1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐIỀU TRA kỹ THUẬT CANH tác bưởi năm ROI tại HUYỆN BÌNH MINH TỈNH VĨNH LONG

61 680 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG      Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài: Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

NGUYỄN TUẤN CƯỜNG

ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC BƯỞI NĂM ROI TẠI HUYỆN BÌNH MINH

TỈNH VĨNH LONG

LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC

Cần Thơ 05/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC BƯỞI NĂM ROI TẠI HUYỆN BÌNH MINH

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

    

Chứng nhận đã chấp thuận luận văn với đề tài:

Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

Do sinh viên Nguyễn Tuấn Cường thực hiện

Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét

Cần Thơ, ngày …… tháng ……năm 2012

Cán bộ hướng dẫn

TS Lê Thanh Phong

Trang 4

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG

BỘ MÔN KHOA HỌC CÂY TRỒNG

    

Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp đã chấp thuận luận văn với đề tài:

Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

Do sinh viên Nguyễn Tuấn Cường thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng ngày

tháng năm 2012

Luận văn đã được Hội đồng chấp nhận và đánh giá ở mức: ………

Ý kiến Hội đồng: ………

………

………

Cần Thơ, ngày …… tháng ……năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -

DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Tuấn Cường

Trang 6

LÝ LỊCH CÁ NHÂN

Sinh viên: Nguyễn Tuấn Cường Giới tính: Nam

Năm sinh: Ngày 07 tháng 06 năm 1987 Nơi sinh: Cần Thơ

Quê quán: Quận Ô Môn – TP Cần Thơ Dân tộc: Kinh

Con Ông Nguyễn Trung Chánh và Bà Võ Thị Nghi

Đã tốt nghiệp trung học phổ thông tại Trường Trung Học Phổ Thông quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ

Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2008, học ngành Nông Học, khoá 34, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng

Trang 7

Chân thành cảm ơn thầy cố vấn học tập TS Phạm Ngọc Du cùng toàn thể quý thầy

cô Khoa Nông nghiệp & Sinh học ứng dụng về những kiến thức quý báu mà quý thầy cô đã truyền dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường

Chân thành cám ơn cô Phan Thị Bé và các cô, chú Phòng Nông nghiệp huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài

Trang 8

NGUYỄN TUẤN CƯỜNG, 2012 Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi tại

huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông học, Khoa Nông nghiệp và Sinh học ứng dụng, Trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS Lê Thanh Phong (38 trang)

TÓM LƯỢC

Nhằm tìm hiểu kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi của nông dân, đề tài “Điều tra

kỹ thuật canh tác bưởi Năm Roi tại Huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long” được thực hiện từ tháng 10/2010 đến tháng 5/2012 tại huyện Bình Minh Tổng số hộ điều tra là

60 hộ

Kết quả điều tra cho thấy, diện tích trồng bưởi Năm Roi của các hộ nông dân là nhỏ, trung bình là 0,74 ha, tuổi cây trung bình là 8,9 tuổi Tất cả hộ điều tra đều trồng chuyên canh bưởi với nguồn giống có sẵn ở địa phương Kích thước mương liếp chưa cân đối, thiết kế mô khá phù hợp nhưng chưa quan tâm đến việc

xử lý mô hay đất trước khi trồng Mật độ cây trồng trên đất liếp trung bình là 574,5 cây/ha Về chăm sóc, nông dân dùng motor điện để tưới cho vườn; tất cả hộ có tỉa cành, tỉa trái cho cây hàng năm; có 74,9% dùng máy phát cỏ và 1,7% dùng thuốc trừ cỏ; việc xử lý ra hoa chỉ có 3,3% hộ thực hiện; tỷ lệ nông dân có bón phân hữu

cơ là 50%, có 23,3% số hộ sử dụng phân bón lá Tất cả nông dân sử dụng phân hóa học nhưng lượng sử dụng khá cao so với khuyến cáo Về sâu bệnh, tỷ lệ vườn có xuất hiện sâu Vẽ bùa là 43,2%, bệnh Vàng lá gân xanh chiếm 67,9% Nông dân thu hoạch trái rải vụ quanh năm Các yếu tố canh tác như mật độ trồng, tuổi cây và lượng đạm bón trên ha là những yếu tố có thể dự đoán năng suất bưởi Năm roi trong điều kiện canh tác tại Bình Minh, Vĩnh Long

Tiêu thụ sản phẩm chủ yếu phụ thuộc vào thương lái (96,7%) Chi phí sản xuất trung bình cho 1 ha bưởi Năm Roi là 27.604.000 đồng, lợi nhuận cho 1 ha bưởi trung bình là 90.342.000 đồng

