15 cán bộ và chuyên viên quê Quảng Trị côngtác ở Sở Giáo dục Bình Trị Thiên cùng với 5 cán bộđược điều động từ cơ sở lên là con số biên chế đầutiên của Sở Giáo dục Quảng Trị do đồng chí
Trang 1chủ nghĩa là "làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" (1).
Công cuộc đổi mới được triển khai mạnh mẽ vớinhiều quyết sách quan trọng, trong đó có việc chiatách một số tỉnh để phù hợp với dân cư và địa giớihành chính Nghị quyết 86/NQ.BCT ngày 14/4/1989 củaBộ Chính trị và nghị quyết tại kỳ họp thứ 5 Quốchội khóa VIII có quyết đinh chia tách một số tỉnh;ngày 30/6/1989, Quộc hội nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam quyết định chia tách tỉnh Bình-Trị-Thiênthành 3 tỉnh : Tỉnh Quảng Bình, Tỉnh Quảng Trị và TỉnhThừa Thiên-Huế
Từ đây lịch sử chuyển sang trang mới với biết baokhó khăn thử thách nhưng đồng thời cũng là cơ hộimới, vận hội mới ở mảnh đất nhỏ hẹp miền Trungđã từng trãi qua những bước thăng trầm quặn đau vàoanh liệt Trong xu thế chung đó, Giáo dục - Đào tạo1
Trang 2Quảng Trị đã có những thành tựu quan trọng sau hơn
10 năm lập lại tỉnh
-
-( 1 ) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII NXB Chính trị quốc gia - trang 80
Trở về tên gọi của mình, tỉnh Quảng Trị đối mặtvới một thực trạng nghèo nàn và lạc hậu, cơ sở vậtchất 4 huyện thị nông thôn thuộc vùng sâu, vùng xacủa tỉnh Bình Trị Thiên chưa bước qua khỏi hậu quảcủa chiến tranh nặng nề, nhà cửa mới được dựngche tạm bợ, đời sống đói kém khó khăn
Ban đầu trụ sở của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh,các cơ quan, ban ngành cấp tỉnh phải dựa vào trụ sởcủa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể của Thị xã ĐôngHà để làm việc Để tạo điều kiện cho Sở Giáo dụcQuảng Trị làm việc ngay từ ngày đầu lập lại tỉnhPhòng giáo dục Đông Hà đã nhường trụ sở làm việccủa Phòng cho cơ quan Văn phòng Sở Mấy ngôi nhà cấp
4 xuống cấp trầm trọng với một khuôn viên chật
hẹp, nhưng "thước đất cắm dùi" đầu tiên này là cực
kỳ quan trọng trong việc vạch định hướng đi cho pháttriển giáo dục ở tầm lịch sử là đơn vị hành chínhcấp tỉnh 15 cán bộ và chuyên viên quê Quảng Trị côngtác ở Sở Giáo dục Bình Trị Thiên cùng với 5 cán bộđược điều động từ cơ sở lên là con số biên chế đầutiên của Sở Giáo dục Quảng Trị do đồng chí Trương SỹTiến nguyên là Phó Giám đốc Sở Giáo dục Bình TrịThiên làm triệu tập viên Đồng chí Nguyễn Đức Hânnguyên Giám đốc Sở Giáo dục Bình Trị Thiên giữ chứcPhó chủ tịch UBND tỉnh
Ngày 01/7/1989, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnhQuảng Trị Nguyễn Bường ký quyết định số 01/QĐ-UB2
Trang 3thành lập Sở Giáo dục Quảng Trị Đồng chí Trương SỹTiến giữ chức vụ Giám đốc Sở, đồng chí NguyễnThị Đảm làm kế toán trưởng Ngày 02/9/1989 bổ sungđồng chí Hồ Sỹ Nguyên giữ chức Phó giám đốc Sở;
