Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường thì việc tích cực chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả và vườn tạp sang trồng cây ăn trái chuyên canh, đặc b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
NGUYỄN HOÀNG VŨ
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC
BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN CHỢ LÁCH
TỈNH BẾN TRE
LUẬN VĂN KỸ SƯ NÔNG HỌC
Cần Thơ – 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC
BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN CHỢ LÁCH
Trang 3Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Vũ
Kính trình Hội đồng chấm luận văn tốt nghiệp xem xét
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012
Cán bộ hướng dẫn
Lê Thanh Phong
Trang 4ii
KHOA NÔNG NGHIỆP VÀ SINH HỌC ỨNG DỤNG
BỘ MÔN DI TRUYỀN GIỐNG NÔNG NGHIỆP
- -
Hội đồng khoa học chấm luận văn tốt nghiệp với tên đề tài: ĐIỀU TRA KỸ THUẬT CANH TÁC BƯỞI DA XANH TẠI HUYỆN CHỢ LÁCH TỈNH BẾN TRE Do sinh viên Nguyễn Hoàng Vũ thực hiện và bảo vệ trước Hội đồng Ý kiến của Hội đồng khoa học:
Luận văn tốt nghiệp được Hội đồng đánh giá ở mức:
Cần Thơ, ngày … tháng … năm 2012 Thành viên Hội đồng - - -
DUYỆT KHOA Trưởng Khoa Nông Nghiệp & SHƯD
Trang 5iii
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả được trình bày trong luận văn tốt nghiệp là trung thực và chưa ai công bố trong bất kỳ luận văn nào trước đây
Ngày …… tháng ……năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Hoàng Vũ
Trang 6iv
Nơi sinh: Tam Nông – Đồng Tháp
Địa chỉ liên lạc: xã Phú Thành A, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp
Đã tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2008 tại Trường Trung Học Phổ Thông Tam Nông, Huyện Tam Nông, Tỉnh Đồng Tháp
Vào trường Đại Học Cần Thơ năm 2008, Ngành Nông Học, khoá 34, Khoa Nông Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng
Cần Thơ, Ngày …tháng…năm 2012
Người khai
Nguyễn Hoàng Vũ
Trang 7v
Kính dâng
Cha mẹ suốt đời tận tụy vì sự nghiệp và tương lai của các con
Thành kính biết ơn
TS Lê Thanh Phong, người đã tận tình hướng dẫn và cho những lời khuyên
hết sức bổ ích trong việc hoàn thành luận văn này
Thầy cố vấn học tập TS Phạm Ngọc Du đã quan tâm giúp đỡ tôi hoàn thành
khóa học
Chân thành biết ơn
Quý thầy cô Bộ môn Khoa học Cây trồng đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ
và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài tốt nghiệp
Quý thầy cô trường Đại học Cần Thơ và Khoa Nông nghiệp & SHƯD đã
truyền đạt những kiến thức quý báo cho tôi trong thời gian học ở trường
Chân thành cám ơn!
Các bạn Nhàn, Cường, Lý đã nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
Các bạn Lợi, Thắng, Phong đã động viên, khuyến khích tôi trong thời gian
thực hiện luận văn
Thân gửi về các bạn lớp Nông Học khóa 34 và toàn thể quý thầy cô Khoa
Nông nghiệp và SHƯD lời chúc sức khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Nguyễn Hoàng Vũ
Trang 8vi
Lách, tỉnh Bến Tre” Luận văn tốt nghiệp Kỹ sư ngành Nông Học, Khoa Nông
Nghiệp và Sinh Học Ứng Dụng, trường Đại Học Cần Thơ Cán bộ hướng dẫn: TS
Lê Thanh Phong (41 Trang)
T M LƯỢC
Bưởi Da xanh là giống bưởi ngon nổi tiếng, có thị trường tiêu thụ nội địa và xuất khẩu rộng lớn Tuy nhiên, hiện nay nguồn cung ứng bưởi Da xanh cho thị trường vẫn còn nhiều vấn đề chưa đạt yêu cầu, trong đó có yếu tố sản lượng, mẫu
mã và độ đồng đều về chất lượng Đề tài: Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre được thực hiện nhằm muc đích: (1) tìm
hiểu những thuận lợi và khó khăn trong kỹ thuật canh tác bưởi Da xanh của nông dân ở huyện Chợ Lách; và (2) ước tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất bưởi của nông dân Đề tài được thực hiện từ tháng 2/2010 đến tháng 5/2011 tại các xã Sơn Định, Sơn Quy, Thị Trấn, Hòa Nghĩa, Vĩnh Bình, Long thới, Vĩnh Thạnh và Hưng Khánh Trung Tổng số hộ điều tra là 60 hộ Kết quả điều tra cho thấy, diện tích trồng bưởi Da Xanh của các hộ nông dân trung bình là 0,4 ha; tuổi cây trung bình là 9,1 tuổi Có 98,3% nông dân lên liếp theo kiểu đấp mô; chiều rộng mương trung bình 1,9 m; chiều rộng liếp trung bình 6,7 m và số cống bọng trong mỗi vườn trung bình 1,1 cái Có 26,7% nông dân xử lý đất trước khi trồng; 48,3% nông hộ trồng bưởi trên liếp theo hình chữ nhật và 36,7% trồng theo hình vuông; mật độ trồng là
597 cây/ha Trong chăm sóc, 66,6% nông hộ có tỉa cành, tạo tán; và tất cả vườn tưới nước cho bưởi bằng motor điện, trung bình 2,8 lần/tuần vào mùa nắng và 0,03 lần/tuần vào mùa mưa Số hộ có làm cỏ vườn chiếm 76,6%; số hộ có tủ gốc cho cây chiếm 8,3% Về bón phân, số hộ sử dụng phân bón lá chiếm 55%; bón phân hữu cơ chiếm 85% với lượng bón trung bình 6,11 kg/cây/năm Tất cả nông dân được điều tra bón phân hóa học trung bình hằng năm cho mỗi cây là 1.424 g N, 1.105 g P2O5
và 475 g K2O Về sâu bệnh, bệnh Vàng lá gân xanh chiếm tỷ lệ 52,4% trong các vườn quan sát, bệnh Vàng lá thối rễ chiếm 24,4%; sâu Vẽ bùa gây hại chủ yếu, chiếm 57,4% Tất cả hộ nông dân cho bưởi ra hoa tự nhiên, số lần thu hoạch trung bình 11,7 lần/năm và năng suất trung bình là 13,6 tấn/ha Về hiệu quả kinh tế, chi phí đầu tư trung bình 102,9 triệu đồng/ha và đạt lợi nhuận trung bình là 279,6 triệu đồng/ha
Trang 9vii
MỤC LỤC
Nội dung Trang
Lời cam đoan iii
Tiểu sử cá nhân iv
Lời cảm tạ v
Tóm lược vi
Mục lục vii
Danh sách bảng x
Danh sách hình xi
MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Error! Bookmark not defined 1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN CHỢ LÁCH Error! Bookmark not defined 1.1.1 Vị trí địa lý Error! Bookmark not defined 1.1.2 Điều kiện khí hậu, đất đai Error! Bookmark not defined 1.2 KINH TẾ XÃ HỘI Error! Bookmark not defined
1.3 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT, NGUỒN GỐC VÀ GIÁ TRỊ BƯỞI DA XANH
Error! Bookmark not defined
1.3.1 Hiện trạng sản xuất Error! Bookmark not defined 1.3.2 Nguồn gốc Error! Bookmark not defined 1.3.3 Giá trị Error! Bookmark not defined 1.4 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT Error! Bookmark not defined 1.5 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA BƯỞI Error! Bookmark not defined 1.5.1 Nhiệt độ Error! Bookmark not defined 1.5.2 Ánh sáng Error! Bookmark not defined 1.5.3 Mưa và ẩm độ Error! Bookmark not defined 1.5.4 Gió Error! Bookmark not defined 1.5.5 Nước Error! Bookmark not defined 1.5.6 Đất Error! Bookmark not defined