Trang 9

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 3

1.1 GIÁ TRỊ VÀ NGUỒN GỐC CÂY CÓ MÚI 3

1.1.1 Giá trị cây có múi 3

1.1.2 Ngồn gốc cây có múi 3

1.1.3 Nguồn gốc của cây bưởi Năm roi 4

1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC 4

1.2.1 Rễ 4

1.2.2 Thân cành 4

1.2.3 Lá 5

1.2.4 Hoa 5

1.2.5 Trái 6

1.2.6 Hột 6

1.3 YÊU CẦU SINH THÁI CÂY BƯỞI 6

1.3.1 Khí hậu 6

1.3.1.1 Nhiệt độ 6

1.3.1.2 Ánh sáng 7

1.3.1.3 Vũ lượng 7

1.3.1.4 Gió 7

1.3.2 Nước 7

1.3.3 Đất 8

1.4 KỸ THUẬT CANH TÁC 8

1.4.1 Chuẩn bị đất trồng 8

1.4.2 Kỹ thuật trồng 9

1.4.2.1 Thời vụ trồng 9

1.4.2.2 Mật độ trồng 9

1.4.2.3 Khoảng cách và kiểu trồng 9

1.4.3 Chăm sóc 9

1.4.3.1 Đấp mô và bồi liếp 9

1.4.3.2 Làm cỏ, che phủ và xới đất 10

1.4.3.3 Tưới tiêu nước 10

1.4.4 Xử lý ra hoa 10

1.4.4.1 Xiết nước 10

1.4.4.2 Lặt bỏ lá trên cành vượt 11

Trang 10

1.4.4.3 Sử dụng hoá chất 11

1.4.5 Kỹ thuật bón phân 11

1.4.6 Tạo hình và cắt tỉa 12

1.4.7 Côn trùng và sâu bệnh 13

1.4.8 Thu hoạch và tồn trữ 14

1.4.8.1 Thu hoạch 14

1.4.8.2 Tồn trữ 14

1.5 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH MINH 14

1.5.1 Vị trí địa lý 14

1.5.2 Đất đai, khí hậu và thủy văn 15

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP 16

2.1 PHƯƠNG TIỆN 16

2.2 PHƯƠNG PHÁP 16

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17

3.1 THÔNG TIN NÔNG HỘ 17

3.1.1 Tuổi nông dân 17

3.1.2 Lao động gia đình 17

3.2 KỸ THUẬT CANH TÁC 18

3.2.1 Diện tích vườn và kích thước mương liếp 18

3.2.2 Kỹ thuật thiết kế mương liếp 19

3.2.3 Kỹ thuật xử lý đất trước khi trồng 20

3.2.4 Hệ thống dẫn thoát nước 20

3.2.5 Đặc tính nông học của cây giống 21

3.2.6 Kỹ thuật trồng 21

3.3 KỸ THUẬT CHĂM SÓC 24

3.3.1 Tưới tiêu 24

3.3.2 Phân bón 24

3.3.2.1 Phân hóa học 24

3.3.2.2 Phân hữu cơ 25

3.3.2.3 Phân bón lá 25

3.3.3 Tủ gốc 26

3.3.4 Làm cỏ 27

3.3.5 Cắt tỉa, tạo hình cho cây 27

3.3.6 Kỹ thuật xử lý ra hoa 28

3.3.7 Sâu, bệnh 29

3.4 PHÂN TÍCH HỒI QUY……… 32

Trang 11

3.4 THU HOẠCH VÀ TIÊU THỤ SẢN PHẨM 32

3.5 HIỆU QUẢ KINH TẾ 33

CHƯƠNG 4 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 35

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….36 PHỤ LỤC

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH

Hình 1 Vị trí địa lý huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long 15

Hình 3.1 Tỷ lệ (%) tuổi nông dân điều tra………17

Hình 3.2 Tỷ lệ (%) Kiểu thiết kế mương liếp………… ………20

Hình 3.3 Kỹ thuật xử lý cây con trước khi trồng 22

Hình 3.4 Tỷ lệ (%) kiểu trồng bưởi trên liếp của nông dân 24

Hình 3.5 Tỷ lệ (%) số hộ sử dụng phân bón lá 26

Hình 3.6 Tỷ lệ (%) số hộ nông dân tủ gốc cho cây bưởi 27

Hình 3.7 Tỷ lệ (%) hình thức làm cỏ vườn của nông dân 27

Hình 3.8 Tỷ lệ (%) số hộ xử lý ra hoa trên bưởi Năm roi 28

Hình 3.9 Tỷ lệ (%) các loại côn trùng gây hại xuất hiện trên vườn bưởi Năm roi 30

Hình 3.10 Tỷ lệ (%) các loại bệnh thường xuất hiện trên vườn bưởi Năm roi 32

Hình 3.11 Tỷ lệ (%) hình thức tiêu thụ bưởi Năm roi của nông dân………33

Trang 13

DANH SÁCH BẢNG

Bảng 1.1 Liều lượng phân bón cho các loại cam quýt (g/câynăm) 12

Bảng 3.1 Thông tin nông hộ được điều tra……… 17

Bảng 3.2 Thiết kế vườn của nông dân trồng bưởi………19

Bảng 3.3 Thông tin vườn điều tra……….………21

Bảng 3.4 Tỷ lệ (%) nông hộ sử dụng các loại phân bón lót 23

Bảng 3.5 Tỷ lệ (%) sử dụng các loại phân hóa học 25

Bảng 3.6 Hàm lượng dinh dưỡng từ phân hóa học cung cấp cho cây hàng năm (kg/cây) 25

Bảng 3.7 Tỷ lệ (%) nông dân sử dụng các loại nông dược để phòng trị sâu hại cho bưởi 30

Bảng 3.8 Tỷ lệ (%) các khâu chi phí… ……… 34

Bảng 3.9 Hạch toán kinh tế của nông dân trồng bưởi Năm roi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long (đơn vị 1.000 đ/ha/năm) 34

Trang 14

MỞ ĐẦU

Trên thế giới cũng như ở Việt Nam nghề trồng cây ăn trái đã và đang khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế, từ việc giúp xóa đói giảm nghèo cho nông dân vùng sâu đến việc xuất khẩu thu ngoại tệ, góp phần nâng cao đời sống cho người dân phát triển kinh tế, giải quyết việc làm,…

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong bảy vùng kinh tế trọng điểm nằm ở phần cực Nam của đất nước, có diện tích tự nhiên khoảng 4 triệu ha chiếm khoảng 12% tổng diện tích cả nước ĐBSCL là vùng hạ lưu châu thổ sông

Mê Kông, được xem là vùng trù phú nhất Việt Nam và cũng là vựa lúa lớn, vùng trồng cây ăn trái lớn nhất cả nước Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), sản lượng cây ăn trái ĐBSCL là 285.800 ha (năm 2011) đạt 36% sản lượng

cả nước Với điều kiện tự nhiên của vùng ĐBSCL, việc khai thác đa dạng tiềm năng đất đai của vùng cũng như đa dạng hóa cây trồng để tăng thêm nguồn nông sản phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc xuất khẩu như chôm chôm, bưởi Năm roi, xoài cát Hòa Lộc,…là rất cần thiết

Tỉnh Vĩnh Long có diện tích trồng cây ăn trái khoảng 47.630 ha, chiếm 33,3% diện tích đất nông nghiệp (Sở Nông nghiệp tỉnh Vĩnh Long, 2011), vườn cây

ăn trái phát triển đa dạng với nhiều chủng loại cây có giá trị kinh tế cao như: sầu riêng, măng cụt, xoài, bòn bon, cam, bưởi,… trong đó, bưởi Năm roi là một đặc sản,

có thương hiệu của tỉnh với diện tích trồng toàn vùng là 7.788 ha Các vườn bưởi Năm roi tập trung nhiều ở huyện Bình Minh với diện tích khoảng 2.033 ha, trong đó

xã Mỹ Hòa có diện tích trồng nhiều nhất Ngoài ra, các xã Mỹ Khánh II, Mỹ An,

Mỹ Phước, Mỹ Thới,… cũng có trồng khá nhiều bưởi Năm roi Cùng với bưởi Biên Hòa, bưởi Da xanh (Bến Tre),… bưởi Năm roi Vĩnh Long đang có vị thế chắc chắn trong thị trường tiêu thụ nội địa cũng như xuất khẩu