Những ngày của tháng 7 năm 1989 là những ngàyđáng nhớ nhất trong giai đoạn lịch sử này.Những cánbộ, chuyên viên Sở Giáo dục Quảng Trị với tình cảmyêu thương được trở lại quê hương, với niềm phấnchấn quyết tâm xây dựng quê hương nhanh chóng đổithay đã không quản gian lao, thiếu thốn, làm việc khôngquản ngày đêm Hầu hết anh chị em cán bộ đều ởtập thể tại trụ sở Phòng giáo dục thị xã Đông Hànhường lại Cuộc sông và công việc tuy gian khổnhưng chan hòa tình nghĩa Tính cộng đồng, tính hợptác, tinh thần trách nhiệm và quyết tâm hoàn thànhnhiệm vụ là nét nổi bật của đội ngũ cán bộ Vănphòng Sở Giáo dục Quảng Trị lúc bấy giờ
Tuy số người thời kỳ đầu còn ít, nhưng vẫn biênchế thành 5 phòng chức năng :
Phòng chuyên môn (gồm cấp I, cấp II, cấp III vàBTVH) có các đồng chí Lê Phước Long (nguyên Trưởngphòng Phổ thông Sở Giáo dục Bình Trị Thiên),Nguyễn Dư Ba, Nguyễn Hữu Toàn, Trần Xuân Phátvà Nguyễn Văn Hùng Đồng chí Lê Phước Long giữchức Trưởng phòng
Phòng Tổng hợp có các đồng chí: Trương Đình Sỹ,Hoàng Đức Ngọc, Đặng Kiện, Nguyễn Viết Trai Đồngchí Trương Đình Sỹ giữ chức Trưởng phòng
Phòng Đào tạo-Bồi dưỡng có đồng chí Tạ QuangHưng, Đào Văn Diệp, Nguyễn Đức Đông Đồng chí TạQuang Hưng giữ chức Trưởng phòng
Phòng Mầm non có đồng chí Lê Thị Hải Vân (nguyênPhó trưởng phòng Mầm non Sở Giáo dục Bình Trị3
Trang 4Thiên) , Nguyễn Thị Bích Liễu và Lê Thị Vĩnh Nam.Đồng chí Lê Thị Hải Vân giữ chức trưởng phòng.
Phòng Hành chính có đồng chí Trần Quang Việt(nguyên Trưởng phòng Giáo dục chuyên nghiệp Sở Giáodục Bình Trị Thiên), Đoàn Duy Cản, Hoàng Đức Ninh vàNguyễn Thị Lý Đồng chí Trần Quang Việt Trưởngphòng
Công đoàn giáo dục Quảng Trị do đồng chí NguyễnHữu Ái (Hiệu trưởng trường PTTH Tân Lâm) làm triệutập viên
Bên cạnh các phòng chức năng trên đây, Văn phòngSở còn có Công ty Sách - Thiết bị trường học do đồngchí nguyễn Hữu Tiễn làm Giám đốc Công ty Một môhình vừa kinh doanh vừa phục vụ nhiệm vụ chính trịcủa ngành bằng việc cung ứng sách và thiết bị chocác ngành học Lúc đầu có 3 cán bộ tách ra từ Công
ty Sách-Thiết bị Bình Trị Thiên gồm các đồng chí:Nguyễn Hữu Tiễn (Giám đốc), Lê Công Tước, NguyễnThị Hà
Sở Giáo dục Quảng Trị buổi đầu tiên ít người,nhiều việc, các phòng chức năng phát huy tinh thầncộng đồng trách nhiệm trước công việc mà xây dựngnên Hướng trước mắt là ổn định tình hình một cách
nhanh chóng và đưa ra các giải pháp mạnh "tự vượt lên chính mình" Vừa làm vừa tự đánh giá so sánh
một cách khách quan giữa cái đã đạt được và chưađạt được, vừa tự điều chỉnh phù hợp với yêu cầuchung của thời kỳ đổi mới Chính vì vậy mà cơ quanVăn phòng Sở không ngừng được tăng cường và lớnmạnh Đến năm học 2000-2001 Văn phòng Sở có cácphòng chức năng sau đây: Phòng Mầm non, Phòng Tiểuhọc, Phòng Trung học phổ thông, Phòng Giáo dụcthường xuyên, Phòng Giáo dục chuyên nghiệp, Phòng4
