TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài: ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA BA VỤ TẠI HUYỆN CAI LẬY,
Trang 1- -
NGUYỄN HOÀNG CHÂU
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA BA VỤ TẠI HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
Trang 2- -
NGUYỄN HOÀNG CHÂU
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA BA VỤ
TẠI HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ TRỒNG TRỌT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS LÊ THANH PHONG
Cần Thơ - 2012
Trang 3Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của con
Xin chân thành cảm ơn sâu sắc đến
TS Lê Thanh Phong, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ và cho những lời khuyên hết sức bổ ích trong suốt thời gian thực hiện đề tài là hoàn thành bài luận văn tốt nghiệp này
Xin chân thành cảm ơn
Anh Phương và chị Mai phòng Nông Nghiệp huyện Cai Lậy - Tiền Giang đã cung cấp tài liệu và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành đề tài này
Xin chân thành cảm tạ
Toàn thể quý thầy cô Khoa NN & SHƯD Trường Đại học Cần Thơ đã dìu dắt và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho tôi trong thời gian học tại trường
Thân ái gửi về
Các bạn sinh viên lớp Trồng trọt K34 lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong tương lai
Trang 4QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: Nguyễn Hoàng Châu Giới tính: Nam
Chổ ở hoặc địa chỉ liên lạc: 306A1/2 Đường Hoàng Quốc Việt, Khu vực 5, Phường Anh Khánh, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ
Số điện thoại: 0939362336
E-mail: nhchau92@student.ctu.edu.vn
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 Tiểu học
Thời gian đào tạo: Từ 1995 - 2000
Trường: Tiểu học Trường Xuân 2
Địa chỉ: Xã Trường Xuân, Huyện Thới Lai, tỉnh Cần Thơ
2 Trung học cơ sở
Thời gian đào tạo: Từ năm 2000 - 2004
Trường: Trung học sơ sở Trường Xuân
Địa chỉ: Xã Trường Xuân, Huyện Thới Lai, tỉnh Cần Thơ
3 Trung học phổ thông
Thời gian đào tạo: Từ năm 2004 - 2008
Trường: Trung học phổ thông Thới Lai
Trang 5Địa chỉ: Xã Trường Xuân, Huyện Thới Lai, Thành phố Cần Thơ
4 Đại học
Thời gian đào tạo: Từ năm 2008 - 2012
Trường: Đại học Cần Thơ, chuyên nghành Trồng trọt, hệ chính quy, khóa 34
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Người khai ký tên
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Tác giả luận văn
Nguyễn Hoàng Châu
Trang 7TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA BA VỤ TẠI HUYỆN
CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Do sinh viên Nguyễn Hoàng Châu thực hiện
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp
Cần Thơ, ngày tháng năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
TS Lê Thanh Phong
Trang 8TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD
BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp nhận chấm luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Trồng trọt với đề tài:
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA BA VỤ TẠI HUYỆN
CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
Do sinh viên Nguyễn Hoàng Châu thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng
Ý kiến của Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Trưởng khoa Nông Nghiệp & SHƯD Chủ tịch Hội đồng
Trang 91.2.3 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lúa 8
Trang 101.3 KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA 8
Trang 11PHỤ CHƯƠNG 1 PHIẾU ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA 48
Trang 123.7 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân N bón cho vụ Đông Xuân, tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
25
3.8 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân P 2 O 5 bón cho vụ Đông Xuân tại huyện
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
26
3.9 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân K 2 O bón cho vụ Đông Xuân tại huyện
Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
27
3.10 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân N bón cho vụ Hè Thu tại huyện Cai Lậy,
tỉnh Tiền Giang (2010)
27
3.11 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân P 2 O 5 bón cho vụ Hè Thu tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
28
3.12 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân K 2 O bón cho vụ Hè Thu tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
29
3.13 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân N bón cho vụ Thu Đông tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
29
3.14 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân P 2 O 5 bón cho vụ Thu Đông tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
30
3.15 Tỷ lệ nông dân sử dụng lượng phân K 2 O bón cho vụ Thu Đông tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
30
