Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp đính kèm với tên đề tài: “KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA DIAZAN VÀ NƯỚC NÓNG ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi Christ
Trang 1…oOo…
Lâm Minh Đăng
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA DIAZAN VÀ NƯỚC NÓNG
ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY BỆNH CHAI BÔNG TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.) TẠI XÃ NHỊ MỸ - HUYỆN
CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ, 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 2…oOo…
Lâm Minh Đăng
KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA DIAZAN VÀ NƯỚC NÓNG
ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY BỆNH CHAI BÔNG TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.) TẠI XÃ NHỊ MỸ - HUYỆN
CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP KỸ SƯ NÔNG HỌC
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
Cần Thơ, 2008
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
…….oOo……
Hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp đính kèm với tên đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA DIAZAN VÀ NƯỚC NÓNG
ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY BỆNH CHAI BÔNG TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.) TẠI XÃ NHỊ MỸ - HUYỆN
CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG”
Do sinh viên Lâm Minh Đăng thực hiện và bảo vệ trước hội đồng ngày……… Luận văn đã được hội đồng đánh giá ở mức ………điểm
………
………
Cần Thơ, ngày… tháng……năm 2008 DUYỆT KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
CHỦ NHIỆM KHOA
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN BẢO VỆ THỰC VẬT
…….oOo……
Chứng nhận đã chấp thuận Luận văn tốt nghiệp với tên đề tài:
“KHẢO SÁT HIỆU QUẢ CỦA DIAZAN VÀ NƯỚC NÓNG
ĐỐI VỚI TUYẾN TRÙNG Aphelenchoides besseyi Christie
GÂY BỆNH CHAI BÔNG TRÊN CÂY HUỆ TRẮNG
(Polianthes tuberosa Linn.) TẠI XÃ NHỊ MỸ - HUYỆN
CAI LẬY - TỈNH TIỀN GIANG”
Do sinh viên Lâm Minh Đăng thực hiện và đề nạp
Kính trình hội đồng chấm Luận văn tốt nghiệp
Trang 5LỜI CẢM TẠ
Để được thành quả như ngày hôm nay, con xin thành kính biết ơn công lao sinh thành và nuôi dưỡng trời biển của cha mẹ Sự động viên và chỉ dạy của các
anh, chị trong gia đình
Em xin kính gửi đến cô Nguyễn Thị Thu Cúc, giáo viên hướng dẫn lòng biết
ơn sâu sắc Cô đã hết lòng chỉ bảo, dìu dắt và động viên trong quá trình thực hiện
luận văn tốt nghiệp
Xin gửi đến tất cả thầy cô thuộc Khoa Nông Nghiệp & SHƯD - Đại học Cần
Thơ, đã truyền đạt cho em kiến thức trong quá trình học tập lòng biết ơn
Chân thành cảm ơn gia đình bác Nguyễn Văn Khoái và Nguyễn Thị Xem, xã Nhị Mỹ, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang đã rất nhiệt tình cộng tác thực hiện thí
nghiệm
Thành thật cảm ơn: anh Nguyễn Thanh Sơn đã theo dõi, đóng góp ý kiến và
giúp đỡ trong quá trình thực hiện thí nghiệm
Xin cảm ơn: anh Nguyễn Trọng Nhâm, anh Đặng Tiến Dũng, chị Võ Thị
Thu Cảm ơn tất cả các bạn phòng thí nghiệm 108 và các anh chị, quý thầy cô Bộ
môn Bảo Vệ Thực Vật - Khoa Nông Nghiệp & SHƯD (Đại Học Cần Thơ) cùng các
bạn lớp Nông Học K30 đã động viên và giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn
tốt nghiệp
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 6QUÁ TRÌNH HỌC TẬP
1 LÝ LỊCH SƠ LƯỢC
Họ và tên: LÂM MINH ĐĂNG Giới tính: Nam
Nơi sinh: Thạnh Xuân - Châu Thành - Hậu Giang Quê quán: Thạnh Xuân - Châu Thành A - Hậu Giang Con ông: LÂM VĂN NGHIÊM và bà PHẠM THỊ ÁNH
Trang 7LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong Luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 8MỤC LỤC
Tóm lược x
Danh sách hình xi
Danh sách bảng xii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2
1.1 TỔNG QUAN VỀ TUYẾN TRÙNG 2
1.1.1 Sơ lược về tuyến trùng 2
1.1.2 Phân loại tuyến trùng 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái và giải phẫu tuyến trùng 4
1.1.4 Sinh sản và phát triển của tuyến trùng 6
1.1.5 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng 8
1.1.6 Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng 9
1.1.7 Tuyến trùng ký sinh thực vật 11
1.1.8 Mối quan hệ giữa tuyến trùng thực vật với điều kiện ngoại cảnh 12
1.1.9 Tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Chirstie 14
1.1.10 Một số đặc điểm của tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Chirstie trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) 18
1.1.11 Các biện pháp phòng trừ tuyến trùng 20
1.2 CÂY HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberosa Linn.) 23
1.2.1 Phân loại 23
1.2.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây huệ 23
1.2.3 Giống huệ 23
1.2.4 Kỹ thuật trồng huệ 24
1.2.5 Thành phần dịch hại trên cây huệ trắng 25
1.2.6 Một số đặc điểm về bệnh chai bông trên cây huệ trắng 27
1.3 ĐẶC TÍNH CỦA MỘT SỐ THUỐC BẢO VỆ THỰC VẬT 29
1.3.1 DIAZAN (Diazinon) 29
1.3.2 NOKAPH (Mocap) 29
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 9CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 30
2.1 PHƯƠNG TIỆN 30
2.1.1 Thời gian và địa điểm thực hiện 30
2.1.2 Phương tiện 30
2.2 PHƯƠNG PHÁP 30
2.2.1 Thí nghiệm 1: Tác động của nhiệt độ và thời gian xử lý đến sức sống của củ huệ 31
2.2.2 Thí nghiệm 2: Hiệu lực của việc xử lý củ huệ nhiễm tuyến trùng A besseyi bằng biện pháp nước nóng 32
2.2.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát hiệu quả của Diazan và nước nóng đối với tuyến trùng A besseyi gây bệnh chai bông trên cây huệ trắng tại xã Nhị Mỹ - huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền Giang 34
2.2.4 Phương pháp lấy chỉ tiêu ở phòng thí nghiệm, nhà lưới và ngoài đồng 40
2.2.5 Phương pháp đếm mật số tuyến trùng 42
2.2.6 Xử lý số liệu 43
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 44
3.1 Thí nghiệm 1: Tác động của nhiệt độ và thời gian xử lý đến sức sống của củ huệ 44
3.2 Thí nghiệm 2: Hiệu lực của việc xử lý củ huệ nhiễm tuyến trùng A besseyi bằng biện pháp nước nóng để phòng trừ tuyến trùng hiện diện trên củ 46
3.3 Thí nghiệm 3: Khảo sát hiệu quả của Diazan và nước nóng đối với tuyến trùng A besseyi gây bệnh chai bông trên cây huệ trắng tại xã Nhị Mỹ huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền Giang 48
3.3.1 Ghi nhận chung về ruộng thí nghiệm 48
3.3.2 Tác động của việc xử lý củ đến sống sót của tuyến trùng A besseyi hiện diện trên củ 49
3.3.3 Tác động của xử lý củ bằng nước nóng, Diazan, Nokaph đến sức sống của củ huệ 50
3.3.4 Tỷ lệ (%) cây nhiễm bệnh chai bông 52
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 103.3.5 Mức độ nhiễm bệnh chai bông 54
3.3.6 Tác động của các biện pháp xử lý củ đến chiều cao cây huệ 55
3.3.7 Mật số tuyến trùng A besseyi hiện diện trên từng cấp bệnh chai bông 56
3.3.8 Đánh giá năng suất và hiệu quả kinh tế 58
CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60
4.1 KẾT LUẬN 60
4.3 ĐỀ NGHỊ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO 61
PHỤ CHƯƠNG 65
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 11Lâm Minh Đăng, 2008 “Khảo sát hiệu quả của Diazan và nước nóng đối với
tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Christie gây bệnh chai bông trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) tại xã Nhị Mỹ - huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền
Giang” Luận văn tốt nghiệp kỹ sư Nông Học, Đại học Cần Thơ Giáo viên hướng
dẫn: PGs Ts Nguyễn Thị Thu Cúc