Theo điều tra, đánh giá của ngành nông nghiệp, điểm yếu kém tồn tại trong việc canh tác bưởi Năm roi của nhà vườn hiện nay là sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán theo hộ gia đình Ở các vườn chuyên canh thì chất lượng trái đạt tiêu chuẩn xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 15-20% (Sở Nông Nghiệp tỉnh Vĩnh Long, 2008), trái thường không đồng nhất về hình dạng, kích thước Trong canh tác, nông dân thường

sử dụng nhiều phân hóa học, hóa chất,…Ngoài ra, việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong canh tác bưởi (bón phân, phòng trị sâu bệnh,…) vẫn chưa được cập nhật và phổ biến thường xuyên cho nông dân

Trang 15

Đề tài “Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Năm roi tại huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long” có mục địch đánh giá kỹ thuật canh tác và hiệu quả kinh tế trong

sản xuất bưởi Năm roi để làm cơ sở đề xuất những cải tiến kỹ thuật, nhằm hỗ trợ tốt hơn việc canh tác bưởi Năm roi cho nông dân

Trang 16

CHƯƠNG 1

LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

1.1 GIÁ TRỊ VÀ NGUỒN GỐC CÂY CÓ MÚI

1.1.1 Giá trị cây có múi

Theo Vũ Công Hậu (2000), cam , quýt, bưởi là một trong các loại trái cao cấp được nhiều người ưa chuộng và sản xuất ở nhiều nước trên thế giới

Giá trị dinh dưỡng: Trái cam quýt có nhiều chất dinh dưỡng, cho nên có giá trị sử dụng rất cao Trong thành phần thịt trái có chứa 6-12% đường, chủ yếu là đường saccaroza Hàm lượng vitamin C trong trái là 40-90 mg/100 g tươi Các loại axit hữu cơ chứa trong thịt trái là 0,4-1,2%, trong đó có nhiều loại axit có hoạt tính sinh học cao Trong trái cam quýt có chứa các chất khoáng và dầu thơm Trái cam quýt được dùng để ăn tươi, làm mứt, chế biến nước giải khát, chưng cất tinh dầu và làm thuốc chữa bệnh

Giá trị công nghiệp và dược liệu: Vỏ, lá, hoa cam quýt chứa nhiều tinh dầu được sử dụng qua chưng cất, dùng trong công nghiệp mỹ phẩm, đặc biệt là 1 tấn trái

chanh yên, có thể chưng cất được 67 lít tinh dầu (Trần Thế Tục và ctv., 1998)

Giá trị kinh tế: Cây ăn trái có múi là một trong những loại cây lâu năm, trồng mau thu hoạch, cây có thể ra trái năm thứ 2 sau khi trồng Ở nước ta, 1 hecta cam quýt ở thời kỳ 8 tuổi, có thể cho năng suất trung bình 16 tấn, nếu áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cao có thể đạt năng suất bình quân 20 tấn/ha (Trần Thế

Tục và ctv., 1998)

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), cây cam quýt có thể sống

và cho thu hoạch trái trong vòng 23-30 năm Nếu đất tốt, được chăm sóc đầy đủ, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cao, trồng trong các điều kiện khí hậu thích hợp và không bị sâu bệnh gây hại nặng thì tuổi thọ cây có thể kéo dài trên 50 năm,

có khi đạt đến 100 năm

1.1.2 Ngồn gốc cây có múi

Vũ Công Hậu (2000), khó xác định nguồn gốc của cây có múi vì có rất nhiều chủng loại và đó là cây trồng lâu năm và có diện tích phân bố rộng từ xích đạo lên tới vĩ tuyến 430, từ mặt nước biển lên núi cao 2.500 m Các loài, thậm chí

Trang 17

các chi lai hữu tính với nhau một cách dễ dàng, luôn sản sinh ra các loài mới và có những loài người ta không xác định được bố mẹ

Đường Hồng Dật (2000) và Trần Thế Tục và ctv., (1998) cho rằng, cây có

múi hiện đang trồng nhiều nước trên thế giới đều có nguồn gốc từ các nước vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Đông Nam Châu Á

1.1.3 Nguồn gốc của cây bưởi Năm roi

Bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L) Osbeck., thuộc nhóm Citrus, họ Rutaceae (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994; Vũ Công Hậu, 2000; Trần Thế Tục,

2000), là loại cây được trồng lâu đời và được phân bố rộng từ Bắc tới Nam (Võ Hữu Thoại, 2000) Theo lời kể của ông Mười Tước (một nông dân trồng Bưởi Năm roi lâu đời tại Bình Minh), người gầy giống đầu tiên cho loại bưởi Năm roi là ông Hội đồng Huy (Bùi Quang Huy), ở làng Mỹ Thuận, huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long Cây “bưởi tổ” từng có trước năm 1930 Một hôm ông hội đồng Huy được bạn bè biếu cho một loại trái bưởi ngoan, ăn xong, ông Huy vô tình vứt hạt vào vườn trầu, sau đó hạt bưởi mọc thành cây và ra hoa kết trái Khi hái trái ăn thấy ngon , ông Hội đồng quí cây bưởi, ông dọa người trong nhà: “Ai làm mất một trái sẽ bị đánh Năm roi” Từ đó, giống bưởi lạ “chết tên” là bưởi Năm roi Lúc đó, nhờ có mối quan hệ thân tình nên ông Mười Tước được ông Bùi Hà Thanh, con trai thứ tư của ông Hội đồng Huy chiết cho năm nhánh đem về trồng và làm giống Cho đến nay, giống bưởi này đã được nhân ra và trồng rộng rãi không chỉ riêng ở huyện Bình Minh (Vĩnh Long) mà còn ở các nơi khác như Cần Thơ, Sóc Trăng, Tiền Giang,…

1.2 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC

1.2.1 Rễ

Theo Nguyễn Văn Luật (2006), cam, quýt, bưởi có rễ phát triển xen kẽ với

sự phát triển của cành lá Rễ cam quýt phân bố ở tầng sâu 10-13 cm, rễ hút tập trung ở tầng sâu 10-25 cm, rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1-8 năm tuổi sau trồng, sau

đó suy giảm nhiều và tái sinh kém (Trần Thế Tục và ctv., 1998) Cây có múi được

trồng bằng nhánh chiết có rễ mọc cạn hơn trồng bằng hạt, phân bố trên diện tích rộng, có nhiều rễ hút nên ít bị tác hại của mặt thủy cấp (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

1.2.2 Thân cành

 Thân

Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1999), thân bưởi to lớn hơn các cây có múi

khác Khi trồng mật độ dày thì mọc thẳng hình elip (Đường Hồng Dật, 2000) Cây 6

Trang 18

tuổi trung bình cao 3,8 m, chiều cao đối đa là 7,0 m (Trần Thượng Tuấn và ctv.,

1999) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), bưởi Năm roi trồng bằng nhánh chiết cho trái sau 2-3 năm, năm thứ 5 có thể cho năng suất 20 kg/cây, cây trưởng thành cho trung bình 53 kg/cây