Trang 133.16 Phần trăm số hộ phòng trừ các loại động vật và côn trùng gây hại tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
35
3.17 Phần trăm số hộ phòng trừ các loại bệnh hại tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang
(2010)
38 3.18 Hiệu quả kinh tế của 3 vụ lúa tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010) 43
Trang 143.5 So sánh lượng dầu sử dụng (lít/ha) bơm thay nước giữa 3 vụ lúa tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
3.10 Tên thuốc và tỷ lệ (%) nông hộ sử dụng thuốc phòng trị các loại bệnh hại tại
huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
Trang 15lý dịch hại tổng hợp)
Institute (Viện Nghiên cứu Lúa Quốc Tế)
Trang 16NGUYỄN HOÀNG CHÂU 2012 “Điều tra kỹ thuật canh tác lúa ba vụ tại
huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Trồng trọt, khoa
Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, Trường Đại Học Cần Thơ
Cán bộ hướng dẫn: TS Lê Thanh Phong
TÓM LƯỢC
Lúa vừa là cây lương thực chính, vừa là cây trồng mang lại thu nhập chính của người nông dân tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Thời gian gần đây, do quá trình đô thị hóa làm đất trồng lúa ngày càng thu hẹp, nhằm đảm bảo sản lượng lúa cho tiêu thụ và sinh kế nông hộ, nông dân có chiều hướng áp dụng thâm canh tăng
vụ, tăng năng suất qua việc sử dụng giống mới cho năng suất cao, áp dụng nhiều phân bón, nông dược, nhiên liệu,… Tuy nhiên, vấn đề áp dụng kỹ thuật canh tác lúa của nông dân vẫn còn thiếu sự hướng dẫn thường xuyên của các nhà khoa học Hậu quả của việc thâm canh không có cơ sở khoa học, có thể dẫn đến mất cân bằng
sinh thái tự nhiên, dịch hại gia tăng và ô nhiễm môi trường sinh thái Đề tài: “Điều
tra kỹ thuật canh tác lúa ba vụ tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang” có mục
đích tìm hiểu kỹ thuật canh tác lúa của nông dân và hiệu quả kinh tế trong canh tác
Đề tài được thực hiện qua điều tra ngẫu nhiên 45 hộ nông dân đang canh tác lúa ba vụ bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp theo phiếu điều tra lập sẵn Kết quả điều tra cho thấy, nông dân có độ tuổi trung bình khoảng 50 tuổi, trình độ học vấn từ lớp 6 đến lớp 12 khoảng 73,4% và diện tích canh tác lúa của nông hộ trung bình là 0,9 ha Lịch canh tác có sự sắp xếp của cán bộ khuyến nông, vụ Đông Xuân gieo sạ trong thánh 11 dương lịch, vụ Hè Thu gieo sạ trong khoảng 10/2 - 1/3 dương lịch, vụ Thu Đông gieo sạ trong 15/5 - 10/6 dương lịch Nông dân dùng lúa thương phẩm để làm giống, giống lúa sử dụng nhiều nhất là IR50404 (84%) với lượng giống dùng trung bình 169,3 kg/ha, nông dân có dùng thuốc hóa học để trộn giống, loại thuốc dùng phổ biến là Cruiser Plus 312,5FS (42%) và có 44,4% nông dân áp dụng phương pháp
Trang 17sạ hàng, còn lại là sạ lan Nông dân bón phân hóa học với liều lượng cao hơn khuyến cáo nhất là đối với phân P2O5 và K2O, lượng phân trung bình là 106 kg N/ha - 74 kg P2O5/ha - 54 kg K2O/ha và các loại phân như Urê, DAP, KCL được
sử dụng phổ biến để bón cho lúa và không có sử dụng phân hữu cơ Số lần bón phân trung bình là 3,6 lần/vụ, số lần thay nước cho lúa là 3,9 lần/vụ Nông dân thường bón phân khi thay nước ruộng Các loại dịch hại chủ yếu là: cỏ, ốc Bưu vàng, Rầy nâu, Sâu cuốn lá, bệnh Đạo ôn,… Các loại thuốc như: Sofit 300EC, Bolis 6B, Chief 260EC, Chess 50WG, Kinalux 25EC, Anvil 5SC, Bump 650WP được sử dụng thường xuyên Năng suất lúa trung bình là 6,581 tấn/ha và có sự chênh lệch năng suất giữa các vụ Chi phí canh tác lúa khá cao (46,424 triệu đồng/ha/năm) bằng 52,3% tổng doanh thu, tập trung vào tiền mua phân bón (30,2%), thuốc bảo vệ thực vật (21,5%) và thuê mướn thu hoạch (20,0%) Với giá bán lúa trung bình 4.500 đồng/kg, năng suất tổng cộng 19,74 tấn/ha/năm, nông dân thu được lợi nhuận khoảng 42,41 triệu đồng/ha/năm, trong đó vụ Đông Xuân lãi khoảng 29,39 triệu đồng/ha chiếm 48,08%, vụ Hè Thu lãi khoảng 12,0 triệu đồng/ha chiếm 28,3% và thấp nhất là vụ Thu Đông lãi khoảng 10,11 triệu đồng/ha chiếm 23,84% Canh tác lúa tại Cai Lậy đang theo chiều hướng thâm canh Canh tác lúa ba vụ mang lại lợi nhuận khá cao, tuy nhiên vụ lúa Thu Đông có lợi nhuận không cao, nên nghiên cứu luân canh để có hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 18MỞ ĐẦU
Lúa gạo là cây lương thực rất lâu đời trên thế giới, nuôi sống hơn 2 tỉ người Châu Á và hàng trăm triệu người sống ở các châu lục khác Theo thống kê số liệu của FAO (1995), lúa được trồng ở 112 nước trên thế giới với diện tích lên khoảng
148 triệu ha, trong đó gần 90% tổng diện tích tập trung ở Châu Á và được trồng tại
26 trong 45 quốc gia của châu lục này Tại Châu Á, Việt Nam là một trong những quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất với khoảng 6 triệu tấn (1996) trong khi mức buôn
bán gạo hằng năm trên thế giới dao động khoảng 16 - 18 triệu tấn (Vũ Văn Hiển và