TÓM LƯỢC
Nhằm nghiên cứu và đánh giá hiệu quả của Diazan (Diazinon) và nước nóng, góp phần cho việc xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp bệnh chai bông trên cây huệ trắng, đề tài: “Khảo sát hiệu quả của Diazan và nước nóng đối với tuyến trùng
Aphelenchoides besseyi Christie gây bệnh chai bông trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) tại xã Nhị Mỹ - huyện Cai Lậy - tỉnh Tiền Giang” đã được thực
hiện từ 10/2007 đến 04/2008 Nội dung nghiên cứu: khảo sát hiệu quả của nước nóng đến sự sống sót của tuyến trùng hiện diện trên củ, ảnh hưởng của nhiệt độ nước và thời gian xử lý đến sức sống của củ huệ, hiệu quả của Diazan và nước nóng đối với bệnh chai bông ở điều kiện ngoài đồng
Kết quả thí nghiệm cho thấy: Củ được xử lý bằng nước nóng 600C đều bị tác động đến sức sống, nếu xử lý nước nóng 600C trong 45 phút củ sẽ chết hoàn toàn Nước nóng ở các mức nhiệt độ khảo sát 50, 55, 56, 57 và 580C ( trong 15, 30, 45 phút) đều làm giảm mật số tuyến trùng trên củ Kết quả khảo sát tại huyện Cai Lậy tỉnh Tiền Giang, ghi nhận các loại thuốc Bảo vệ thực vật (Diazan 60EC, Nokaph 20EC) và nước nóng dùng để xử lý củ đều làm giảm mật số tuyến trùng trên củ trước khi trồng Hiệu quả nhất là biện pháp xử lý nước nóng 570C trong 30 phút, biện pháp này hoàn toàn không ảnh hưởng đến sức sống của củ và sự sinh trưởng của cây Biện pháp vạt củ hoặc không vạt củ chỉ khác biệt về chỉ tiêu sống sót, không ảnh hưởng đến tỷ lệ cây nhiễm bệnh cũng như chiều cao cây Lợi nhuận từ biện pháp xử lý củ cho thấy nước nóng cho hiệu quả cao nhất, kế tiếp là Diazan và Nokaph Nếu không xử lý củ bị nhiễm bệnh trước khi trồng mùa vụ sẽ thất thu hoàn toàn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 12DANH SÁCH HÌNH
2.1 Củ được xử lý và trồng tại nhà lưới Bm BVTV (ĐHCT, 2008) 32
2.2 Chuẩn bị mẫu phân tích tuyến trùng trên củ huệ (ĐHCT, 2008) 32
2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm ở Cai Lậy - Tiền Giang, 2008 39
2.5 Chuẩn bị củ giống và đất cho thí nghiệm tại Cai Lậy - Tiền Giang 43
3.1 Củ huệ sau xử lý nước nóng (a, b, c) và được trồng tại nhà lưới (d) 45
3.2 Thí nghiệm tại xã Nhị Mỹ - Cai Lậy - Tiền Giang (a), triệu chứng
3.3 Tỷ lệ bông nhiễm (%) theo từng cấp bệnh ở các nghiệm thức khảo
3.4 Các cấp bệnh của triệu chứng “chai bông” trên cây huệ trắng 56
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 13DANH SÁCH BẢNG
2.1 Các nghiệm thức trong điều kiện nhà lưới ĐHCT, 2008 31
2.2 Các nghiệm thức trong phòng thí nghiệm ĐHCT, 2008 33
2.3 Các nghiệm thức thí nghiệm Cai Lậy - Tiền Giang, 2008 36
2.4 Lịch bón phân thí nghiệm Cai Lậy - Tiền Giang, 2008 38
3.1 Ảnh hưởng của nhiệt độ và thời gian xử lý đến sức sống của củ
huệ trong điều kiện nhà lưới (ĐHCT, 2008) 46
3.2 Mật số tuyến trùng A besseyi hiện diện trên củ huệ sau khi xử lý
3.4 Tỷ lệ (%) cây huệ sống (Cai Lậy - Tiền Giang, 2008) 51
3.5 Ảnh hưởng của các biện pháp xử lý củ và vạt củ huệ đến tỷ lệ (%)
cây sống ở tuần 24 (Cai Lậy - Tiền Giang, 2008) 52
3.6 Tỷ lệ (%) cây huệ nhiễm bệnh chai bông (Cai Lậy - Tiền Giang,
3.7 Tác động của các biện pháp xử lý củ và vạt củ đến chiều cao cây
huệ trắng (Cai Lậy - Tiền Giang, 2008)
55
3.8 Mật số tuyến trùng A besseyi trên bông nhiễm bệnh “chai bông” 57
3.9 Hiệu quả kinh tế của các biện pháp xử lý củ huệ và không xử lý
trước khi trồng
58
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 14Cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) là cây hoa kiểng rất được ưa
chuộng trong trang trí, thờ cúng nhất là vào những dịp lễ tết Do hoa huệ có mùi thơm thanh tao kết hợp màu trắng tinh khiết của bông vừa hiện đại vừa trang nghiêm thể hiện được sự tôn kính đối với trời đất, tổ tiên, ông bà,
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005), tại đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) cây huệ được trồng ở huyện Cai Lậy (Tiền Giang), huyện Lai Vung (Đồng Tháp), thị xã Vị Thanh (Hậu Giang), quận Bình Thuỷ (TP Cần Thơ), nông trường sông Hậu (quận Ô Môn - TP Cần Thơ) Theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Marc Pilon (2007) những năm gần đây, cây huệ ở ĐBSCL
bị nhiễm tuyến trùng (Aphelenchoides besseyi C.), thuộc nhóm ngoại ký sinh, gây
bệnh “chai bông” nên cho hoa xấu hoặc hoa bị biến dạng, gây thất thu có thể lên đến 100% năng suất
Trong những năm vừa qua đã có một số nghiên cứu bước đầu về biện pháp phòng trừ bệnh chai bông như xử lý củ bằng các biện pháp ngâm, rãi cùng với thuốc Basudin, Nokaph, Regent,…(Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân, 2005), hoặc xử
lý củ với nước nóng (Trần Anh Trọng, 2006), hoặc xử lý củ với Basudin, Actara (Nguyễn Thanh Sơn và Trần Quốc Việt, 2006) Hầu hết các thí nghiệm trên đều được thực hiện trong phòng thí nghiệm và nhà lưới Để có một kết luận và có cơ sở chính
xác trong việc ứng dụng, chúng tôi tiếp tục nghiên cứu đề tài “Khảo sát hiệu quả
của Diazan và nước nóng đối với tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Christie gây ra trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn) tại xã Nhị Mỹ - huyện Cai
Lậy - tỉnh Tiền Giang”
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
Tuyến trùng được xếp vào ngành Nemata, gồm 2 lớp: Secernentea và Adenophorea có 11 bộ, nhiều họ giống và loài Hiện nay có trên 15.000 loài đã được khảo sát, trong đó có khoảng 2.000 loài sống trong đất Hầu hết tuyến trùng gây bệnh thuộc bộ Tylenchida Với 5 họ chủ yếu là Heteroderidae, Tylenchidae, Aphelenchidae, Tylenchalidae và Neotylenchidae (Ou, 1985; Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Theo Nguyễn Ngọc Châu (2003), trên thế giới số lượng loài tuyến trùng được phát hiện không ngừng tăng lên theo thời gian: từ 4.500 loài (1930), 9.000 loài (1950) đến nay đã phát hiện khoảng 25.000 loài, trong đó có khoảng 5.000 loài ký sinh ở thực vật Ở Việt Nam, đến nay đã phát hiện khoảng 250 loài gây hại trên thực vật
Altman (1965) nhận định tuyến trùng là những động vật không xương sống, mắt thường khó thấy hình dạng của chúng Hình dạng của chúng giống lãi kim nhưng nhỏ hơn, đầu hơi phình to và có kim, cũng có giống có cơ thể phình to (hình quả lê)…Tuyến trùng sống trong đất, nước, có một số ký sinh trên thân, lá, rễ, hoa và một
số hoại sinh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 161.1.2 Phân loại tuyến trùng
Theo Agrios (2003), hầu hết tuyến trùng sống tự do trong nước và trong đất Nhiều loài tấn công và ký sinh trên người và động vật gây ra nhiều bệnh khác nhau Nhiều loài ký sinh trên thực vật gây ra nhiều bệnh quan trọng trên cây trồng, làm giảm năng suất trầm trọng
Tuyến trùng ký sinh thực vật được phân loại trên cơ sở bộ phận bị hại (Nguyễn Trần Oánh, 1997):
- Tuyến trùng cố định trên rễ như:
+ Tuyến trùng tạo nang: Heterodera spp
+ Tuyến trùng nốt sưng: Meloidogyne spp
- Tuyến trùng di chuyển trong rễ như:
+ Tuyến trùng tổn thương rễ: Pratylenchus spp., Radopholus spp + Tuyến trùng xoắn ốc: Helicotylenchus spp., Trichodorus spp
+ Tuyến trùng chữ thập: Xiphinema spp
- Tuyến trùng thân: Ditylenchus spp., Rhadinaphelenchus spp
- Tuyến trùng búp và lá: Aphelenchoides spp., Anguina spp
Dựa vào mối quan hệ của nhóm tuyến trùng này đối với cây trồng, Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), chia thành 5 nhóm sinh thái:
1 Nhóm tuyến trùng vùng rễ cây sống tự do trong đất, có khả năng chọc thấu vào rễ cây và hút nhựa