 Cành

Chỉ trừ những cành vượt thường có gai ở nách lá, còn lại những cành khác

thường không có gai vì cây được chiết qua nhiều đời (Trần Thượng Tuấn và ctv.,

1999) Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) cho biết, trong một năm cây cho

ra 3-4 đợt cành, tùy chức năng của các cành trên cây có thể gọi như sau:

Cành mang trái: cành mang trái mọc từ những cành lớn hơn gọi là cành mẹ, những cành mang trái mọc ra ở ngọn hay gần ngọn của cành mẹ là những cành đậu trái tốt hơn những cành bên trong Vì phải tập trung dinh dưỡng để nuôi trái nên thường cành mang trái không tiếp tục cho ra những cành mới trong năm kế tiếp Sau khi thu hoạch cành mang trái thường bị héo khô đi

Cành dinh dưỡng: là tên gọi chỉ chung cho tất cả các loại cành ở giai đoạn chưa ra hoa, trái, thường mọc vào cac mùa trong năm

Cành mẹ: là cành tạo ra cành mang trái, cành to khỏe lâu, tròn mình thăng lên từ bên trong tán cây từ những cành chính hay thân

Cành vượt: là loại cành mọc thẳng lên bên trong tán cây, từ những cành hay thân Cành phát triển mạnh, đẹp, màu xanh, lá to bóng láng, đôi khi có gai dài Loại cành này khi phát triển đã sữ dụng nhiều chất dinh dưỡng của cây mà không có lợi ích nhiều, chúng lại là nơi sâu bệnh thích tấn công Do đó, khi cây còn non chưa có hoa trái thì giữ lại để tạo khung tán, còn khi cây đã trưởng thành thi nên cắt bỏ

1.2.4 Hoa

Hoa có thể nở quanh năm tùy theo các đợt đọt, hoa có hai loại: hoa đơn và hoa chùm Nhóm hoa đơn thường chỉ ra một hoa ở đầu cành mang quả, còn nhóm

Trang 19

hoa chùm thì trên cành mang quả, ở mỗi nách lá có một hoa và trên ngọn cành cũng

chỉ có một hoa (Hoàng Ngọc Thuận, 2000; Trần Thế Tục và ctv., 1998; Đường

Hồng Dật, 2000) Hoa có 4-8 cánh (thường là 5 cánh), màu trắng dính liền vào nhau

ở đáy Cánh hoa dài khoảng 30,5 mm và rộng 13,5 mm Trung bình có 27 nhị đực,

có bao phấn dài khoảng 4,1 mm, hạt phấn của bưởi Năm roi có sức sống kém Hoa

bưởi Năm roi có mùi thơm rất dịu (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999)

1.2.5 Trái

Ở bưởi, thời gian từ khi trổ hoa đến lúc trái chin là 7 đến 8 tháng (Trần

Thượng Tuấn và ctv., 1995; Võ Hữu Thoại và ctv., 2002) Trái sau khi chín có thể

neo trên cây từ 1 đến 2 tháng nhưng rất dễ làm cho cây mất sức Trái có hình quả lê, trọng lượng trung bình 1.241,8 g Khi chín vỏ trái thường có màu xanh vàng, thấy

rõ túi tinh dầu, vỏ trái sần và dầy đến 19 mm, nặng khoảng 516 g, chiếm gần đến 41,6 trọng lượng trái Mỗi trái trung bình có 12 múi, vách múi dai và cứng nên có thể tách rời từng tép dễ dàng Lượng nước quả trung bình, có màu vàng nhạt, thơm ngon, nước quả có độ Brix trung bình là 10,9 % và trị số pH = 4,5 (Trần Thượng

Tuấn và ctv., 1999)

1.2.6 Hột

Theo Trần Thế Tục và ctv., (1998) hạt cam quýt phần lớn là đa phôi, chỉ

riêng bưởi và các giống lai của chúng là đơn phôi Hình dạng, kích thước, trong lượng, số lượng hột trái và mỗi múi thay đổi tùy giống (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Bưởi Năm roi chính gốc có vài hột nhưng qua quá trình nhân giống bằng phương pháp chiết đến nay bưởi Năm roi gần như không hột Tuy nhiên, cũng có những cây bưởi Năm roi được nhân giống bằng hột, cây bị lai hoặc phân ly thì cho nhiều hột Không có hoặc có ít hột là một ưu thế của bưởi Năm roi

trong việc xuất khẩu trái tươi (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1999; Nguyễn Bảo Vệ,

Trang 20

ngại, vỏ quả không chín vàng, thịt quả trắng lạt Còn ở bưởi và bưởi chùm, màu đỏ không phải có từ sắc tố Licopen, sắc tố này đòi hỏi nhiệt độ cao

Trần Thế Tục và ctv., (1998), nhiệt độ đất và không khí có ảnh hưởng đến

toàn bộ hoạt động của cây cam quýt như phát lộc và sinh cành mới, sự hoạt động của bộ rễ Ánh sáng cường độ ánh sáng thích hợp là 10.000-15.000 lux (tương đương nắng sáng lúc 8 giờ hoặc nắng chiều lúc 16-17 giờ) (Đường Hồng Dật, 2002)

1.3.1.2 Ánh sáng

Cây cam quýt không ưa ánh sáng mạnh, thích ánh sáng tán xạ có năng lượng tương ứng với 0,6 Cal/cm2

(Trần thế Tục và ctv., 1998) Trong họ cam quýt thì bưởi

chịu ánh sáng tương đối cao, kế đến là cam Có thể tạo điều kiện ánh sáng vừa phải cho cam quýt ở ĐBSCL bằng việc trồng dầy hợp lý, như trồng dầy trên hàng nhưng thưa giữa các hàng và có thể bố trí liếp trồng theo hướng Đông - Tây để tránh bớt ánh sáng trực xạ (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

1.3.1.3 Vũ lượng

Theo Trần Thế Tục (2000), lượng mưa hàng năm ở các vùng trồng bưởi cần khoảng 1.000- 2.000 mm, tuy nhiên, do lượng mưa phân bố không đều ở các tháng trong năm, cho nên ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất của quả Nhìn chung, cây bưởi cũng như cây cam quýt rất mẫn cảm với điều kiện ngập úng (Nguyễn Văn Luật, 2006) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), cam quýt không thích hợp với khí hậu nhiệt đới quá ẩm và ẩm độ không khí quá cao, yêu cầu ẩm độ không khí khoảng 75%

1.3.1.4 Gió

Gió nhẹ thì có lợi vì làm cho không khí luân chuyển, độ nhiệt điều hòa, các thành phần khí như hơi nước, CO2 trộn điều có lợi cho hoạt động của bộ lá (Vũ