ctv., 1999) Số liệu trên cho thấy Việt Nam là quốc gia rất có tiềm năng về sản xuất
lúa gạo
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng sản xuất chính với khoảng 16 triệu dân sinh sống chủ yếu là nghề nông, là vựa lúa lớn nhất cả nước Hằng năm ĐBSCL cung cấp hàng chục triệu tấn lương thực các loại phục vụ cho cả nước và xuất khẩu Hiện nay, tại ĐBSCL nói chung và ở tỉnh Tiền Giang nói riêng, diện tích đất sử dụng cho nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp dần do quá trình đô thị hóa Nhằm đảm bảo sản lượng lúa cho tiêu thụ và sinh kế nông hộ, nông dân có chiều hướng áp dụng thâm canh tăng vụ, tăng năng suất qua việc sử dụng giống mới cho năng suất cao, áp dụng nhiều phân bón, nông dược, nhiên liệu,… Tuy nhiên, vấn
đề áp dụng kỹ thuật canh tác lúa của nông dân vẫn còn thiếu sự hướng dẫn thường xuyên của các nhà khoa học Hậu quả của việc thâm canh không có cơ sở khoa học, có thể dẫn đến mất cân bằng sinh thái tự nhiên, dịch hại gia tăng và ô nhiễm môi trường sinh thái
Đề tài: “Điều tra kỹ thuật canh tác lúa ba vụ tại huyện Cai Lậy, tỉnh
Tiền Giang” có mục đích tìm hiểu kỹ thuật canh tác lúa của nông dân và hiệu quả
kinh tế trong canh tác
Trang 19CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 1.1 HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Theo Địa chí Cai Lậy (2010), huyện Cai Lậy là một trong mười đơn vị hành chính của tỉnh Tiền Giang, là đầu mối giao lưu quan trọng của khu vực các huyện phía Tây và là cửa ngõ giao lưu với các tỉnh trong khu vực gồm Đồng Tháp - Long
An - Tiền Giang Về đường thủy, ngoài nhánh sông lớn là sông Tiền và sông Ba Rài chạy qua địa phận huyện còn phải kể đến hệ thống kênh rạch chằng chịt, tạo thuận lợi cho giao thông đi lại và sản xuất nông nghiệp của nhân dân trong huyện
Ranh giới hành chính: Phía Bắc giáp huyện Tân Thạnh và Tân Phước (tỉnh Long An); Phía Nam giáp sông Tiền, đối diện huyện Chợ Lách và một phần của tỉnh Vĩnh Long; Phía Tây giáp huyện Cái Bè; Phía Đông giáp huyện Châu Thành
và Tân Phước về phía Đông Bắc
Tọa độ địa lý: Huyện Cai Lậy nằm trong giới hạn tọa độ: Từ 105059’57” đến 106012’19” kinh độ Đông và từ 10017’25” đến 10023’08” vĩ độ Bắc; Huyện có địa hình tương đối bằng phẳng với độ dốc < 1%
Diện tích: Diện tích đất tự nhiên là 43.618,32 ha, là huyện có diện tích rộng nhất, chiếm 17,38% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh (2008), trong đó có 37.760 ha đất phù sa ngọt sử dụng cho canh tác nông nghiệp, chiếm 91,84% tổng diện tích đất tự nhiên toàn huyện
Lượng mưa trung bình trong năm khoảng 1.500 mm Mùa lũ xuất hiện bắt đầu từ cuối tháng 9 đến tháng 11 dương lịch, nước lũ từ thượng nguồn đổ vào các sông kênh rạch, đỉnh lũ xuất hiện trong tháng 10, độ sâu ngập lũ được xếp vào mức khá, khoảng 1 - 1,4 m Địa bàn huyện chịu ảnh hưởng của chế độ bán nhật triều không đồng điều từ biển Đông qua sông Tiền
Trang 20Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Cai Lậy (Địa chí Cai Lậy, 2010)
1.1.2 Điều kiện xã hội
Theo Địa chí Cai Lậy (2010), dân số toàn huyện Cai Lậy có khoảng 332.281 người trong đó có người dân sống trong nông thôn chiếm 91% tổng số dân toàn huyện, còn lại 28.500 người sống ở thành thị chiếm 9% (2008)
Mật độ dân số trung bình khoảng 762 người/km2 trong đó nơi đông nhất là thị trấn Cai Lậy 4.531 người/km2
Năm 2008, toàn huyện có 209.294 người đang trong độ tuổi lao động và ngoài độ tuổi lao động là 9.216 người Trong số người trong độ tuổi lao động thì làm trong các lĩnh vực ngành nghề là 85.491 người, đang đi học là 13.759 người
Trang 21Ngoài ra, người thất nghiệp khi trong độ tuổi lao động cũng khá cao là 3.568 người
1.2 TỔNG QUAN VỀ CÂY LÚA
1.2.1 Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh
1.2.1.1 Đất
Lúa có thể trồng được trên nhiều loại đất, trừ những vùng quá phèn, quá mặn Ở đâu có nước ngọt là có thể trồng được lúa Tuy nhiên, thích hợp nhất là đất phù sa ngọt trên các lưu vực sông lớn nhỏ Cây lúa có thể sống được trên đất
có độ pH từ 3,5 - 10, nhưng thích hợp nhất là từ 5,5 - 7 (Mai Văn Quyền, 2007)
Nguyễn Đình Giao và ctv (1997), cây lúa thuộc nhóm cây ngày ngắn, thời
gian chiếu sáng ngắn 9 - 10 giờ/ngày có tác dụng rõ rệt đối với việc xúc tiến quá trình làm đòng và trổ bông
1.2.1.3 Nhiệt độ
Theo Đinh Thế Lộc (2006), nhiệt độ có tác dụng quyết định đến tốc độ sinh trưởng của cây lúa nhanh hay chậm, tốt hay xấu, tùy theo từng giai đoạn phát triển của cây lúa mà nhiệt độ giới hạn thấp biến động từ 10 - 200C, nhiệt độ giới hạn cao biến động từ 30 - 400C và nhiệt độ tối thích biến động từ 20 - 300C (Bảng 1.1) Theo Bùi Huy Đáp (1980), nhiệt độ cho hạt lúa nẩy mầm tốt nhất là 30 -
350C, tối thích cho sự đẻ nhánh là 32 - 340C, nhiệt độ cần thiết để lúa trổ cũng phải trên 200C và thích hợp nhất vào khoảng 25 - 300C