2 Nhóm tuyến trùng hoại sinh thực sự sống trong các môi trường vật chất hữu cơ đang thối rữa
3 Nhóm tuyến trùng hoại sinh không điển hình vừa sống trong các mô tế bào thực vật đang thối rữa cũng như trong các mô chưa có triệu chứng thối rữa
4 Nhóm tuyến trùng ký sinh thực vật không chuyên hoá, thường gặp trong các mô tế bào đã bị các ký sinh khác gây bệnh Nhóm tuyến trùng này chủ yếu ăn sợi nấm
5 Nhóm tuyến trùng ký sinh thực vật chuyên tính gây ra những triệu chứng điển hình và chỉ sống trên tế bào sống của cây
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 17Cũng theo Paramonop (1962) (trích dẫn của Đường Hồng Dật, 1979), dựa vào chu kỳ sinh sống của tuyến trùng thực vật chia thành 3 nhóm sinh thái:
Nhóm 1: nhóm tuyến trùng này có giai đoạn còn non sống trong đất Con cái bám phía đầu vào rễ cây, còn thân thì vẫn trong đất và đẻ trứng vào đất Con đực
sống hoàn toàn trong đất Ví dụ: tuyến trùng Ditylenchus semipenetrans, Pratylenchus pratensis
Nhóm 2: ở nhóm này, tuyến trùng trưởng thành thành thục và sinh sản trong hạt giống Khi gieo vào đất dưới tác động của độ ẩm, tuyến trùng non ra khỏi hạt tìm đến nách lá cây và gây hại Khi hạt phát triển, tuyến trùng chui vào phôi hạt và
chuẩn bị cho chu kỳ phát triển mới Ví dụ: tuyến trùng Anguina tritici, Heterodera schachtii
Nhóm 3: con cái sống trong rễ cây và đẻ trứng trong đó, trứng có thể phát triển ở trong đất hoặc trong rễ cây Nhóm tuyến trùng này chỉ sống trong mô cây bị hại
1.1.3 Đặc điểm hình thái và giải phẫu tuyến trùng
Theo Đường Hồng Dật (1979), tuyến trùng thực vật có kích thước từ 5mm và đa số dưới 2mm.Thân cắt ngang bao giờ cũng hình tròn có dạng sợi chỉ hay cái thoi Tuyến trùng phát triển qua 3 giai đoạn: trứng, tuyến trùng non và trưởng thành Trứng phụ thuộc rất lớn vào điều kiện dinh dưỡng, trứng có hình bầu dục hay quả thận, cũng có loại trứng hình tròn Altman (1965) cho rằng, phần lớn tuyến trùng trong giai đoạn phát dục có hình thoi dài, ít nhất một phần cơ thể hay cơ thể
0,5-có dạng hình trụ, đôi khi 0,5-có hình thoi, phần lớn tuyến trùng 0,5-có dạng này suốt đời Một số tuyến trùng ký sinh thực vật, con cái có hình quả lê, trái chanh, quả thận hay hình túi bất thường Phần đầu cơ thể tròn hay nhọn, phần cuối đuôi biến đổi từ bầu tròn đến nhọn dài như sợi chỉ
Về cơ thể thì Thorne (1961) (trích dẫn của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân, 2005) cho rằng cơ thể tuyến trùng chia ra làm bốn phần: lưng, hông phải, hông trái và bụng Phần lớn các loài tuyến trùng đều uốn cong, ta có thể xác định
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 18phần bụng bằng lỗ sinh dục (giai đoạn trưởng thành) và hậu môn (giai đoạn ấu trùng)
Về cấu tạo cơ thể tuyến trùng được Đường Hồng Dật, (1979) mô tả như sau:
- Vách thân tuyến trùng gồm 3 lớp: lớp cutin, lớp vỏ với các tuyến da và các bắp thịt Lớp cutin là nơi để gắn các bắp thịt đảm bảo cho tuyến trùng có độ căng cần thiết, lớp cutin được tạo ra từ da, các bắp thịt giúp tuyến trùng chuyển động
- Phần đầu gồm có đầu và yết hầu, giữa đầu có miệng với 3 đến 6 môi, trong xoang miệng có răng và một mấu dài gọi là kim chích hút Kim chích hút có thể di chuyển ra phía trước nhờ việc co rút cơ bắp của tuyến trùng Bầu thực quản có chỗ phình to có tác dụng bơm đẩy tuyến dịch
- Hệ thống thần kinh gồm các bó thần kinh chạy dọc theo thân và được các vòng thần kinh nối liền với nhau
- Bộ máy tiêu hóa gồm ống ruột, bắt đầu từ miệng và kết thúc ở hậu môn nằm về phía bụng và được chia làm 3 phần: ruột trên, ruột giữa và ruột dưới Thức
ăn đi vào từ miệng đến thực quản và được tiêu hóa ở ruột giữa, cuối cùng thức ăn không tiêu hóa được ruột dưới đưa ra ngoài
- Bộ máy sinh dục của tuyến trùng bao gồm ống sinh dục và các bộ phận khác tuỳ theo giới tính loài tuyến trùng Bộ phận sinh dục con cái và con đực rất khác nhau Tuyến trùng cái có bộ phận sinh dục gồm buồng trứng (1 hay 2 buồng trứng đối xứng hoặc không đối xứng phụ thuộc vào số lượng phát triển của ống dẫn trứng, tử cung và lỗ giao phối Lỗ giao phối thường nằm giáp thân và cận với lỗ bài tiết, nhiều loài tuyến trùng cái có hệ thống sinh dục khá phát triển nên phình to dạng hình cầu, hình quả chanh Bộ phận sinh dục con đực bao gồm dịch hoàn, ống dẫn tinh và gai giao phối (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Phần đuôi bắt đầu từ hậu môn Có bộ phận tên là phasmids là những nhú đuôi bên được nối với tuyến trước đuôi bên có chức năng cảm thụ hoá học Đây là một đặc điểm đặc biệt để phân biệt tuyến trùng (Thorne, 1961; trích dẫn của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân, 2005)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 191.1.4 Sinh sản và phát triển của tuyến trùng
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) tuyến trùng phần lớn là sinh sản hữu tính Với cấu tạo của bộ máy sinh dục rất phát triển nên khả năng sinh sản của chúng cũng rất lớn Một số loài chỉ sinh sản theo phương pháp hữu tính như
Heterodera amaranthi, Globodera rostochiensis và một số khác Nhiều loài tuyến
trùng hoại sinh (lớp Rhabditida) và một số loài ký sinh thì số lượng con đực sinh ra
ít hơn con cái rất nhiều Ví dụ: loài Aphelenchus avenae sinh 10.000 con cái thì chỉ
sinh được một con đực Một số loài khác chỉ có thể sinh sản theo phương pháp vô tính
Cũng theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) tỷ lệ đực cái trong quá trình sinh sản theo phương pháp hữu tính phụ thuộc vào nhiều yếu tố Điều kiện ngoại cảnh ảnh hưởng nhiều tới quá trình sinh sản và phát triển qua các giai đoạn từ tuyến trùng non lên tuyến trùng trưởng thành để phân giới đực cái (loài
Meloidogyne spp; Globodera rostochiensis; Heterodera avenae) Tuyến trùng Heterodera Schachtii và Meloidogyne javanica sống và phát triển trong cây thiếu
đạm thì con đực hình thành nhiều hơn con cái so với cây bón đủ phân Tuyến trùng
cái loài Meloidogyne sp tăng khi phân bón ít kali và dưới tác động của điều kiện
ngoại cảnh từ tuyến trùng tuổi 2 có thể phát triển thành trưởng thành vừa cơ quan sinh dục cái lại vừa có cơ quan sinh dục cái
Theo Đường Hồng Dật (1979) tuyến trùng sống trong nước ngọt, trong đất, hoại sinh, ký sinh thực vật thường con cái nhiều hơn con đực và thỉnh thoảng có trường hợp không có con đực hoặc lưỡng tính Trong số tuyến trùng ký sinh thực
vật có loài sinh sản không cần con đực như Heterodera Schimidt và Meloidogyne
Goeldi Tuyến trùng gây sần rễ chỉ sản sinh ra con đực trong trường hợp khó khăn, thí dụ như rễ cây bị thối rữa đi một bộ phân tuyến trùng non phát triển thành con đực Tuyến trùng ký sinh thực vât đa số đẻ trứng, có khả năng sinh sản lớn nhưng không bằng tuyến trùng động vật, trứng có hình bầu dục dài hay hình quả thận, trứng tuyến trùng tương đối lớn và thường đường kính gần bằng đường kính thân
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 20con cái, tổng số trứng của một con cái có thể đẻ được là 500 trứng ở tuyến trùng
Ditylenchus dipsaci
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), trứng của tuyến trùng hình tròn hoặc hình bầu dục Trứng của tuyến trùng ký sinh đa số trứng có hình bầu dục Trứng được bao bọc bởi 3 lớp: lớp ngoài là lớp vỏ protein, giữa là kitin và bên trong
là vỏ mềm Các loài Meloidogyne, Heterrodera và Rotylenchulus đẻ trứng và trứng