Trang 5Kế hoạch - Tài vụ, Phòng Tổ chức cán bộ, PhòngTổng hợp - Hành chính và Thanh tra giáo dục, cùng vớiviệc hình thành tổ chức bộ máy quản lý Ngành, tổchức Đảng và đoàn thể cũng được hình thành Bancán sự Đảng gồm có các đồng chí Trương Sỹ Tiến,Hồ Sỹ Nguyên, Lê Phước Long, Trương Đình Sỹ, TrầnQuang Việt Đồng chí Trương Sỹ Tiến giữ chức Bí thưBan cán sự Đảng Ban cán sự Đảng là một tổ chứccủa Đảng giúp Thường vụ tỉnh ủy hoạch định các chủtrương và giải pháp lớn như tổ chức bộ máy, công tác
tư tưởng chính trị, công tác tổ chức cán bộ, pháttriển Đảng trong ngành Về sau Ban cán sự Đảngđược bổ sung thêm đồng chí Nguyễn Văn Hùng vàđồng chí Nguyễn Tài Lương Đảng ủy cơ quan gồm có
7 đồng chí nhiệm kỳ đầu do đồng chí Hồ Sỹ Nguyênlàm Bí thư Công đoàn giáo dục là đơn vị đồng cấp dođồng chí Nguyễn Tài Lương làm Chủ tịch
Trong 10 năm lập lại tỉnh lãnh đạo Sở có sự thayđổi là đầu năm 1995 đồng chí Trương Sỹ Tiến lên giữchức Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, đồng chí HồSỹ Nguyên giữ chức Giám đốc Sở, đồng chí Lê PhướcLong giữ chức Phó giám đốc Sở Năm 1996 bổ sungđồng chí Nguyễn Văn Hùng giữ chức Phó giám đốc.Tháng 4/2000, đồng chí Hồ Sỹ Nguyên nghỉ hưu, đồngchí Lê Phước Long giữ chức Giám đốc Sở Đầu năm
2002, đồng chí Lê Thị Hải Vân được đề bạt Phó Giámđốc Sở
Biên chế Văn phòng Sở số lượng là 53 cán bộ vàchuyên viên có năng lực, am hiểu thực tiễn đã cónhững đóng góp quan trọng trong việc thực hiệncông cuộc cách mạng về Giáo dục - Đào tạo ở địaphương Thời kỳ này là thời kỳ phát triển giáo dụctheo đường lối đổi mới tư duy giáo dục Mườiì năm5
Trang 6ổn định và phát triển giáo dục ở Quảng Trị cũng nhưchung cả nước có một thuận lợi cơ bản, to lớn làĐảng ta đã chỉ rõ và khẳng định một cách khoa học
về mục tiêu giáo dục là "Hình thành và phát triển toàn diện nhân cách, đào tạo con người có lòng yêu nước và lý tưởng xã hội chủ nghĩa, tiếp thu truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa loài người, có sức khỏe, có phẩm chất và kỹ năng để làm tốt một nghề Phải làm cho học sinh thực sự là chủ thể của hoạt động học tập, học sinh cùng với giáo viên là chủ thể của hoạt động dạy - học" (1) Chỉ đạo thựchiện mục tiêu giáo dục theo đường lối đổi mới tư duycủa Đảng, Bộ Giáo dục & Đào tạo đã tổ chức Hộinghị triển khai nhiệm vụ năm học 1989-1990 (NhaTrang, tháng 7/1989) với 10 tư tưởng lớn là:
- Giáo dục là một mặt trận quan trọng trong côngcuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, nhà trườnglà công cụ chuyên chính vô sản
- Phát triển giáo dục phải phù hợp với tình hình kinhtế - xã hội ở địa phương
- Chất lượng và hiệu quả phải đảm bảo trước mắtvà lâu dài nhưng cần thiết phải biết đón đầu đitrước
- Tiến hành Phổ cập giáo dục - Chống mù chữmạnh mẽ theo chuẩn mực quốc gia, chú ý tới đạitrà và mũi nhọn
- Giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục đạo đứctrong trường học
( 1 ) Phạm Minh Hạc - Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI NXB Chính trị quốc gia Trang 77.
-6
Trang 7- Thầy ra thầy, dạy ra dạy, trường ra trường, lớp ralớp.
- Củng cố và mở rộng các Trường trung học sưphạm, Cao đẳng sư phạm, Dạy nghề và Đại học
- Tăng cường nghiên cứu khoa học giáo dục, đẩymạnh và áp dụng khoa học kỹ thuật vào trườnghọc, giáo dục gắn liền với thực tiễn
- Đổi mới quản lý giáo dục
Thực hiện mục tiêu này, 10 năm ổn định và pháttriển giáo dục ở Quảng trị đã thực hiện các nộidung và giải pháp lớn là:
- Tập trung nguồn lực xây dựng cơ sở vật chấtđáp ứng yêu cầu đổi mới
- Xác định vị trí giáo dục trong sự nghiệp cách mạng
ở địa phương, là bộ phận trọng yếu trong chươngtrình kinh tế - xã hội
- Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng do đó phảitiến hành xã hội hóa giáo dục rộng rãi
- Lấy chất lượng và hiệu quả làm thước đo hànhđộng, đồng thời phải biết đón đầu đi trước về họcsinh giỏi, Tin học, Dạy nghề
- Dù là một tỉnh nghèo nhưng kiên quyết thực hiện
đa dạng hóa loại hình trường lớp, tạo cơ hội chongười học, thực hiện phổ cập giáo dục Tiểu học -Chống mù chữ và Phổ cập Trung học cơ sở
- Đổi mới quản lý giáo dục, tăng cường công tác Đảngxây dựng một đội ngũ vừa "hồng" vừa "chuyên"
Đánh giá tổng quát theo chỉ số phát triển HDI doUNDP đề xuất (1) thì chỉ số phát triển giáo dục ởQuảng Trị đạt 0,83 xếp thứ hạng 30 trên 61 tỉnh thànhtrong cả nước Chỉ số phát triển giáo dục của Hà Nộilà 0,95, thành phố Hồ Chí Minh là 0,94, Quảng Ngãi là0,83, Quảng Bình là 0,85, Thừa Thiên-Huế là 0,81 7
Trang 8( 2 ) Chỉ số phát triển giáo dục tính theo công thức
3
2b
a
G (G là chỉ số phát triển giáo dục, a là tỷ lệ % người đi học đúng độ tuổi, b là tỷ lệ % người lớn biết chữ.
Chỉ số phát triển giáo dục quốc tế là sự đánhgiá mặt bằng dân trí ở một dịa phương, một quốcgia giúp nhà quản lý giáo dục thấy rõ hướng pháttriển giáo dục, tình trạng giáo dục Vấn đề phổcập giáo dục đúng độ tuổi cũng như quy hoạch xâydựng phát triển đa dạng hóa các loaüi hình trườnglớp tạo ra cơ hội học tập, xây dựng một xã hộihọc tập
Từ ngày tỉnh được lập lại đến nay quá trình xâydựng và phát triển Giáo dục Quảng Trị là một cuộcbứt phá quyết liệt vượt lên chính mình và đã thuđược kết quả to lớn Qui mô các bậc học, ngành họctăng mạnh, hệ thống gíáo dục tương đối hoàn chỉnhvới đủ 4 ngành học Mạng lưới trường lớp được sắpxếp phù hợp với qui mô vùng miền (2 thị xã 5 huyệnthị đồng bằng và 2 huyện miền núi)
Về ngành học Mầm non có 134 trường, 7 trường
tư thục với 1581 giáo viên Trong đó Nhà trẻ huy độngđược 3.668 cháu, đạt tỷ lệ 14,9% so với độ tuổi, tăng3,8% so với trước Mẫu giáo huy động được 24.563cháu, đạt tỷ lệ 62,9%, tăng 3,5% so với trước Riêng trẻ
5 tuổi năm học 2000-2001 là 13.891 cháu, đạt tỷ lệ96,9% Một ngành học khó nhưng 10 năm lập lại tỉnhđã thực thi nhiều giải pháp sáng tạo phù hợp vớichuyển đổi cơ chế kinh tế thị trường Phát triểnmạnh vùng thành thị và đồng bằng nhưng hết sứcchú ý phát triển ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bàodân tộc Vân Kiều, Pa Kô sinh sống Phát triển sốlượng và coi trọng chất lượng nuôi - dạy bằng việc
8
Trang 9triển khai thực hiện các chuyên đề như: Vệ, dinhdưỡng, Môi trường, Tạo hình, Âm nhạc, làm quen Chữcái và làm quen với Toán thực hiện chuẩn hóa độingũ cán bộ quản lý trường học, chuẩn hóa trình độđào tạo của giáo viên Tập trung sức xây dựng hệthống trường trọng điểm chất lượng - trường chuẩnđể tạo mô hình chỉ đạo đại trà vừa là cơ sở để bồidưỡng giáo viên về chuyên môn, nghiệp vụ Từtrường điểm Sao Mai Đông Hà nhân rộng và phát triểnthành 9 trường ở 9 huyện, thị tạo ra mô hình và điềukiện tốt cho việc phát triển hệ thống trường mầmnon theo yêu cầu đổi mới của ngành học
Quy mô mạng lưới trường lớp ngành học Mầmnon phát triển mạnh mẽ trong phạm vi cả tỉnh, xóađược xã trắng, phát triển được nhiều loại hình hợplý: công lập, bán công, dân lập, tư thục và nhóm trẻgia đình Đang dạng hóa loại hình là cách làm phù hợpvới sự phát triển kinh tế theo vùng miền tạo ra khảnăng đón đầu cho các vùng kinh tế của tỉnh đang pháttriển như khu kinh tế thương mại Lao Bảo và các cơ sởkinh tế tập trung khác
Thành tich của ngành học Mầm non là đã xuấthiện nhiều điển hình tiên tiến Trường Mầm non HảiPhú (Hải Lăng) được Chính phủ tặng Huân chương laođộng hạng Ba với một thành tích lớn là đã tiến hànhxã hội hóa, huy động nguồn lực tối đa xây dựng cơsở trường học, giải quyết thỏa đáng chế độ cho côgiáo ngoài biên chế Đây là đơn vị có số cháu vào nhàtrẻ đạt trên 85% và 100% số cháu trong độ tuổi đếnlớp mẫu giáo Cô giáo Văn Thị Thịnh, Hiệu trưởng nhàtrường đã được Chính phủ tặng Bằng khen TrườngMầm non Hoa Sen (Đông Hà) do nhà giáo ưu tú Lê Thị9
Trang 10Tưởng làm Hiệu trưởng đã có nhiều sáng kiến trongviệc nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ theo hướngtrường chuẩn quốc gia Cô giáo Trần Thị Nở trườngMầm non Bình Minh Khe Sanh (Hướng Hóa) đã dũng cảmbắt rắn độc cứu các cháu mẫu giáo, là một điểnhình xuất sắc được Chính phủ tặng Bằng khen.
Những điển hình tiên tiến của các đơn vị và cánhân trong ngành học Mầm non như những bông hoađẹp trong vườn hoa giáo dục Quảng Trị
Về Ngành học Phổ thông:
* Số lượng các cấp học:
Cấp học NH
1989-1990 NH 2000-2001 TăngCấp I (Tiểu
346
83.13051.15522.9829,8%
1.115
26.51730.09510.688
Năm học 2000- 01
1343101619261
Nhóm trẻ
Chuyên THPT1 0
Trang 110525
1011191
LQĐ
1 trường DTNTcấp 3
(5 trường BC, 2trường cấp 2-3)
1 trung tâmcấp tỉnh
Thời kỳ này đất nước lâm vào cảnh khủng hoảng,cùng với cơn bão thế kỷ năm 1985 và 5 trận bão lũtháng 9/1990 đã tàn phá hết sức nặng nề nền kinhtế của tỉnh cũng như cơ sở vật chất của ngành Giáodục Gần 50% hộ dân bị đói đã đe dọa khả năng đếntrường của tất cả các cấp học, ngành học Lúc đógiáo dục Quảng Trị đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đểgiữ vững qui mô, ổn định tình hình, đồng thời tổchức lại hợp lý hơn cấu trúc hệ thống, lựa chọn
một số giải pháp có ý nghĩa đột phá để tác động tích cực đến chất lượng nhất là bộ phận điểm và mũi nhọn Mặt khác về điều kiện, tranh thủ tối đa
các khả năng có thế để tạo thêm và cải tạo cơ sởvật chất
Xuất phát từ bài toán từ thực tiễn đặt ra, SởGiáo dục - Đào tạo Quảng Trị đã quyết định sát nhậpmột số trường cấp II vào trường cấp III thành cấp II -III, như trường cấp II - III Cồn Tiên, cấp II - III Cửa Tùng,cấp II - III Tân Lâm để giữ vững qui mô của cấp họcphổ thông Đây là một chủ trương đúng đắn tạo ra1 1
Trang 12thế phát triển mới cho bậc học phổ thông Trung họcsau này Khi nhu cầu học tập của nhân dân ngày càngcao thì xu thế đa dạng hóa các loại hình trường họclà tất yếu Quảng Trị đã táo bạo đề nghị Ủy bannhân dân tỉnh thành lập hệ thống trường bán công ởcấp Trung học phổ thông Kết quả trong 3 năm 1995 -
1997 đã có 5 trường Trung học phổ thông bán công rađời ( THPTBC thị xã Đông Hà, THPTBC thị xã Quảng Trị,THPTBC Hải Lăng, THPTBC Vĩnh Linh và THPTBC Do Linh),nâng tỷ lệ huy động học sinh tốt nghiệp Trung học cơsở vào Trung học phổ thông hàng năm từ 75% trở lên.Sự ra đời các trường Trung học phổ thông bán côngcùng với hệ thống trường lớp tư thục, dân lập, báncông ở ngành học mầm non đã góp phần hoàn chỉnhhệ thống trường lớp của giáo dục Quảng Trị
Từ mục tiêu khiêm tốn ban đầu, Giáo dục - Đàotạo Quảng Trị đi dần từng bước theo quan điểm củaĐại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII trong việc xácđịnh vị trí của giáo dục là "quốc sách hàng đầu" , là
"động lực của sự phát triển" với 3 mục tiêu cơ bản
là "Nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân lực và đào tạo nhân tài", đến giai đoạn này Quảng Trị đã có một sự
nghiệp giáo dục khá toàn diện
Về giáo dục Tiểu học - Chống mù chữ:
Thống kê điều tra trong độ tuổi từ 15 đến 35 tuổitoàn tỉnh năm 1990 có 14500 người mù chữ, trong đóhuyện Hướng Hóa có số lượng người mù chữ là
8094 người; huyện Hải Lăng là 1650 người, huyệnTriệu Phong 1717 người tỷ lệ huy động vào trườngđạt thấp, tỷ lệ bỏ học chung các cấp là 7,5% (toànquốc lúc đó là 18%) Những chỉ số trên là một tháchthức lớn lao đối với giáo dục, nhưng nhờ có quyết1 2
Trang 13tâm và nghị lực của người chiến sĩ trên mặt trận vănhóa, sau 7 năm với nhiều cách làm sáng tạo Quảng Trịlà tỉnh thứ 18 trong toàn quốc hoàn thành Phổ cậpgiáo dục Tiểu học - Chống mù chữ (1996).
Tổ chức chiến dịch bằng sức mạnh của cả tỉnhchi viện cho miền núi thực hiện Phổ cập giáo dụcTiểu học - Chống mù chữ Năm học 1993-1994 thiếugần 500 giáo viên nhưng các Phòng giáo dục : VĩnhLinh, Do Linh, Đông Hà, Triệu Phong, thị xã Quảng Trị,Hải Lăng, Cam Lộ đã hăng hái chi viện cho Hướng Hóaxóa mù chữ Ngoài lực lượng nòng cốt là cán bộ,giáo viên ngành Giáo dục, dưới sự lãnh đạo của cáccấp bộ Đảng, chính quyền địa phương, tất cảc cáclực lượng xã hội đã vào cuộc Chống nạn mù chữvà Phổ cập dục Tiểu học cho vùng khó và đốitượng khó Lực lượng bộ đội Biên phòng - Những
"thầy giáo quân hàm xanh" luôn bám sát bản làng, sát
cánh cùng ngành giáo dục tích cực thực hiện Phổcập giáo dục Tiểu học - CMC
Chi viện xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc VânKiều và Pa Kô, lực lượng nòng cốt là giáo viên đượcđiều động từ trong biên chế ở các trường học Người
ở nhà phải gánh vác lớp của người ra đi, người ra điphải chịu đựng muôn vàn khó khăn gian khổ Lựclượng giáo viên không đủ, các Phòng giáo dục vậnđộng giáo viên nghỉ hưu, về mất sức theo quyết định
176 có sức khỏe tham gia chiến dịch Người già, ngườitrẻ tổ chức đoàn theo huyện, thị đến tận các bảnlàng để giảng dạy
Phổ cập giáo dục Tiểu học - Chống mù chữ ởQuảng Trị về đích trước 4 năm so với kế họach chungcủa Ủy ban quốc gia Chống nạn mù chữ (1990 - 2000)1 3
Trang 14là kết quả của quá trình phấn đấu bền bĩ của cáccấp bộ Đảng, chính quyền và nhân dân, của đội ngũcán bộ và giáo viên của toàn ngành mà lực lượngxung kích là cán bộ và giáo viên miền núi Với gần
2000 cán bộ và giáo viên công tác ở 63 đơn vị trườnghọc của 39 xã miền núi là lực lượng quyết định choPhổ cập giáo dục Tiểu học - Chống mù chữ thànhcông, vì giáo dục PCTH-CMC chỉ được thực hiện trêncái nền vững chắc của phong trào giáo dục miền núi.Gian khổ, khó nhọc, rừng thiêng nước độc không ngăncản được quýêt tâm của người giáo viên trong sựnghiệp phát triển giáo dục miền núi, quyết tâm mangcái chữ đến cho con em đồng bào dân tộc Sự miệtmài, tận tụy của đội ngũ là cái gốc để PCGDTH-CMC
Trong công cuộc PCGDTH-CMC ở Quảng Trị đã xuấthiện nhiều đơn vị và cá nhân điển hình tiên tiến Tiêubiểu là thầy giáo Hà Công Văn: Tình nguyện lên côngtác miền núi từ năm 1977, tình nguyện về công tácnơi khó khăn nhất, gian khổ nhất đó là phẩm chất caoquí của người giáo viên trong sự nghiệp phát triểngiáo dục miền núi Về công tácở xã Tà Long sauchuyển về xã Húc Nghì (trước đây thuộc huyệnHướng Hóa, nay thuộc huyện Đa krông) Đây là địaphương kinh tế - xã hội chậm phát triển Giáo dụclúc đó là xã trắng, có thầy không có trò Thầy vềbản dạy nhưng giáo viên ít bản nhiều, mỗi bản có 5 -
7 học sinh nhưng cũng có 5 - 7 trình độ Từ khó khăn
đó, thầy giáo Hà Công Văn nghĩ ra hình thức bán trú dân nuôi Đây là cách làm sáng tạo phù hợp với điều
kiện cụ thể của địa phương và khá thích ứng vớihoàn cảnh để giải quyết vấn đề cơ bản là số lượnghọc sinh và duy trì sĩ số ở vùng cao Là một hình
1 4
Trang 15thức tổ chức kiểu xã hội hóa giáo dục mang tínhđặc thù của miền núi.
25 năm sống và làm việc ở nơi khó khăn Hà CôngVăn có đức hy sinh cao cả, chịu đựng gian khổ biếtbớt một phần lương ít ỏi của mình san sẻ cho học sinhthân yêu trong những ngày đầu thực hiện hình thứcbán trú Là thầy giáo bám trường, bám lớp sống vớidân, dựa vào dân, thấu hiểu hiểu nguyện vọng củadân nên đã có cách làm hợp lòng dân, thầy đượcĐảng, chính quyền, nhân dân và học sinh tin yêu, quý
mến Được nhân dân kính trọng gọi "Thầy giáo - Già làng"
Bán trú dân nuôi học sinh có điều kiện sống, laođộng, học tập vui chơi giải trí tập thể Trường họctrở thành trung tâm văn hóa ở địa phương thực hiệnnguyên lý giáo dục gắn liền với xã hội Thầy giáo HàCông Văn được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anhhùng lao động đó là phần thưởng xứng đáng của 25năm sống và làm việc vì học sinh thân yêu, vì sựnghiệp phát triển giáo dục miền núi Ngành Giáo dục
- Đào tạo tự hào có người anh hùng đầu tiên tronglịch sử phát triển giáo dục Quảng Trị
Phổ cập giáo dục - Chống mù chữ là một cuộccách mạng khó khăn, gian khổ, tồn nhiều tiền của,công sức và có những trường hợp đặc biệt phải hysinh cả thân mình Anh Đoàn Văn Phong, giáo viên thị xãĐông Hà lên chi viện cho giáo dục Hướng Hóa đã hysinh trên đường đến lớp được Nhà nước truy tặngliệt sĩ
Những thành tích to lớn giành được trong côngcuộc PCGDTH-CMC ở Quảng Trị đã được Ủy ban quốcgia chống nạn mù chữ và Bộ Giáo dục ghi nhận khenthưởng và biểu dương Những thành tích đó là nền1
5