Trang 22Bảng 1.1 Phản ứng của cây lúa đối với nhiệt độ ở các giai đoạn khác nhau
(Yoshida, 1981)
1.2.1.4 Gió
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), ở giai đoạn làm đòng và trổ, gió mạnh làm
ảnh hưởng xấu đến quá trình hình thành và phát triển của đòng lúa, sự trổ bông,
thụ phấn, thụ tinh và sự tích lũy chất khô trong hạt làm tăng tỉ lệ hạt lép, hạt lửng
(gạo không đầy vỏ trấu) làm giảm năng suất lúa Tuy nhiên, gió nhẹ giúp cho quá
trình trao đổi không khí trong quần thể ruộng lúa tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi
cho quá trình quang hợp và hô hấp của lúa để góp phần tăng năng suất
1.2.1.5 Thủy văn
Có thể nói ở ĐBSCL, điều kiện thủy văn quyết định chế độ nước, mùa vụ,
tập quán canh tác và hình thành các vùng trồng lúa khác nhau Nói chung, hàng
năm nước bắt đầu ngập ruộng tháng 7 - 8 dương lịch tùy nơi, và đạt cao nhất vào
tháng 9 - 10 dương lịch trùng với đỉnh cao của mùa mưa, sau đó giảm dần đến
tháng 12 - 1 dương lịch thì khô ruộng (Nguyễn Thành Hối, 2007)
Nhiệt độ giới hạn
( 0 C) Giai đoạn phát
Trang 23Lượng mưa cần thiết cho cây lúa vào mùa mưa ẩm trung bình là 6 - 7 mm/ngày, còn mùa khô lượng nước cần là 8 - 9 mm/ngày nếu không có nguồn nước khác bổ sung Nếu tính luôn lượng nước thấm rút và bốc hơi thì trung bình
một cây lúa cần lượng mưa khoảng 200 mm/ngày (Vũ Văn Hiển và ctv., 1999)
1.2.2 Nhu cầu về dinh dưỡng cho cây lúa
1.2.2.1 Chất đạm (N)
Theo Chu Văn Hách và Phạm Sĩ Tân (2005), liều lượng bón đạm trên đất phù sa ngọt Ô Môn - Cần Thơ cho vụ Đông Xuân là từ 90 - 100 kg/ha, Hè Thu 73
- 83 kg/ha Liều lượng đạm bón cho lúa phụ thuộc vào giống lúa, chân đất, mùa
vụ, chế độ nước, tình hình sâu bệnh, cỏ dại Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nghiêm và Phạm Thị Phương Lan (1997), về sử dụng phân xanh, cây họ đậu cho cây lúa ở ĐBSCL cho thấy, phân xanh và cây họ đậu có thể làm giảm yêu cầu về phân đạm khoảng 30 - 40 kg/ha Luân canh cây đậu nành, nhất là đậu phộng trước khi xuống giống vụ lúa tiếp theo là giải pháp có thể ứng dụng vào sản xuất lúa làm tăng năng suất lúa từ 1 - 2 tấn/ha
1.2.2.2 Chất lân (P 2 O 5 )
Trong việc gia tăng mùa vụ trong năm cũng cần chú ý cung cấp thêm phân lân cho cây trồng Ở Việt Nam, bình quân lúa có thể khai thác lượng lân từ đất khoảng 15 - 25 kg/ha Lượng phân bón ở ĐBSCL cung cấp thường chỉ bù lại khoảng 30% dinh dưỡng lấy đi (Đỗ Thị Thanh Ren, 1999)
Để đạt được năng suất cao và bền vững thì phân lân cần bón mỗi vụ Ở vụ Đông Xuân có thể sử dụng lượng khoảng 20 - 30 kg P2O5/ha và Hè Thu là 30 - 40
kg P2O5/ha để cho năng suất cao Trong trường hợp bón dư thừa lân thì cũng không có ảnh hưởng xấu đến phân đạm và lượng phân này có thể lưu tồn cho vụ sau và nếu vụ đầu bón đủ lân thì vụ thứ hai có thể gia tăng năng suất 6 - 12% (Nguyễn Văn Luật, 2001) Ở ĐBSCL nông dân thường bón cùng một lượng lân trong vụ Đông Xuân và vụ Hè Thu, điều này thì chưa phù hợp Nếu giảm 20%
Trang 24lượng lân trong vụ Đông Xuân và tăng 20% cho vụ Hè Thu thì sẽ làm tăng năng suất Hè Thu rõ rệt mà năng suất vụ Đông Xuân không đổi (Phạm Sĩ Tân, 1997)
1.2.2.3 Chất kali (K 2 O)
Kali có vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng trong quá trình đồng hóa các chất dinh dưỡng của cây, làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động bất lợi từ bên ngoài (Đường Hồng Dật, 2002)
Thiếu kali, cây lúa biểu hiện lùn, thấp và số chồi gần như bình thường, lá vẫn xanh nhưng mềm rủ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh (nhất là bệnh Đốm
nâu), lá già rụi sớm (Nguyễn Đình Giao và ctv., 1997)
Thừa kali, rễ cây lúa bị teo tóp, mất cân đối natri và canxi trong đất và góp phần làm đất trung tính trở nên chua (Đường Hồng Dật, 2002)
Cây lúa hút kali nhiều ở thời kỳ đầu sinh trưởng Trong thời kỳ lúa làm đòng nếu gặp thời tiết xấu, cần phải bón kali bổ sung để lúa làm đòng thuận lợi
Hiệu lực kali trên đất phèn nặng hay trên đất phù sa được bồi hàng năm ở ĐBSCL được thể hiện rõ khi bón phối hợp với đạm, lân và đặc biệt là lúa trồng thâm canh (Mai Văn Quyền, 2001)
1.2.3 Các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của lúa
1.2.3.1 Giai đoạn tăng trưởng
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nẩy mầm đến khi cây lúa bắt đầu phân hóa đòng Giai đoạn này cây lúa phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và cho nhiều chồi mới (nở bụi) Trong điều kiện đầy đủ dinh dưỡng, ánh sáng và thời tiết thuận lợi, cây lúa có thể bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5 - 6 Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ yếu là do giai đoạn tăng trưởng này dài hay ngắn (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Trang 251.2.3.2 Giai đoạn sinh sản