nằm trong túi trứng, túi có tác dụng bảo vệ trứng khi gặp điều kiện bất lợi Bird (1971) cho rằng trứng của tuyến trùng hoại sinh và ký sinh có hình thái tương tự nhau ở hầu hết các thời điểm Chiều dài trung bình của trứng từ 50-90 µm và chiều rộng trung bình từ 21-47 µm
Tuyến trùng phát triển qua 3 giai đoạn: trứng, tuyến trùng non và trưởng
thành Một vài loại thuộc bộ Rhabditida hoàn thành chu kỳ phát triển trong mấy
ngày có khi chỉ mấy giờ Tuyến trùng phát triển trong các tế bào cây có chu kỳ phát triển dài nhất Sự phát triển của tuyến trùng thực vật trong điều kiện thích hợp kéo dài 24-25 ngày, trong trường hợp các điều kiện khác giống nhau thì nhiệt độ có ảnh huởng rất lớn đến sự phát triển Thí dụ tuyến trùng gây sần ở rễ 28oC phát triển trong 25 ngày, nhưng nếu nhiệt độ dưới 15oC thì giai đoạn phát triển sẽ là 15 ngày Tuyến trùng non khác tuyến trùng trưởng thành ở bộ phận sinh dục Tuyến trùng non có một lớp vỏ cutin bao bọc và phát triển bằng con đường lột xác (Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
Tuyến trùng thực vật non có bốn tuổi và tuổi thứ năm là trưởng thành, kích thước các tuổi khác nhau (Phạm Văn Kim, 2000 và Đường Hồng Dật, 1979)
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng có hai dạng biến thái: biến thái hoàn toàn ở các loài chuyển động và biến thái không hoàn toàn ở các loài sống cố định Biến thái không hoàn toàn gặp ở các loài Aphelenchidae,
Aphelenchoidae, và một số loài thuộc các họ Hoplolaimidae, Tylenxchidae,
Nastylenchidae và Criconematidae Biến thái hoàn toàn khi tuyến trùng non khác với tuyến trùng trưởng thành vế cấu tạo bên trong lẫn bên ngoài Điều này chỉ xảy
ra đối với con cái, con đực thì vẫn giữ nguyên sơ đồ cấu tạo cơ thể Tuyến trùng biến thái hoàn toàn dễ thích nghi với đời sống ký sinh hơn là tuyến trùng có biến
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 21thái không hoàn toàn và có một số đặc tính sinh lý giúp chúng sử dụng cây ký chủ làm thức ăn một cách triệt để hơn Biến thái hoàn toàn có các họ như Heteroderidae, Tylenchulidae, các loài của họ phụ Nacobbidae
1.1.5 Khả năng lưu tồn của tuyến trùng
Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986), khi gặp điều kiện bất lợi (cây khô héo, đất bị hạn…) ấu trùng hình thành một nang được bao bọc trong lớp da ngoài của lần lột xác trước Dưới dạng nang chúng có thể chống chịu được sự khô hạn trong nhiều năm Khi gặp lại điều kiện bình thường tuyến trùng lại hồi sinh và phát triển tiếp tục Nhờ khả năng ấy tuyến trùng có thể tồn tại trong một thời gian nhất định trong đất không trồng trọt và không có ký chủ thích hợp
Một số tuyến trùng thực vật có thể tiềm sinh đến hàng chục năm Tuyến
trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần cho lúa, lưu tồn trong rơm rạ đến
4 tháng sau khi thu hoạch Tuyến trùng A besseyi gây bệnh khô đầu lá trên lúa có
thể tồn tại trong hạt lúa giống tồn trữ đến vài tháng và lan truyền cho vụ sau (Phạm Văn Kim, 2000) Tuyến trùng hại lúa mì non trong điều kiện khô trong phòng thí nghiệm có thể sống được 28 năm (Đường Hồng Dật, 1979)
Tất cả tuyến trùng ăn thực vật trải qua một thời kỳ ngắn hoặc dài của chu kỳ phát triển ở trong đất và sống ở đó một giai đoạn nhất định hoặc gần toàn bộ vòng đời Tuyến trùng không thể di động trong khoảng cách lớn do cơ thể quá bé nhỏ Do
đó, chúng phải nhờ các yếu tố khác như gió, mưa, nước tưới, đất, nguồn cây giống
và tàn dư thực vật để lây nhiễm sang cây khác (Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)
Tamura và Kegasawa (1958) đã nghiên cứu cho thấy tuyến trùng rời khỏi hạt ngâm trong nước ở 300C là nhanh nhất so với ngâm trong nước ở 200C và 250C, không thấy tuyến trùng ra khỏi hạt khi ngâm trong nước nóng 350C Ngâm hạt trong nước 200C sau 150 giờ thấy 35% tuyến trùng còn lại trong hạt, 53% bị chết, ở 250C, 22% còn trong hạt, 67% bị chết; ở 300C, 18% còn trong hạt và 91% bị chết và ở
350C tuyến trùng chết hết
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 221.1.6 Triệu chứng và sự gây hại của tuyến trùng
Theo Phạm Văn Kim (2000), tuyến trùng có 3 cách ký sinh:
- Ngoại ký sinh: tuyến trùng chỉ bám bên ngoài mô bị hại, chọc kim vào bên trong mô để hút chất dinh dưỡng
- Nội ký sinh: tuyến trùng chui hẳn vào bên trong mô cây, sống và sinh sản ngay bên trong mô, làm mô cây sưng phù lên hoặc tạo thành các u, bướu
- Bán nội ký sinh: tuyến trùng chui phần đầu vào trong mô cây còn phần thân nằm ngoài mô cây bị ký sinh
Cũng theo Phạm Văn Kim (2000), tuyến trùng có thể ký sinh ở: rễ cây, lá cây, thân cây, ở hoa và cả ở hạt Mật số tuyến trùng hiện diện trong đất là điều cần quan tâm, bởi vì không phải hễ có tuyến trùng ký sinh trong đất là cây trồng sẽ bị thiệt hại mà chỉ khi nào mật số tuyến trùng đạt đến ngưỡng gây hại thì cây trồng mới bị hại
Đường Hồng Dật (1979) nhận thấy tuyến trùng có khả năng thích ứng với tất cả các bộ phận của cây, chúng có thể sống ở rễ, ở các bộ phận trên mặt đất và ở các bộ phận sinh sản Tác hại cũng như triệu chứng bệnh gây ra rất khác nhau Nhiều trường hợp triệu chứng xuất hiện tương đối rõ nhưng cũng có trưòng hợp không hình thành triệu chứng bên ngoài mà biểu hiện chủ yếu là cây sinh trưởng kém
Do quá trình sống và sinh sản trên hoặc trong mô thực vật, tuyến trùng có thể gây ra nhiều biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với thực vật Đó là các biến đổi
về cơ học như phá hủy mô thực vật, tạo ra các vết thương, các biến đổi về sinh lý do các chức năng chính của thực vật như hút và vận chuyển chất dinh dưỡng của rễ thân, quang hợp của lá bị cản trở, các biến đổi sinh hóa bị rối loạn do tuyến trùng tiết ra các enzyme tiêu hóa làm thay đổi các quá trình sinh hóa bình thường của cây (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Theo Agrios (2003), tuyến trùng gây hại trên cây tạo nên triệu chứng trên rễ cũng như các phần khác của cây, tạo nên nốt sần, u bướu, gây tổn thương rễ, tạo tiền đề cho các tác nhân khác gây bệnh
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 23Theo Đặng Thái Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh (1986) tuyến trùng dùng vòi châm hút dinh dưỡng từ mô cây, đồng thời chúng tiêm nước bọt hóa lỏng các dịch của tế bào chất và chuẩn bị tiêu hóa Như vậy các tế bào cây lần lượt bị tiêu hủy và chất độc tiết ra tạo nên hoại thư và biến dạng các mô và tạo điều kiện cho nấm, vi khuẩn xâm nhập
Còn theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000) thì tuyến trùng ký sinh thường tạo ra các vết thương cho cây chủ và mở đường cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập gây hại Chúng làm giảm khả năng miễn dịch của thực vật kháng lại sự xâm nhập của các tác nhân vi sinh vật gây bệnh khác và làm cho tác hại đối với thực vật trầm trọng thêm Một số tuyến trùng có khả năng mang truyền virus gây bệnh cho thực vật
Tuyến trùng A besseyi gây hại trên lúa làm lá bị biến màu trắng ở đoạn dài
khoảng 5 cm từ đỉnh lá, vết bệnh trở nên nâu nhạt, rách và xoăn lại như sợi chỉ Cây bệnh thấp lùn, yếu ớt và sinh bông nhỏ Chiều dài bông và số gié bị giảm, hạt ở phần chót bông hầu như bị thui hết, bông bệnh cho nhiều hạt lép và quăn queo Bông của các dảnh bệnh nặng thường chín muộn Cây bị bệnh có lá xanh đậm hơn
so với bình thường và hay mọc nhánh từ các đốt trên thân (Ou, 1985)
