110
Biểu đồ 9 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ của nhóm ĐC trước và sau TN 112
Biểu đồ 10 Hiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ của nhóm TN trước và sau TN 113
DANH MỤC HÌNH Hình 1 Hệ hô hấp ở người 11
Hình 2 Phân loại bệnh NKHHCT 18
Hình 3 Chuẩn bị đồ chơi đa dạng hấp dẫn trẻ 85
Hình 4 Bài thơ “Tâm sự cái mũi” 90
Trang 11KÍ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Giáo dục mầm non (GDMN) là bậc học đầu tiên trong hệ thống giáo dụcquốc dân, là nền tảng cho việc hình thành và phát triển nhân cách trẻ Mục tiêucủa GDMN là giúp trẻ phát triển toàn diện ở tất cả các mặt đức, trí, thể, mỹ vàlao động Một cơ thể khỏe mạnh không bệnh tật là tiền đề cho việc hình thành
và phát triển nhân cách ở trẻ một cách tốt nhất Vì vậy trẻ phải được chăm sócgiáo dục và bảo vệ sức khỏe để tránh một số bệnh tật gây nguy hại đến tínhmạng Trẻ nhỏ thường mắc một số bệnh như: bệnh suy dinh dưỡng, bệnh nhiễmkhuẩn hô hấp cấp tính (NKHHCT), bệnh tiêu chảy, các bệnh truyền nhiễm,bệnh giun sán Trong đó NKHHCT là một bệnh rất phổ biến ở trẻ nhỏ dưới 5tuổi, là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ Theo OMS, hàng năm trêntoàn cầu có khoảng 15 triệu trẻ em chết dưới 5 tuổi, viêm phổi chiếm 35%, tiêuchảy chiếm 22% còn lại là do các nguyên nhân khác Có nhiều nguyên nhândẫn đến bệnh NKHHCT ở trẻ, một trong những nguyên nhân đó là do việcthiếu kiến thức về phòng bệnh của tất cả mọi người nói chung và của trẻ mầmnon (MN) nói riêng Biết cách phòng bệnh là một nhân tố quan trọng để có một
cơ thể luôn khỏe mạnh tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện ở trẻ Vì vậygiáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ là một vấn đề được ngành GDMN vàtoàn xã hội quan tâm
Trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo (MG), đặc biệt là trẻ 5-6 tuổi đã đạt đượcnhững trình độ nhất định về thể chất và trí tuệ vì vậy trẻ nhanh chóng tiếp thunhững tri thức mới và hình thành dấu ấn lâu dài Tiến hành giáo dục phòng bệnhNKHHCT cho trẻ ngay từ lúc này sẽ giúp trẻ có khả năng nhận biết một số dấuhiệu đơn giản của bệnh NKHHCT, biết cách chăm sóc khi trẻ bị ốm cũng nhưbiết cách phòng bệnh này Việc đưa nội dung giáo dục NKHHCT vào chươngtrình chăm sóc giáo dục trẻ ở trường MN là một việc làm cần thiết góp phầnquan trọng trong chiến lược đào tạo ra một thế hệ tương lai có sự hiểu biết đầy
Trang 13minh và chủ động Trong trường MN có thể giáo dục phòng bệnh NKHHCTcho trẻ dưới nhiều hình thức khác nhau như: hoạt động học tập, vui chơi, chế độsinh hoạt hàng ngày (CĐSHHN)…
Đối với trẻ MG vui chơi là hoạt động chủ đạo, được giáo viên tổ chứchướng dẫn nhằm giúp trẻ thỏa mãn các nhu cầu vui chơi và nhận thức đồng thờinhằm giáo dục phát triển toàn diện cho trẻ Trong đó, trò chơi đóng vai có chủ
đề (TCĐVCCĐ) là trò chơi tiêu biểu và đặc trưng của trẻ lứa tuổi này Trongkhi chơi trẻ được thâm nhâp vào cuộc sống xã hội từ đó trẻ tiếp thu được nhữngkiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, những phương thức hành động, những chuẩn mựcđạo đức và nguyên tắc sống Qua trò chơi sẽ kích thích, thu hút, lôi cuốn trẻtham gia khám phá tri thức và củng cố hiểu biết, hình thành kỹ năng, thái độđúng đắn cho trẻ về phòng bệnh NKHHCT Vì vậy trò chơi đóng vai có chủ đềcũng là phương tiện, là con đường thuận lợi để tích hợp giáo dục phòng bệnhNKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi
Hiện nay ở trường MN hiệu quả của việc giáo dục phòng bệnh NKHHCTcho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ còn chưa cao Có nhiều nguyênnhân dẫn đến tình trạng này, một trong những nguyên nhân cơ bản là do giáoviên chưa biết cách sử dụng các biện pháp giáo dục một cách hợp lí và linh hoạttrong quá trình tổ chức TCĐVCCĐ nhằm giáo dục phòng bệnh NKHHCT chotrẻ MG 5-6 tuổi
Xuất phát từ những cơ sở lí luận và thực tiễn trên chúng tôi chọn đề tài:
“Biện pháp giáo dục phòng bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ 5-6 tuổithông qua trò chơi đóng vai có chủ đề” làm đề tài nghiên cứu nhằm nâng caohiệu quả giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu, đề xuấtmột số biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT hợp lý cho trẻ MG 5-6 tuổithông qua TCĐVCCĐ để nâng cao hiệu quả giáo dục phòng bệnh cho trẻ, từ đóthực nghiệm (TN) sư phạm để kiểm chứng các biện pháp đã đề ra
Trang 143 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ởtrường MN
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổithông qua TCĐVCCĐ
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông quaTCĐVCCĐ ở MN non đạt hiệu quả chưa cao Nếu sử dụng một số biện phápgiáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐhợp lý thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục phòng bệnh cho trẻ
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài.
5.2 Nghiên cứu thực trạng giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường
MN Đống Đa (quận Cầu Giấy, Hà Nội)
5.3 Đề xuất một số biện pháp giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ
MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường MN.
5.4 TN sư phạm nhằm kiểm chứng tính khả thi của những biện pháp
đã đề xuất.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Sưu tầm những tài liệu liên quan để đọc, phân tích, tổng hợp để xây dựng
cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp quan sát
- Quan sát cách tổ chức của giáo viên trong việc giáo dục phòng bệnh
Trang 15- Quan sát các hoạt động của trẻ để đánh giá hiệu quả giáo dục phòngbệnh NKHHCT thông qua TCĐVCCĐ.
6.2.2 Phương pháp điều tra
Sử dụng phiếu điều tra đối với giáo viên nhằm tìm hiểu cách tổ chức việcgiáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCĐ ởtrường MN
6.2.3 Phương pháp đàm thoại
Đàm thoại đối với giáo viên và trẻ nhằm hỗ trợ cho phương pháp quan sát vàphương pháp điều tra để thu thập các thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu
6.2.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tổng kết kinh nghiệm của giáo viên trong việc giáo dục phòng bệnhNKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường MN
6.2.5 Phương pháp TN sư phạm
TN các biện pháp đã đề xuất trong việc giáo dục phòng bệnh NKHHCTcho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ nhằm kiểm chứng tính khả thi củacác biện pháp đã đề xuất
6.2.6 Phương pháp thống kê toán học
Thu thập, xử lý và phân tích các kết quả nghiên cứu bằng toán thống kê
7 Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu một
số biện pháp giáo dục phòng bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính chotrẻ MG 5-6 tuổi thông qua TCĐVCCĐ ở trường MN Đống Đa (quận Đống Đa,
Hà Nội)
- Số lượng trẻ nghiên cứu: 55 trẻ MG 5-6 tuổi ở trường mầm non Đống
Đa (quận Đống Đa, Hà Nội)
8 Kế hoạch nghiên cứu
- Từ tháng 9/2015 - hết tháng 10/2015: chọn đề tài nghiên cứu, làm đềcương và bảo vệ đề cương
- Tháng 11/2015: nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài
Trang 16- Từ tháng 8/2/2016 - 26/2/2016: nghiên cứu thực trạng của đề tài.
- Từ tháng 29/2/2016- hết tháng 19/3/2016: tiến hành thực nghiệm sưphạm tại trường mầm non Đống Đa (quận Đống Đa, Hà Nội)
- Từ ngày 21- 15/ 4/2016: thu thập, xử lý số liệu và hoàn thành khoá luận
- Cuối tháng 4/2016: bảo vệ khóa luận tốt nghiệp trước hội đồng khoa học
Trang 17PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
NKHHCT được thống kê là bệnh có tỷ lệ tử vong cao nhất trong các bệnhnhiễm khuẩn ở trẻ em Đã có nhiều công trình nghiên cứu và hội nghị bàn về bệnhNKHHCT bởi những hậu quả nguy hiểm mà bệnh gây ra Vấn đề này cũng nhậnđược sự quan tâm lớn của các nhà khoa học.Trong những năm gần đây ở trên thếgiới có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về bệnh NKHHCT như:
- Nghiên cứu của Jonathan Grigg (2007) về việc đốt nhiên liệu để nấu ăn
và sưởi ấm trong nhà ở các nước đang phát triển cho thấy mối liên quan giữa ônhiễm không khí trong nhà và gia tăng mắc bệnh đối với nhiễm khuẩn hô hấp ởtrẻ em
- Nghiên cứu của Garces- Sanchez M.D (2005) về tỉ lệ viêm phổi mắcphải ở cộng đồng Valencia, Tây Ban Nha
- Nghiên cứu của David Burgner và cộng sự năm 2005 đã tìm hiểu vềtình hình viêm phổi ở trẻ em của Australia
- Yaron Shoham (2005) đã tiến hành một nghiên cứu về viêm phổi mắcphải ở cộng đồng trẻ em niềm Nam Israel
Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng NKHHCT là một bệnh nguyhại và gây tử vong cao ở trẻ dưới 5 tuổi Chính vì sự nguy hại của bệnh này nênđầu năm 1983 Tổ chức Y tế thế giới đã có chương trình phòng và chốngNKHHCT ở trẻ em trên phạm vi toàn cầu, đặc biệt là các nước đang phát triển.Mục tiêu trước mắt của chương trình là giảm tỷ lệ tử vong sau đó giảm tỷ lệmắc bệnh NKHHCT ở trẻ em và đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi
Ngoài ra bản tuyên ngôn nổi tiếng thế giới Alma Ata (1978) của tổ chức
y tế thế giới đã khẳng định rằng chăm sóc sức khỏe ban đầu là giải pháp chìakhóa để đạt được mục tiêu “sức khỏe cho mọi người”, đồng thời giáo dục cho
Trang 18mọi người tự biết chăm lo sức khỏe cho bản thân và các quốc gia phải chăm losức khỏe cộng đồng Đây là hoạt động quan trọng trong công tác chăm sóc sứckhỏe của năm 2000 Nội dung của chăm sóc sức khỏe ban đầu gồm 10 điều đólà: tuyên truyền về giáo dục và bảo vệ sức khỏe, phòng chống các bệnh ở địaphương, tiêm chủng mở rộng, ăn uống đầy đủ và hợp lý, cung cấp đầy đủ nướcsạch và vệ sinh môi trường, kế hoạch hóa gia đình bảo vệ bà mẹ và trẻ em, cungcấp đủ các loại thuốc thiết yếu, sơ cứu và chữa bệnh thông thường, tổ chứcmạng lưới y tế cở, quản lý sức khỏe toàn dân và chữa bệnh tại nhà.
Quỹ nhi đồng liên hợp quốc (UNICEF) đã đề xướng một chương trìnhchăm sóc sức khỏe ban đầu gồm 7 biện pháp (viết tắt là GOBIFFF) đó là: theodõi biểu đồ tăng trường, bù nước bằng đường uống, bú sữa mẹ, tiêm chủng, kếhoạch hóa gia đình, cung cấp thực phẩm cho bà mẹ và trẻ em, giáo dục sứckhỏe cho bà mẹ
Theo Tổ chức Y tế thế giới thống kê số lượng trẻ em dưới 5 tuổi hàngnăm bị chết là khoảng 12 triệu ở các nước đang phát triển, nguyên nhân chủ yếu
là do suy dinh dưỡng và các bệnh nhiễm khuẩn vì vậy cần phải phòng bệnh sớmcho trẻ Trong đó có các chiến dịch phòng chống các bệnh về dinh dưỡng, cácbệnh về nhiễm khuẩn và kí sinh trùng nhất là viêm phổi, tiêu chảy, thủy đậu,uốn ván…
Ta nhận thấy rằng việc triển khai chiến dịch phòng bệnh nói chung vàphòng bệnh NKHHCT nói riêng luôn là một vấn đề được toàn cầu quan tâm.Hơn nữa kiến thức về giáo dục phòng bệnh của người dân còn hạn chế đặc biệt
là bệnh NKHHCT vì vậy vấn đề giáo dục phòng bệnh NKHHCT cũng đựơc đặtlên hàng đầu
1.1.2 Tại Việt Nam
Các đề tài nghiên cứu ở Việt Nam về bệnh NKHHCT có ý nghĩa thực tếquan trọng Các đề tài các công trình nghiên cứu đã đi sâu vào thực tế tìm ranguyên nhân gây bệnh và các yếu tố liên quan ở các địa phương như tỷ lệ trẻ
Trang 19ra các biện pháp cụ thể, hữu hiệu nhằm giảm tỷ lệ mắc bệnh NKHHCT ở trẻem.Ta có thể kể đến một số đề tài như:
- Nguyễn Tất Hà, “Bước đầu đánh giá kiến thức, thái độ thực hành củaphụ nữ có con dưới 5 tuổi về bệnh tiêu chảy và bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấptính của trẻ em tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội”
- Trần Thị Hằng và Đàm Thị Tuyết “Một số yếu tố liên quan đến bệnhnhiễm khuẩn hô hấp cấp tính của trẻ em dưới 5 tuổi tại một số xã huyện QuỳnhLưu tỉnh Nghệ An”
- Lý Thị Chi Mai và Huỳnh Thanh Liêm, “Nghiên cứu tình hình mắcbệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổitại huyện Châu Thành tỉnh Trà Vinh”
Và rất nhiều cộng trình nghiên cứu khác liên quan đến bệnh NKHHCT.Nhờ các công trình nghiên cứu này mà các nhà chuyên môn có thể đưa ranhững tổng hợp và nhận định rõ nét về thực trạng bệnh NKHHCT, từ đó cónhững giải pháp cụ thể Ta có thể nhắc đến các công trình nghiên cứu về bệnhtrẻ em cũng như cách phòng bệnh của các nhà chuyên môn được sử dụng trongngành sư phạm GDMN như:
- Phạm Thị Chi- Lê Thị Ngọc Ái, “Chăm sóc và bảo vệ sức khỏe trẻ từ
- Chu Văn Tường, “Chữa bệnh trẻ em”, NXB Y học, 1994
- Tào Thị Hồng Vân, “Nghiên cứu một số biện pháp giáo dục hành vi sứckhỏe cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non Hà Nội”, Trung tâm nghiên cứuchiến lược và phát triển chương trình GDMN, 2004
Trang 20Trong những công trình nghiên cứu trên không chỉ đề cập đến các bệnhthông thường ở trẻ em mà còn đặc biệt chú ý đến bệnh NKHHCT và cáchphòng bệnh này.
Từ những nghiên cứu trên cho thấy, vấn đề bảo vệ sức khỏe để phòngtránh bệnh tật cho trẻ em luôn được toàn xã hội và cả ngành GDMN quan tâm,đặc biệt là các bệnh về dinh dưỡng và bệnh NKHHCT Cần mở rộng kiến thứccho người lớn như cha mẹ và giáo viên mầm non về cách phòng các bệnhthường gặp ở trẻ nhỏ Ngoài ra cũng cần phải giáo dục cho trẻ về cách phòng
cụ thể với từng loại bệnh trong đó có bệnh NKHHCT
Trong các chương trình Chăm sóc - GDMN hiện nay ta nhận thấy rằng đãquan tâm đến việc giáo dục phòng bệnh cho trẻ (Chương trình GDMN mới7/2009) Chương trình đề cập đến giáo dục trẻ các thói quen sinh hoạt, vệ sinhphòng bệnh, cách ăn mặc phù hợp với thời tiết, dinh dưỡng phòng bệnh, biểuhiện ban đầu khi ốm, cách phòng tránh tai nạn để đảm bảo an toàn cho trẻ…Bước đầu quan tâm tới việc phát huy tính độc lập, chủ động của trẻ trong vấn đềphòng bệnh bảo vệ sức khỏe của bản thân
Tuy nhiên, điểm qua tình hình trên cho thấy vẫn chưa có nhiều tác giả đisâu nghiên cứu vấn đề giáo dục phòng bệnh cho trẻ MG đặc biệt là nghiên cứu
cụ thể cách giáo dục phòng từng loại bệnh Vì vậy, “Biện pháp giáo dục phòngbệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính cho trẻ 5-6 tuổi” cũng là một nghiên cứu banđầu đáng được quan tâm
1.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng NKHHCT ở trẻ 5-6 tuổi.
1.2.1 Đặc điểm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi và đặc điểm hệ hô hấp của trẻ.
a Đặc điểm sinh lý của trẻ 5-6 tuổi
Đặc điểm chủ yếu của thời kì này là:
- Biến đổi chủ yếu về số lượng hơn là biến đổi về chất lượng.{9}
- Trẻ chậm lớn hơn so với trẻ thời kỳ bú mẹ Mỗi tháng cân nặng của trẻtăng từ 100g -150g, đến 6 tuổi cân nặng trung bình từ 18-20 kg Tỷ lệ mỡ của
Trang 21- Hệ tiêu hóa của trẻ đã hoàn thiện Trẻ đã mọc đủ 8 răng hàm và trẻ cũng
đã bắt đầu thay răng.{9}
- Các chức năng chủ yếu của cơ thể dần dần hoàn thiện Đặc biệt là chứcnăng vận động phối hợp động tác Cơ lực phát triển nhanh Vì vậy trẻ làm đượcnhững động tác khéo léo hơn, gọn gàng hơn, có thể làm được những công việctương đối khó, phức tạp hơn và một số công việc tự phục vụ như tự ăn, tự mặcquần áo, tự đi tất, tự tắm rửa…{9}
- Hệ thần kinh tương đối phát triển, hệ thần kinh trung ương và ngoạibiên đã biệt hóa, chức năng phân tích và tổng hợp của vỏ não đã hoàn thiện, sốlượng các phản xạ có điều kiện ngày càng nhiều, tốc độ hình thành phản xạ cóđiều kiện nhanh, trí tuệ phát triển nhanh Do đó trẻ có thể nói được những câudài, có biểu hiện ham học và có ấn tượng sâu sắc đối với những người xungquanh.{9}
- Ở thời kỳ này thể chất, trí tuệ và tính khéo léo của trẻ phát triển nhanhhơn Lúc này trẻ biết chơi tập thể với nhau, đã học được những bài hát, bài thơngắn Vì vậy, tác động tốt hay xấu của môi trường xung quanh dễ tác động đếntrẻ.{9}
- Tim của trẻ có tốc độ phát triển nhanh Tim của trẻ đập chậm hơn so vớilúc mới sinh nhưng vẫn nhanh hơn so với người lớn
- Não: sự hoạt động của điện não của trẻ giai đoạn này là thời kỳ pháttriển nhanh nhất trong cả đời người Kết cấu thần kinh của não có xu thế sớmtrưởng thành Song trẻ ở lứa tuổi này do khả năng hưng phấn và ức chế của hệthần kinh chưa ổn định, nên nếu trẻ làm việc gì đơn thuần và kéo dài trẻ dễ bịmệt mỏi Vì vậy nên giáo dục phòng bệnh cho trẻ khi trẻ đang hưng phấn vàhứng thú.{9}
- Hệ hô hấp của trẻ đã phát triển tuy nhiên chưa trưởng thành như ngườilớn Vì vậy trẻ cần phải hít thở nhiều hơn để nhận đủ ôxi cần thiết Trẻ rất dễmắc các bệnh NKHHCT, do đó cần phải giáo dục trẻ phòng bệnh thường xuyên.{9}
Trang 22b Cấu tạo của hệ hô hấp nói chung và hệ hô hấp của trẻ 5-6 tuổi nói riêng.
α Đặc điểm cấu tạo hệ hô hấp nói chung
Hình 1 Hệ hô hấp ở người
Hệ hô hấp bao gồm hai bộ phận: bộ phận dẫn khí và bộ phận thở
* Bộ phận dẫn khí
- Khoang mũi:
+ Là bộ phận đầu tiên của hệ thống các cơ quan hô hấp
+ Chức năng của khoang mũi là lọc sạch không khí nhờ các lông mũi vàdịch nhầy, hâm nóng không khí và đảm bảo độ ẩm của không khí
- Thanh quản:
+ Thanh quản tiếp giáp với khoang mũi
+ Có chức năng dẫn khí và phát ra âm thanh
- Khí quản:
+ Là ống trụ gồm từ 16-20 vành sụn hình móng ngựa
+ Khí quản có chức năng lọc sạch không khí và dẫn khí
- Phế quản:
Trang 23+ Phế quản cùng với các động và tĩnh mạch, cũng như các tổ chức thầnkinh có liên quan tạo thành cuống phổi.
* Bộ phận thở
Bộ phận thở (hô hấp) gồm 2 lá phổi:
Hai lá phổi nằm trong lồng ngực Mỗi lá phổi gồm các thùy, tiểu thùy,phế nang và màng phổi bao bọc
Ở lá phổi phải chia làm ba thùy còn ở lá phổi trái chia làm hai thùy
Phổi được bao bọc bởi màng phổi Hai lá phổi đều có màng riêng
β Đặc điểm hô hấp của trẻ 5-6 tuổi
Bộ phận hô hấp trẻ em khác với người lớn, nhỏ hơn về kích thước và cónhững đặc điểm riêng biệt, các tổ chức tế bào của bộ phận hô hấp nói chung vàphổi nói riêng chưa hoàn toàn biệt hóa và đang ở giai đoạn phát triển Đườngthở từ mũi đến thanh, khí, phế quản ở trẻ em tương đối hẹp và ngắn, tổ chức đànhồi ít phát triển, vòng sụn mềm dễ biến dạng, niêm mạc có nhiều mạch máu, donhững đặc điểm đó mà trẻ rất dễ mắc các bệnh về đường hô hấp
+ Họng miệng: phía trước là hố miệng, thành sau có Amidan khẩu cái vàdưới là Amidan lưỡi.{3}
Trang 24+ Hạ họng: là phần cuối của họng hầu, phía trước là thanh quản, sau làthực quản Trong đó có sụn nắp thanh quản, khi bị liệt gây sặc và dị vật đườngthở có thể vào đường thở.{3}
+ Vòng bạch huyết Waldayer: ở trẻ em hệ bạch huyết phát triển từ 4-6tuổi đến tuổi dậy thì Hệ thống này bao gồm: Amidan mũi (VA); Amidan vòi;Amidan khẩu cái (A); Amidan lưỡi.{3}
Các tổ chức bạch huyết này làm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể chống lại sự xâmnhập của vi khuẩn vào cơ thể, khi viêm sẽ ảnh hưởng đến chức phận hệ hô hấpcủa trẻ, trẻ thường thở bằng miệng.{3}
* Bộ phận thở
- Phổi
Phổi trẻ em lớn dần theo tuổi:
Sơ sinh: trọng lượng phổi là 50-60 gam
6 tháng: trọng lương phổi tăng gấp 3 lúc đẻ
12 tuổi: trọng lượng phổi tăng gấp 10 lúc đẻ
Người lớn: trọng lượng gấp 20 lần trẻ sơ sinh
+ Có nhiều mạch máu, các mạch bạch huyết cũng nhiều hơn vì vậy phổitrẻ em có khả năng co bóp lớn và tái hấp thụ các chất dịch trong phế nang nhanhchóng
+ Tổ chức đàn hồi ít, đặc biệt xung quanh các phế nang và thành maomạch Các cơ quan ở lồng ngực chưa phát triển đầy đủ nên lồng ngực di độngkém, trẻ dễ bị xẹp phổi, khí phế thũng, giãn các phế nang khi bị viêm phổi, ho gà
+ Rốn phổi gồm phế quản gốc, thần kinh, mạch máu và nhiều hạch bạchhuyết Những hạch này liên hệ với những hạch khác ở phổi, vì vậy bất kỳ mộtquá trình viêm nhiễm nào ở phổi cũng có thể gây phản ứng của các hạch rốnphổi Các hạch bạch huyết rốn phổi chia làm các nhóm:
Nhóm hạch khí quản
Nhóm hạch khí- phế quản
Trang 25Nhóm hạch ở chỗ giữa khí quản chia đôi.
Khi trẻ biết đi lồng ngực có sự thay đổi:
Các xương sườn chếch xuống dưới
Đường kính ngang tăng nhanh và gấp đôi đường kính trước sau, do đótrẻ thở sâu hơn, nhiều hơn và cũng là điều kiện xuất hiện kiểu thở ngực
- Tai
Chức năng của tai là nghe và giữ thăng bằng
+ Tai ngoài có vành tai và ống tai, có tác dụng thu nhận và truyền âm.{3}+ Tai giữa có 6 mặt:
Tiếp xúc với tai ngoài có màng nhĩ
Mặt trước liên quan với mũi họng nhờ ống Eustache
Có 3 xương nhỏ: xương búa, xương đe, xương bàn đạp
Tai giữa thông với hầu qua ống Eustache, ống Eustache đảm bảo sự cânbằng áp lực không khí trong tai giữa và bên ngoài Ở trẻ ống Eustache ngắn và
Trang 26rộng, do ống Eustache có đặc điểm như vậy nên trẻ em rất dễ bị viêm tai giữađặc biệt khi bị các bệnh nhiễm trùng ở họng hầu.{3}
+ Tai trong:
Có cấu trúc phức tạp gồm mê lộ xương, mê lộ màng, 3 ống bán khuyên
và ốc tai {3}
1.2.2 Đặc điểm tâm lý của trẻ 5-6 tuổi
Độ tuổi 5- 6 tuổi là giai đoạn cuối cùng của trẻ ở giai đoạn MN- tức là lứatuổi trước khi lên tiểu học Trẻ 5-6 tuổi tâm lý có nhiều biến chuyển ,thể hiệntrong những mối quan hệ cuộc sống, rõ nét nhất là trong mối quan hệ với cha
mẹ, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác
- Ý thức cái tôi của trẻ 5-6 tuổi rõ nét hơn trẻ đã biết phân biệt rõ mình vàngười khác, mình và thế giới xung quanh Trẻ đã biết đến tên, tuổi của bản thânmình, của cha mẹ, biết mình là con trai hay con gái, có thể so sánh một cáchđơn giản mình với các bạn khác Trẻ rất quan tâm chú ý đến những nhận xét củangười khác đến bản thân mình Từ đó ta có thể giữ gìn vệ sinh cá nhân cho bảnthân và mọi người xung quanh.{6}
- Ở trẻ xuất hiện động cơ hành vi thông qua việc chơi với những trẻ khác.{5}
- Trẻ đã biết tự chăm sóc bản thân như: dùng muỗng, dùng thìa, tự cởiquần áo, mặc quần áo, đánh răng, rửa mặt, rửa và lau khô tay, biết cách sử dụngnhà vệ sinh Từ đó ta có thể giáo dục trẻ biết cách vệ sinh cá nhân, vệ sinh thânthẻ hàng ngày.{6}
- Khả năng chú ý của trẻ 5-6 tuổi được phát triển, trẻ biết hướng chú ý và
có ý thức vào các đối tượng cần cho vui chơi, học tập hoặc lao động Trẻ có khảnăng chú ý từ 37- 51 phút, trẻ có thể phân phối 2-3 đối tượng cùng một lúc, sự
di chuyển chú ý của trẻ nhanh Từ đặc điểm tâm lý đó ta có thể tiến hành giáodục phòng bệnh cho trẻ thông qua các hoạt động học tập trên lớp dạy theo hìnhthức tập thể hoặc nhóm trẻ Ngoài ra cũng có thể tiến hành giáo dục phòng bệnh
Trang 27- Sự phát triển ngôn ngữ của trẻ 5-6 tuổi: trẻ sử dụng thành thạo tiếng mẹ
đẻ Vốn từ và cơ cấu ngữ pháp của trẻ phát triển Từ đặc điểm này ta có thể tổchức cho trẻ trao đổi những hiểu biết và kinh nghiệm tự chăm sóc và bảo vệ bảnthân mình với các bạn khác trong lớp.{6}
- Sự phát triển các quá trình nhận thức của trẻ 5-6 tuổi:
Các hiện tượng tâm lý như tri giác, trí nhớ, tưởng tượng,đặc biệt là tư duyphát triển Sự phát triển tư duy ở độ tuổi này mạnh mẽ về các kiểu loại, các thaotác, và thiết lập nhanh chóng các mối quan hệ giữa các sự kiện, hiện tượngthông tin mới và cũ Từ đây, ta có thể tiến hành giáo dục phòng bệnh cho trẻ vàđặc biệt là giáo dục phòng bệnh NKHHCT thông qua các giờ học hoặc là thôngqua hoạt động vui chơi.{6}
1.2.3 Gia đình và xã hội
a Gia đình
- Điều kiện chăm sóc trẻ không tốt, dinh dưỡng không hợp lý dẫn đếnsuy dinh dưỡng, suy giảm sức đề kháng, trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng vànhiễm trùng lại là nguyên nhân gây suy dinh dưỡng Vì vậy dinh dưỡng khôngtốt và nhiễm khuẩn là một vòng khép kín làm tăng tỷ lệ tử vong ở trẻ
- Bà mẹ còn quá trẻ chưa có các kiến thức chăm sóc con nhỏ
- Yếu tố tuổi và cân nặng của trẻ: trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh, trẻ đẻnon, đẻ thiếu cân có nhiều nguy cơ mắc bệnh, khi mắc thường rất nặng và dẽ tửvong
- Điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, nhà ở chật hẹp, tối tăm
b Xã hội
- Nền kinh tế chưa phát triển đồng đều
- Do chính sách chăm sóc sức khỏe ban đầu chưa đạt hiệu quả cao
- Chương trình phòng chống NKHHCT được triển khai còn nhiều hạnchế tồn đọng
1.3 Giáo dục phòng bệnh NKHHT cho trẻ MG ở trường MN
1.3.1 Nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính
a Khái niệm
Trang 28NKHHCT được định nghĩa là tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (do vikhuẩn hay virut) ở đường hô hấp từ mũi họng cho đến phế nang.{3}
b Nguyên nhân
- Do vi khuẩn, virut
Vi khuẩn và virut có sẵn trong vùng hầu họng, mũi gặp điều kiện thuậnlợi gây bệnh, như các loại vi khuẩn, tụ cầu, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn hoặccác loại virut cúm, sởi…
- Yếu tố thuận lợi
+ Thời tiết: thời tiết lạnh hoặc thay đổi không khí đột ngột
+ Do đặc điểm cấu tạo và giải phẫu ở vùng tai- mũi- họng có nhiều khe
kẽ và là cửa ngõ đi vào cơ thể nên vi khuẩn dễ dàng xâm nhập
+ Do cơ địa gặp ở những trẻ đẻ non, suy dinh dưỡng
+ Do dinh dưỡng không tốt dẫn đến suy dinh dưỡng, sức đề kháng giảm,dẫn đến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và nhiễm trùng lại là nguyên nhân gây
ra suy dinh dưỡng
+ Do yếu tố tuổi và cân nặng: trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh, trẻ đẻ non
đẻ thiếu cân có nhiều nguy cơ mắc bệnh hơn, khi mắc bệnh thường rất nặng vàrất dễ dẫn đến tử vong
+ Ô nhiễm không khí: không khí nhiều bụi dễ mắc bệnh
+ Do điều kiện sinh hoạt thiếu thốn…{3}
c Tác hại
Bệnh NKHHCT là loại bệnh phổ biến nhất ở trẻ em và tỷ lệ trẻ vào viện
do mắc bệnh NKHHCT cũng đứng hàng đầu Đây cũng là nguyên nhân caonhất gây tử vong cho trẻ
Trẻ bị bệnh hay để lại hậu quả suy dinh dưỡng
Trẻ hay mắc bệnh nên cha mẹ phải nghỉ ở nhà đẻ chăm sóc trẻ, vì vậy cóthể ảnh hưởng đến đời sống gia đình và xã hội.{3}
Trang 29d Phân loại
Hình 2 Phân loại bệnh NKHHCT
Dựa vào vị trí tổn thương ta có thể phân loại như sau:
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính
Gồm:
+ Bệnh viêm mũi cấp
+ Bệnh viêm Amidan cấp
+ Bệnh viêm họng đỏ cấp
+ Bệnh viêm tai giữa cấp
- Nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới cấp tính
Ở Việt Nam, ban chỉ đạo chương trình ARI ở Trung ương được thành lập
từ năm 1983 và đã được triển khai dần vào trong cả nước Chương trình nhằm 2mục đích: Giảm tỷ lệ tử vong và sau đó giảm tỷ lệ mắc bệnh ở trẻ em, đặc biệt
là trẻ em dưới 5 tuổi.{3}
Kết quả của chương trình tính đến năm 1993:
Trang 30- Giảm được 50% số tử vong do NKHHCT, trong đó 90% trẻ mắc bệnh
đã được khám tại xã, phường
- Các bà mẹ hiểu được khi nào cần cho con đến khám tại cơ sở y tế
- Các cán bộ y tế biết phân loại bệnh đúng và điều trị kịp thời
- Trên toàn quốc đã triển khai ở các tỉnh với 4484 xã trong 312 huyện
Số trẻ em được bảo vệ 4004000, chiếm 47,1% đối tượng phục vụ
Tuy vậy, chương trình vẫn còn một số mặt cần lưu ý như thuốc dùngchưa đủ hoặc việc kê đơn kháng sinh còn lạm dụng chưa cần thiết.{2}
1.3.2 Nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính
Phần lớn các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp trên cấp tính diễn biếnkhông nặng, có thể tự khỏi hoặc gia đình có thể điều trị tại nhà cho trẻ bằng cácbiện pháp thông thường Nhưng hay gây biến chứng: có khi viêm đường hô hấptrên thường hay ảnh hưởng đến đường hô hấp dưới kể cả các trường hợp mãntính; ngoài ra còn gây các bệnh toàn thân nguy hiểm như viêm cầu thận cấp,thấp tim, viêm khớp
Một số bệnh thường gặp: Viêm mũi, viêm họng, viêm Amidan, viêm tai giữa.Các bệnh thường liên quan đến nhau, diễn biến kéo dài, hay tái phát.Các biểu hiện của bệnh không nặng, nhưng có những biến chứng nguyhiểm.{3}
a Nguyên nhân
- Do vi khuẩn và virut
Vi khuẩn, virut có sẵn trong vùng hầu họng, mũi gặp điều kiện thuận lợigây bệnh, như các loại vi khuẩn: tụ cầu, liên cầu, phế cầu, trực khuẩn hoặc cácloại virut: sởi, cúm…
- Yếu tố thuận lợi
+ Thời tiết: lạnh hoặc thay đổi thời tiết đột ngột
+ Do đặc điểm cấu tạo và giải phẫu ở vùng tai- mũi- họng có nhiều khe
kẽ và là cửa ngõ đi vào cơ thể nên vi khuẩn dễ dàng xâm nhập
Trang 31+ Do dinh dưỡng không tốt dẫn đến suy dinh dưỡng, sức đề kháng giảm,dẫn đến trẻ dễ mắc các bệnh nhiễm trùng và nhiễm trùng lại là nguyên nhân gây
ra suy dinh dưỡng
+ Do yếu tố tuổi và cân nặng: trẻ càng nhỏ càng dễ mắc bệnh, trẻ đẻ non
đẻ thiếu cân có nhiều nguy cơ mắc bệnh hơn, khi mắc bệnh thường rất nặng vàrất dễ dẫn đến tử vong
+ Ô nhiễm không khí: không khí nhiều bụi dễ mắc bệnh
+ Do điều kiện sinh hoạt thiếu thốn…{3}
b Triệu chứng
α Bệnh viêm mũi cấp
- Toàn thân: trẻ sốt cao từ 38- 39 độ C, có khi co giật, trẻ mệt mỏi hayquấy khóc, ngủ kém
- Hô hấp: Ngạt mũi, tắc mũi, thường thở bằng miệng
- Khám: nước mũi chảy, lúc đầu trong, sau đục có mủ đặc, niêm mạc mũixung huyết, xuất tiết, nhiều dịch nhầy đọng ở sàn mũi, có lớp mủ chảy từ trênmũi xuống
Bệnh khỏi nhanh sau 3-4 ngày điều trị.{3}
β Bệnh viêm Amidan (Amidan và AV)
- Thể cấp tính
+ Toàn thân trẻ sốt cao, mệt mỏi, kém ăn
+ Có cảm giác khô nóng rát ở vùng họng, nhất là khi nói khi ho Họngvướng, thở ngáy về đêm, nói giọng mũi, thở bằng miệng
+ Khám: hốc mũi đầy mủ nhầy phủ lên VA, họng, Amidan sưng to, đỏ có
mủ trắng phủ lên, thành sau họng có lớp mủ chảy từ trên xuống, màng tai xunghuyết đỏ, mất bóng Các tổ chức hạch bạch huyết ở cổ to và đau
- Thể mãn tính
+ Toàn thân: thể chất phát triển kém, trẻ gầy yếu, da xanh xao, ít ngủ,tinh thần chậm chạp, hay quên, học yếu
Trang 32+ Chảy nước mũi nhày kéo dài, tắc mũi liên tục, đêm ngủ hay ngáy,nghiến răng, thở khò khè, nói giọng mũi, thở bằng miệng, hơi thở hôi Ho nhiềuvào đêm và gần sáng, họng ngứa, rát, hay có cảm giác vướng.
+ Khám mũi có nhiều mủ nhày, niêm mạc phù nề
+ Họng: Amidan to, có hang hốc đầy mủ và chất nhày (có khi teo nhỏlại) VA to thành từng múi, khám tai thấy màng tai xám đục.{3}
γ Bệnh viêm họng đỏ
- Trẻ sốt rét run, mệt mỏi, kém ăn, nhức đầu, đau mình mẩy
- Họng có cảm giác nóng rát, nhất là khi ho, nói
- Mũi chảy nước đục, mủ, tắc mũi
- Ho từng cơn có đờm, giọng nói khàn
- Khám họng niêm mạc đỏ có những chấm mủ trắng
- Hạch dưới hàm to và đau
δ Bệnh viêm tai giữa
Tai giữa là phần nằm giữa màng nhĩ và tai trong Bệnh viêm tai giữathường gặp ở trẻ em, có 2 thể: cấp tính và mãn tính
* Thể cấp tính: hay gặp ở trẻ, có 2 giai đoạn
- Giai đoạn đầu:
+ Trẻ sốt cao đột ngột 39-40 độ C
+ Có triệu chứng của viêm mũi họng
+ Đau tai: đau ngày càng tăng (trẻ dụi đầu, lắc đầu)
+ Khám màng tai đỏ xung huyết
- Giai đoạn toàn phát: 2 thời kỳ
Trang 33+ Thời kỳ vỡ mủ: có thể tự vỡ hoặc chích rạch.
Nếu để tự vỡ các triệu chứng giảm đi Mủ chảy ra lúc đầu loãng, sau đặcdần Nhưng thường chảy không hết, sau đó các triệu chứng tái phát và có thể trởthành mãn tính
Nếu chích rạch các triệu chứng nhanh hết và sẹo nhanh lành
* Viêm tai giữa mãn tính:
- Viêm tai giữa mủ nhày:
+ Viêm tai tai giữa mủ nhày thường do từ thể cấp điều trị không hếthoặc từ viêm mũi họng dẫn đến
+ Triệu chứng ít, chỉ có mủ nhày dính màu trắng hoặc vàng nhạt chảytheo từng đợt với viêm mũi họng
Khám màng tai thủng nhỏ có màu hồng, sạch nhẵn Điều trị nhanh khỏi
- Viêm tai giữa mủ thối:
+ Từ viêm tai cấp chuyển sang kèm theo viêm xương
+ Mủ chảy ra đặc lổn nhổn, màu vàng bẩn có lẫn máu, mùi thối, có nhiều
vi khuẩn, mủ chảy liên tục, nghe kém, có thể bị điếc, ù tai, chóng mặt
+ Khám màng tai thủng rộng sát bờ xương, bờ nham nhở, đáy lùi sùi để
lộ xương.
c Biến chứng của các bệnh tai, mũi, họng
- Từ viêm mũi, viêm họng dẫn đến viêm tai
- Viêm thận, viêm khớp, thấp tim
- Viêm phổi, viêm thanh, khí, phế quản
- Từ viêm tai giữa gây viêm màng não, não, apxe não, liệt mặt, viêm taixương chum
Trang 34+ Súc miệng, họng hằng ngày bằng nước muối loãng.
+ Dùng kháng sinh uống hoặc tiêm
+ Với viêm tai giữa cấp ở giai đoạn ứ mủ cần chích rạch ngay không cho
tự vỡ
+ Hàng ngày đặt bông kèn (bông quấn như sâu kèn) có tẩm thuốc khángsinh vào tai
- Thể mãn tính
+ Amidan sau nhiều lần viêm cần phải cắt bỏ
+ Viêm tai giữa mãn tính cần phải điều trị hàng ngày bằng cách tẩmthuốc kháng sinh vào bông và đặt vào tai thường xuyên
e Phòng bệnh
- Vệ sinh tai, mũi, họng thường xuyên: ở các nhóm trẻ cần phải có lịchhàng tuần nhỏ mũi, mắt cho trẻ Hàng ngày cần phải giáo dục trẻ có ý thức súcmiệng, đánh răng thường xuyên
- Nâng cao sức khỏe cho trẻ bằng chế độ ăn, hàng ngày cần ăn đầy đủ cácchất dinh dưỡng tránh cho trẻ bị suy dinh dưỡng
- Giữ ấm cho trẻ vào mùa đông: thường xuyên mặc quần áo ấm, đi tất,trong các nhóm trẻ không nên để trẻ đi châm đất xuống sàn nhà Nhất là khithay đổi thời tiết cần chú ý kịp thời để trẻ không bị nhiễm lạnh
- Phòng các bệnh lây cấp tính bằng việc thực hiện tiêm phòng rộng rãi,đầy đủ và đúng lịch, với các dịch lây lan cần được cách ly và dập tắt ngay,không để dịch lan tràn ở các nhóm trẻ
- Điều trị tích cực các bệnh nhiễm trùng cấp tính như viêm phổi, tiêuchảy…cần nạo VA, chữa viêm xoang nếu có.{3}
1.3.3 Khái niệm phòng bệnh NKHHCT
- Khái niệm phòng bệnh: “Phòng bệnh là tổ chức và thực hiện các biệnpháp dự phòng cho trẻ không mắc bệnh như: nuôi dưỡng đầy đủ, tiêm chủng,luyện tập sức khỏe, vệ sinh môi trường, theo dõi sự phát triển của trẻ, phát hiện
Trang 35được trẻ hư hỏng, những trẻ tật nguyền hội nhập với xã hội; không ngừng nângcao kỹ thuật, chất lượng chăm sóc, xử lý cấp cứu tại các trường MN để giảm tỷ
lệ tử vong và di chứng, đem lại hạnh phúc cho trẻ em gia đình và xã hội”.{3}
- Khái niệm phòng bệnh NKHHCT: “phòng bệnh NKHHCT là tổ chức vàthực hiện các biện pháp dự phòng cho trẻ không bị mắc các bệnh nhiễm khuẩnđường hô hấp như: chăm sóc, nuôi dưỡng đầy đủ hợp lý, tiêm chủng, luyện tậpsức khỏe, vệ sinh tai, mũi họng, vệ sinh môi trường, theo dõi sự phát triển củatrẻ, phát hiện bệnh sớm, cải thiện cuộc sống để giảm tỷ lệ trẻ mắc bệnh và tỷ lệtrẻ tử vong đem lại hạnh phúc cho trẻ em gia đình và xã hội”
1.3.4 Khái niệm giáo dục
- Giáo dục (theo nghĩa rộng - nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹnhình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thôngqua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dụcnhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.{4}
- Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là một bộ phận của quá trình sư phạm (quátrình giáo dục), là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm,thái độ, những nét tính cách, những hành vi và thói quen cư xử đúng đắn trong
xã hội, thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm
mỹ, vệ sinh…{4}
1.3.5 Khái niệm giáo dục phòng bệnh NKHHCT
- Từ những khái niệm về “giáo dục” ta có thể định nghĩa “giáo dục phòngbệnh” như sau: “Giáo dục phòng bệnh là một quá trình sư phạm có mục đích, có
kế hoạch, nhằm tác động đến tình cảm, lý trí của con người nhằm làm thay đổinhận thức, thái độ và hành động để đi đến tự giác trong việc phòng bệnh và bảo
vệ sức khỏe của cá nhân, tập thể và cộng đồng.”
- Ta có thể định nghĩa giáo dục phòng bệnh NKHHCT như sau: “Giáodục phòng bệnh NKHHCT là một quá trình sư phạm có mục đích, có kế hoạch,nhằm tác động đến tình cảm, lý trí của con người nhằm làm thay đổi nhận thức,
Trang 36thái độ và hành động để đi đến tự giác trong việc phòng bệnh NKHHCT để đảmbảo sức khỏe cho chính cá nhân và cộng đồng.”
Như vậy, giáo dục phòng bệnh NKHHCT không chỉ nhằm hình thành vàphát triển ở người được giáo dục những kiến thức mà cả kỹ năng và thái độđúng đắn với việc phòng tránh các bệnh NKHHCT để bảo vệ sức khỏe chochính bản thân mình
1.3.6 Khái niệm giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG
Ta thấy, việc chủ động phòng tránh bệnh tật, bảo vệ sức khỏe nói chung
và phòng tránh bệnh NKHHCT nói riêng đều rất cần thiết, vì vậy cần phải giáodục phòng bệnh NKHHCT cho tất cả mọi người ở mọi lứa tuổi kể cả trẻ MN
Từ khái niệm “Giáo dục phòng bệnh NKHHCT” ta có thể hiểu khái niệm “Giáodục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG ” như sau: “Giáo dục phòng bệnhNKHHCT cho trẻ MG là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch củagiáo viên và những người nuôi dưỡng trẻ đến tình cảm, lý trí của trẻ ở độ tuổi từ3-6 tuổi nhằm hình thành cho trẻ nhận thức, thái độ và hành động để đi đến tựgiác thực hiện phòng bệnh NKHHCT để bảo vệ sức khỏe của bản thân mình.”
Như vậy giáo dục phòng NKHHCT cho trẻ MG là hình thành và pháttriển ở trẻ những hiểu biết, kỹ năng và thái độ đúng đắn đối với việc phòngtránh bệnh, bảo vệ sức khỏe cho bản thân Việc giáo dục phòng NKHHCT chotrẻ ngay từ lứa tuổi MG sẽ giúp cho trẻ có một hệ hô hấp khỏe mạnh, một cơ thểvững chắc, tạo tiền đề cho trẻ phát triển các mặt khác như thể chất, nhận thức,ngôn ngữ, tình cảm, thẩm mỹ
1.4 Giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi
1.4.1 Mục tiêu giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi
Mục tiêu giáo dục thể hiện ở 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ Do đómục tiêu giáo dục phòng bệnh NKHHCT cho trẻ MN cũng cần xác định ở 3mặt: kiến thức, kỹ năng và thái độ
a Phát triển nhận thức:
Trang 37- Hiểu được những tác hại khi bị bệnh NKHHCT.
- Nhớ một số biểu hiện khi mắc bệnh NKHHCT
- Hiểu được cách chăm sóc đơn giản khi trẻ bị bệnh NKHHCT
- Hiểu được một số biện pháp phòng bệnh NKHHCT
b Phát triển kỹ năng và thái độ
- Quan tâm, hứng thú nhận biết một số nguyên nhân dẫn đến bệnhNKHHCT
- Quan tâm, hứng thú nhận biết một số dấu hiệu khi bị bệnh NKHHCT
- Tự giác, có ý thức chăm sóc bản thân hoặc bạn khi bị bệnh NKHHCT
- Tự giác, có ý thức thực hiện các biện pháp phòng bệnh NKHHCT
1.4.2 Nội dung giáo dục phòng bệnh NKHHCT tính cho trẻ MG 5-6 tuổi
- Dạy trẻ nhận biết một số nguyên nhân dẫn đến bệnh NKHHCT: do vikhuẩn, vi rút; cơ thể bị nhiễm lạnh; ăn uống không đầy đủ; không thường xuyên
vệ sinh tai, mũi, họng đúng cách; ô nhiễm không khí
- Dạy trẻ biết được những tác hại khi bị bệnh NKHHCT: mệt mỏi; khôngthể vui chơi, học tập cùng bạn bè; phải nghỉ học để chữa bệnh; dễ mắc các bệnhkhác như viêm phổi, tiêu chảy
- Dạy trẻ nhận biết một số dấu hiệu khi bị bệnh NKHHCT: ho, sốt, chảynước mũi
- Dạy trẻ cách chăm sóc cơ thể đơn giản khi bị bệnh NKHHCT: uống đủnước; uống nước hoa quả; ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng; hạ sốt, uống thuốcgiảm ho; lau chùi mũi
- Dạy trẻ thực hiện một số biện pháp phòng bệnh NKHHCT: tránh bịnhiễm lạnh; ăn uống hợp lý; rèn luyện sức khỏe; vệ sinh tai, mũi, họng đúngcách; không chơi ở những nơi có nhiều khói bụi
1.4.3 Hình thức tổ chức giáo dục phòng NKHHCT cho trẻ MG 5-6 tuổi
Trang 38Để thực hiện các nội dung giáo dục phòng NKHHCT cho trẻ ta phải tíchhợp vào các lĩnh vực giáo dục theo các chủ đề phù hợp trong năm học và lồngghép vào các hoạt động của trẻ trong ngày.
a Tích hợp vào hoạt động học tập
Ví dụ: Khi hướng dẫn trẻ hoạt động khám phá khoa học tìm hiểu cơ thểcủa bé như: “Đôi tai của bé”, “Chiếc mũi của bé” ta sẽ mở rộng cho trẻ biếtthêm một số bệnh thường gặp ở tai, mũi Hướng dẫn trẻ chăm sóc cơ thể khi bịviêm mũi cấp tính hay viêm họng cấp tính và cách bảo vệ tai, mũi, họng đểtránh bị bệnh
b Đưa vào hoạt động vui chơi
Đối với trẻ MG vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ {4} Vì vậy, hoạtđộng chơi có vai trò to lớn đối với việc giáo dục trẻ nói chung và giáo dụcphòng bệnh NKHHCT nói riêng Trong chương trình “Đổi mới hình thức tổchức hoạt động giáo dục cho trẻ lứa tuổi MN”, hoạt động vui chơi được bố tríthành các góc chơi như: Góc đóng vai, góc tạo hình, góc xây dựng, góc khámphá khoa học, góc nghệ thuật, góc thư viện Trong đó góc chơi đóng vai có vaitrò vô cùng quan trọng, thông qua hoạt động này giúp trẻ nhận thức rõ hơn,chính xác hơn những kiến thức về phòng bệnh NKHHCT vì trẻ được tiếp nhậntrong khi trẻ đang tham gia trò chơi được nhập vào xã hội, những kiến thức đótrở nên gần gũi và hiện thực hơn Từ đó hình thành ở trẻ thái độ đúng đắn vềphòng bệnh NKHHCT cũng như giúp trẻ có những kỹ năng về phòng bệnh vàbảo vệ sức khỏe Giúp trẻ trở nên tích cực và chủ động hơn trong việc phòngbệnh NKHHCT và bảo vệ sức khỏe bản thân
Trang 39nơi ô nhiễm và không ô nhiễm Nhắc nhở trẻ các thói quen mặc trang phục phùhợp với thời tiết như: đội mũ khi trời nắng, mặc áo mưa khi trời mưa, mặc quần
áo ấm khi trời lạnh
- Hướng dẫn trẻ rửa tay trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, hướng dẫn trẻ xìmũi, khi ho hay hắt xì hơi phải biết lấy tay che miệng để không làm ảnh hưởngđến những người xung quanh Trong qua trình hướng dẫn cho trẻ làm, giáo viênphải giải thích cho trẻ tại sao phải làm những hành động đó
- Phối hợp với gia đình để giáo dục phòng NKHHCT đảm bảo sức khỏecủa trẻ tại gia đình: Hình thành thói quen tốt về việc vệ sinh cá nhân, vệ sinhmôi trường, biết tự chăm sóc sức khỏe và an toàn cho bản thân (ăn nhiều cácloại thức ăn, ăn hoa quả, uống đủ nước, mặc ấm đi tất khi trời rét, đội mũ khitrời nắng, không nhét các hột hạt vào mũi, tai, không ngậm đồ chơi)
d Một số hình thức khác: Bản tin, ngày hội, ngày lễ, làm vườn, đi chợ
siêu thị giáo viên có thể lồng nội dung giáo dục phòng NKHHCT một cách hợp
lí giúp trẻ tích lũy và củng cố kinh nghiệm
Có thể lập sơ đồ mạng hoạt động giáo dục phòng NKHHCT như sau:(Thuộc mạng giáo dục dinh dưỡng và sức khỏe)
Trang 40- Dạo chơi ngoài trời : trò chuyện về thời tiết, quan sát trời nắng trời mưa, quan sát bếp ăn, quan sát phòng y tế của trường
và quan sát các bác công nhân môi trường trong trường mầm non
- Tìm hiểu khám phá về cơ thể của bé: “ Đôi tai của bé” “ Chiếc mũi của bé”
- Tô mầu các loiạ món ăn không nên ăn khi trẻ bị viêm họng và viêm mũi
- Vẽ, tô mầu và trang trí các trang phục phù hợp với thời tiết
và văn học
Giáo dục dinh dưỡng - sức khỏe
- Kể về các thói quen vệ sinh hàng ngày
- Đọc thơ: “Tâm sự cái mũi”,
“ Cái lưỡi”, “Bé đánh răng”,
“Bé này bé ơi”, “Bé làm bác sĩ
- Kể chuyện “ Lợn con sạch lắm rồi”, “ Gấu con bị sâu răng”, “ Đôi mắt”
- Nghe hát trước bữa ăn
để giáo dục trẻ ăn đầy đủ
các chất dinh dưỡng “Mời
- Sắp xếp quy trình đánh răng, súc miệng, vệ sinh mũi
- Đếm các hành vi tốt và không tốt dễ gây viêm họng, viêm mũi
- Đếm trang phục phù hợp với trời nóng, lạnh, nắng, mưa