Công Hậu, 2000) Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), gió nhẹ với vận tốc

khoảng 5-10 km/h có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn trong mùa hè, cây được thoáng mát giảm sâu bệnh

1.3.2 Nước

Cam quýt rất cần nước cho các thời kì sinh trưởng, phát triển, thời kì nảy mầm, ra hoa, kết trái và trái phát triển mạnh Tuy nhiên, nếu bị úng nước rễ bị thối, cây chết Yêu cầu của các loài giống có khác nhau: chanh cần nhiều nước hơn quýt, quýt cần nhiều nước hơn cam Cây ghép cần nhiều nước hơn cây trồng hột (Phạm

Văn Côn, 2003) Theo Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), không dùng nước phèn

Trang 21

mặn để tưới cho cam quýt, lượng muối trong nước tưới phải nhỏ hơn 1,5 gam NaCl/lít nước và lượng Mg không quá 0,3 gam/lít nước

1.3.3 Đất

Theo Nguyễn Văn Luật ( 2006) và Trần Thế Tục (2000), đất vừa là nơi để cây ra rễ cắm xuống giữ chặt cây, vừa là nơi cung cấp nước và thức ăn nên đất trồng phải có tầng canh tác dày ít nhất là 0,6 m, thành phần cơ giới nhẹ hoặc trung bình, tơi xốp, thông thoáng, thoát nước tốt, có hàm lượng hữu cơ cao trên 3%, pH từ 5,5-

7, nhiễm mặn không quá 3‰, mực nước ngầm dưới 0,8 m

Về hình thức đào mương liếp, theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong

(2004); Trần Thượng Tuấn và ctv (1994), tùy theo tính chất của đất mà áp dụng

một trong các kiểu lên liếp như sau:

- Lên liếp theo lối cuốn chiếu áp dụng cho những vùng có lớp đất mặt dầy, tốt và lớp đất dưới không xấu lắm

- Lên liếp theo kiểu đấp thành băng hay đắp thành mô áp dụng cho những vùng có lớp đất mặt mỏng nhưng lớp đất dưới lại không tốt lắm, thậm chí có chút ít phèn

- Lên liếp theo lối kê đất áp dụng ở những vùng đất có lớp đất mặt mỏng, lớp dưới không tốt, có phèn,…

Về kích thước mương liếp, tùy theo vùng đất, chiều rộng liếp cần từ 6-8 m (trung bình 7 m), thích hợp để bố trí trồng 2 hàng (liếp đôi) Ở vùng ĐBSCL nên áp dụng biện pháp đào mương lên liếp Mương thoát và tiêu nước có chiều rộng khoảng 2 m, chiều sâu 1-2 m, liếp rộng 4-5 m cho liếp đơn hoặc 8-10 m cho liếp đôi Lên liếp có thể áp dụng theo kiểu cuốn chiếu hoặc đắp mô (RPC, 2006) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), chiều cao liếp tùy theo đỉnh lũ trong năm, tuy nhiên, chiều cao liếp thích hợp cho hầu hết cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm ít nhất khoảng 30 cm

Trang 22

1.4.2 Kỹ thuật trồng

1.4.2.1 Thời vụ trồng

Ở ĐBSCL có thể trồng bưởi quanh năm nhưng phải bảo đảm được nước tưới

và tiêu nước cho cây Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), có thể trồng bưởi đầu hay cuối mùa mưa nhưng tốt nhất là trồng vào đầu mùa mưa để có

đủ nước

1.4.2.2 Mật độ trồng

Mật độ trồng bưởi hợp lý đối với các cây ghép là từ 300-500 cây/ha (Rau Quả Việt Nam, 2007) Các loài cam, quýt, chanh nhân giống vô tính (chiết, ghép),

có thể trồng với mật độ dầy hơn, từ 800-1.200 cây/ha (Đường Hồng Dật, 2002)

Áp dụng mật độ trồng hợp lý cần chú ý về giống, đất đai, kỹ thuật canh tác

và phương pháp nhân giống,… Một trong các yếu tố hạn chế năng suất của cây có múi ở ĐBSCL là mật độ trồng quá dầy, ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

1.4.2.3 Khoảng cách và kiểu trồng

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), tuỳ thuộc vào giống, đất đai, kỹ thuật canh tác, phương pháp nhân giống Các loại khoảng cách trồng thích hợp được đề nghị như sau:

- Cam Mật, cam Dây, các loại quýt, chanh: 4 x 4 m

- Cam Sành: 3 x 3 m

- Bưởi: 6 x 6 m

Kiểu trồng hình vuông và chữ nhật là kiểu trộng phổ biến, kiểu trồng này dễ

áp dụng cơ giới hóa và chăm sóc Kiểu nanh sấu (trồng hai hàng so le) thì thích hợp cho trồng dầy Trồng theo chữ ngũ là liếp được trồng 3 hàng (trồng theo kiểu hình vuông rồi trồng thêm một hàng ở giữa), kiểu trồng này cho nhiều cây hơn so với kiểu trồng hình vuông Trồng theo kiểu tam giác là liếp trồng 3 hàng (hai hàng bìa trồng kiểu chữ nhật, thêm 1 hàng ở giữa), kiểu trồng này tăng được 50% số cây so

với kiểu trồng chữ nhật (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)

1.4.3 Chăm sóc

1.4.3.1 Đấp mô và bồi liếp

Theo Đường Hồng Dật (2002), ở các tỉnh ĐBSCL thường làm mô để trồng cam, quýt, bưởi nhằm mục đích là nâng cao tầng canh tác Để đắp thành mô, có thể

Trang 23

dùng các loại đất ao, mương vườn cũ, đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông phơi khô Mô có dạng hình tròn, đường kính 0,6-0,8 m, cao từ 0,3-0,5 m tùy địa hình (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Có thể trộn vào đất mô 00-200 g phân lân và 5-10 kg phân chuồng hoặc rơm rác ủ mục để tạo điều kiện cho rễ cây phát triển trong giai đoạn đầu (Đường Hồng Dật, 2002)

Việc bồi bùn lên liếp có thể kết hợp trong kỹ thuật xử lý ra hoa: có thể bồi bùn vào khoảng tháng 2-3 dương lịch hoặc sau mùa mưa với lớp bùn dày khoảng 2-

3 cm là tốt nhất Thời gian bồi bùn có thể tiến hành 2 năm bồi một lần (RPD, 2006)

1.4.3.2 Làm cỏ, che phủ và xới đất

Cỏ dại có thể bị tiêu diệt bằng cơ giới, dụng cụ thủ công hoặc bằng kỹ thuật canh tác, nhưng thường việc làm cỏ chỉ diễn ra khi có sự cạnh tranh nước và ánh sáng (Nguyễn Bảo Vệ, 2003) Theo Nguyễn Bảo Vệ (2003), ở ĐBSCL, đất có hàm lượng sét cao nên dễ bí chặt và lèn mặt, nhất là vào mùa mưa lũ, nên biện pháp trồng cây che phủ trong vườn cây ăn trái để diệt cỏ và kết hợp cải tạo đất cần được quan tâm Trong mùa khô nên kết hợp làm cỏ và tủ gốc giữ ẩm cho cây

1.4.3.3 Tưới tiêu nước

Nước cùng với phân bón là 2 yếu tố kỹ thuật ảnh hưởng quan trọng đến sinh trưởng, phát dục của cây ăn trái Việc chủ động tưới hoặc tháo nước để đất có đủ độ

ẩm thích hợp là một biện pháp rất cơ bản để tăng sản lượng và chất lượng (Vũ Công Hậu, 2000)

Theo Nguyễn Bảo Vệ (2003), tưới nước phải áp dụng đúng thời điểm, đúng lưu lượng và liều lượng để cây trồng đạt sinh trưởng tối hảo và cũng để tiết kiệm nước Cây cam quýt, bưởi rất cần nước trong thời kỳ cây con và thời kỳ cây ra hoa đậu trái Tuy nhiên, cam quýt rất sợ bị ngập úng, do đó cần phải chú ý thoát nước cho cây trong mùa mưa lũ

1.4.4 Xử lý ra hoa

1.4.4.1 Xiết nước

Bưởi cần thời gian khô hạn để phân hóa mầm hoa Ở các vườn quản lý được nước thì có thể tạo sự khô hạn để kích thích bưởi ra hoa đồng loạt Tạo khô hạn vào tháng 12 đến tháng 01 dương lịch để xử lý ra hoa và thu hoạch trái vào dịp tết Trung thu; hoặc tạo khô hạn ở tháng 3-4 dương lịch và thu hoạch trái vào dịp Tết Nguyên đán Gặp lúc mưa nhiều thì có thể dùng nylon đen che phủ chung quanh gốc tạo sự khô hạn để xử lý ra hoa Muốn thu hoạch trái vào tháng 11-12 dương lịch, có thể thực hiện như sau: Sau thu hoạch tiến hành cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ,

Trang 24

quét vôi gốc và bón phân cho cây Cây được bón phân lần 2 trước khi xử lý ra hoa Đến đầu tháng 3 dương lịch, ngưng tưới nước cho tới 20/3 dương lịch (20 ngày) thì tưới nước trở lại 2-3 lần/ngày và tưới liên tục 3 ngày Nếu cây ra tượt non, dùng các loại phân như: 150g MKP (0-52-34) + 1g Progibb 10%/bình 8 lít, hoặc 200-350g KNO3/bình 8 lít phun lên cây để giúp lá non mau thành thục và kích thích ra hoa Đến ngày thứ tư, tưới nước 1 lần/ngày; 7-15 ngày sau khi tưới đợt đầu tiên cây sẽ ra hoa, lúc này tưới cách quảng mỗi ngày, khoảng 10-15 ngày sau khi cây trổ hoa thì hoa rụng cánh và đậu trái

1.4.4.2 Lặt bỏ lá trên cành vượt

Sau khi thu hoạch xong thì tiến hành vệ sinh vườn như: cắt tỉa cành già, cành sâu bệnh, làm cỏ, quét vôi gốc, kế đến bón phân lần 2 (bón ít đạm, nhiều lân và kali) với liều lượng tùy thuộc vào sự sinh trưởng và tuổi cây Khi toàn bộ lá trên cây già và không có đọt non xuất hiện thì tiến hành lặt bỏ lá trên cành vượt (cành thường ngắn, khoảng 10-20 cm) Cành này thường mọc ở chảng 2 hoặc chảng 3 của cây Nếu không lặt lá thì loại cành này cũng sẽ mang trái sau đó nhưng muộn hơn Chú ý bắt đầu lặt lá từ cành ở vị trí gần mặt đất trước sau đó tiến dần đến vị trí cao, nên chọn những cành già, thân và là có màu xanh đậm Tùy tình trạng sinh trường

và tuổi cây mà cành này sẽ cho hoa nhanh hay chậm

1.4.4.3 Sử dụng hoá chất

Có thể dùng Paclobutrazol ở liều lượng 2,5-5 g/cây (tùy theo tuổi cây và đường kính của cây mà tăng giảm liều lượng) tưới xung quanh gốc hoặc phun lên cây ở nồng độ 1.000-2.000 ppm cũng có khả năng giúp cây bưởi ra hoa Trên cây bưởi Năm roi phun Paclobutrazol nồng độ 1.000 ppm, sau đó 30 ngày phun tiếp Thiourea nồng độ 0,3% sẽ giúp bưởi Năm roi ra hoa đạt tỷ lệ cao (Trần Văn Hâu, 2005)

1.4.5 Kỹ thuật bón phân

Đỗ Thị Thanh Ren (2003) cho biết, phân bón góp phần làm tăng năng suất cây trồng khoảng 30-35%, đôi khi đạt đến 50% Sử dụng phân bón hợp lý sẽ làm tăng khả năng dự trữ chất dinh dưỡng của đất, làm cho đất ngày càng tốt hơn Cây cam quýt là loại cây trồng lâu năm, do đó cần phải bón phân hóa học cân đối kết hợp với phân hữu cơ thì mới cung cấp đầy đủ các dưỡng chất cho cây (Phạm Văn Lầm, 1999)

* Phân hữu cơ có tác dụng rất tốt trong việc cải tạo hóa lý tính của đất, ảnh hưởng đến sinh tính của đất và từ đó có tác dụng trực tiếp đến cây trồng (Vũ Hữu Yêm, 1995) Do có tỉ lệ mùn cao nên phân chuồng sẽ làm tăng khả năng giữ nước,

Trang 25

giữ và hạn chế sự mất dinh dưỡng của đất, giúp gia tăng khả năng cố định dinh dưỡng và kích thích vi sinh vật có ích và hoạt động của chúng trong đất, từ đó chúng sẽ tác động đến việc tăng trưởng và trao đổi của cây trồng (Mai Thị Phương Anh, 1996) Đường Hồng Dật (2002) khuyến cáo, ngay từ khi làm mô để trồng cây, cần phải trộn với đất mô một lượng phân chuồng từ 5-10 kg, điều này có tác dụng rất lớn cho sự phát triển của rễ trong giai đoạn đầu Hàng năm cần cung cấp cho cây một lượng phân là khoảng từ 1-3 thúng phân/cây (Phạm Văn Kim, 2000) Ngoài ra, việc bón phân hữu cơ, đặc biệt là tro trấu sẽ có tác dụng cung cấp chất kali và cải thiện thành phần cơ giới của đất, giúp đất tơ xốp để rễ dễ phát triển, đất không bị lèn úng trong mùa nước lũ (Phạm Công Tâm, 1998)

* Phân hóa học cung cấp các loại dưỡng chất chính cho cây trồng như đạm (N), lân (P), kali (K), thiếu một trong ba dưỡng chất đó cây trồng sẽ không cho năng suất cao (Nguyễn Thanh Hùng, 1984; Lê Văn Căn, 1978) Cây cam quýt hấp thu chất dinh dưỡng quanh năm nhưng nhiều nhất là trong thời kì nở hoa và khi cây đã phát triển đọt non Trong các nguyên tố đa lượng cam hút nhiều nhất là kali, kế đến

là đạm, canxi và lân (Đỗ Thanh Ren, 2003) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), phân bón có ảnh hưởng rất lớn đến phẩm chất của trái cam quýt bao gồm cả hình dáng bên ngoài, kích thước trái, cấu trúc vỏ, màu sắc trái và luôn cả chất lượng bên trong Tùy vào loại đất, thành phần dinh dưỡng trong đất, tuổi cây, năng suất vụ trước, mà quyết định công thức bón phân hợp lý cho cam quýt Theo khuyến cáo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004) có thể sử dụng lượng phân bón như sau:

Bảng 1.1 Liều lượng phân bón cho các loại cam quýt (g/câynăm)

Tuổi cây (năm) và năng suất (g/cây/năm) N P 2 O 5 K 2 O

1.4.6 Tạo hình và cắt tỉa

Theo Đường Hồng Dật (2002), trong thời kỳ kiến thiết cơ bản cây cam quýt chưa có trái cần chú ý xén tỉa cành Cắt tỉa bớt các cành nhỏ, cành vượt và cành mọc sâu trong tán Đặc biệt, cần tỉa nhỏ cành nhánh bị sâu bệnh gây hại Việc tỉa cành, tạo tán có tác dụng giúp cho thân cành phân bố hợp lý, tận dụng được không

Trang 26

cành và bộ rễ, việc tạo hình cần làm sớm khi cây còn nhỏ Việc cắt tỉa cần tiến hành sau thu hoạch trái, cắt những cành già, cành vượt, cành bị sâu bệnh, dập gẫy,

(Trần Thượng Tuấn và ctv., 1996) Theo Lê Thanh Phong (2003) cây ăn trái khó đạt

được năng suất và chất lượng tốt nếu để nó phát triển tự nhiên mà không cắt tỉa để tạo một dạng hình hợp lý Về mặt năng suất, chất lượng việc tạo tán, tỉa cành giúp cải thiện màu sắc trái do ảnh hưởng của ánh sáng, giúp cải thiên kích thước trái do

sự chuyễn vị chất dinh dưỡng trong cây được thuận lợi Họ cam quýt nói chung cũng như cây bưởi nói riêng không thích đốn tỉa thường xuyên vì cây sinh trưởng liên tục Tuy nhiên , việc cắt tỉa nhẹ cần được thực hiện, nhất là sau khi thu hoạch

trái (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1996), Không nên cắt bỏ quá 1/4 số cành/cây/năm

(Lê Thanh Phong, 2003)

1.4.7 Côn trùng và sâu bệnh

* Côn trùng gây hại

Do diện tích phân bố rộng, và là loại cây được thuần dưỡng rất lâu nên cây thuộc họ cam quýt được xem như là nguồn thức ăn quen thuộc cho nhiều sinh vật,

do đó, số lượng vi sinh vật ký sinh trên cam quýt rất nhiều và rất phong phú về chủng loại (có 12 loài nhện, 352 loài côn trùng và 186 loại tuyến trùng, ) Hiện nay, theo ghi nhận của một số nhà chuyên môn thì sự gây hại của một số loài như: sâu Vẽ bùa, ngài Đục trái, sâu Đục vỏ trái, bọ xít Xanh, rầy Chổng cánh, các lọai nhện, bù lạch và rệp sáp là những loài hiện diện phổ biến và gây ra nhiều thiệt hại cho cam quýt hơn cả (Trần Văn Hai, 2002; Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Riêng trên bưởi Năm roi, Sở Nông nghiệp và PTNT thành phố Hồ Chí Minh (1994) cho biết: bưởi là một trong những loài cam quýt bị sâu bệnh nhiều nhất, trong đó đối tượng đáng chú ý hiện nay là sâu Vẽ bùa Theo Phạm Văn Kim (2001): sâu Vẽ bùa là đối tượng đã có từ lâu đời nhưng lại bộc phát thành dịch trong thời gian gần đây Theo ghi nhận của Trương Thị Ngọc Chi (1995), tại ĐBSCL, tất cả các loại cam Sành, cam Mật, chanh Tàu, chanh Giấy, quýt Tiều, quýt Xiêm đều bị sâu Vẽ bùa tấn công (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2002) Đặc biệt là Sâu vẽ bùa có thể tấn công 100% số cây trong vườn và có thể gây thiệt hại 100% lá non trên cây Đáng lo ngại hơn, chúng

có thể là nguyên nhân lan truyền bệnh Loét do vi khuẩn Xanthomonas campestris

trên cam quýt Ngoài ra, các loài nhện (nhất là Nhện vàng) và sâu Đục vỏ trái cũng

là hai đối tượng quan trọng gây hại trên vỏ trái nhất là bưởi Đối với sâu Đục trái, nếu chúng tấn công vào giai đoạn trái còn nhỏ thì vết đục sẽ tạo thành những vết u sần trên trái, nếu nặng hơn thì sẽ làm cho trái bị rụng; nếu tấn công vào giai đoạn trễ hơn, trái sẽ u sần, xấu xí, làm mất giá trị thương phẩm của trái Trái bưởi còn bị bệnh Da lu, Da cám do sự tấn công gây hại của các loài nhện Ở bưởi, nhện Vàng là loài gây hại chủ yếu (Trần Văn Hai, 2002)

Trang 27

* Bệnh hại

Theo Lâm Thị Mỹ Nương và ctv., (1999), ngành trồng cam quýt tại ĐBSCL

đang phải đối đầu với nhiều bệnh quan trọng như: bệnh Vàng bạc (greening), bệnh

Tristeza, bệnh Vàng lá rụng lá (Fusarium solani), bệnh Chảy mủ gốc, bệnh Loét do

vi khuẩn Xanthomonas campestris pv Citri Tuy nhiên, Sở Nông Nghiệp Thành phố

Hồ Chí Minh (1994) nhận định rằng, cây bưởi ít bị bệnh hơn so với các cây có múi khác Phạm Văn Kim (1999) và Trần Văn Hai (2002) cho rằng, cây bưởi không bị ảnh hưởng của bệnh Tristeza Cây bưởi có thể bị ảnh hưởng bệnh Vàng bạc là do sự

sự truyền bệnh của rầy Chổng cánh Ngoài ra, bệnh Chảy mủ gốc và bệnh Vàng rụng lá của bưởi là do nấm gây hại và bị ảnh hưởng của các điều kiện canh tác, đặc biệt là điều kiện về đất đai (ngập úng) Bệnh Loét trái gây thiệt hại trực tiếp trên trái làm ảnh hưởng rất lớn đến giá trị thương phẩm của trái (Phạm Văn Kim, 1999)

1.4.8 Thu hoạch và tồn trữ

1.4.8.1 Thu hoạch

Thời gian hái trái tốt nhất trong ngày vào khoảng 8 giờ sáng đến 3 giờ chiều,

vì lúc này sương đã khô và trái mất độ trương, do đó giảm được sự tổn thương các

tế bào chúa tinh dầu ở vỏ (tạo những vết bầm ở trái sau khi thu hoạch) Mặt khác, không nên hái trái sau khi mua vì dễ gây thối trái Nên thu hái trái bằng kéo nhằm tránh bầm dập Khi chuyển chở đi xa nên cắt bỏ cuống trái, lá để giảm xây sát và héo do bốc hơi nước nhiều Do yêu cầu thị trường cần phân loại trái và xử lý trái bằng hình thức bao giấy mỏng hoặc xử lý hóa chất để tăng thời gian bảo quản và dễ vận chuyển di xa (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)

1.4.8.2 Tồn trữ

Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), tùy theo tính chất của từng loại trái mà có thời gian tồn trữ khác nhau, trong điều kiện lạnh thích hợp sẽ kéo dài thời gian cất giữ Nói chung là có thể tồn trữ bưởi, cam lâu hơn chanh, quýt, hạnh

1.5 KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BÌNH MINH

1.5.1 Vị trí địa lý

Huyện Bình Minh nằm ven sông Hậu, ở phía Tây-Tây Nam tỉnh Vĩnh Long, cách thị xã Vĩnh Long gần 30 km dọc quốc lộ 1A, phía Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp, phía Nam giáp thành phố Cần Thơ, phía Tây giáp với huyện Lai Vung, phía Đông giáp với với huyện Tam Bình Huyện chia làm hai vùng sinh thái, vùng Bắc quốc lộ 1A gồm 12 xã, vùng Nam quốc lộ 1A gồm 5 xã và 1 thị trấn, vùng Bắc quốc lộ 1A

Trang 28

hàng năm đều bị lũ, vùng Nam quốc lộ 1A vùng gò cao không bị ảnh hưởng trong mùa mưa lũ (Hình 2.1)

Bình Minh có diện tích 91,526 km², trong đó diện tích trồng cây ăn trái khoảng 38.961 ha (chiếm 33,3% diện tích đất nông nghiệp) (Niên giám thống kê huyện Bình Minh, 2010)

1.5.2 Đất đai, khí hậu và thủy văn

Theo Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Vĩnh Long (2002), huyện Bình Minh gồm 3 nhóm đất chủ yếu: đất phù sa được bồi, đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng, đất phèn tiềm tàng Huyện có vùng gò và vùng trũng, vùng gò không ngập sâu, vào mùa mưa lũ vùng trũng ngập sâu trên 60 cm

Huyện Bình Minh chịu ảnh hưởng chung của khí hậu vùng ĐBSCL, có 2 mùa mưa nắng, nhiệt độ trung bình 27,2oC, ẩm độ không khí 79,2%, lượng mưa hằng năm là 1.399 mm (Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Vĩnh Long, 2002)

Hình 1 Vị trí địa lý huyện Bình Minh – Vĩnh Long

Trang 29

CHƯƠNG 2

PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 PHƯƠNG TIỆN

Thời gian điều tra: từ 10/10/2010 đến 06/5/2011

Địa điểm điều tra: Huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long

Điều tra được thực hiện theo phiếu điều tra lập sẵn (xem Phụ lục)

2.2 PHƯƠNG PHÁP

Chọn ngẫu nhiên 60 hộ, tiến hành điều tra bằng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ theo phiếu điều tra cây ăn trái lập sẵn

Nội dung điều tra gồm những phần chính như:

Thông tin của nông hộ

Kỹ thuật trồng: Kích thước mương liếp, bờ bao, kỹ thuật đào mương lên liếp,

kỹ thuật xử lý đất trước khi trồng, hệ thống dẫn thoát nước, kỹ thuật sản xuất giống trồng

Kỹ thuật chăm sóc: Tưới tiêu, phân bón, tủ gốc, làm cỏ, cắt tỉa tạo tán, kỹ thuật xử lý ra hoa, các loại sâu bệnh quan trọng, kỹ thuật chống đỡ cành, treo trái, bao trái, thu hoạch, tiêu thụ sản phẩm

Ý kiến chủ hộ về thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển vườn tại địa phương

Trang 30

CHƯƠNG 3

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1 THÔNG TIN NÔNG HỘ

3.1.1 Tuổi nông dân

Qua kết quả điều tra tại 2 xã Mỹ Hòa và Thuận An huyện Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long cho thấy, nông dân trồng bưởi Năm roi đã có tuổi trung bình 40-55 tuổi chiếm 40,0%, trên 55 tuổi chiếm tỉ lệ 45%, còn lại là số nông dân dưới 40 tuổi chiếm 15% (Hình 3.1) Nông dân có độ tuổi ít nhất là 30 tuổi Kết quả cho thấy, nông dân ở nơi đây đã có nhiều năm canh tác bưởi Năm roi Tuy nhiên, tuổi cao cũng có thể ảnh hưởng đến khả năng và tính năng động khi tiếp thu khoa học kỹ thuật mới

Hình 3.1 Tỉ lệ (%) tuổi nông dân điều tra

3.1.2 Lao động gia đình

Số nhân khẩu của nông dân được điều tra trung bình là 4-5 người, có những

hộ gia đình chỉ có 1 người do vườn ít nên số người trong gia đình đi làm thêm nhằm tăng nguồn thu nhập cải thiện cuộc sống, ngược lại những hộ có diện tích vườn lớn thì lao động trong gia đình có thể lên đến 8 người (Bảng 3.1) Số lao động chính hay lao động phụ thay đổi tùy theo từng hộ gia đình và diện tích canh tác, trung bình mỗi hộ nông dân có 2-3 lao động chính để trực tiếp canh tác và 2 lao động phụ (Bảng 3.1)

Ngày đăng: 12/04/2018, 07:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w