Theo kết quả nghiên cứu trên 20 loại cây trồng chính ở các vùng khác nhau trên thế giới thì thiệt hại trung bình hàng năm do tuyến trùng ký sinh gây ra là 12,5% tương đương khoảng 77 tỷ USD (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Ở Liên Xô, năng suất cà chua, dưa chuột bị giảm đến 50% do tuyến trùng, khoai tây bị giảm đến 80%, lượng đường trong củ cải đường giảm 20% Ở Mỹ, hàng năm thiệt hại do tuyến trùng gây ra cho nông nghiệp trị giá đến hàng trăm triệu
đô la (Đường Hồng Dật, 1979)
Đến nay đã điều tra phát hiện khoảng 250 loài tuyến trùng ký sinh cây trồng
ở Việt Nam, trong đó ước đoán số loài tuyến trùng ký sinh đã được phát hiện chiếm 50% số loài tuyến trùng ký sinh thực vật ở Việt Nam (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Ở nước ta, tuyến trùng là một trong những trở ngại chủ yếu cho việc phát triển cây hồ tiêu Ở một số nông trường tuyến trùng cũng gây ra những thiệt hại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 24đáng kể cho cây cà phê Một số cây công nghiệp khác như đay gai, các loại rau như hành, cà bát, khoai tây cũng bị tuyến trùng gây nhiều thiệt hại Tuyến trùng khô đầu
lá trong những năm gần đây cũng đang ngày càng mở rộng diện phá hại (Đường
Hồng Dật, 1979) Tuyến trùng Ditylenchus angustus gây bệnh tiêm đọt sần trên lúa
Vụ mùa năm 1990-1991, riêng huyện Thủ Đức (Thành Phố Hồ Chí Minh) có đến 10.000 ha lúa mùa mắc bệnh tiêm đọt sần trong đó có 1.000 ha là mất trắng do bệnh gây ra (Phạm Văn Kim, 2000)
1.1.7 Tuyến trùng ký sinh thực vật
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng thực vật đã được phát hiện vào thế kỷ 18, phần lớn sống trong đất, phá hoại bộ rễ và các bộ phận khác trên thân cây gây tác hại đến sinh trưởng và năng suất của cây trồng, sống tập trung ở tầng đất canh tác, ở độ sâu 5-20cm
Tuyến trùng thực vật có kích thước thân bé từ 0,5-5 mm đa số dưới 2 mm Các loại tuyến trùng ít hoạt động có hình cầu hoặc hình quả lê, tuyến trùng ký sinh trên lá có hình sợi chỉ và các loại tuyến trùng phá hủy mô cây thường có hình trụ hay hình thoi (Đường Hồng Dật, 1979) Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998) cho rằng tuyến trùng thực vật có hình giun kim và kích thước nhỏ bé đa số dưới 2mm, chiều rộng thân không đều theo chiều dài cơ thể Hình dạng thân liên quan chặt chẽ với đặc tính sinh sống và cây ký chủ nên có hình quả lê, quả chanh, hình tròn, hình cầu, hình giọt nước nhỏ giọt, phần dưới con cái phát triển rộng hơn phần đầu
Tuyến trùng thực vật sống và ký sinh ở tất cả các phần của thực vật bao gồm
rễ, thân, lá và hoa của thực vật đang phát triển (Kleynhans, 1999) Chúng có những tập quán dinh dưỡng rất khác nhau, một số loài dinh dưỡng trên bề mặt những mô ngoài của thực vật, một số khác thâm nhập vào bên trong các mô để ký sinh và một
số khác có thể làm cho cây chủ tạo ra những nguồn dinh dưỡng phù hợp tại nơi chúng ký sinh (Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000)
Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng phần lớn là những loại ký sinh chuyên tính và có tính chuyên hóa rõ rệt, trong đó có loại tuyến trùng
có tính chuyên hóa hẹp chỉ ký sinh trên một vài loại cây trồng như tuyến trùng
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 25A besseyi hoặc loại chuyên hóa rộng như tuyến trùng nốt sần Meloidogyne marioni
phá hại trên rễ nhiều loại cây khác nhau như thuốc lá, đậu tương, bầu bí, cây họ đậu…
Bên cạnh tuyến trùng ký sinh thực vật, thì một số tuyến trùng cũng được nghiên cứu tạo ra chế phẩm để sử dụng phòng trừ một số dịch hại như
Romanomermis spp (trừ ruồi đục nõn, sâu năn và ruồi đục lá), tuyến trùng Neoplecta spp (trừ sâu non bộ cánh phấn và mối), Nosema locustae (trừ châu chấu)
(Nguyễn Công Thuật, 1995)
1.1.8 Mối quan hệ giữa tuyến trùng thực vật với điều kiện ngoại cảnh
- Quan hệ giữa tuyến trùng và đất: Theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), tuyến trùng ký sinh ở rễ cây thì các loại đất cát, đất cát pha, đất thịt nhẹ là những loại đất phù hợp cho sự tích lũy và hoạt động của tuyến trùng, giúp di chuyển
dễ dàng đến vùng rễ cây để gây hại Đất pha cát tạo khoảng trống trong đất, tạo điều
kiện cho tuyến trùng phát triển về kích thước (loài Xiphinema sp., Longidorus sp và
các loài khác) Ngâm ruộng liên tục trừ tuyến trùng nốt sưng có hiệu quả cao,
- Ảnh hưởng của nhiệt độ và ẩm độ: là yếu tố đặc biệt quan trọng trong sự phát triển cuat tuyến trùng ở trong cây và trong đất (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998) Độ ẩm tối ưu cho tuyến trùng hoạt động dao động từ 40 - 80% (Kleynhans, 1999) số lượng tuyến trùng tăng nhiều trong mùa mưa ấm áp và giảm đi nhiều trong mùa khô hạn Độ ẩm cao giúp tuyến trùng di chuyển dễ dàng Vì vậy, trên lớp đất mặt (2-3 cm) khô cứng nên số lượng tuyến trùng ít hơn là các tầng phía dưới Nhiệt
độ đất bất lợi làm tuyến trùng chuyển sang trạng thái tiềm sinh, khi gặp điều kiện thuận lợi tuyến trùng hoạt động trở lại (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Ảnh hưởng của ánh sáng: theo Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề (1998), ánh sáng tác động lên tuyến trùng thông qua ký chủ chính Ví dụ: tuyến trùng Meloidogyne incognita nếu quá trình quang hợp của cây kéo dài thì số lượng trứng
đẻ nhiều hơn, nếu ngày ngắn thì số cá thể đực tăng Thiếu ánh sáng sẽ ảnh hưởng tới quá trình sinh sản, thiếu thức ăn cho tuyến trùng Tia tử ngoại làm tăng sức
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 26chống chịu của cây đối với chúng (Mjuger và Talieva, 1962; trích dẫn của Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Ảnh hưởng của không khí trong đất: Oxy tham gia phần lớn vào quá trình phân giải trong đất, trong môi trường nghèo oxy thì tuyến trùng không hoạt động, tuyến trùng tuổi 2 hại củ cải đường ngừng chuyển động ở điều kiện Oxy trong nước chỉ có 36%, đối với tuyến trùng nốt sưng là 4% (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Ảnh hưởng của pH đất: ảnh hưởng của pH thông qua cây ký chủ, cây trồng phát triển tốt trong môi trường đất trung hoà và nó thúc đẩy tăng mật độ của tuyến trùng (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Ảnh hưởng của các chất bài tiết từ rễ cây trồng: Trong quá trình sinh trưởng, rễ cây tiết ra nhiều chất có tính hấp dẫn tuyến trùng Các chất này có tác dụng kích thích trứng tuyến trùng nở Tuy nhiên, một số loại cây tiết ra các chất có tác dụng xua đuổi tuyến trùng (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Tề, 1998)
- Kỹ thuật canh tác: luân canh giúp làm hạn chế hoặc cắt đứt nguồn ký chủ của tuyến trùng, làm giảm sự gia tăng mật số của chúng (Kleynhans, 1999)
- Vi sinh vật đối kháng: Có những loại nấm, vi khuẩn, virus, Rickettsia, Tardigrade, Tuberlaria, Enchytraeid, côn trùng và tuyến trùng đối kháng có khả năng tiêu diệt tuyến trùng hại cây Vi sinh vật đối kháng ở trong đất là một yếu tố quan trọng làm giảm số lượng tuyến trùng hại cây tích lũy tồn tại ở trong đất (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 271.1.9 Tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Chirstie
1.1.9.1 Vị trí phân loại (Crop Protection Compendium, 2001):
Giới Animalia Ngành Nemata Lớp Secernentea
Bộ Aphelenchida Phân bộ Aphelenchina Liên họ Aphelenchoidoidea
Họ Aphelenchoididae Phân họ Aphelenchoidinae
Giống Aphelenchoides Loài Aphelenchoides besseyi Christie
1.1.9.2 Hình thái giải phẫu
Theo Allen (1952) (trích dẫn của Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh, 2000), mô tả cấu tạo của con đực và con cái như sau:
Con cái: (L = 0.62-0.88 mm; a = 38-58; b = 9-12; c = 15-20; V =
43-3366-724-8) Cơ thể của con cái A besseyi mảnh dẻ, thon, thẳng và hơi cong về phía
bụng khi bất động, phân đốt cutin mảnh, đôi khi không rõ, chiều rộng ở giữa cơ thể khoảng 0,9 µm Vùng môi tròn, nhẵn, phân biệt với đường viền cơ thể, vòng gốc có đường kính rộng hơn thân và bằng 1/2 chiều rộng cơ thể tại giữa cơ thể Phía trong vùng môi kitin hóa yếu Vùng môi bên với 4 đường Phần hình chóp của kim dài khoảng 45% chiều dài của kim Phần trụ phía sau của kim có núm gốc tròn, hai cạnh ngoài vát ở phía sau, đường kính núm gốc khoảng 1,75μm Diều giữa hình oval với van bên trong rõ, nằm hơi lùi về phía sau của tâm diều giữa Thực quản tuyến dài từ 4- 8 lần chiều rộng của thân, phủ lên đầu của ruột về phía lưng và bên Vòng thần kinh nằm phía sau diều giữa khoảng một lần chiều rộng của thân Vị trí
lỗ bài tiết ngang phía trước của vòng thần kinh Hemizonid nằm ở phía sau lỗ bài tiết khoảng 11-15 μm Vulva nằm ngang (vuông góc với thân) với mép hơi lồi Túi
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 28chứa tinh hình oval dài thường có chứa tinh trùng Buồng trứng thường ngắn, không kéo dài đến thực quản, noãn sào xếp thành 2-4 dãy Tử cung sau hẹp, không rõ nét
và không chứa tinh trùng, có chiều dài từ 2,5-3,5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn
và nhỏ hơn 1/3 khoảng cách từ hậu môn đến vulva Đuôi hình chóp dài 3,5-5 lần chiều rộng cơ thể tại hậu môn Mút đuôi có mucro hình sao với 3- 4 gai
Con đực: (L = 0.44-0.72 mm; a = 36-47; b = 9-11; c = 14-19; T = 50-65) Vùng môi, kim, hệ thực quản tương tự như ở con cái Phần cuối cơ thể khi xử lý nhiệt thường cong 1800 Đuôi hình chóp, tận cùng đuôi có mucro phức tạp với 2-4
gai
Trong đó :
L : Chiều dài cơ thể (µm, mm)
a : L/Chiều rộng lớn nhất
b : L/Chiều dài từ đỉnh đầu cơ thể đến van ruột - thực quản
c : L/Chiều dài đuôi
T(%) : Chiều dài từ hậu môn đến đỉnh của Testis x 100/Chiều dài cơ thể
Theo Crop Protection Compendium (2001) thì A besseyi là loài có ký chủ rất
1.1.9.3 Phân bố của Aphelenchoides besseyi Chirstie
Theo Nguyễn Ngọc Châu và Nguyễn Vũ Thanh (2000) thì A besseyi phân
bố như sau :
- Việt Nam : Phân bố rộng khắp nơi
- Thế giới : Pakistan, Ấn Độ, Trung Quốc, Hawai, Nhật Bản, Camerun, Senegal, Nigeria, Brazil, Cuba, USA, Hungari, Bungari, Italia, Nam Tư và các nước vùng Trung Á của SNG
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 291.1.9.4 Một số đặc điếm sinh học của Aphelenchoides besseyi Chirstie trên lúa
Triệu chứng bệnh khô đầu lá lúa: Chóp lá có màu trắng, những lá bị nhiễm
có màu xanh đậm hơn lá bình thường Cây bị bệnh còi cọc và cho những bông nhỏ,
ít hạt hơn Trấu và hạt có thể nhỏ và bị biến dạng (Reissig, Heinrichs, Litsinger,
Moody, Fiedler, Mew và Barrion, 1985)
Atkins và Todd (1958)tìm thấy tuyến trùng bên trong vỏ trấu, trên hạt, xung quanh lá non và hạt chưa vào hạt chắc và trên bẹ lá Trong mô lá không có tuyến
trùng
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Sơn và Trần Quốc Việt (2006) cho
thấy rằng tuyến trùng A besseyi xuất hiện trong chồi non (cả chồi vô hiệu và chồi
hữu hiệu), thân lúa với mật số trung bình là 16,67 con/chồi, 2,22con/thân lúa mật số
tuyến trùng A besseyi trong thân lúa thấp, điều này cho thấy tuyến trùng A besseyi
chỉ tập trung chủ yếu ở đỉnh sinh trưởng, ít hiện diện trong thân
Theo Yoshi và Yamamoto (1950), chỉ có một lượng nhỏ tuyến trùng trên hạt nẩy mầm, không gặp tuyến trùng trên mạ Khi lúa đẻ nhánh tuyến trùng nằm trong
các khoanh phía trên đỉnh sinh trưởng hoặc trong các lá non còn nằm trong bẹ Khi
cây lớn số lượng tuyến trùng tăng và xuất hiện trên các lá Khi bông hình thành
tuyến trùng tập trung vào bông và tăng số lượng nhưng khi hạt lúa chín số lượng
tuyến trùng giảm đột ngột Trong một bông lúa phần giữa gặp nhiều tuyến trùng,
phần đầu bông có ít hơn, hạt chắc có nhiều tuyến trùng hơn hạt lép
Cả hạt lép, hạt sữa và hạt chắc đều có sự hiện diện của tuyến trùng
A besseyi Trong đó, hạt sữa có mật số tuyến trùng thấp nhất, khác biệt rõ nét với
hạt chắc, khi phân tích 2 giống lúa MTL233 và MTL250 (Nguyễn Thanh Sơn và
Trang 30Tuyến trùng tồn tại giữa hai vụ lúa bằng cách ở trong vỏ hạt trấu hoặc ở trên mặt vỏ hạt lúa bị nhiễm Suốt thời gian đầu thời kỳ tăng trưởng của lúa, tuyến trùng được tìm thấy ở bên trong những lá non còn cuộn lại Khi lúa lớn, tuyến trùng lan truyền qua nhiều cách hoặc nhờ nước ruộng mang đến những cây khác Lúc này mật
số tuyến trùng phát triển và di chuyển trên gié lúa (Reissig, Heinrichs, Litsinger, Moody, Fiedler, Mew và Barrion, 1985)
Vào cuối giai đoạn sinh trưởng của cây lúa, nhiều A besseyi chuyển sang
trạng thái tiềm sinh ở dưới lớp vỏ của hạt lúa Nó không tồn tại trong đất (Taylor, 1969)
Khi gặp điều kiện khô, cơ thể A besseyi từ từ mất nước và chúng chuyển
sang trạng thái ngủ yên trong trạng thái thiếu nước và có thể sống sót trong một trạng thái im lìm trên hạt bị nhiễm trong một thời gian dài từ 8 tháng đến 2 năm
(Cralley, 1949; Yoshi và Yamamoto, 1950) Sự sống sót được tăng khi A besseyi
tụ họp và tốc độ hạt khô chậm nhưng sự nhiễm A besseyi giảm đi khi tuổi hạt tăng lên A besseyi không tồn tại trong đất vào giai đoạn giữa các vụ mùa (Cralley,
1952)
Tuyến trùng tồn tại lâu trong hạt bị bệnh Cralley (1949) chúng sống được 8 tháng trên hạt sau khi thu hoạch Yoshi và Yamamoto (1950) chúng có thể sống được 2 năm trong hạt khô
Nhiệt độ và ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến vòng đời tuyến trùng Ở
250C và 31,30C vòng đời của tuyến trùng A besseyi kéo dài từ 3 - 6 ngày, ở 20,6014,70C vòng đời kéo dài từ 9 - 24 ngày Tuyến trùng chết ở 420C trong 16 giờ và ở
C-440C trong 4 giờ Và để phát triển bình thường tuyến trùng cần ẩm độ thấp nhất là 70%, ẩm độ bão hòa giúp chúng di chuyển dễ dàng Khi hạt lúa khô tuyến trùng trở nên tiềm sinh (Ou, 1985)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 311.1.10 Một số đặc điểm của tuyến trùng Aphelenchoides besseyi trên cây huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Cúc và Marc Pilon (2007) cây
huệ trắng (Polianthes tuberosa Linn.) ở đồng bằng sông Cửu Long bị nhiễm tuyến trùng Aphelenchoides besseyi Đây là loài tuyến trùng ngoại ký sinh, lưu tồn trên củ giống và trên bông với mật số rất cao Trên bông ở giai đoạn thu hoạch A besseyi
hiện diện với mật số rất cao và lưu tồn hơn 6 tháng
Cũng theo Nguyễn Thị Thu Cúc và Marc Pilon (2007) cây huệ không nhiễm bệnh thì bông thường có chiều cao khoảng 1m và khoảng 20 tai bông có màu trắng Đối với bông nhiễm bệnh có màu vàng nâu, lùn và không nở được
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005)
thì tuyến trùng A besseyi là tác nhân gây bệnh chai bông trên huệ Bệnh gây hại
trong suốt giai đoạn của cây từ khi cây còn nhỏ đến lúc ra bông, thể hiện rất rõ trên thân, lá và bông Chiều dài con đực biến động 0,52-0,62 mm và ở con cái 0,54-0,8
mm, với chiều dài kim chích từ 10 đến 13μm, phổ biến là 12,5μm Còn theo Trần
Anh Trọng (2006) xác định A besseyi là loài ngoại ký sinh khi nhuộm mô 20 bông
huệ thì chỉ có 6 bông phát hiện được tuyến trùng này Tuy nhiên mật số tuyến trùng hiện diện rất thấp 0,18 con/bông Tất cả ở phần đế bông mà không hiện diện cánh bông Sự hiện diện của một vài con trong mô có thể là do sự xâm nhập qua vết thương
Từ kết quả của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005) cho thấy rằng