Trang 10viii
1.7 KỸ THUẬT TRỒNG Error! Bookmark not defined 1.7.1 Chọn giống Error! Bookmark not defined 1.7.2 Mật độ và khoảng cách trồng Error! Bookmark not defined 1.8 KỸ THUẬT CHĂM SÓC Error! Bookmark not defined 1.8.1 Tỉa cành, tạo tán Error! Bookmark not defined 1.8.2 Quản lý cỏ, tủ gốc Error! Bookmark not defined 1.8.3 Phân bón Error! Bookmark not defined 1.8.4 Sâu bệnh Error! Bookmark not defined 1.8.4.1 Côn trùng Error! Bookmark not defined 1.8.4.2 Bệnh hại Error! Bookmark not defined 1.9 XỬ LÝ RA HOA Error! Bookmark not defined 1.10 THU HOẠCH Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP Error! Bookmark not defined
2.1 PHƯƠNG TIỆN Error! Bookmark not defined 2.2 PHƯƠNG PHÁP Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ THẢO LUẬN Error! Bookmark not defined 3.1 THÔNG TIN CHUNG Error! Bookmark not defined 3.1.1 Tình hình nông hộ Error! Bookmark not defined 3.1.1.1 Tuổi chủ vườn Error! Bookmark not defined 3.1.1.2 Số nhân khẩu và số lao động Error! Bookmark not defined 3.1.2 Đặc điểm vườn Error! Bookmark not defined 3.1.2.1 Diện tích vườn Error! Bookmark not defined 3.1.2.2 Tuổi cây Error! Bookmark not defined 3.1.2.3 Số vụ thu hoạch trong năm Error! Bookmark not defined 3.1.2.4 Năng suất Error! Bookmark not defined 3.2 THIẾT KẾ VƯỜN Error! Bookmark not defined 3.2.1 Hệ thống mương, liếp Error! Bookmark not defined 3.2.1.1 Chiều rộng mương Error! Bookmark not defined
Trang 11ix
3.2.1.3 Mực nước cao nhất so với mặt liếp Error! Bookmark not defined 3.2.1.4 Kiểu lên liếp Error! Bookmark not defined 2.2.2 Kích thước mô Error! Bookmark not defined 3.2.3 Cống bọng Error! Bookmark not defined 3.3 KỸ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC Error! Bookmark not defined 3.3.1 Kỹ thuật trồng Error! Bookmark not defined 3.3.1.1 Phương pháp nhân giống Error! Bookmark not defined 3.3.1.2 Kiểu trồng Error! Bookmark not defined 3.3.1.3 Mật độ và khoảng cách trồng Error! Bookmark not defined 3.3.1.4 Xử lý đất trước khi trồng Error! Bookmark not defined 3.3.2 Kỹ thuật chăm sóc Error! Bookmark not defined 3.2.2.1 Tỉa cành và loại cành tỉa Error! Bookmark not defined 1.2.2.3 Tưới tiêu Error! Bookmark not defined 3.2.2.4 Làm cỏ Error! Bookmark not defined 3.2.2.5 Tủ gốc Error! Bookmark not defined 3.2.2.2 Bón phân Error! Bookmark not defined 3.2.2.6 Bệnh hại Error! Bookmark not defined 3.2.2.7 Sâu hại Error! Bookmark not defined 3.2.2.8 Xử lý ra hoa Error! Bookmark not defined 3.4 THU HOẠCH, TIÊU THỤ Error! Bookmark not defined 3.4.1 Thu hoạch Error! Bookmark not defined 3.4.2 Hình thức tiêu thụ Error! Bookmark not defined 3.5 HẠCH TOÁN KINH TẾ Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ Error! Bookmark not defined TÀI LIỆU THAM KHẢO Error! Bookmark not defined
Trang 12x
DANH SÁCH BẢNG Tên bảng Trang
1 Liều lượng phân bón qua các năm 13
3.1 Thông tin nông hộ 20
3.2 Đặc điểm vườn 22
3.3 Kích thước mương liếp 23
3.4 Kích thước mô và số cống bọng 24
3.5 Mật độ và kích thước trồng 26
3.6 Bình quân số lần tưới tiêu (tuần/lần) 27
3.7 Tỷ lệ (%) sử dụng các loại phân bón lá 29
3.8 Tỷ lệ (%) sử dụng các loại phân hữu 30
3.9 Tỷ lệ (%) sử dụng các phân hóa học 31
3.10 Tỷ lệ (%) các loại bệnh 32
3.11 Tỷ lệ (%) các loại sâu hại 33
3.12 Các chi phí hàng năm 35
3.13 Tỷ lệ (%) các khâu chi phí trên tổng chi 35
3.14 Bình quân năng suất và giá bán 36
3.15 Hiệu quả kinh tế (triệu đồng) 36
3.16 Nguyên vật liệu sử dụng và ngày công lao động 36
3.17 Tỷ lệ (%) tổng chi phí và lợi nhuận trên tổng doanh thu 38
Trang 13xi
DANH SÁCH HÌNH
1 Bản đồ hành chánh huyện Chợ Lách, tỉnh Bến tre 3
3.1 Tỷ lệ (%) các kiểu lên liếp 23
3.2 Tỷ lệ (%) hình thức trồng 25
3.3 Tỷ lệ số hộ xử lý đất trước khi trồng 26
3.4 Tỷ lệ (%) tỉa cành và loại cành tỉa 27
3.5 Tỷ lệ (%) làm cỏ và thời điểm làm cỏ 28
3.6 Tỷ lệ (%) loại vật liệu tủ gốc 29
3.7 Tỷ lệ hình thức bán 34
Tên hình Trang
Trang 14Việt Nam là nước có nền nông nghiệp phát triển nhờ những điều kiện tự nhiên
và kinh tế xã hội khá thuận lợi Trước đây, trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp thì cây lúa đóng vai trò là mặt hàng nông sản chủ đạo trong tiêu thụ nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, dưới tác động của nền kinh tế thị trường thì việc tích cực chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả và vườn tạp sang trồng cây
ăn trái chuyên canh, đặc biệt là loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao đang là chiến lược quan trọng trong phát triển nông nghiệp của cả nước nói chung và đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng
Huyện Chợ Lách nằm ở thượng nguồn cù lao Minh, giới hạn bởi hai bờ sông
Cổ Chiên và Hàm Luông, thuộc vùng kinh tế phía tây của tỉnh Bến Tre Do được bồi đấp phù sa từ 2 con sông lớn nên đất đai khá phì nhiêu, thích hợp trồng nhiều loại cây trồng có giá tri kinh tế cao như: bưởi Da xanh, sầu riêng, nhãn, Năm
2009 diện tích trồng bưởi Da xanh của huyện là 840 ha, đến tháng 8/2010 huyện Chợ Lách có 1.000 ha trồng bưởi Da xanh, đây là loại cây ăn trái có khả năng cho hiệu quả kinh tế cao của huyện trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
Hiện nay, bưởi Da xanh được trồng hầu hết các xã trong huyện Chợ Lách Nông dân trồng bưởi Da xanh chủ yếu áp dụng kỹ thuật canh tác theo kinh nghiệm, việc tiếp thu các tiến bộ khoa học còn hạn chế nên gặp nhiều khó khăn như: năng suất bưởi còn thấp, sâu bệnh, phẩm chất không ổn định,… chưa đáp ứng được yêu
cầu cao của thị trường trong nước và xuất khẩu Đề tài “Điều tra kỹ thuật canh tác bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre” được thực hiện nhằm mục
đích: (1) tìm hiểu thực trạng về kỹ thuật canh tác; (2) những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất bưởi; và (3) ước tính hiệu quả kinh tế trong sản xuất bưởi Da xanh của nông dân
Trang 15CHƯƠNG 1 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU
1.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN HUYỆN CHỢ LÁCH
1.1.1 Vị trí địa lý
Chợ Lách là huyện nằm ở thượng nguồn của cù lao Minh, tỉnh Bến Tre, là một vùng đất phù sa mới, nằm giữa hai sông lớn là sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên Tổng chiều dài của huyện là 22,5 km, nơi rộng nhất là 15,5 km Chợ Lách có vị trí
9052’50” – 1003’47” vĩ độ Bắc và 10602’00” – 106017’10” kinh độ Đông Phía Bắc giáp sông Hàm Luông của huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang, phía Nam giáp sông Cổ Chiên, phía Đông giáp huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre và phía Tây giáp huyện Long
Hồ, tỉnh Vĩnh Long (Niên giám thống kê huyện Chợ Lách, 2005)
Hình 1 Bản đồ hành chánh huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre 1.1.2 Điều kiện khí hậu, đất đai
Theo Niên giám thống kê huyện Chợ Lách (2005), nhiệt độ trung bình hằng năm của huyện là 27,10C, cao nhất là 350C và thấp nhất là 230C Lượng mưa trung
Trang 16bình hằng năm là 1.499,8 mm, phân bổ từ tháng 5 đến tháng 10 dl trong mùa mưa,
từ tháng 11 đến tháng 4 dl là mùa nắng Số giờ nắng bình quân cả năm là 2.172,3 giờ, tháng có giờ nắng nhiều nhất là tháng 3 (285,2 giờ) Tổng diện tích của huyện
là 17.242 ha, trong đó, đất nông nghiệp chiếm 12.340 ha, phần lớn là trồng cây ăn trái (10.796 ha, chiếm 86,85%)
Theo số liệu của Đài khí tượng thủy văn tỉnh Bến Tre (2005), ẩm độ không khí bình quân trong năm là 82,21% Thủy triều theo chế độ bán nhật triều, mỗi ngày có hai đỉnh triều và mỗi tháng có hai đợt triều cường Nhiệt độ cao trung bình cao nhất vào tháng 5 là 350C, thấp nhất vào tháng 2 là 240C Biên độ nhiệt chênh lệch nhiều nhất trong tháng 2 là 100C và thấp nhất là 60
C trong tháng 6 dương lịch
Huyện Chợ Lách có tài nguyên đất đai nông nghiệp khá phong phú, đa số là đất phù sa, có sông ngòi chằng chịt và nước ngọt gần như quanh năm Trong những năm hạn hán kéo dài, một số diện tích đất giáp với huyện Mỏ Cày có thể bị nhiễm mặn nhẹ (với nồng độ khoảng 3%o)
1.2 KINH TẾ XÃ HỘI
Dân số của huyện là 132.349 người với 31.180 hộ, trong đó, có 23.806 hộ sống bằng nghề trồng trọt chiếm tỷ lệ 76,35% Bình quân diện tích mỗi hộ là 3.462,5 m2 (Niên giám thống kê huyện Chợ Lách, 2005) Huyện Chợ lách có kinh tế trang trại và kinh tế hợp tác xã khá phát triển, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống của nhân dân và phát triển kinh tế địa phương Toàn huyện hiện có 12 hợp tác xã, 17 làng nghề cây giống hoa kiểng, hơn 20 tổ liên kết sản xuất trái cây và
36 trang trại được công nhận Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân huyện Chợ Lách, năm 2011 diện tích cây ăn trái trên địa bàn là 9.486 ha có sản lượng đạt 115.000 tấn Điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho cây trồng, tuy nhiên, do thị trường tiêu thụ trái cây không ổn định đã làm cho thu nhập của nhiều hộ dân gặp khó khăn Thêm vào đó, tình trạng đê bao bị tràn và sạt lở ở nhiều nơi kết hợp với mưa lớn đã gây ngập úng trên 1.836 ha đất nông nghiệp Huyện Chợ lách đã cung ứng hơn 16 triệu sản phẩm cây giống hoa kiểng các loại Bên cạnh sản xuất cây trồng, toàn huyện hiện có 4.647 trâu bò, đàn heo 14.869 con; 400 ha nuôi thủy sản với sản
Trang 17lượng đạt 40.078 tấn Sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp và hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn huyện khá ổn định (www.dpi-bentre.gov.vn)
1.3 HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT, NGUỒN GỐC VÀ GIÁ TRỊ BƯỞI DA XANH 1.3.1 Hiện trạng sản xuất
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Tỉnh Bến Tre (2008), diện tích cây ăn trái toàn tỉnh là 36.727 ha, diện tích đã cho thu hoạch là 29.542 ha đạt tổng sản lượng 367.655 tấn/năm Cây ăn trái được trồng tập trung ở các huyện Chợ Lách,
Mỏ Cày và Châu Thành, chủ yếu là dừa, nhãn, xoài, cam sành, bưởi, Trong đó, diện tích bưởi Da xanh toàn tỉnh là 4.250 ha, nhiều nhất là cây 2-3 năm tuổi, diện tích đã thu hoạch là 1,670 ha, cho sản lượng 29.304 tấn Hiện nay, chính quyền và nhân dân tỉnh Bến Tre đã xác định cây bưởi Da xanh là cây ăn trái phát triển chủ lực của tỉnh sau cây dừa Kế hoạch đến năm 2010 thì diện tích bưởi Da xanh trong toàn tỉnh đạt 3.500 ha Nhìn chung, bưởi Da xanh đang có tốc độ phát triển nhanh, giữ vững giá cao trên thị trường tiêu thụ trái cây
1.3.2 Nguồn gốc
Cho đến nay, việc xác định nguồn gốc cây có múi vẫn còn tranh luận vì có rất nhiều chủng loại và diện tích phân bố rộng, từ xích đạo lên đến vĩ tuyến 430 Các loài, thậm chí các chi, lai hữu tính với nhau một cách dễ dàng, dẫn đến việc sản sinh
ra các loài mới, và có những loài không xác định được bố mẹ Thậm chí giống cây trồng rất phổ biến ở nước ta là quýt thì cũng không ai biết nó được lai giữa các giống/loài nào (Vũ Công Hậu, 1996)
Theo phân loại, bưởi có hai loài là bưởi ta (Citrus grandis; Citrus maxima) và bưởi chùm (Citrus paradisi) Giống bưởi được trồng chủ yếu ở nước ta là bưởi ta có
nguồn gốc từ Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Dương (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Người đầu tiên trồng bưởi Da xanh tại Bến Tre là ông Trần Văn Luông (Sáu Luông) sinh năm 1905, ở ấp Thanh Sơn II, xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre Theo các nông dân trong huyện, khoảng năm 1940, ông Sáu Luông đi dự đám giỗ ăn được trái bưởi ngon nên đem hột về trồng Thấy bưởi ngon nên con cháu ông chiết nhánh đem về trồng ở ấp An Thuận, xã Mỹ Thạch An, tỉnh Bến Tre Năm 1971, ông
Trang 18Đặng Văn Rô (Ba Rô) quê xã An Định, huyện Mỏ Cày mua đất ở ấp Thanh Sơn II,
xã Thanh Tân, huyện Mỏ Cày đã có cây bưởi do người chủ đất trước để lại (là ông giáo Bình chiết nhánh từ nhà ông Sáu Luông) Ông Ba Rô đem trái dự thi hội thi trái cây ngon đạt giải nhất năm 1999 và được mệnh danh là vua bưởi Da xanh, do khi chín vỏ trái bưởi vẫn còn màu xanh (Đỗ Văn Công, 2007)
Giá trị công nghiệp và dược liệu: Tinh dầu được cất từ vỏ, trái, lá, hoa được dung trong công nghiệp mỹ phẩm, đặc biệt 1 tấn trái Chanh yên có thể cất được 67
lít tinh dầu (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
Giá trị kinh tế: Cây có múi là một loại cây lâu năm, trồng mau cho thu hoạch
Ở nước ta 1 ha cam quýt thâm canh ở thời kỳ 8 tuổi có thể đạt năng suất bình quân
20 tấn/ha (Trần Thế Tục và ctv., 1998) Bưởi ở độ tuổi 11 năm cho thu hoạch 100
kg/năm/cây Cam, quýt, bưởi có thể sống và cho thu hoạch trái trong vòng 23 – 30 năm Trong điều kiện đất tốt, áp dụng các biện pháp kỹ thuật thâm canh cao, điều kiện khí hậu thích hợp, không bị sâu bệnh gây hại nặng thì tuổi thọ có thể kéo dài trên 50 năm, có khi đạt đến 100 năm (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.4 ĐẶC TÍNH THỰC VẬT
Bộ rễ của cam quýt mọc cạn, chủ yếu là rễ bất định phân bố tương đối rộng và dày đặt ở tầng mặt đất vì thế cần phải giữ lớp đất mặt luôn tươi xốp và không nên
cuốc xới nhiều ảnh hưởng đến bộ rễ (Trần Thế Tục và ctv., 1998) Rễ được phân bố
khác nhau tùy thuộc vào cây giống ban đầu trồng bằng hạt, ghép hay chiết Cây trồng bằng hạt có rễ mọc sâu hơn so với cây trồng bằng nhánh chiết Ngoài ra sự phân bố của rễ còn quyết định bởi tuổi cây, tầng canh tác sâu hay cạn, mực nước ngầm cao hay thấp và điều kiện chăm sóc (Cục bảo vệ thực vật, 2006)
Trang 19Theo Nguyễn Hữu Đồng và ctv (2003), cây bưởi thuộc nhóm thân gỗ hình
bán trụ, cao khoảng 5-6 m, thân có gai cứng Trong một năm có thể ra 3-4 đợt cành Hình thái tán cây cam rất đa dạng: có loại tán rộng, tán thưa, phân cành hướng ngọn, tán hình tròn,… Bên cạnh đó tùy theo chức năng và đặc tính của từng loại cành mà phân thành: cành mang trái, cành mẹ, cành dinh dưỡng và cành vượt (Đường Hồng Dật, 2003)
Lá làm nhiệm vụ quang hợp và tổng hợp chất dinh dưỡng cho cây, ngoài ra lá còn giữ nhiệm vụ hô hấp và dự trữ các chất dinh dưỡng nuôi cây Lá bưởi thuộc loại
lá đơn, dạng phiến, hình bầu dục hơi nhọn ở đầu, lá to dày xanh đậm, không có lông, mép lá có răng nhỏ, gân phụ có 5-6 cặp, có eo lá rất lớn, có đốt ở đáy phiến lá Trên lá có chứa nhiều túi tinh dầu thơm (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Một cây bưởi khỏe mạnh có thể có 130.000-200.000 lá Trên lá khí khổng tập trung nhiều nhất ở mặt lưng, số lượng thay đổi tùy theo giống (Nguyễn Ngọc Tuyết, 2003) Theo Trần
Thế Tục và ctv (1998), thì tuổi thọ lá cam quýt đạt từ 1 đến 2 năm tùy theo vùng
sinh thái, vị trí và tình trạng sinh trưởng của cây và cành mang lá
Hoa bưởi có dạng hình thuôn tròn, đỉnh hơi to hơn phía dưới, rất thơm và là hoa lưỡng tính Hoa mọc từ nách lá, thành chùm nhỏ, không có lông, đài hoa hình chén màu xanh, cánh hoa màu trắng, dài từ 2-3,5 cm Nhị đực nhỏ và dài, dính nhau thành tưng chùm, bầu nhụy cái tròn Hoa ra nhiều, nhưng cũng rụng nhiều nên tỷ lệ đậu trái không cao (Nguyễn Danh Vàn, 2008) Hạt có hai lá mầm trắng, đơn phôi
(Trần Thế Tục và ctv., 1998) Trong điều kiện tự nhiên hoa bưởi thường mọc ra
trong mùa xuân, tuy nhiên, sau một đợt hạn kéo dài rồi gặp mưa hay tưới nước thì cây cũng ra hoa rộ như thường thấy ở đầu mùa mưa hay trong kỹ thuật xiết nước để kích thích ra hoa Sự phân hóa mầm hoa từ sau khi thu hoạch trái đến trước lúc mọc cành mùa xuân Hầu hết hoa đều tự thụ, tuy nhiên cũng có thể thụ phấn chéo Thời gian ra hoa đến lúc hoa tàn trung bình khoảng một tháng (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Trái to, dạng trái hình cầu, nặng trung bình 1,2-1,5 kg/trái, vỏ ít sần, khá mỏng (16 mm), có chứa nhiều túi tinh dầu thơm, tỷ lệ thịt trái > 55% Quả bưởi cấu tạo có
ba phần là ngoại quả bì, trung quả bì và nội quả bì (Cục bảo vệ thực vật, 2006)
Trang 201.5 YÊU CẦU SINH THÁI CỦA BƯỞI
1.5.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng, ngoài ra còn ảnh hưởng đến phẩm chất trái và sự khởi phát mọc hoa (Vũ Công Hậu, 1996), nhìn chung, các giống bưởi ưa thích loại khí hậu á nhiệt đới Cây có thể sống và phát triển trong khoảng nhiệt độ từ 13-380C, thích hợp nhất là từ 23-290C (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Theo Võ Hữu Thoại và ctv (2002), nhiệt độ ảnh hưởng đến màu sắc của vỏ
trái, do điều kiện tự nhiên là vùng nhiệt đới nên khi vỏ trái chín vẫn còn màu xanh đến vàng nhạt
1.5.2 Ánh sáng
Bưởi là cây ưa ánh sáng hơn so với các cây khác trong nhóm cây có múi Bưởi trồng thích hợp với ánh sáng tán xạ (cường độ khoảng 10000-15000 Lux, tương đương với ánh sáng khoảng 8 giờ sáng, 4-5 giờ chiều trong ngày mùa hè) Nếu ánh sáng trực tiếp, kết hợp với nhiệt độ quá cao sẽ làm cho vỏ trái bị nám, có thể làm cho lá bị khô héo và rụng do bốc hơi nước quá mạnh, cây sẽ mất khả năng quang hợp, ngược lại, ánh sáng quá thấp trong thời gian qua dài dễ làm cho hoa, trái non bị rụng hàng loạt Nếu thiếu ánh sáng lại gặp ẩm độ không khí cao sẽ tạo điều kiện cho
sâu bệnh phát sinh, phát triển nhất là nấm và vi khuẩn gây bệnh (Trần Thế Tục và ctv., 1998)
1.5.3 Mưa và ẩm độ
Cây có múi cần nhiều nước, nhất là trong thời kỳ ra hoa và đậu trái nhưng cũng rất sợ ngập úng Ẩm độ đất thích hợp nhất là 70-80% và lượng mưa cần khoảng 1.000-2.000 mm/năm Trong mùa nắng cần phải tưới nước và lượng muối NaCl trong nước tưới không quá 3 g/lít nước Nhìn chung, trong điều kiện Việt Nam, lượng mưa khá phù hợp cho cây có múi phát triển (Cục bảo vệ thực vật, 2006) Ẩm độ cao tạo điều kiện bệnh phát triển, nhất là bệnh chảy nhựa thân Vườn cây ở nơi khô ráo đủ ánh sáng, bốn phía được che chắn bằng các cây chắn gió thường phát triển tốt (Vũ Công Hậu, 1996)
Trang 211.5.4 Gió
Phần lớn các loại cam, quýt có thể chịu được bão nhỏ trong thời gian ngắn, vì vậy khi lập vườn phải lưu ý hướng gió có hại (như gió Tây Nam ở ĐBSCL) để bố trí trồng cây chắn gió, giảm đổ ngã, gió nhẹ thì có lợi vì làm cho không khí luân chuyển, điều hòa nhiệt độ và các thành phần khí như hơi nước, CO2 trộn đều có lợi cho hoạt động của bộ lá (Vũ Công Hậu, 2000) Gió nhẹ với vận tốc khoảng 5 – 10 km/giờ có tác dụng hạ thấp nhiệt độ của vườn trong mùa hè, cây được thoáng mát
giảm sâu bệnh (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994)
nước hơn cây trồng hột (Phạm Văn Côn, 2002) Theo Trần Thượng Tuấn và ctv
(1994), phẩm chất nước tưới cũng cần lưu ý Không dùng nước phiền mặn để tưới cho cam quýt Lượng muối trong nước tưới phải nhỏ hơn 1,5 g NaCl/lít nước và lượng Mg không quá 0,3 g/lít nước
1.5.6 Đất
Bưởi có thể được trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên, nếu trồng trên đất xấu, cằn cỗi thì phải đầu tư nhiều hơn, đặc biệt là phân bón sẽ phải nhiều, do vậy hiệu quả kinh tế sẽ thấp hơn khi trồng trên nền đất tốt Đất trồng bưởi tốt nhất là loại đất có kết cấu tốt, giàu mùn (hàm lượng mùn từ 2-2,5%), tơi xốp, giữ ẩm tốt, thoáng khí (hàm lượng oxy từ 1,2-1,5%) Tầng canh tác dầy (khoảng trên 1 m) Độ chua (pH) thích hợp từ 5,5-7,5 (tốt nhất là 6-7) Mực nước ngầm phải sâu ít nhất 1,5
m Thực tế cho thấy, các vùng trồng bưởi tập trung chuyên canh nổi tiếng của nước
ta đa số nằm ở vùng đất phù sa ven các sông, suối, cây cho năng suất cao, phẩm
Trang 22chất tốt, đã góp phần tạo nên thương hiệu lâu năm của một số loại bưởi nổi tiếng (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.6 THIẾT KẾ MƯƠNG, LIẾP VÀ MÔ
Kích thước mương vườn thường được quyết định tùy vào các yếu tố: địa hình, tầng phèn, giống cây và chế độ nuôi, trồng xen trong vườn,… Tỷ lệ mương/liếp là 1/2 Chiều sâu 1-1,5 m tùy địa hình Tỷ lệ đất mương chiếm khoảng 30-35% Trồng cây ăn trái phải lên liếp nhằm nâng cao mặt đất, làm dày tầng canh tác và giúp thoát thủy tốt (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Áp dụng đúng kỹ thuật đào mương lên liếp để hạn chế được yếu tố bất lợi của đất, tranh thủ được thời gian trồng cây sau khi lên liếp, giúp cây phát triển tốt, sớm mang lại lợi nhuận cho nhà vườn và có thể trồng xen ngay các loài hoa màu nhằm lấy ngắn nuôi dài (Trần
Thượng Tuấn và ctv., 1994) Lên liếp trồng bưởi thường được áp dụng theo theo
kiểu cuốn chiếu hoặc đấp mô (RPC, 2006) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2004), chiều cao liếp tùy theo đỉnh lũ trong năm, chiều cao liếp thích hợp cho hầu hết cây ăn trái ở ĐBSCL là cách mực nước cao nhất trong năm khoảng 0,3
m
Theo Đường Hồng Dật (2002), ở các tỉnh ĐBSCL thường trồng cam, quýt, bưởi trên mô Đất dùng để đấp thành mô thường là đất ao, đất mương vườn cũ, đất mặt ruộng hoặc đất bãi bồi ven sông, phơi khô Mô có dạng hình tròn đường kính 0,6-0,8 m, cao từ 0,3-0,5 m tùy địa hình (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.7 KỸ THUẬT TRỒNG
1.7.1 Chọn giống
Công tác chọn giống cây trồng là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu Cần chú trọng nhân giống và chọn giống sạch bệnh cho sản xuất Giống được chọn cần có chất lượng tốt, năng suất cao và ổn định Theo Vũ Công Hậu (2002) chọn giống trồng cần phải chú ý hai điểm sau: tính thích nghi với điều kiện khí hậu địa phương và đáp ứng được yêu cầu của thị trường Cây đầu dòng được chọn làm giống cần có những ưu điểm sau: những đặc điểm hình thái đặc trưng của giống, ít
Trang 23sâu bệnh, năng suất trung bình cao ổn định ít nhất 3 năm, phẩm chất ngon, đảm bảo
về hương vị, màu sắc vỏ, màu quả thịt, độ ngọt, độ chua, dễ lột múi, số hột ít
1.7.2 Mật độ và khoảng cách trồng
Để xác định khoảng cách và mật độ trồng hợp lý phải chú ý về giống, đất đai,
kỹ thuật canh tác, phương pháp nhân giống, Một trong những yếu tố hạn chế năng suất của cây có múi ở ĐBSCL là mật độ trồng quá dầy, ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng của cây (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004) Trồng dày làm độ
ẩm trong vườn tăng cao, bóng râm nhiều, sâu bệnh càng tăng, tuổi thọ cây giảm (Vũ Công Hậu, 2000) Vũ Công Hậu (1996) cho rằng, bưởi nên trồng với khoảng cách 6
x 6 m Mật độ trồng bưởi ở ĐBSCL từ 24-33 cây trên 1.000 m2
là thích hợp (Võ
Hữu Thoại và ctv., 2002) Trồng theo kiểu hình vuông và chữ nhật để dễ dàng áp
dụng cơ giới hóa và chăm sóc Trồng kiểu nanh sấu cũng được áp dụng khi trồng dầy (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
1.8 KỸ THUẬT CHĂM SÓC
1.8.1 Tỉa cành, tạo tán
Trong giai đoạn kiến thiết cơ bản, bưởi chưa có trái cần chú ý tỉa cành, tạo tán cho cây (Đường Hồng Dật, 2002) Theo Cao Văn Philippe (1997), thông thường việc tỉa cành được thực hiện ngay sau thu hoạch bằng cách cắt bỏ những cành đã cho trái, cành giao tán, cành sâu bệnh, cành vô hiệu, cành vượt, cho hợp lý Nên để lại những cành chưa cho trái ở vụ trước vì thường có trên 50% sẽ cho hoa ở vụ sau Tạo tán cho cây từ nhỏ là cần thiết, để lại 3 - 4 cành cách đều nhau trên thân và tạo thành gốc lớn là thích hợp
1.8.2 Quản lý cỏ, tủ gốc
Việc duy trì quan hệ cân bằng giữa cây trồng và cỏ dại cũng là một khâu hết sức quan trọng trong hệ thống nông nghiệp bền vững Theo Đỗ Văn Chuông (1999),
có thể nói là một sai lầm không nhỏ khi có cỏ trong vườn bị diệt bởi thuốc diệt cỏ
vì cỏ không những giữ ẩm cho đất mà còn cung cấp chất hữu cơ, Ngược lại cỏ cũng ảnh hưởng nhiều đến vườn cây có múi khi chưa giao tán, cần làm cỏ thường xuyên nhất là trong mùa mưa, để tránh cạnh tranh nước và ánh sáng, Trong mùa
Trang 24khô nên kết hợp làm cỏ và tủ gốc giữ ẩm cho cây (Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong, 2004)
Trong nhóm cây có múi nói chung và cây bưởi nói riêng, loại rễ nhánh hấp thu dinh dưỡng cho cây phần lớn phân bố ở trên lớp mặt, nên vào mùa khô nắng nhiệt
độ cao dễ làm ảnh hưởng đến bộ rễ, do đó, trong mùa khô, nóng cần dùng rơm rạ hoặc dùng cỏ rác, cây lục bình tủ gốc cho cây Kinh nghiệm của những nhà vườn ở miền Tây Nam bộ là thường duy trì một lớp cỏ rau trai trong vườn để giữ ẩm cho cây vào mùa khô (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
1.8.3 Phân bón
Tùy theo đất tốt hay xấu, giống và tình trạng sinh trưởng của cây, mà quyết định phân bón sao cho thích hợp, cân đối Cần cung cấp đầy đủ phân đạm, bổ sung thêm phân hữu cơ và vi lượng để cây sinh trưởng và phát triển tốt đạt năng suất cao Đối với họ cam quýt, vấn đề phân bón ảnh hưởng đến phẩm chất trái bao gồm: hình dáng, kích thước trái, cấu trúc vỏ, độ nhẵn và màu sắc của vỏ ngoài hoặc phẩm chất bên trong đặc trưng bằng những yếu tố như lượng nước trái, tổng số chất hòa tan và
độ chua (Trần Thượng Tuấn và ctv., 1994) Theo Vũ Công Hậu (1996) khi bón phân
cho cây có múi cần chú ý là rễ cây ăn cạn, ít lông hút nên sức hấp thụ dinh dưỡng yếu, các chất vi lượng như Zn, Cu, Mn,…cần nhiều cho cam quýt
Trong việc bón phân cho các vườn cây có múi, Lê Thị Thu Hồng (1996) cho rằng, có nhiều vấn đề cần cải thiện trong phát triển sản xuất cây có múi ở ĐBSCL như: bón phân hóa học nhiều làm đất chua thêm, không bón phân hữu cơ làm giảm lượng vi lượng sinh vật có lợi trong đất, làm tính chất vật lý trong đất không được cải thiện Bón phân hữu cơ cho cây có múi đóng vai trò rất quan trọng, nhất là trong điều kiện đất của ĐBSCL hằng năm thường bị ngập lũ Phạm Văn Kim (2000) cho rằng, biện pháp đối phó với bệnh thối rễ, chết cây ở ĐBSCL không phải là đối phó
với nấm Fusarium solani, mà là đối phó với tình trạng dẽ dặt của đất, tức cần làm
cho đất luôn tươi xốp và thông thoáng Biện pháp bón phân hữu cơ hoai mục vừa giúp đất được thoáng khí trong mùa mưa, giúp cho đất không trở nên quá chua mà
còn cung cấp vi sinh vật đối kháng để ức chế nấm F solani có sẵn trong đất Ngoài
việc bón phân hữu cơ hằng năm cho cây có múi vào đầu mùa mưa, Phạm Văn Kim
Trang 25(2000) cũng khuyến cáo trong vườn cây có múi nên bón 200 kg vôi/ha để giữ pH đất không quá chua và giúp cải thiện phần nào kết cấu của đất
Việc bón phân cho cam quýt có thể được áp dụng qua việc sử dụng số liệu phân tích lá để làm cơ sở Kết quả phân tích lá mọc vào mùa xuân 4-6 tháng tuổi cho thấy, các lá của những chồi ra trái có hàm lượng N, P, K thấp hơn và hàm lượng
Mg, Ca cao hơn so với các lá cùng độ tuổi của những chồi không ra trái (Hoàng Minh Châu, 1998)
Dùng phân hữu cơ có thể trả lại hầu hết các nguyên tố vi lượng cho đất, song trong điều kiện thâm canh, phân hữu cơ không bảo đảm đủ các nguyên tố đa lượng cho cây nên phải bón kết hợp phân hữu cơ và phân hóa học (Vũ Văn Yêm, 1995) Việc bón phân N, P, K cần thiết trong điều kiện thâm canh tăng năng suất, nhưng việc thiếu hay thừa đều có ảnh hưởng đến sự sinh trưởng Số lượng phân bón hằng năm cho cây có múi tùy thuộc vào điều kiện đất đai, giống, tình hình sinh trưởng của cây mà quyết định bón phân cho thích hợp (Hoàng Minh Châu, 1998) Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), trong giai đoạn cây con từ 1 - 3 năm tuổi bón lân và kali một lần vào cuối mùa mưa, còn phân đạm nên bón mỗi năm 3 -
4 lần chia đều cho mỗi lần bón (có thể pha vào nước tưới trong năm đầu tiên) sau đó thì bón vào gốc Cây đang cho trái nên bón tối thiểu là 3 lần: sau khi thu hoạch trái, trước lúc trổ hoa và sau khi đậu trái Bón cân đối NPK sau thu hoạch, bón K nhiều hơn trong giai đoạn phát triển trái
Thu hoạch 1 tấn bưởi có thể lấy đi của đất 1,18-1,19 kg N; 0,20-0,27 kg P; 2,06-2,61 kg K; 0,97-1,04 kg Ca; 0,17-0,19 kg Mg (Vũ Công Hậu, 1996) Trần
Thượng Tuấn và ctv (1994) có nhận xét, bón nhiều đạm có chiều hướng làm cho
trái nhỏ đi, tăng tỷ lệ trái xanh, cấu trúc vỏ xấu, có lẽ một phần cây ra nhiều trái (độ lớn trái có chiều hướng thay đổi ngược chiều với số trái của cây), ảnh hưởng của đạm còn tùy thuộc vào nhu cầu của đất Ở những chân đất màu mỡ, ảnh hưởng của đạm không đáng kể Trong điều kiện lân dễ tiêu thấp, thừa đạm tỏ ra có ảnh hưởng xấu đến phẩm chất trái Tuy nhiên, việc bón thừa lân làm trái thô đi và phẩm chất trái giảm
Trang 26Mức bón phân K càng cao làm tăng độ lớn trung bình của trái và độ dầy của
vỏ, làm giảm tỷ lệ nước trái, tổng số chất hòa tan và tăng độ chua của nước trái so với mức bón K thấp nhất Bón K không ảnh hưởng đến vitamin C, không ảnh hưởng đến năng suất nhưng ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ loại trái (theo độ lớn) Bón nhiều K (khoảng 1,7% K trong chất khô của lá ra mùa xuân 9 tháng tuổi) có chiều hướng tạo tỷ lệ cao về trái lớn, trái chín muộn, màu sắc xấu, vỏ dầy, thô và nước trái
có tỷ lệ chất hòa tan thấp Mức bón K thấp (khoảng 0,8% K trong chất khô của lá) tạo được một tỷ lệ cao trái nhỏ và chín sớm, màu sắc đẹp, vỏ mỏng, nhẵn, nước trái
có tỷ lệ chất hòa tan cao và tổng lượng acid thấp
Bảng 1 Liều lượng phân bón qua các năm
Năm tuổi N (g/cây) P 2 O 5 (g/cây) K 2 O (g/cây)
số loại sâu bệnh hại thường gặp trong các vườn cam quýt gồm:
Sâu vẽ bùa (Phyllocnistis citrella Stainton)
Ở ĐBSCL, hầu hết trong các vườn cam quýt đều có sự hiện diện của Sâu vẽ bùa Sâu gây hại tập trung ở các vườn ươm, vườn cây tơ vào giai đoạn lá non, làm
lá bị biến dạng, khô và rụng đi (Nguyễn Thị Thu Cúc, 2000) Khi bị gây hại, lá trở nên co rúm, quăn queo, dị dạng làm giảm khả năng quang hợp của cây, làm cây chậm tăng trưởng Ngoài ra các vết đục của sâu còn là cửa ngỏ cho vi khuẩn loét
(Xanthomonas campestris pv citri) xâm nhập và gây hại Sâu non dài 3,5 - 4 mm
màu xanh nhạt phá hại lá bằng cách đào những đường ngoằn ngoèo, ăn lớp biểu bì
Trang 27của lá Trứng dẹp được đẻ trên lá, làm nhộng trong những đường hầm của lá Thời
kỳ sâu vẽ bùa tấn công mạnh nhất là lúc cây bắt đầu ra đọt non (tháng 8 - 9 dương lịch)
Biện pháp phòng trừ: có thể nuôi Kiến vàng để hạn chế sự phá hại của sâu vẽ bùa; điều khiển sao cho lá non ra đồng loạt để hạn chế sự lây nhiễm liên tục trong năm Phun dầu khoáng DC - Tron Plus nồng độ 0,5%, dầu khoáng SK Enspray 99EC, hoặc sử dụng dầu khoáng pha với thuốc trừ sâu sẽ cho hiệu quả cao hơn Nên luân phiên thay đổi thuốc trừ sâu (Nguyễn Thị Thu Cúc, 1999) như : Bi 58 nồng độ 0,2%, Sumi Alpha 0,1%, Confidor 0,1%,… vào giai đoạn cây bắt đầu ra lá
Rầy chổng cánh (Diaphorina citri)
Thành trùng lẫn ấu trùng dùng vòi chích hút, làm chồi bị khô, rụng lá, gây hiện tượng khô cành ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, sự ra trái Mật ngọt do rầy tiết ra tạo điều kiện cho nấm bồ hóng phát triển Quan trọng nhất là chúng
truyền vi khuẩn Liberobacter asiaticum gây bệnh Vàng lá gân xanh (bệnh
Greening) cho cây có múi (Trần Văn Hai, 2007)
Biện pháp phòng trừ : Nuôi kiến vàng; trồng cây sạch bệnh, hạn chế lây lan của Rầy chổng cánh, làm cho vườn cây thông thoáng Dùng dầu khoáng DC – Tron Plus nồng độ 0,5% và sử dụng thuốc trừ sâu khi cần thiết Có thể dùng thuốc Bassa, Trebon, Supracide, Applaud,
Rệp sáp
Có kích thước nhỏ, thân mềm phủ đầy phấn hoặc sáp trắng, chân ít di chuyển, gây hại trên bề mặt lá hay cành non bằng chích hút nhựa làm rụng lá Rệp sáp phát triển nhiều trong những tháng khô và giảm trong mùa mưa, chúng lây truyền nhờ kiến, sống cộng sinh (Trần Văn Hai, 2007)
Biện pháp phòng trừ: có thể phun thuốc Bi 58 0,2%, Supracide 0,2% hoặc rải Basudin 10H Dùng loại thuốc gốc lân hữu cơ, kết hợp với dầu khoáng DC - Tronc Plus 0,5%
Trang 28 Nhện đỏ (Panonychus citri Mc Gregor)
Nhện đỏ có kích thước nhỏ bé Cơ thể dài khoảng 0,4 mm Cơ thể có màu đỏ nhưng có pha sắc hồng Các lông cứng trên cơ thể đều mọc từ u lồi màu đỏ Trứng
có màu đỏ, gần hình cầu, có cuống thẳng đứng xuất phát từ đỉnh quả trứng Nhện đỏ tấn công trên lá và trái, chích cạp và hút nhựa lá và trái, tạo thành những chấm li ti trên lá, lá có màu ánh bạc và rụng, làm trái bị nám và gây hiện tượng da lu, da cám Vòng đời thường ngắn, nhiều thế hệ trong năm, dễ bộc phát thành dịch Gây hại nặng cho cam trong thời kỳ kiến thiết cơ bản (Trần Văn Hai, 2007)
Biện pháp phòng trị : Tưới nước đầy đủ cho cây; sử dụng dầu khoáng; dùng thuốc hóa học để phòng trừ Các loại thuốc có hiệu quả cao là: Phasolone, Kelthane (hạn chế sử dụng), Zinc, Danitol Tuy nhiên, sử dụng thường xuyên thuốc hóa học
dễ đưa đến sự bộc phát của nhện Sử dụng lưu huỳnh, vôi và canxi polysunfua 0,5 -
1 độ Bome trong mùa hè, và 0,6 - 0,4 độ Bome trong mùa đông, phun 7 - 15 ngày một lần, khi có sâu thì phun 3 - 4 lần
Ruồi đục trái (Dacus dorsalis Hendel)
Ruồi dài 7 - 9 mm, sải cánh rộng 1,3 mm, hai bên ngực có hai chấm màu vàng
ở gốc trước, phần tiếp giáp với ngực có 2 vạch to màu vàng Ruồi đẻ trứng trong trái Dòi ăn phá trong trái làm trái bị hư và thối Hóa nhộng trong đất Trái bị ruồi đục thường bị bội nhiễm bởi các tác nhân gây hại khác như ruồi Drosophila và các loại vi sinh vật gây bệnh nên trái bị thối và rụng rất nhanh (Trần Văn Hai, 2007) Biện pháp phòng trị: Vào giai đoạn trái sắp chín có thể dùng biện pháp bao trái; loại bỏ trái đã bị nhiễm ra khỏi vườn; sử dụng thuốc hóa học phối hợp với bẫy mồi là protein thủy phân và sử dụng Methyl eugenol (Vizubon-D và Ruvacon) hoặc
lá cây É tía hay Hương nhu để bẫy thành trùng đực (Trần Văn Hai, 2007)
1.8.4.2 Bệnh hại
Bệnh Vàng lá gân xanh (Greening)
Do vi khuẩn Liberobacter asiaticum và do rầy chổng cánh (Diaphorina citri)
làm tác nhân lan truyền, ngoài ra bệnh còn lan theo con đường tháp, chiết, ghép và thực vật thượng đẳng ký sinh (dây tơ hồng) (Trần Văn Hai, 2007) Triệu chứng đầu
Trang 29tiên trên lá già có những đốm vàng loang lổ Sau đó các đọt nhỏ lại, phiến lá ngã sang màu vàng, gân lá còn giữ màu xanh Bệnh nặng các lá nhỏ lại, mọc thẳng đứng (lá tai nhỏ), và chỉ còn một ít gân còn xanh (chủ yếu là gân chính) Trái ở những cây
bị bệnh thường nhỏ, nhạt màu, múi ở bên trong chai sượng, chẻ dọc trái thấy phần trung trụ bị vặn vẹo, vỏ dày, hạt bị thui lép
Bệnh loét (Canker)
Do vi khuẩn Xanthomonas campestris pv citri gây ra Bệnh gây hại trên cả
lá, trái và cành Bệnh thường lây lan và gây hại nặng trong mùa mưa.Vết bệnh lúc đầu nhỏ, hơi úng nước, có màu xanh đậm, sau đó vết bệnh lớn dần và có màu vàng nhạt đến nâu nhạt, mọc nhô lên mặt lá, vỏ trái hoặc vỏ cành, nhìn kỹ ở giữa vết bệnh có vết lõm xuống, nhiều vết bệnh liên kết lại tạo thành mảng lớn và bất dạng Trên lá hoặc trên trái xung quanh vết bệnh có quầng màu vàng (Trần Văn Hai, 2007)
Biện pháp phòng trị: Cắt tỉa cành, lá, trái bị bệnh và thu gom các lá, trái bị bệnh rụng đem tiêu hủy; những vườn bị bệnh không nên tưới nước lên tán cây vào buổi chiều mát, không nên tưới thừa nước, tăng cường bón thêm phân kali cho vườn cây đang bị bệnh; phun ngừa bằng các loại thuốc có hoạt chất Bordeaux 1%, Bordeaux + Zin, Copper Oxychloride theo liều lượng khuyến cáo
Trang 30 Bệnh ghẻ (Scab)
Bệnh do nấm Elsinoe fawcettii gây ra Nấm lây lan nhờ mưa gió và côn trùng
Nấm gây hại trên cành, lá, quả non Biểu hiện là những mụn ghẻ hình thù không đều nhau, màu vàng nâu, đôi chổ màu đen do các bào tử thoát ra Khác với bệnh loét là bệnh chỉ xuất hiện ở một mặt lá, lá bị hại thường quăn lại
Biện pháp phòng trừ: Thường xuyên vệ sinh vườn cây, cắt tỉa và thu gom các
bộ phận bị bệnh đem tiêu hủy: phun ngừa khi cây ra đọt non hoặc khi hoa rụng cánh 2/3 bằng thuốc gốc đồng; phun các loại thuốc Ridomyl, Carbendazim, Metiram Complex, Thiophanate Methyl với nồng độ khuyến cáo (Trần Văn Hai, 2007)
Bệnh vàng lá thối rễ
Do nấm Fusarium solani tấn công vào chóp rễ và làm thối rễ Cây bị bệnh lá
vẫn lớn bình thường, nhưng gân lá có màu vàng trắng, phiến lá ngả màu vàng xanh, sau đó rụng đi, nhất là khi có gió hoặc khi ta lắc nhẹ cây Các lá già rụng trước sau
đó dần đến các lá trên Nhìn vào cây thấy gốc trơ trụi chỉ còn lại lá và đọt Đào rễ lên thấy phía cành bị rụng lá, rễ bị thối, vỏ rễ tuột ra khỏi phần gỗ, gỗ bị sọc nâu lan dần vào rễ lớn Bệnh nặng tất cả rễ đều bị thối và cây chết (Trần Văn Hai, 2007) Biện pháp phòng trừ : Trồng nơi đất cao, thoát nước tốt Nếu phát hiện sớm, cắt bỏ rễ bị thối, bôi thuốc vào vết cắt Bón thêm phân lân, kali hoặc tưới MKP để cây phục hồi nhanh hơn, Cây chớm bệnh tưới Oligo - Alginate 10% + Chitosan 2%, Benomyl, Carbendazim, Ridomyl, Flusilazole theo hướng dẫn trên nhãn thuốc, phun 2 lần/năm Nếu vùng đất có tuyến trùng nên kết hợp rãi thuốc có hoạt chất hoặc Fipronil và bón phân chuồng hoai mục (Trần Văn Hai, 2007)
1.9 XỬ LÝ RA HOA
Trong điều kiện tự nhiên ở ĐBSCL, do ảnh hưởng của mùa khô hạn bưởi ra hoa vào tháng 5 khi có bắt đầu mùa mưa và thu hoạch vào tháng 11-12 Tuy nhiên, cây có múi đòi hỏi thời gian khô hạn cho sự phân hóa mầm hoa tương đối ngắn, đối với cam, bưởi khoảng 30 ngày Do đó, sau thời gian cảm ứng ra hoa cần thiết, biện pháp tưới nước trong mùa khô có ý nghĩa thúc đẩy sự ra hoa nên cây có múi thường
ra hoa vào tháng 12-1 và thu hoạch từ tháng 8-12 Đây là mùa thuận của cây có múi
Trang 31ĐBSCL Tuy nhiên, nếu kích thích ra hoa vào mùa mưa để thu hoạch vào dịp tết như trên cây bưởi sẽ gặp nhiều trở ngại do thời gian khô hạn chưa đủ để hình thành mâm hoa Chính vì vậy biện pháp kích thích ra hoa mùa nghịch bằng cách “xiết nước” hoặc lợi dụng sự khô hạn giữa mùa sẽ cho kết quả không ổn định, sự ra hoa không tập trung Sau đợt ra hoa đầu tiên nếu được bón phân và tưới nước cây bưởi
sẽ tiếp tục ra hoa đợt 2 và có thể ra hoa 4-5 đợt hoa/ năm Do sự ra hoa nhiều đợt và kéo dài nên nhà vườn cho rằng bưởi ra hoa quanh năm Ở huyện Chợ Lách tỉnh Bến Tre, có nông dân kích thích bưởi Da Xanh ra hoa rãi rác quanh năm bằng cách lặt lá cành đã phát triển nằm bên trong tán cây, được gọi là cành “nhện” Biện pháp này
tỏ ra có hiệu quả đối với hộ có diện tích nhỏ có thể chủ động cho cây ra hoa bằng cách lặt lá nhưng có vẻ không phù hợp đối với vườn có quy mô lớn vì tốn nhiều công lao động (Trần Văn Hâu, 2004)
Theo Võ Hữu Thoại và ctv (2002) cho rằng: có thể dùng Paclobutrazol ở liều
lượng 2,5 - 5g/cây (tùy theo tuổi cây và đường kính của cây mà tăng giảm liều lượng) tưới xung quanh gốc hoặc phun lên cây ở nồng độ 1.000 - 2.000 ppm cũng
có khả năng giúp cây có múi ra hoa Hoặc dùng Ethrel 500 ppm phun lên lá hoặc tưới gốc Trước khi xử lý hóa chất thì cây cũng được bón phân lần 2 (trước ra hoa), sau khi xử lý hóa chất cũng cần giảm dần lượng nước tưới và khi cây ra hoa thì tưới nước trở lại Việc sử dụng hóa chất để xử lý ra hoa cho cây có múi cần phải thận trọng vì có thể ảnh hưởng bất lợi cho cây
1.10 THU HOẠCH
Từ khi bưởi ra hoa cho đến thu hoạch trái thường khoảng 6-7 tháng Thu hoạch trái vào những ngày tạnh ráo Thời gian thu hoạch trái tốt nhất vào buổi sáng hoặc chiều mát Tránh thu trái vào giữa trưa lúc trời nắng nóng Không nên hái trái còn ướt sương hoặc sau khi mưa vì dễ gây thối trái Khi hái trái xong nên cắt bỏ bớt cuống trái và lá để giảm xây sát và héo do bốc hơi nước nhiều trong khi bảo quản, vận chuyển đến nơi tiêu thụ (Nguyễn Danh Vàn, 2008)
Trang 32CHƯƠNG 2 PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
Đối tượng điều tra là bưởi Da xanh
Điều tra được thực hiện với phiếu điều tra lập sẵn (xem Phụ lục)
2.2 PHƯƠNG PHÁP
Chọn ngẫu nhiên 60 hộ canh tác bưởi Da xanh ở các xã: 15 hộ Thị Trấn, 11 hộ
xã Hòa Nghĩa, 11 hộ xã Vĩnh Bình, 9 hộ xã Sơn Định, 7 hộ xã Sơn Quy, 4 hộ xã Long Thới, 2 hộ xã Vĩnh Thạnh và 1 hộ xã Hưng Khánh Áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp nông hộ theo mẫu phiếu điều tra, gồm các thông tin chính như sau:
- Thông tin của nông hộ
- Kỹ thuật trồng: Kích thước mương liếp, bờ bao; kỹ thuật đào mương, lên liếp; kỹ thuật xử lý đất trước khi trồng; hệ thống dẫn, thoát nước; kỹ thuật sản xuất giống trồng
- Kỹ thuật chăm sóc: Tưới tiêu; phân bón; tủ gốc; làm cỏ, cắt tỉa, tạo tán; kỹ thuật xử lý ra hoa; các loại sâu, bệnh quan trọng; kỹ thuật chống đỡ trái, treo trái, bao trái; thu hoạch; tiêu thụ sản phẩm; ý kiến chủ hộ về thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển vườn tại địa phương
Trang 33CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ THẢO LUẬN
3.1 THÔNG TIN CHUNG
3.1.1 Tình hình nông hộ
3.1.1.1 Tuổi chủ vườn
Kết quả điều tra cho thấy, nông dân canh tác bưởi Da Xanh tại Chợ Lách – Bến Tre có độ tuổi trung bình là 47 tuổi, lớn nhất là 75 tuổi, nhỏ nhất là 23 tuổi (Bảng 3.1) Nhìn chung, đa số nông dân làm vườn có độ tuổi khá cao, điều này có mặt thuận lợi là họ có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chăm sóc bưởi Da Xanh Tuy nhiên, do độ tuổi cao nông dân ít năng động và khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật có thể bị hạn chế
3.1.1.2 Số nhân khẩu và số lao động
Kết quả điều tra cho thấy, số nhân khẩu của mỗi hộ cao nhất là 7 người, thấp nhất là 2 người và trung bình là 4,2 Số lao động chính trung bình là 2,8 người và số lao động phụ trung bình là 1,5 người Kết quả cho thấy, tỷ lệ sử dụng lao động trong nông hộ là rất cao
Bảng 3.1 Thông tin nông hộ
TT Nội dung Trung bình Nhỏ nhất Lớn nhất Độ lệch chuẩn
Trang 343.1.2 Đặc điểm vườn
3.1.2.1 Diện tích vườn
Diện tích trồng bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách trung bình là 0,4 ha, cao nhất là 1,2 ha và thấp nhất là 0,2 ha Điều này cho thấy diện tích trồng bưởi Da Xanh chưa tập trung thành vùng chuyên canh chủ yếu mà còn mang tính chất nhỏ lẻ theo quy mô gia đình,… Với diện tích nhỏ sẽ dễ dàng cho việc chăm sóc và quản
lý, nhưng có thể gặp khó khăn trong tiêu thụ do sản lượng cung cấp cho thị trường không nhiều và không ổn định Ngoài ra, việc sử dụng cơ giới trong các khâu sản xuất cũng bị hạn chế
3.1.2.2 Tuổi cây
Theo kết quả điều tra, độ tuổi cây bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách trung bình là 9,1 năm, dao động từ 5 - 15 năm Độ tuổi trung bình 9,1 năm là giai đoạn bưởi cho năng suất cao và ổn định nên cần có kỹ thuật canh tác hợp lý để duy trì Tuy nhiên, khoảng biến động về tuổi cây giữa các vườn điều tra là tương đối lớn Nguyên nhân có thể do hiệu quả kinh tế của bưởi Da xanh khá cao nên có nhiều nhà vườn đầu tư trồng mới
3.1.2.3 Số vụ thu hoạch trong năm
Số lần thu hoạch trái trung bình trong năm là 11,7 lần, biến thiên trong khoảng 9,0 – 12,0 lần/năm Kết quả cho thấy, số lần thu hoạch bưởi Da xanh của nông dân
là rất nhiều Điều nầy có thể do người dân xử lý ra hoa, sau đợt ra hoa đầu tiên người dân sử dụng phân bón và nước tưới làm cây bưởi tiếp tục ra hoa và có thể do nông dân áp dụng biện pháp xử lý ra hoa bằng phương pháp lặt lá nhánh “nhện” trong nhiều thời điểm nên giúp cây ra hoa nhiều lần Tuy nhiên, thu hoạch nhiều lần trong năm có thể ảnh hưởng đến chất lượng trái do sự hấp thu dinh dưỡng nuôi trái
có nhiều cở tuổi trên cây có thể không được đồng đều, ngoài ra còn ảnh hưởng lên sinh trưởng do cây bưởi không có thời gian để hồi phục sau thu hoạch
Trang 353.1.2.4 Năng suất
Theo Nguyễn Bảo Vệ và Lê Thanh Phong (2011), tùy theo giống và hình thức nhân giống, sau khi trồng 3-4 năm bằng nhánh chiết thì bưởi cho thu hoạch Năng suất các vườn bưởi Da xanh tại huyện Chợ Lách trung bình 13,6 tấn/ha, nhỏ nhất 7 tấn/ha và cao nhất là 22 tấn/ha Cây bưởi ở độ tuổi 11 năm có thể cho thu hoạch 100 kg/năm/cây (Nguyễn Bảo Vệ Và Lê Thanh Phong, 2004) Với mật độ trồng trung bình 596 cây/ha, cho thấy năng suất bưởi Da xanh còn thấp so với tiềm năng của cây Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất bưởi Da xanh là do kỹ thật canh tác chưa phù hợp, sâu bệnh,
Bảng 3.2 Đặc điểm vườn
bình Nhỏ nhất Lớn nhất Độ lệch
chuẩn