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ khi phân hóa đòng đến khi lúa trổ bông Giai đoạn này kéo dài khoảng 27 - 35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn ngày thường không khác nhau nhiều Lúc này các chồi vô hiệu giảm nhanh, chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.2.3.3 Giai đoạn chín
Theo Nguyễn Ngọc Đệ (2008), giai đoạn chín bắt đầu từ lúc trổ bông đến lúc thu hoạch Giai đoạn này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới Giai đoạn này cây lúa trải qua các thời kì sau:
Thời kỳ chín sữa (ngậm sữa): Các chất dự trữ trong thân lá và sản phẩm quang hợp được chuyển vào trong hạt Hơn 80% chất khô tích lũy trong hạt là do quang hợp ở giai đoạn sau khi trổ
Thời kỳ chín sáp: Hạt mất nước, từ từ cô đặc lại, lúc bấy giờ vỏ trấu vẫn còn xanh
Thời kỳ chín vàng: Hạt tiếp tục mất nước, gạo cứng dần, trấu chuyển sang màu vàng đặc thù của hạt lúa
1.3 KỸ THUẬT CANH TÁC LÚA
1.3.1 Thời vụ sản xuất
Theo Nguyễn Thành Hối (2007), các thời vụ trồng lúa ở ĐBSCL như sau: Đông Xuân: Gieo từ tháng 11 - 12 và thu hoạch từ tháng 2 - 3 dương lịch
Hè Thu: Gieo từ tháng 3 - 4 và thu hoạch từ tháng 6 - 7 dương lịch
Thu Đông: Gieo từ tháng 7 - 8 và thu hoạch từ tháng 10 - 11 dương lịch Ngoài ra, tại một số vùng đất có thể sản xuất vụ lúa Xuân Hè (gieo từ tháng
2 và thu hoạch từ tháng 5 dương lịch), sau đó xuống giống Hè Thu muộn (gieo từ tháng 5 - 6 và thu hoạch từ tháng 8 - 9 dương lịch)
Trang 261.3.2 Chuẩn bị giống
Có thể ngâm hạt giống lúa trước khi gieo trong nước 2 sôi + 3 lạnh (khoảng 50ºC) trong khoảng 15 - 20 phút Có thể ngâm giống trong dung dịch acid nitric (HNO3) nồng độ 0,5% từ 24 - 36 giờ sau đó rửa sạch và đem ủ giống Trước khi gieo hạt giống có thể xử lý với thuốc phòng trừ sâu bệnh như Carban 50SC nồng
độ 3‰ trong 24 - 36 giờ hoặc trộn 2 g Actara 25WG cho 12 - 15 kg giống (Nguyễn Thành Hối, 2007)
1.3.3 Lượng giống
Theo Nguyễn Thành Hối (2007), lượng giống lúa cao sản ngắn ngày sạ lan được khuyến cáo là khoảng 150 kg/ha và đang khuyến khích sạ hàng bằng máy sạ hàng với lượng giống giảm đi, trung bình từ 100 - 120 kg/ha Theo Phan Nhựt Ái (2001), mật độ sạ thấp (sạ thưa) từ 80 - 100 kg/ha vẫn cho năng suất cao
1.3.4 Chuẩn bị đất và gieo sạ
Theo Cục Trồng trọt (2006), có 2 phương pháp làm đất:
- Đất được cày ải, phơi từ 10 - 15 ngày, bơm nước vào trục vùi và ngâm từ
3 - 5 ngày, sau đó tháo hết nước và trang phẳng mặt ruộng trước khi gieo sạ
- Đất được xới bằng công cụ khi còn nước, ngâm từ 10 - 15 ngày, trục vùi ngâm nước 3 - 5 ngày, sau đó tháo hết nước và làm bằng phẳng mặt ruộng trước khi gieo sạ
1.3.5 Cách bón phân
Tùy theo vùng đất, mùa vụ và giống lúa sản xuất mà liều lượng phân bón khuyến cáo có khác nhau Theo Nguyễn Thành Hối (2007), công thức phân bón khuyến cáo chung cho một ha lúa cao sản trung bình là 100 kg N - 60 kg P2O5 - 30
kg - K2O và được chia bón 4 lượt:
Bón lót: Toàn bộ P2O5 + 1/2 K2O, lúc 1 - 2 ngày trước khi sạ
Bón thúc lần 1: 1/5 N, lúc 10 - 14 ngày sau khi sạ
Bón thúc lần 2: 2/5 N, lúc 20 - 25 ngày sau khi sạ
Trang 27Bón nuôi đòng: 2/5 N + 1/2 K2O, 40 - 45 ngày sau khi sạ
1.3.6 Điều chỉnh nước ruộng
Theo Ngô Văn Phiếu (1998), sau khi sạ 3 - 5 ngày cho nước vào ruộng từ
từ và giữ mực nước cố định 5 - 10 cm để hạn chế cỏ dại, 3 - 4 ngày sau khi sạ cho nước vào từ từ theo chiều cao của cây lúa, không để mặt đất bị khô và giữ cố định
5 - 10 cm cho đến khoảng 10 ngày trước khi thu hoạch thì cho khô mặt ruộng
1.3.7 Dịch hại quan trọng trên lúa
1.3.7.1 Rầy nâu
Rầy nâu (Nivaparvata lugens Stal.) rất nhỏ, con trưởng thành (thành trùng)
chỉ to bằng hạt gạo, màu nâu chúng sống quanh gốc lúa ngay phần bẹ lá, phía trên mặt nước Rầy nâu có thể xuất hiện vào bất cứ giai đoạn sinh trưởng nào của cây lúa Tác hại trực tiếp của Rầy nâu là chích hút nhựa làm cho cây lúa suy yếu, phát triển kém, lá vàng úa, rụi dần và khô héo đi gọi là “cháy rầy” Tác hại gián tiếp của Rầy nâu là truyền các bệnh siêu vi khuẩn cho lúa như bệnh lúa cỏ, lùn xoắn lá, vàng lùn Cách phòng trị là sử dụng các giống lúa kháng Rầy nâu, làm vệ sinh đồng ruộng, bố trí thời vụ sớm và tập trung, thăm đồng thường xuyên, dùng bẫy đèn để theo dõi mật số của Rầy nâu trong vùng và diệt các con rầy có cánh từ các nơi khác mới tới, dùng thuốc hóa học khi mật độ rầy đến ngưỡng gây hại (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.3.7.2 Sâu cuốn lá
Có 2 loại Sâu cuốn lá (Cnaphalocrosis medinalis G) trên lúa: Sâu cuốn lá
lớn và Sâu cuốn lá nhỏ Sâu thường cuốn lá lại ở bên trong ăn phá phần nhu mô,
để lại những vệt trắng dài nằm dọc theo chân lá Khi còn nhỏ sâu chỉ ăn phần nhu
mô mà không cuốn lá lại Cây lúa bị tấn công sẽ cằn cỗi, diện tích lá để quang hợp giảm làm tỷ lệ lép cao, bông ít hạt Sâu thường phá hoại nặng ở những nơi rậm rạp thiếu ánh sáng Có thể dùng bẫy đèn để bắt bướm hoặc phun thuốc khi thấy xuất
Trang 28hiện nhiều trên ruộng lúa để phòng sâu phá hại Khi có khoảng 20% số bụi bị tấn công thì nên phun thuốc trừ ngay với các loại thuốc trừ sâu (Nguyễn Văn Huỳnh
và ctv., 2004)
1.3.7.3 Sâu đục thân
Có 4 loại Sâu đục thân (Chilo suppressalis) hại lúa: Sâu đục thân màu
vàng, màu trắng, màu hồng và màu sọc nâu Ở ĐBSCL loại quan trọng và phổ biến nhất là loại Sâu đục thân màu vàng và Sâu đục thân sọc nâu
Sâu đục thân thường tấn công cây lúa vào giai đoạn nở bụi tích cực gây hiện tượng chết đọt và vào giai đoạn lúa trổ gây hiện tượng bông bạc làm bông lúa
bị lép hoàn toàn, trong khi các lá bên dưới của chồi vẫn còn xanh Hiện chưa có giống lúa nào kháng mạnh với Sâu đục thân Nếu vụ trước bị sâu đục thân, nhộng của nó có thể ẩn trong gốc rạ, cần đốt rơm rạ và cày lật đất sau đó cho nước ngập
để giết chúng Khi phát hiện trong ruộng có triệu chứng thiệt hại do Sâu đục thân thì phải dùng các loại thuốc lưu dẫn để phòng trừ (Nguyễn Công Thuật, 1996)
1.3.7.4 Nhện gié
Tại ĐBSCL, Nhện gié (Steneostarsonemus spinki Smiley) được phát hiện
đầu tiên ở tỉnh An Giang và Đồng Tháp Ký chủ của Nhện gié là cây lúa, kể cả lúa hoang hay lúa cỏ Thành trùng thường sống ở phần trên của bẹ lá lúa, chích hút nhựa ở mặt trong của bẹ và tạo ra vết nâu chạy sọc bên ngoài bẹ giống như vết
“cạo gió” theo cách tưởng tượng của nông dân Khi lúa trổ đòng, nhện di chuyển vào tấn công gié và khi lúa trổ, nhện bò lên tấn công bông lúa non Cách phòng trị
là có thời gian cách ly 2 vụ lúa liên tiếp ít nhất 20 ngày để giảm khả năng sống sót của chúng Không nên canh tác 3 vụ lúa liên tiếp trong năm mà có thể thay một vụ lúa giữa bằng một vụ màu Đốt đồng sau khi thu hoạch cũng là cách làm giảm nguồn lây lan Phòng trừ sớm bằng các loại thuốc trừ sâu lưu dẫn ít độc, phun gần
bẹ lúa để hiệu quả được cao, bảo vệ thiên địch bắt mồi (Nguyễn Văn Huỳnh và
ctv., 2004)
Trang 291.3.7.5 Ốc Bưu vàng
Ốc Bưu vàng (Pomacea canaliculata) được du nhập vào Việt Nam để nuôi
làm thực phẩm và xuất khẩu năm 1988, rồi sau đó chúng thoát ra ngoài tự nhiên gặp điều kiện sống thích hợp nên đã phát triển thành loài động vật gây hại trầm trọng cho lúa ở hầu hết các tỉnh miền Nam Ốc có hình dạng gần giống ốc Bưu
(Pila polita) và ốc Lác (Pila conica) Ký chủ của ốc Bưu vàng là rất nhiều loài cỏ
tươi khác nhau sống trong nước cũng như trên cạn như: rau muống, lúa, bèo, rong, Năm 1999, diện tích lúa nhiễm ốc Bưu vàng lên tới 136.575 ha tính riêng tại các tỉnh miền Nam Biện pháp phòng trị là: đốt đồng, cày bừa bằng lưỡi xới bén, đánh rãnh thoát nước tập trung ốc, bắt bằng tay, thả cá, vịt ăn ốc, dùng các
loại thuốc hóa học có gốc Sulfat đồng, Metanaldehyde, (Nguyễn Văn Huỳnh và
ctv., 2004)
1.3.7.6 Bệnh Đạo ôn
Do nấm Pyricularia oryzae gây ra Bệnh có thể gây hại rất sớm từ nương
mạ nhưng thường bị nặng nhất là giai đoạn làm đòng đến sau trổ một thời gian Nấm có thể tấn công ở mọi bộ phận của cây lúa nhưng nhiều nhất là ở phiến lá Trên lá, vết bệnh lúc đầu nhỏ màu nâu, sau phát triển thành vết bệnh điển hình có dạng hình mắt én, hai đầu hẹp, giữa phình ra có màu xám tro Bệnh xuất hiện và phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao, sương mù nhiều, ruộng thiếu nước và bón nhiều phân đạm, sạ cấy quá dày Để ngừa bệnh này cần dùng giống kháng hoặc ít nhiễm, diệt sạch cỏ dại, rơm rạ , xử lý hạt giống bằng cách ngâm trong nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) 15 phút, gieo sạ với mật độ vừa phải, bón phân cân đối
N, P và K, có thể phòng trị bệnh bằng các loại thuốc với hoạt chất trừ nấm như:
Hexaconazole, Tricyclazole (Nguyễn Ngọc Đệ và ctv., 2001)
1.3.7.7 Bệnh Đốm vằn
Còn gọi là Khô vằn hay ung thư, do nấm Rhizoctonia Solani Kuhn gây ra
Nấm bệnh lây lan bằng hạch nấm và bằng bào tử, những hạch nấm tròn nhỏ nằng hạt cát trôi trên mặt nước bám vào bẹ lá và từ đó tấn công cây lúa Bằng cách nầy,
Trang 30bệnh xuất hiện đầu tiên ở bẹ lá, rồi từ đó lan dần lên phiến lá Trên bẹ lá, vết bệnh lúc đầu tròn hay bầu dục, màu xám có viền nâu, sau lan ra không đều thành những vết loang lỗ vằn vện như da cọp, bẹ lá khô tóp lại làm lá bị chết khô, bông lúa trổ
bị nghẹn hoặc trổ cũng bị lép nhiều Bệnh thường xuất hiện thành từng chòm và phát triển mạnh trong điều kiện độ ẩm cao, ruộng ngập sâu, bón nhiều phân đạm,
sạ cấy quá dầy và giống dễ nhiễm Để ngừa bệnh, nên sạ cấy vừa phải, bón ít đạm, tăng cường bón phân lân và kali Khi bệnh chớm phát có thể dùng các loại thuốc trừ nấm để trị như đối với bệnh cháy lá (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
1.3.7.8 Bệnh Lem lép hạt
Lem lép hạt lúa là tên gọi để chỉ chung hiện tượng hạt lúa có vỏ trấu sậm màu biến đổi từ màu nâu đến đen; từ đen lốm đốm đến đen toàn bộ vỏ trấu bao gồm cả trên hạt lúa có gạo và hạt lúa lép không có gạo ở giai đoạn cây lúa còn trên đồng ruộng trước khi thu hoạch Bệnh có thể do nhiều nguyên nhân như:
- Do Nhện gié thường sống trong các bẹ lá lúa Khi có mật độ cao chúng bò lên trên bông lúa chích hút các gié lúa đang phát triển hoặc Bọ xít hôi thường gây hại nặng khi lúa mới trổ và ngậm sữa
- Do vi khuẩn Pseudomonas glumae (hay Bukhoderia glumae), vi khuẩn
này làm thối đen hạt hoặc gây vết bệnh trên vỏ hạt
- Do các loại nấm: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium sp,
Curvularia lunata, Microdochium oryzae, Phoma sp, Pyricularia oryzae, Sarocladium oryzae, Septoria sp, Tilletia barclayana, Ustilagonoides virens,…
Thời kỳ cây lúa dễ mẫn cảm với bệnh là từ trổ bông đến chín sữa và rơi vào những tháng có nhiệt độ thấp, ẩm độ không khí cao, lượng mưa lớn và số ngày mưa nhiều Trên thực tế phần lớn các giống lúa, thời vụ và các chân ruộng điều có biểu hiện bệnh tùy theo mức độ nặng nhẹ Biện pháp phòng trừ là không dùng giống ở những ruộng đã có biểu hiện bệnh gây hại nặng, loại bỏ lép lững khi sử dụng làm giống, có thể ủ hạt giống với thuốc trừ nấm có hoạt chất: Benomyl, Carbendazim,… Tránh canh tác vào các vụ mưa gió nhiều vào thời điểm lúa làm đòng, trổ bông, luân canh cây trồng hoặc có thời gian cày ải, tiêu hủy cỏ rạ, bón
Trang 31phân cân đối lượng NPK Có thể áp dụng các loại thuốc hóa học như: Tilt Super 300EC, Anvil 5SC,… hoặc các loại thuốc trừ sâu có nguồn gốc sinh học để phòng trừ Nhện gié và Bọ xít,…(Nguyễn Công Thuật, 1996)
1.3.7.9 Cỏ dại
Trong canh tác, cỏ dại cạnh tranh ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng với lúa đồng thời là ký chủ cho nhiều loài sâu bệnh hại lúa Ở ruộng lúa, mật độ cỏ Lồng vực (1 - 5 cây/m2) có thể làm giảm năng suất lúa đến 36% Phòng trừ cỏ dại cần kết hợp nhiều biện pháp như nhổ cỏ bằng tay, cày vùi, dùng vi sinh hoặc côn trùng có ích, dùng thuốc hóa học, Lưu ý khi dùng các loại thuốc hóa học trừ cỏ
nên dùng các loại thuốc có chọn lọc nhằm bảo vệ cây trồng (Lê Lương Tề và ctv.,
2005)
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 PHƯƠNG TIỆN
Thời gian điều tra: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 8 năm 2011
Địa điểm điều tra: Tại xã Phú Nhuận, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Điều tra phỏng vấn nông dân được thực hiện theo phiếu điều tra lập sẵn (Phụ chương 1)
2.2 PHƯƠNG PHÁP
2.2.1 Phương pháp điều tra
Chọn ngẫu nhiên và phỏng vấn trực tiếp 45 hộ nông dân đang canh tác lúa
ba vụ dựa trên phiếu điều tra đã lập
Thu thập thông tin thứ cấp từ nguồn dữ liệu của Phòng Nông nghiệp huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, các tài liệu tại Thư viện khoa Nông nghiệp và Sinh học Ứng dụng, sách báo và Internet
2.2.2 Nội dung điều tra
Điều tra về thông tin nông hộ
Điều tra về kỹ thuật canh tác gồm: Cách sửa soạn đất trồng, chuẩn bị giống, phương pháp gieo sạ, điều khiển nước trong ruộng, phân bón, cách phòng trừ cỏ dại và sâu bệnh hại
Điều tra về chi phí sản xuất và hạch toán kinh tế của nông dân
Hiệu quả kinh tế được tính dựa trên chi phí canh tác của nông hộ và doanh thu tính theo năng suất lúa và giá bán lúa theo từng hộ
2.2.3 Xử lý số liệu
Phần mềm Excel dùng để quản lý số liệu và vẽ biểu đồ
Trang 33Phần mềm SPSS v.20 dùng để xử lý thống kê mô tả, phân tích tần suất và phân tích phương sai
Trang 34CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 THÔNG TIN NÔNG HỘ
3.1.1 Tuổi nông dân
Qua điều tra tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang cho thấy phần lớn nông dân
ở đây có độ tuổi khá cao, tập trung trong khoảng 40 - 59 tuổi (62,2%) (Hình 3.1),
độ tuổi trung bình khoảng 50 tuổi nhỏ nhất là 31 tuổi Với độ tuổi này có thể thấy rằng nông dân trong khu vực điều tra có nhiều kinh nghiệm trong canh tác lúa
Nông dân cho biết nguyên nhân các chủ nông hộ canh tác có tuổi cao là do phần lớn thanh niên trong hộ thường đi học hoặc đi làm việc ở xa
Hình 3.1 Tỷ lệ độ tuổi của nông dân canh tác lúa tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang (2010)
Trang 353.1.2 Trình độ học vấn
Kết quả điều tra cho thấy, nông dân canh tác lúa tại vùng điều tra có trình
độ học vấn tương đối khá (Hình 3.2), tập trung khoảng 73,4% có trình độ học vấn
từ lớp 6 - 12, đây là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật mới
Hình 3.2 Tỷ lệ trình độ học vấn của nông dân canh tác lúa tại huyện Cai Lậy,
Trang 36Hình 3.3 Tỷ lệ diện tích canh tác lúa của nông hộ huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền
Giang (2010)
3.2 KỸ THUẬT CANH TÁC
3.2.1 Lịch thời vụ canh tác lúa
Trong năm 2010, nông dân ở địa bàn điều tra có thời gian gieo sạ là: Vụ Đông Xuân có 97,8% hộ gieo sạ trong khoảng từ ngày 10/11 - 25/11 dương lịch;
Vụ Hè Thu có khoảng 91,1% hộ gieo sạ trong khoảng từ 10/2 - 1/3 dương lịch; Và
vụ Thu Đông có khoảng 91,1% hộ nông dân gieo sạ trong khoảng 15/5 - 10/6 dương lịch Qua số liệu cho thấy, thời gian gieo sạ của nông dân khá đồng nhất, điều này rất phù hợp với nhận định của Nguyễn Thành Hối (2007), vì tỉnh Tiền Giang mang đặc điểm chung về thủy văn ở ĐBSCL là có mùa nước nổi nên thường vào vụ ngay sau khi nước rút Nguyên nhân khác là do được sự hỗ trợ của cán bộ khuyến nông của huyện, khuyến khích gieo sạ đồng loạt trong các vụ, đã đưa ra kế hoạch cụ thể về thời gian xuống giống để có thể kiểm soát dịch hại, riêng
vụ Đông Xuân thì sau mùa nước nổi nông dân phải hợp đồng bơm nước lên ruộng trên diện tích lớn do không có đê bao riêng
Trang 37Việc bắt đầu vụ mùa đồng loạt trên diện tích lớn có sự giám sát của cán bộ khuyến nông có ưu điểm là có thể phòng tránh một số dịch hại như “né rầy” di cư,… Nhưng có nhược điểm là vào thời gian thu hoạch và sửa soạn đất thường bị thiếu công lao động và cơ giới
3.2.2 Giống lúa
Qua số liệu điều tra cho thấy, hầu hết giống lúa được sử dụng để gieo sạ là lúa thương phẩm được người dân tuyển chọn làm giống Về cơ cấu giống lúa, nông dân trong huyện tập trung sử dụng giống có thời gian sinh trưởng ngắn, cụ thể là
số lượng nông dân sử dụng giống IR50404 rất nhiều, đến 84% (Hình 3.4), các loại giống lúa có chất lượng cao như OM4218, OM4900,… thì ít được quan tâm sử dụng Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên được nông dân cho biết là giống IR50404 rất ngắn ngày có thể canh tác ba vụ mà không sợ thu hoạch trễ khi tới mùa nước nổi, đây cũng là loại giống có năng suất cao đồng đều ở các vụ và dễ
canh tác Theo Nguyễn Văn Hòa và ctv (2006), IR50404 là giống lúa thuộc nhóm
hơi nhiễm về bệnh Đạo ôn và Rầy nâu, sau nhiều năm sản xuất trên diện rộng thì tính kháng của giống đối với sâu bệnh bị suy giảm, nhất là khi canh tác ba vụ và với mức độ thâm canh cao Ngoài ra, việc sử dụng thường xuyên trên diện rộng có thể làm cho nhiều loại sâu bệnh có điều kiện bộc phát nhanh, nhất là sự lây truyền bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá trên diện rộng
Hình 3.4 Tỷ lệ nông hộ sử dụng các giống lúa để gieo sạ tại huyện Cai Lậy,
tỉnh Tiền Giang
Trang 383.2.3 Lượng giống sạ
Trong 3 vụ lúa, lượng giống sạ của người dân tương đối có khác nhau nhưng không khác biệt ý nghĩa thống kê (Bảng 3.1)
Bảng 3.1 So sánh liều lượng lúa giống gieo sạ trong 3 vụ lúa tại huyện Cai
Lậy, tỉnh Tiền Giang (2010)
Ghi chú: Trong cùng một cột các số trung bình theo sau cùng một mẫu tự không khác biệt ý nghĩa thống kê (5%)
Theo Nguyễn Thành Hối (2007), lượng giống lúa cao sản ngắn ngày sạ lan được khuyến cáo là khoảng 150 kg/ha; Nông dân được khuyến khích gieo sạ hàng bằng máy sạ hàng với lượng giống trung bình từ 100 - 120 kg/ha Qua điều tra, có 55,6% nông dân sử dụng phương pháp sạ lan, 44,4% sử dụng phương pháp sạ hàng Nông dân tại địa phương sử dụng từ 141 - 160 kg/ha cho sạ hàng và 181 -
200 kg/ha cho sạ lan Qua đó ta thấy, lượng giống sử dụng và cách gieo sạ của người dân tại địa phương là có thể chấp nhận được
Trang 39bơm nước vào để cày bừa và gieo sạ ngay sau đó Có 62% hộ nông dân gieo sạ vào thời điểm đúng 10 ngày sau khi thu hoạch vụ trước
So với khuyến cáo của Cục Trồng trọt (2006), thời gian chuẩn bị đất của nông dân còn quá ngắn điều này có thể gây nên các tác hại như ngộ độc hữu cơ do rơm rạ chưa phân hủy, sự lưu truyền mầm cỏ dại, sâu bệnh cho vụ sau
3.2.5 Chuẩn bị giống
Kết quả điều tra cho thấy, nông dân tại khá quan tâm đến công tác chuẩn bị giống trước sạ Qui trình chuẩn bị giống bao gồm ngâm hạt giống vào nước, vớt lên để ráo và ủ, trộn thuốc hóa học và gieo sạ Có 80% nông hộ dùng acid nitric (HNO3) để ngâm giống với thời gian ngâm khoảng 24 giờ; 20% hộ chỉ ngâm bằng nước và thời gian ngâm 48 giờ Trong quá trình ủ giống, trước sạ khoảng 12 giờ, nông dân tiến hành trộn thuốc hóa học với cách nông dân áp dụng có khác nhau (Hình 3.5), các loại hóa chất dùng để ủ trộn như: Cruiser Plus 312,5FS và Regent 800WG dùng để phòng trừ như Rầy nâu, Bọ trĩ hoặc Comcat 150WP để phòng trừ ngộ độc hữu cơ,… Phần lớn nông hộ tập trung dùng thuốc Cruiser Plus 312,5FS (42%)
Hình 3.5 Tỷ lệ nông hộ sử dụng các loại thuốc ủ giống lúa tại huyện Cai Lậy,
Trang 403.2.6 Sử dụng phân bón
3.2.6.1 Loại phân sử dụng
Bón lót:
Trong canh tác lúa ba vụ tại huyện Cai Lậy, có khoảng 48,2% trong tổng số
hộ có tiến hành bón lót vào đầu vụ, trong đó tỷ lệ nông dân có bón phân lót trong 2
vụ Hè Thu và Thu Đông (mỗi vụ có 51,1%) cao hơn so với vụ Đông Xuân (42,3%) Phần lớn các hộ bón phân lót đầu vụ sử dụng phân Urê với mục đích muốn cung cấp đạm cho cây lúa phát triển tốt ngay sau khi gieo sạ trên nền đất mới vừa thu hoạch Theo Vũ Hữu Yêm (1995), bón đạm vào đất lúa ngập nước rất
dễ bị rữa trôi nên phải bón theo sát nhu cầu của cây Qua đó, có thể nhận thấy rằng cách bón lót của người dân chưa phù hợp với các khuyến cáo vì cây lúa non chưa thể sử dụng có hiệu quả phân đạm và đạm sẽ mất đi nhiều làm giảm hiệu quả kinh