con đực trong quần thể A besseyi chiếm tỷ lệ tương đối ít so với con cái, khi mẫu
bông càng nặng (càng ít dinh dưỡng) thì tỷ lệ con đực lại tăng so với bông chớm bệnh Điều này được tác giả giải thích trong điều kiện đủ dinh dưỡng, có thể
Aphelenchoides sinh sản vô tính và khi gặp điều kiện nghèo dinh dưỡng Aphelenchoides chuyển sang sinh sản hữu tính, nên số lượng con đực tìm thấy nhiều
ở bông bị hại năng và ngược lại
Nghiên cứu của Trần Anh Trọng (2006) ghi nhận bệnh chai bông do tuyến
trùng A besseyi gây ra thường có triệu chứng rất rõ ràng và đặc trưng trên cây huệ
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 32như bông không phát triển (nông dân gọi là chai bông), lá quăn queo và đọt xoăn lại Không những các bộ phận mang triệu chứng rõ ràng trên cây như bông, nụ, lá
mà cả những bộ phận ít thấy triệu chứng cũng thấy sự hiện diện của tuyến trùng Bông nở và bông búp có mật số tuyến trùng cao nhất (bông nở là 811 con/bông, bông búp là 1025,57 con/bông), nụ có triệu chứng bệnh có mật số tuyến trùng thấp hơn (229 con/bông), thấp nhất là nụ không có triệu chứng bệnh (136,86 con/bông) Mật số tăng dần theo tuổi bông và dần dần thể hiện triệu chứng, tuy nhiên bông nở
mật số giảm dần A besseyi cũng được phát hiện trên lá huệ, nhưng chỉ được ghi
nhận vào giai đoạn cây con, trung bình 223 con/các lá non Khi cây có hoa thì
không hoặc ít thấy sự hiện diện của A besseyi trên lá, đến lúc lá khô thì không tìm thấy tuyến trùng A besseyi
Về khả năng lưu tồn của A besseyi trong củ huệ (Polianthes tuberosa Linn.),
tuyến trùng vẫn còn hiện diện trong củ ít nhất là 2 tháng sau khi phơi nắng với mật
số biến động 0-175 con/củ (trung bình 60 con/củ) điều này cho thấy A besseyi có
sức sống mạnh khi gặp điều kiện bất lợi (Trần Anh Trọng, 2006) Củ huệ của nông dân phơi nắng khoảng 1 tháng nhằm hạn chế mật số tuyến trùng, được trồng trên đất được thanh trùng trong điều kiện nhà lưới cũng xuất hiện bệnh và có xu hướng tăng lên khi tuổi cây huệ càng cao (Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân, 2005) Điều này cho thầy củ huệ giống chính là nguyên nhân gây bộc phát bệnh cho vụ mùa sau
Sức sống mảnh liệt của A besseyi cũng đã được Nguyễn Thị Thu Cúc và Marc Pilon (2007) ghi nhận tuyến trùng A besseyi vẫn còn hiện diện trên củ tồn trữ
3 tháng Trên bông, tuyến trùng vẫn được ghi nhận hiện diện trên bông khô sau thu
hoạch, mặc dù với mật số rất thấp Taylor (1969) cho rằng tuyến trùng A besseyi
không tồn tại trong đất
Yoshi và Yamamoto (1950) cho rằng khi gặp điều kiện khô, cơ thể A besseyi
từ từ mất nước và chúng chuyển sang trạng thái ngủ yên trong trạng thái thiếu nước
và có thể sống sót trong một trạng thái im lìm trên hạt bị nhiễm trong một thời gian dài từ 8 tháng đến 3 năm
Theo Trần Minh Trung và Nguyễn Văn Tràng (2007), việc phun Basudin 40EC sử dụng theo nồng độ khuyến cáo (2 tuần/lần) hoàn toàn không có hiệu quả
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 33để khống chế bệnh chai bông và biện pháp bóc vỏ khô trước khi xử lý không có hiệu quả cao trong phòng trị bệnh chai bông này
1.1.11 Các biện pháp phòng trừ tuyến trùng
1.1.11.1 Biện pháp phòng ngừa
Theo Nguyễn Ngọc Châu (2003), ngăn ngừa là giải pháp đầu tiên quan trọng nhất trong quản lý tuyến trùng Ở quy mô quốc tế các vấn đề kiểm dịch thực vật quan trọng được quản lý bởi các công ước kiểm định thực vật Danh sách đối tượng kiểm dịch thực vật tuyến trùng của EPPO (Tổ Chức Bảo Vệ Thực Vật Châu Âu và
Địa Trung Hải) Bao gồm các loại sau: A besseyi, Globodera papilla, G rostochiensis, Radopholus similis và Xiphinema americanum Việt Nam cũng đã
ban hành danh mục các loài tuyến trùng kiểm dịch thực vật bao gồm 9 loài:
Globodera rostochiensis, Ditylenchus destrustor, D dipsici, Radopholus similis, A fragariae, A ritzemabosi, Heterodera schachtii, Bursaphelenchus xylophyluss, Rhabdinaphelenchus cocophilus
Trong đất, tuyến trùng nhân mật số lên chậm hơn nấm, vi khuẩn, mycoplasma và virus nhiều Tuy nhiên, nếu ký chủ thích hợp được trồng liên tục trong nhiều năm thì tuyến trùng nhân mật số lên dần cho đến lúc đạt mật số gây hại
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 34thì từ đó cây trồng sẽ bị hại và càng ngày mức độ thiệt hại càng tăng lên (Phạm Văn Kim, 2000)
Trồng luân canh cây cà chua bằng cây lạc để tránh sự gây hại của tuyến
trùng Meloidogyne arenaria trên cà chua Trồng xen hoa màu chính với các loại cây
có tính ức chế tuyến trùng như cây hoa vạn thọ cũng là biện pháp tốt nhất (Phạm Văn Kim, 2000)
Dùng giống kháng bệnh sẽ loại trừ được khả năng gây hại của A besseyi (Atkins và Todd, 1959)
1.1.11.3 Các biện pháp vật lý
Yoshi và Yamamoto (1950) ngâm hạt trong nước nóng 50-520C trong 5-10 phút, tiếp theo 16-20 giờ ngâm trong nước dưới 200C cũng diệt được tuyến trùng Hạt lúa chỉ bị hại khi ngâm quá 20 phút trong nước nóng 600C
Tiến hành ngâm nước khoảng 2 giờ trước khi xử lý nước nóng là thực tế phổ
biến để phòng trừ A besseyi nhiễm trong hạt lúa giống Xử lý nước nóng kết hợp
với việc bóc hết phần mô bị hoại tử bên ngoài thân củ chuối để phòng trừ
Radopholus similis (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Theo Cralley (1949) thì xử lý hạt lúa giống trước khi gieo bằng nước nóng (55-610C trong 10-15 phút) có thế hạn chế được tuyến trùng A besseyi gây bệnh
khô đầu lá trên lúa, làm tỉ lệ bệnh giảm từ 75% xuống còn 1% trong thí nghiệm nhà kính
Cralley (1952) ngâm trong nước lạnh 8-12 giờ rồi ngâm trong nước nóng
550C trong 15 giây, tiếp theo ngâm trong nước nóng 500C khoảng 15 phút và ngâm trong nước lạnh 5 phút sau đó phơi khô để làm hạt sạch hết tuyến trùng
Người ta dùng nước nóng, hơi nhiệt để xử lý lớp đất mặt, hạt giống ở vườn ươm Các thí nghiệm đã cho thấy khi đốt một lớp lá khô dày 10 cm trên mặt đất có thể giết tuyến trùng ở độ sâu 9cm (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Kết quả thí nghiệm của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005) ghi nhận khi phơi nắng củ huệ trong thời gian dài (phơi nắng 30 và 45 ngày) mật số của
tuyến trùng A besseyi sẽ giảm
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 351.1.11.5 Biện pháp hóa học
Phần lớn các chế phẩm diệt tuyến trùng được dùng để xử lý đất trước khi trồng như Methyl Bromide, Vapam, Mocap, Nemagin hay Furadan (Đặng Thái
Thuận và Nguyễn Mạnh Chinh, 1986)
Tuyến trùng A besseyi và Anguina tritici có thể bị giết bằng thuốc xông
Methyl Bromide trong một phòng kín khí Nhúng chồi giống vào đất sét và nước có thuốc Carbofuran và Ethoprophos mang lại hiệu quả cao trong phòng trừ tuyến
trùng Radopholus similis trên chuối (Nguyễn Ngọc Châu, 2003)
Còn theo Đường Hồng Dật (1979) thì một số thuốc trừ sâu hữu cơ có tác dụng phòng trừ tuyến trùng: ngâm hạt giống vào nước thuốc 0,1% Phosphamidon trong 24 giờ, trộn thuốc Thimet (40 kg/ha) vào phân bón rồi rải vào ruộng trước khi cày 1-2 tuần lễ, trộn thuốc Diazinon hay Dixiston với lượng 80 kg/ha vào ruộng Nhiều loại thuốc xông hơi như Methyl Bromide, Clopicrin cũng có tác dụng phòng trừ tuyến trùng
Xử lý hạt lúa bằng thuốc hóa học Benomyl có tác dụng làm giảm mật số
trung bình của A besseyi Khi chủng A besseyi lên cây lúa một ngày, tiến hành
phun thuốc Benomyl có hiệu quả diệt tuyến trùng hơn là xử lý hạt trước khi gieo (Gergon và Prot, 1993)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 361.2 CÂY HUỆ TRẮNG (Polianthes tuberose Linn.)
Loài: Polianthes tuberosa Linn (Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, 1978)
1.2.2 Đặc điểm hình thái, sinh thái của cây huệ
Cây huệ thuộc thảo, không có thân, lá mọc thành hình tròn quanh đỉnh chồi huệ có giả hành dạng củ, có rễ chùm huệ có bông dài thẳng đứng, cao vượt lên khỏi
củ mang nhiều hoa trắng thơm ngào ngạt nhất là về đêm
Cây huệ rất ưa nắng, khi trồng ở vùng nhiệt đới có khí hậu nóng ẩm, nhiều ánh sáng cho hoa quanh năm, trồng ở vùng có nhiệt độ thấp trung bình dưới 200C kéo dài như mùa đông ở miền Bắc nước ta huệ ra bông rất kém, thậm chí bông không nở được
huệ trồng một lần nếu chăm sóc đúng kỹ thuật có thể thu hoạch được nhiều lần trong 2-3 năm (Đặng Phương Trâm, 2005)
1.2.3 Giống huệ
Theo Đào Mạnh Khuyến (1992) và Đặng Phương Trâm (2005) thì huệ trồng
ở Việt Nam có hai giống:
- Huệ đơn (huệ sẻ, huệ ta): cây thấp mảnh khảnh, cành hoa nhỏ nhắn, bông hoa chỉ có một lớp cánh nhưng huệ có mùi thơm đậm hơn so với huệ kép
- Huệ kép (huệ tàu, huệ trâu, huệ tứ diện): cây cao, hoa to và nhiều nhưng kém thơm huệ kép phổ biến hơn huệ đơn vì cây mọc khỏe hơn
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 37+ Củ lớn: đường kính củ khoảng 3 cm + Củ vừa: đường kính củ khoảng 2-2,5 cm + Củ nhỏ: đường kính củ nhỏ hơn 2 cm
Xử lý củ giống: phơi củ vài ngày cho lá héo, cất vào nơi thoáng mát, để khoảng 2 - 3 tháng, sau đó đem trồng
- Chuẩn bị đất
Đào liếp sâu 0,5 mét, liếp rộng khoảng 1,5 mét và rảnh rộng 0,5 mét Để huệ
có nhiều bông và bông dài đẹp nên chọn loại đất sét trắng, mịn Do huệ rất kén đất nên chỉ trồng được tối đa vài năm phải đổi đất trồng
- Chăm sóc
+ Tưới nước: Sau khi trồng, cứ vài ngày phải tưới nước để cây bén rễ Khi cây bắt đầu phát triển lá sẽ tưới đẩm Thiếu nước hoa nhỏ, cánh phát triển không hoàn hảo, bông ngắn
+ Vun đất, làm cỏ: Thường xuyên làm cỏ để cây không bị cạnh tranh, vun gốc để gốc và rễ phát triển
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 38- Thu hoạch: từ khi trồng đến khi thu hoạch khoảng 100 ngày Dùng chân
để giữ gốc không bị bật lên rồi dùng tay nắm nhánh hoa giật mạnh ngang mặt đất
1.2.5 Thành phần dịch hại trên cây huệ trắng
Theo kết quả khảo sát đã phát hiện 6 loài thuộc 6 họ và 4 bộ khác nhau gây hại trên cây hoa huệ Trong đó có 2 loài gây hại rất quan trọng là nhện đỏ
Tetranychus cinnabarinus Boisduval và rệp sáp Dysmicoccus neobrevipes Beardsley Các loài còn lại như bù lạch Haplothrips sp., bù lạch Thrips hawaiiensis
Morgan, sâu ăn lá Spilosoma multiguttata Walker và sâu đo Plusia sp.2 gây hại ít quan trọng hơn (Nguyễn Trí Thanh, 2007)
1.2.5.1 Nhện đỏ
Theo Nguyễn Trí Thanh (2007), nhện đỏ Tetranychus cinnabarinus là loài
gây hại rất quan trọng trên cây hoa huệ, chúng có thể làm thất thu nghiêm trọng đến năng suất cũng như phẩm chất hoa huệ Gây hại trên cây hoa huệ chủ yếu vào mùa nắng, gây hại trên lá và trên bông Trên lá, nhện làm cho lá có các chấm li ti màu vàng đỏ đến đỏ, làm cho lá ốp lại và khô dần đi Trên hoa, nhện thường gây hại trên các nách của lá đài, thân bông và tai bông Khi bị nhện gây hại nặng thì phát hoa bị cong, thân và tai bông nổi nhiều mụt nhỏ (gai) Sự gây hại của nhện làm cho nách lá đài có các mảng màu vàng đỏ, làm cho toàn bộ hoa phát triển bất bình thường, còi cọc Triệu chứng do nhện đỏ gây hại trên hoa rất dễ nhầm lẫn với triệu chứng của bệnh chai bông do tuyến trùng gây ra
1.2.5.2 Rệp sáp
Nguyễn Trí Thanh (2007) ghi nhận, rệp sáp Dysmicoccus neobrevipes là loài
gây hại rất quan trọng trên cây huệ, phát triển và gây hại vào mùa nắng, cả thành trùng lẫn ấu trùng thường tập trung gây hại ở phần củ huệ hay tại các bẹ lá gần củ Trên củ làm cho củ bị khô, chậm sinh trưởng và còi cọc Trên lá thì chúng thường gây hại ở phần bẹ lá gần củ, làm cho lá ngã vàng và sau đó khô héo dần Trong quá
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 39trình gây hại ở các bẹ lá, rệp sáp tiết mật ngọt tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển, làm ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây
1.2.5.3 Bù lạch gây hại trên cây huệ
Kết quả khảo sát của Nguyễn Trí Thanh (2007) đã ghi nhận có 2 loài bù lạch
gây hại trên cây huệ đó là: Thrips hawaiiensis và Haplothrips sp Bù lạch chủ yếu
gây hại trên hoa, cả ấu trùng và thành trùng chích hút nhựa hoa làm cho các cánh hoa bị xoăn và có những vết héo màu nâu vàng Cánh hoa bị héo và khô đi nhưng không rụng liền Xuất hiện chủ yếu vào mùa nắng, tuy nhiên do chỉ xuất hiện rải rác với mật số thấp nên loài này cũng chưa gây hại đáng kể trên cây huệ
1.2.5.4 Sâu đo Plusia sp.2
Trong tự nhiên sâu thường hiện diện và gây hại ở mặt ngoài của lá huệ Chúng thường ăn từ 2 mép lá vào hay từ giữa lá, sâu tuổi nhỏ thì chỉ ăn biểu bì lá, tuổi lớn sâu ăn rất mạnh trên lá Loài này xuất hiện phổ biến trên huệ với mật số khá cao nên sự gây khá quan trọng Trong quá trình nuôi trong điều kiện phòng thí nghiệm thì loài này bị chết rất nhiều do bị ký sinh, bị bệnh và các nguyên nhân khác chưa xác định được (Nguyễn Trí Thanh, 2007)
1.2.5.5 Sâu ăn lá và bông Spilosoma multiguttata
Sâu gây hại cả trên lá và trên bông với sức ăn rất mạnh Kết quả khảo sát trong phòng thí nghiệm, vào giai đoạn tuổi cuối sâu có thể ăn hết 6-7 đoạn lá huệ dài 4 cm và 4-5 tai bông huệ trong một ngày Tuy nhiên, trong điều kiện tự nhiên, loài này xuất hiện rải rác và chưa thấy gây hại quan trọng trên cây hoa huệ (Nguyễn Trí Thanh, 2007)
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu
Trang 401.2.5.6 Bệnh hại trên cây huệ trắng
Thối củ hay thối nhũn do vi khuẩn Ralstonia solanacerum gây ra, giảm tác
hại bằng biện pháp chuẩn bị đất thông thoáng, rải vôi và bón phân hữu cơ, bổ sung lân, kali cân đối để tăng sức đề kháng (Đặng Phương Trâm, 2005)
1.2.6 Một số đặc điểm về bệnh chai bông trên cây huệ trắng
Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Chương và Võ Xuân Tân (2005), bệnh chai bông có thể gây hại trong suốt các giai đoạn của cây, từ giai đoạn khi cây còn nhỏ cho đến lúc trổ bông và thể hiện rất rõ trên thân, lá và bông Triệu chứng được ghi nhận như sau:
- Giai đoạn trước khi ra bông:
Bệnh có thể bắt đầu xuất hiện khi củ huệ đã trồng ra những lá đầu tiên và gây hại nặng dần Nếu bệnh nhẹ có thể để lại trên một số lá những đường gân sọc màu nâu đỏ kéo dài từ bẹ lá đến chót lá Nếu bệnh nặng có thể làm cho tất cả các lá quăn queo và đọt xoăn lại, trên lá phủ đầy những đường gân sọc màu nâu đỏ ở dạng nứt nhiều hướng Nếu tách phần đọt xoăn ra quan sát bên trong, ta sẽ thấy phần lá non
và đặc biệt là đỉnh sinh trưởng hầu như bị hư hại và có màu nâu đỏ hoặc thui đen Những cây bị xoăn nếu để lâu, trên phần lá và đọt xoăn sẽ xuất hiện những đường nứt theo chiều ngang làm cho lá và đọt rất giòn, khi chạm đến rất dễ gãy
- Giai đoạn ra bông:
Triệu chứng rất đặc trưng của bệnh là làm cho bông bị chai nên nông dân ở Cai Lậy - Tiền Giang còn gọi là bệnh chai bông Khi cây bệnh nặng làm cho bông không trổ lên được giống như lúa ngẹn đồng Triệu chứng bệnh trên bông rất đặc trưng thể hiện ở chiều cao bông, triệu chứng gai trên thân và tai bông Đầu tiên, bông bị bệnh chai bông có chiều cao thấp hoặc rất thấp so với bông bình thường và phát bông rất ngắn Thân có rất nhiều gai sần màu xanh sau đó chuyển sang màu nâu và thân bị quặn quẹo Tai bông, bị nhẹ hơi bị biến dạng, bông búp màu vàng nâu, hoặc nặng hơn sẽ không nở toàn bộ số tai bông, sau đó thui đen từ bên trong ra
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu