1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại PHÁP LUẬT KINH DOANH bảo HIỂM ở VIỆT NAM HIÊN NAY lý LUẬN THỰC TIỄN và HƯỚNG HOÀN THIỆN

120 263 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 856,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc đảm bảo cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển

Trang 1

BỘ MƠN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI

KHĨA 25 (1999 – 2003)

PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY_LÝ LUẬN THỰC TIỄN VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN

Cần Thơ - 07/2003

Giáo viên hướng dẫn:

Cô Phạm Thị Minh Anh

CBGD Bộ mơn Tư pháp

Sinh viên thực hiện:

Nguyễn Thị Thủy Anh

MSSV: 5992504 - Lớp Luật Thương mại 25

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 2

˜ & ™

v Tính cấp thiết của đề tài:

Kinh doanh bảo hiểm là một ngành kinh doanh dịch vụ có lịch sử hình thành rất lâu đời trên thế giới Bảo hiểm không chỉ có lợi ích về kinh tế to lớn mà còn mang tính xã hội sâu sắc, phát triển mạnh mẽ trên thế giới, thâm nhập vào tất

cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Ngày nay, hoạt động bảo hiểm không ngừng phát triển trở thành một dịch vụ đóng vai trò quan trọng ở nhiều quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, từ khi nước ta chuyển sang cơ chế thị trường và cùng với

sự mở cửa của thị trường tài chính Việt Nam, nền kinh tế đã được thúc đẩy phát triển với tốc độ cao Đi đôi với sự phát triển kinh tế thì đời sống vật chất của con người ngày càng được nâng cao, bảo hiểm trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với mỗi cá nhân, tổ chức và các doanh nghiệp Kinh doanh bảo hiểm được coi

là một tấm lá chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức, cá nhân đồng thời huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển

Trong những năm gần đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển mạnh mẽ và đạt được những lợi ích to lớn Kể từ năm 1994 đến nay tốc độ tăng bình quân của thị trường bảo hiểm nước ta đạt 23%/năm Tuy nhiên, do hoàn c ảnh lịch sử để lại, sự hiểu biết của người dân về bảo hiểm như một ngành kinh doanh tài chính, về cơ sở pháp lý của hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn nhiều hạn chế

Sự hội nhập với nền kinh tế thế giới thông qua hình thức nước ta gia nhập các tổ chức AFTA, APEC, WTO đang đặt ra yêu cầu mở cửa thị trường dịch vụ kiểm toán, bảo hiểm ngân hàng Do đó, các công ty bảo hiểm nước ta đang phải đối mặt với sức ép mở cửa trong tương lai ngày càng lớn - cạnh tranh sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn Mặt khác, môi trường và cơ chế pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn nhiều bất cập Vì thế, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm tạo ra một môi trường pháp lý vững chắc đảm bảo cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và đem lại hiệu quả cao, năng lực quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 3

càng được nâng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân, phù hợp với chuẩn mực quốc tế trong tiến trình hội nhập

Xuất phát từ thực tiễn nêu trên và với mong muốn sẽ đóng góp được một

số ý kiến hữu ích trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

nên tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam hiện nay-

lý luận, thực tiễn và phương hướng hoàn thiện” làm đề tài nghiên cứu luận văn

tốt nghiệp

v Mục đích nghiên cứu:

Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong nước, thông qua các vấn đề:

- Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội

và sự cần thiết phải có một môi trường pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam

- Phân tích một số quy định của pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm

- Phân tích thực tiễn của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý để chi phối, điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam

v Đối tượng nghiên cứu:

Với mục đích góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở nước ta hiện nay, luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận của bảo hiểm, phân tích các quy định của pháp luật về hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam và một số vấn đề thực tiễn hiện nay

v Phạm vi nghiên cứu:

Đây là một đề tài khá rộng Vì thế, trong phạm vi hạn hẹp của một luận văn tốt nghiệp chúng tôi chỉ nghiên cứu những quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm, không đi sâu vào tìm hiểu các nghiệp vụ bảo hiểm

v Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài việc sử dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng về tự nhiên và xã hội làm phương pháp luận xuyên suốt, người viết còn sử dụng phương pháp phân tích các quy định của pháp luật đối chiếu với thực tiễn, phương pháp thống kê số liệu thực tế Trên cơ sở đó, người viết cố gắng khái

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 4

quát những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn xung quanh hoạt động kinh doanh bảo hiểm Bên cạnh đó, luận văn còn đưa ra những kết luận, kiến nghị nhằm giải quyết và hoàn thiện các vấn đề đặt ra

v Bố cục của luận văn:

Với mục đích nghiên cứu như trên, bố cục của luận văn sẽ như sau:

- Lời nói đầu

- Chương I: Một số vấn đề lý luận và pháp lý về kinh doanh bảo hiểm

- Chương II: Thực tiễn và hướng hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo

hiểm ở Việt Nam

Trang 5

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 6

CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ

VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

Mục 1

SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

I SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM:

1 Sơ lược lịch sử phát triển của hoạt động bảo hiểm :

Trong cuộc sống hàng ngày, con người phải luôn đối mặt với nhiều rủi ro ảnh hưởng rất lớn đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của mình Đó là những thứ quý giá mà con người phải luôn luôn ra sức bảo vệ Chính vì vậy, từ khi có xã hội loài người đến nay, con người đã vận dụng mọi cách, tìm kiếm những biện pháp phòng tránh tai nạn rủi ro nhằm đảm bảo sự ổn định cuộc sống của mình về vật chất lẫn tinh thần Ngày nay, khoa học kỹ thuật phát triển, con người phát minh ra nhiều máy móc hiện đại, kỹ năng phòng chống hiểm họa có nhiều tiến bộ nhưng, dường như, con người vẫn luôn bất lực trước những sự cố, rủi ro xảy ra bất ngờ Cho dù có cố gắng hết mình, con người vẫn chỉ có khả năng hạn chế phần nào rủi

ro tổn thất chứ không thể nào triệt tiêu hết những tổn thất do chúng gây ra cho tính mạng, sức khỏe và tài sản của con người

Chính vì không thể loại trừ hết những rủi ro, nên từ xa xưa con người đã

tính mạng, sức khỏe tài sản do sự cố ngoài ý muốn gây ra, con người biết đoàn kết lại cùng nhau chia sẻ gánh chịu tổn thất Nếu thiệt hại quá lớn mà chỉ có một cá nhân hay một tập thể đơn phương gánh chịu, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt dộng bình thường gây bất ổn đến sản xuất kinh doanh và đời sống, thậm chí dẫn đến nguy cơ phá sản Vì thế, nếu hậu quả của rủi ro đó được chia sẻ, phân tán thật rộng cho nhiều cá thể, tập thể khác, hậu quả tổn thất thiệt hại sẽ bớt nặng nề

Trang 7

và ai nấy đều có thể gánh chịu được một cách dễ dàng không ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

Mầm mống bảo hiểm đã hình thành từ rất lâu.Trong lịch sử Ai Cập cổ đại ghi lại rằng từ thế kỷ 45 trước Công nguyên (TCN) những thợ thủ công đẽo đá đã

có ý niệm về cộng đồng hóa rủi ro bằng việc thành lập “quỹ tương trợ” để giúp đỡ nạn nhân của các vụ tai nạn trong quá trình lao động sản xuất Đây chính là một ý

niệm về bảo hiểm “lấy số đông bù số ít”

Khoảng 3000 năm TCN, tại Trung Quốc các lái buôn đã biết phân chia hàng hóa ra nhiều thuyền nhỏ thay vì chuyên chở trên một chiếc thuyền lớn để

tránh tổn thất toàn bộ Đây là ý niệm “phân tán rủi ro” trong bảo hiểm

Đến năm 2500 TCN tại Babylone, các nhà buôn đã thuê những người chuyên chở bằng lạc đà (gọi là darmathe) vận chuyển hàng hóa với điều kiện kinh doanh suôn sẽ, các nhà buôn sẽ chia cho họ phân nửa tiền lãi, ngược lại nếu bị lỗ vốn, các darmathe sẽ phải đền bù Tuy nhiên nếu hàng hóa bị cướp bóc mà không

có sự đồng lõa của darmathe thì họ không phải bồi thường Đây là khái niệm

“miễn trách” trong ngành hàng hải, được áp dụng cho đến ngày nay và vẫn được vận dụng trong bảo hiểm hàng hóa vận chuyển nói chung

Năm 916 TCN, hoàng đế xứ Rhodes đã ban hành đạo luật để bảo vệ các thương gia: chủ tàu được hưởng quyền lợi phải gánh chịu rủi ro chung với các chủ tàu bị thiệt hại vì phải hy sinh để cứu tàu, cứu hàng khi con tàu gặp nạn Ngày

nay, khái niệm “tổn thất chung” (genaral average) này luôn được vận dụng trong

hàng hải Hay nói cách khác, đây là biện pháp chia nhỏ, dàn trải rủi ro của một người hoặc một số ít người cho nhiều người cùng có khả năng gánh vác

Từ những khái niệm thô sơ nói trên, trải qua hàng ngàn năm, con người đã tổng kết lại, thể chế hóa bằng các kỹ thuật bảo hiểm, nguyên tắc bảo hiểm để hình thành khái niệm bảo hiểm một cách khoa học Từ đó người ta xây dựng những quy tắc, điều khoản bảo hiểm làm cơ sở cho việc ký kết hợp đồng bảo hiểm

Vào đầu thế kỷ XIV tại Italia, hợp đồng bảo hiểm hàng hải đầu tiên được

ký kết tại bến cảng Genoa, bên bờ Địa Trung Hải nhằm ngày 23-10-1347 Tới năm 1424 Hội bảo hiểm đầu tiên ra đời trong lĩnh vực vận tải đường biển và đường bộ được thành lập ở Genes (Ý)

Trước thế kỷ XVII ở Anh đã có loại hình bảo hiểm hàng hải và đã có hợp đồng bảo hiểm được ký kết vào năm 1547 nhưng mãi đến cuối thế kỷ XVII, tại quán cà phê do ông Edward Lloyd làm chủ (Lloyd’s Coffee house), bảo hiểm mới

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 8

chính thức trở thành một dịch vụ kinh doanh có tổ chức, những quy tắc, những điều khoản bảo hiểm, đơn bảo hiểm hàng hải được ký kết giữa người bảo hiểm (the Insurer) và người được bảo hiểm (the Insured) do Lloyd’s cung cấp, dần dần được tiêu chuẩn hóa, ngày càng được nhiều nước trên thế giới công nhận và áp dụng Ngày nay, Lloyd’s London đã trở thành một Trung tâm bảo hiểm Quốc tế

về tàu và hàng hóa nổi tiếng trên thế giới

Ý tưởng bảo hiểm hỏa hoạn được hình thành từ sau vụ hỏa hoạn khủng khiếp ở London vào ngày 02-09-1666 đã thiêu hủy 13.200 căn nhà Những người dân ở đây phần lớn không còn nhà để ở, đã xảy ra cảnh khó khăn xã hội nghiêm trọng Để giải quyết khó khăn xã hội vì hỏa hoạn, bác sĩ nha khoa răng hàm mặt Nicholas Barbon lập ra doanh nghiệp bảo hiểm với tên gọi là “Phòng hỏa hoạn” (The Fire Office) vào năm 1667 Từ năm 1683, ở Anh tiếp tục lập ra các tổ chức hữu ái nhằm hỗ trợ cho các hội viên khi bị hỏa hoạn Việc thành lập những tổ chức bảo hiểm như vậy đã đặt nền móng cho bảo hiểm hỏa hoạn Năm 1684, ở Anh thành lập công ty bảo hiểm với tên gọi là “Frendly Society Office” Năm

1677, ở Hambourg (Đức) cũng đã thành lập quỹ hỏa hoạn đầu tiên của thành

lớn là công ty “The Sun Insurance Office” và hiện nay vẫn còn hoạt động Sau đó, bảo hiểm hỏa hoạn đã phát triển lan ra nhiều nước trên thế giới như Đức, Pháp…

Bảo hiểm nhân thọ cũng được hình thành rất sớm và được một số thành phố lớn ở Italia thực hiện ngay sau sự hình thành bảo hiểm hành hải, nhưng nó bị nhà thờ phản bác và cấm đoán, hơn nữa chưa được sự hưởng ứng của nhân dân Năm 1583 hợp đồng bảo hiểm nhân thọ Anh quốc (English life Insurance

Mãi đến thế kỷ XVII, khi ngành toán học xác xuất và thống kê phát triển bởi các nhà khoa học Fesma, Pascal, Beraouli đã xây dựng cơ sở khoa học cho kinh doanh bảo hiểm và khi đó mới có sự thuyết phục đối với quần chúng nhân dân Năm

1759, ở Hoa Kỳ, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên đã được hình thành: “Tập đoàn giúp cho việc hạn chế sự nghèo khó và những tín đồ túng quẫn, những người

viên của nhà thờ Đến năm 1762, Hội đảm bảo công bằng cho những người sống

và thừa kế được thành lập ở Anh, đây là công ty thực hiện loại hình bảo hiểm nhân thọ cho cộng đồng Sau đó loại hình bảo hiểm này ngày càng phát triển ở khắp các

đô thị Châu Âu

(2)

Tạp chí bảo hiểm số 2- 1998

(3)

Lý thuyết cơ bản về bảo hiểm - Nguyễn Tiến

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 9

Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX cùng với sự phát triển của Cách mạng Công nghiệp thì các loại hình kinh doanh bảo hiểm ngày càng phát triển đa dạng: bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn con người…Và trong tình hình hiện nay sự phát minh ra những phương tiện giao thông hiện đại cũng đã mang đến cho con người những nguy hiểm cũng như gây ra thiệt hại về tài sản và tính mạng Chính vì thế, các loại bảo hiểm xe môtô và bảo hiểm tai nạn con người ngày càng được đông đảo quần chúng quan tâm

Trên thế giới, trong giai đoạn hiện nay, bảo hiểm phát triển thành một hoạt động quan trọng trong mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội, trở thành một nhu cầu không thể thiếu được của con người, đã thực sự thuyết phục và lôi cuốn mọi công dân, mọi tổ chức tham gia

2 Định nghĩa và phân loại bảo hiểm:

2.1 Định nghĩa bảo hiểm :

Trên thế giới, bảo hiểm ra đời và tồn tại từ lâu xuất phát từ nhu cầu khách quan của nền kinh tế xã hội Ngày nay, hoạt động bảo hiểm trở thành một dịch vụ không thể thiếu được trong cuộc sống con người, một bộ phận không thể tách rời trong toàn bộ quá trình phát triển kinh tế xã hội của loài người Thế nhưng, trong cuộc sống hằng ngày, thuật ngữ “bảo hiểm” được hiểu theo nhiều cách khác nhau

Theo Dennis Kessler thì “Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất

Theo MJ.Burkinshaw: “Bảo hiểm là một hệ thống mà qua đó một số người đồng ý góp vào một quỹ chung, được dùng để chia sẻ các chi phí tổn thất của một

Nếu đứng trên phương diện pháp lý: Bảo hiểm là một hợp đồng được ký kết, trong đó một bên (người bảo hiểm) đồng ý nhận một số tiền đã được tính toán (gọi là phí bảo hiểm) để bồi thường cho người khác (người được bảo hiểm) về những tổn thất người ấy phải gánh chịu do hậu quả của những sự cố đã xảy ra

Nếu đứng trên phương diện kinh tế: Bảo hiểm là một hệ thống các biện pháp kinh tế để huy động sự đóng góp của các tổ chức, các cá nhân một số tiền nhất định dưới dạng phí bảo hiểm hình thành quỹ bảo hiểm nhằm chi trả hay bù

Trang 10

đắp cho các đối tượng của người đóg góp khi có sự cố xảy ra, đảm bảo ổn định đời sống được thường xuyên và liên tục

Còn theo các chuyên gia người Pháp đã đưa ra một định nghĩa đầy đủ vừa đáp ứng đặc điểm của bảo hiểm thương mại (insurance) vừa đáp ứng đặc điểm của bảo hiểm xã hội (social security): Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân

có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả,

tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo phương pháp thống kê

Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì bảo hiểm được hiểu là chức năng kinh tế mà mục đích là bồi thường những thiệt hại về của cải hay sức khỏe, tính mạng con người, bằng cách đảm nhiệm những rủi ro và đền bù những rủi ro ấy Người muốn được bảo hiểm phải mua bảo hiểm và khi bị thiệt hại thì được bồi thường Việc bồi thường được quy định bằng một hợp đồng giữa tổ chức bảo hiểm

và người được bảo hiểm

Tóm lại, bảo hiểm là hoạt động được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm Bảo hiểm là những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hoặc trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các trường hợp thuộc trách nhiệm bảo hiểm

2.2 Phân loại bảo hiểm :

Phân loại bảo hiểm là tiến hành phân chia các nghiệp vụ bảo hiểm thành các nhóm nghiệp vụ hoặc thể loại bảo hiểm cùng loại có quan hệ mật thiết với nhau một cách có hệ thống

Ngày nay, ngành bảo hiểm trên thế giới ngày càng phát triển với nhiều loại nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm mới Hiện nay, trên thế giới việc phân loại bảo hiểm có thể dựa trên một số căn cứ sau:

Căn cứ theo thời hạn và tính chất tiết kiệm, bảo hiểm chia thành bảo hiểm

nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ Thông thường hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ (gồm bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm) là những hợp đồng bồi thường và

có thời hạn dưới một năm, còn hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hợp đồng tiết kiệm

và dài hạn từ 5-25 năm hoặc suốt đời

Căn cứ theo đối tượng bảo hiểm, bảo hiểm được chia thành bảo hiểm con

người, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 11

Sự phân loại bảo hiểm chỉ mang tính chất tương đối do có sự đan xen, kết hợp các thuộc tính đặc trưng của các loại bảo hiểm khác Tuy nhiên, việc tiến hành phân loại là rất cần thiết và tiện lợi cho các tổ chức triển khai, thực hiện các nghiệp vụ bảo hiểm

Ở Việt Nam, việc phân loại bảo hiểm dựa trên các tiêu chí sau:

2.2.1 Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm:

Các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm :

Bảo hiểm con người: bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm có đối tượng bảo

hiểm là tính mạng, thân thể sức khỏe, khả năng lao động của con người Người ký kết hợp đồng bảo hiểm nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu xảy ra rủi

ro ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được tiền bảo hiểm từ người bảo hiểm trả

Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản Khi

xảy ra rủi ro, tổn thất về tài sản thì người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức đảm bảo đã thỏa thuận trên hợp đồng.Ví dụ như: Bảo hiểm hàng hóa, bảo hiểm hỏa hoạn, bảo hiểm thiệt hại vật chất xe cơ giới

Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là loại bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là

trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự Theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ ba về những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình Ví dụ như: Bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, bảo hiểm trách nhiệm đối với sản phẩm

2.2.2 Căn cứ vào kỹ thuật bảo hiểm:

Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ là các loại bảo hiểm cho các

rủi ro có tính chất ổn định theo thời gian và độc lập với tuổi thọ con người, gọi chung là bảo hiểm phi nhân thọ (Non life Insurance)

Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn là các loại bảo hiểm đảm

bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi theo thời gian, đối tượng gắn liền với tuổi của con người, gọi chung là bảo hiểm nhân thọ (Life Assurance)

2.2.3 Căn cứ vào tính chất khoản bồi thường:

Các loại bảo hiểm được chia làm 2 loại:

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 12

- Các loại bảo hiểm có số tiền trả theo nguyên tắc bồi thường là loại bảo

hiểm mà khi tổn thất xảy ra, số tiền bồi thường của nhà bảo hiểm không bao giờ vượt quá thiệt hại thực tế mà người được bảo hiểm phải gánh chịu Ví dụ như: Bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm dân sự

- Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán là các

loại bảo hiểm mà số tiền bồi thường người được bảo hiểm nhận là do hai bên thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm.Ví dụ như bảo hiểm nhân thọ

2.2.4 Căn cứ vào tính chất pháp lý:

- Bảo hiểm tự nguyện là những loại bảo hiểm mà theo hợp đồng thiết lập

dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm

- Bảo hiểm bắt buộc được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi

ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế xã hội Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm chứ không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu

Căn cứ theo pháp luật hiện hành (điều 7 luật kinh doanh bảo hiểm)

+ Bảo hiểm nhân thọ bao gồm :

- Bảo hiểm trọn đời

- Bảo hiểm sinh kỳ

- Bảo hiểm tử kỳ

- Bảo hiểm hỗn hợp

- Bảo hiểm trả tiền định kỳ

- Các nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ khác do Chính phủ quy định

+ Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

- Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người

- Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không

- Bảo hiểm hàng không

- Bảo hiểm xe cơ giới

- Bảo hiểm cháy, nổ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 13

- Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu

- Bảo hiểm trách nhiệm chung

- Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính

- Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh

- Bảo hiểm nông nghiệp

- Các loại nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định

II SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM TRÊN THẾ GIỚI:

1.Sơ lược lịch sử phát triển của pháp luật kinh doanh bảo hiểm :

Bảo hiểm ra đời và phát triển đòi hỏi phải có những chuẩn mực luật pháp điều chỉnh các mối quan hệ bảo hiểm Những quy định này đã được hình thành từ thời cổ xưa Khoảng 3000- 4000 năm TCN, luật đường biển Ru-tơ ra đời và giữ một vai trò quan trọng trong hoạt động buôn bán ở Địa Trung Hải Trong luật này

có quy định “Tổn thất chung trên biển”

Vào năm 916 TCN, Hoàng đế xứ Rhodes đã ban hành luật để bảo vệ các thương gia có hàng hóa bị tổn thất vì lợi ích chung của hành trình Các chủ tàu được hưởng lợi trên các tổn thất đó phải cùng gánh chịu rủi ro

Luật bảo hiểm hàng hóa ra đời sớm nhất ở Italia Sau đó là luật An-long năm 1266.Đến thế kỷ XIV, hoạt động buôn bán đường biển ngày càng phát triển làm cho hoạt động bảo hiểm hàng hải cũng ngày càng phổ biến và trở thành một yếu tố không thể thiếu Chính vì thế, ở Châu Âu đã dần dần xuất hiện những luật

lệ về hoạt động hàng hải, trong đó gồm có cả nội dung của luật pháp kinh doanh bảo hiểm

Năm 1435, pháp lệnh Bacelona Tây Ban Nha ra đời đã công bố quy tắc bảo hiểm hàng hải và thủ tục bồi thường tổn thất Đây là “Luật bảo hiểm hàng hải lâu đời nhất trên thế giới” Sau đó, vào năm 1523, Phơ-Ru-Long-xa (Ý) đã đặt ra điều

lệ bảo hiểm hàng hải hoàn chỉnh hơn và quy định mẫu đơn bảo hiểm tiêu chuẩn Những tòa án bảo hiểm hàng hải cũng được lập nên ở Antwerp (Bỉ), Amsterdam (Hà Lan) để giải quyết những vụ tranh chấp về bảo hiểm Đến năm 1681, vua

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 14

Louis XIV (Pháp) đã ban hành pháp lệnh hoạt động hàng hải thúc đẩy bảo hiểm hàng hải phát triển hơn

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, sự phát triển về thương mại quốc tế và sự tiến bộ về giao thông quốc tế, luật bảo hiểm các nước từng bước được hoàn chỉnh dần, đặc biệt là các nước ở Châu Âu

ü Luật bảo hiểm của các nước thuộc luật pháp lục địa:

* Luật bảo hiểm Pháp (13.07.1930) bắt nguồn từ điều khoản có liên quan

trong Điều lệ hoạt động hàng hải năm 1681 và luật buôn bán của Pháp năm1808 Đây là bộ luật bảo hiểm đường bộ tương đối hoàn chỉnh, gồm 4 chương:

Chương 1: Quy định chung về bảo hiểm

Chương 2: Bảo hiểm thiệt hại

Chương 3: Bảo hiểm con người

Chương 4: Trình tự thực hiện

Năm 1905, Pháp ban hành “Luật giám sát bảo hiểm nhân thọ” Sau đó vào năm 1938 còn thông qua những đạo luật riêng về giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm

* Luật bảo hiểm Đức

Vào năm 1731, tại thành phố Hamburg, Đức đã ban hành “Điều lệ bảo hiểm về tổn thất hàng hải” Sau đó, năm 1794 ban hành Đạo luật Prusse trong đó

có quy định về bảo hiểm hàng hải và bảo hiểm đường bộ Năm 1908 Luật hợp đồng bảo hiểm được công bố và được thực hiện vào năm 1910 Đức ban hành Điều lệ giám sát tái bảo hiểm vào năm 1913, Luật giám sát doanh nghiệp bảo hiểm tư nhân và quỹ tiết kiệm xây nhà ở năm 1931

ü Luật bảo hiểm các nước thuộc hệ thống luật Anh-Mỹ:

* Luật bảo hiểm Anh :

Năm 1906 ở Anh đã có Luật bảo hiểm hàng hải Bên cạnh đó, bảo hiểm phi hàng hải được xét xử theo tiền lệ Nước Anh, có rất nhiều đạo luật bằng văn bản

về bảo hiểm

Năm 1870 ở Anh đã có quy định về quản lý doanh nghiệp bảo hiểm

Năm 1774 Anh ban hành Luật bảo hiểm nhân thọ

Năm 1975 Luật bảo hộ người lao động

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 15

* Luật bảo hiểm Mỹ:

Ở Mỹ không có một bộ luật bảo hiểm thống nhất Về hợp đồng bảo hiểm được xét xử theo tiền lệ Luật bảo hiểm của bang New York được xem là một đạo luật hoàn chỉnh nhất Đạo luật này gồm có 18 chương 631 điều

2 Giới thiệu sơ lược về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của một số nước liên minh Châu Âu:

2.1 Cơ cấu hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) có lịch sử lâu đời về bảo hiểm

Do yếu tố lịch sử và truyền thống pháp lý khác nhau, các nước EU tồn tại song song hai hệ thống pháp luật Đó là hệ thống pháp luật chung (Common law-bao gồm Anh, Aiơlen, Aixơlen) và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa (Continental law-bao gồm các nước còn lại)

Luật bảo hiểm có lịch sử phát triển rất sớm ở Châu Âu Đạo luật đầu tiên về bảo hiểm được ban hành từ thế kỷ XIV tại Bồ Đào Nha và không ngừng được hoàn thiện cho đến ngày nay Với mục tiêu xây dựng một thị trường bảo hiểm chung, các nước EU đã thành công trong việc thống nhất các quy định pháp luật

về quản lý, giám sát, cấp giấy phép cho các công ty bảo hiểm… thông qua việc ban hành các chỉ thị về bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ mà các nước thành viên phải luôn tuân thủ

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm chủ yếu được điều chỉnh bởi luật về doanh nghiệp bảo hiểm (hoặc luật về giám sát bảo hiểm) và luật về hợp đồng bảo hiểm Còn các hoạt động khác bảo hiểm hàng hải, bảo hiểm hàng không, bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới hay tái bảo hiểm thường được điều chỉnh bằng những văn bản riêng như Luật bảo hiểm hàng hải 1906 (Anh), Luật hàng hải của Italia…

2.2 Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Do tầm quan trọng của bảo hiểm đối với đời sống kinh tế xã hội và sự phát triển của mỗi quốc gia nên ngay từ khi mới ra đời Hoạt động bảo hiểm của các nước EU đã chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Cơ quan quản lý bảo hiểm được thành lập sớm nhất ở Bồ Đào Nha từ trước năm 1755 với tên Nhà bảo hiểm (House Of Insurance) giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng bảo hiểm

Hiện nay, vị trí của cơ quan quản lý bảo hiểm trong bộ máy Nhà nước EU

là không thống nhất Trong khi nhiều nước (Bồ Đào Nha, Tây ban Nha,

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 16

Lucxembua) quy định cơ quan Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm trực thuộc Bộ Tài chính hay Bộ Kinh tế, một số nước khác lại giao chức năng này cho

bộ khác như Bộ Thương mại (Hy Lạp, Italia), Bộ về các vấn đề doanh nghiệp và việc làm (Aiơlen), Bộ Công nghiệp (Đan Mạch), Bộ về các vấn đề xã hội và y tế (Phần Lan), Cơ quan quản lý dịch vụ tài chính (Anh) Đặc biệt ở Đức, cơ quan quản lý bảo hiểm có vị trí độc lập và đặt dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng

Mục tiêu hoạt động của cơ quan quản lý bảo hiểm là bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và đảm bảo sự phát triển lành mạnh của thị trường bảo hiểm

Nguyên tắc hoạt động của cơ quan quản lý là “đầy đủ, khách quan, nhất quán và minh bạch” Đa số các nước có ngân sách của cơ quan quản lý bảo hiểm

là do các doanh nghiệp đóng góp

2.3 Các hình thức doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm:

Tại các nước EU, doanh nghiệp bảo hiểm chỉ có thể kinh doanh dưới những hình thức pháp lý nhất định và phải có tư cách pháp nhân Hình thức doanh nghiệp bảo hiểm ở các nước EU khá đa dạng về cơ cấu sở hữu (gồm sở hữu trong nước và nước ngoài, tư nhân và Nhà nước) và hình thức pháp lý Về cơ bản, loại hình doanh nghiệp bảo hiểm phổ biến nhất là công ty cổ phần bảo hiểm, tiếp đó là các hội (hay công ty) bảo hiểm tương hỗ và chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài

Ngoài ra, tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước, còn có các hình thức khác: Công ty bảo hiểm nhà nước (Italia, Bồ Đào Nha), nghiệp đoàn bảo hiểm (Lucxembua), Hội hợp tác (Bỉ), Công ty bảo hiểm hợp tác, Hội phúc lợi xã hội tương hỗ (Tây Ban Nha), các hội tiết kiệm (Thụy Điển)

Theo quy định của pháp luật, một công ty không được phép kinh doanh đồng thời cả bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ Hiện nay, xu thế tích

tụ, tập trung tư bản trên thị trường bảo hiểm EU đang diễn ra mạnh mẽ thông qua các giao dịch mua bán công ty, hợp nhất, sáp nhập công ty nhằm tăng cường sức cạnh tranh với các đối thủ đến từ Bắc Mỹ, Nhật Bản

2.4 Vấn đề cấp giấy phép hoạt động hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Cũng như các nước khác, việc cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm là điều kiện quyết định để một tổ chức có thể hoạt động kinh doanh bảo hiểm Giấy phép kinh doanh này sẽ có giá trị trong toàn bộ EU và có giá trị vô thời hạn

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 17

Khác với các nước ở Châu Á, một hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động kinh doanh bảo hiểm sẽ không bị từ chối vì lý do thị trường đã có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động Thời hạn xét cấp giấy phép là 6 tháng kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trong trường hợp bị từ chối cấp giấy phép, doanh nghiệp có quyền khởi kiện lên tòa án nước sở tại để yêu cầu xem xét lại quyết định này

Hồ sơ xin cấp giấy phép bao gồm đơn xin cấp giấy phép, điều lệ công ty,

kế hoạch kinh doanh, bằng cấp, văn bản chứng minh năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ quản lý, điều hành, thông tin về cổ đông nắm giữ từ 10% vốn của doanh nghiệp trở lên, chương trình tái bảo hiểm Về nguyên tắc, chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài chỉ được kinh doanh loại nghiệp vụ mà công ty mẹ được phép tiến hành ở nguyên xứ Do đó, đối với doanh nghiệp này, xin cấp giấy phép còn phải kèm theo giấy phép kinh doanh tại nguyên xứ

Trong số các điều kiện cấp giấy phép mà doanh nghiệp bảo hiểm phải thỏa mãn thì việc đáp ứng yêu cầu về tài chính được đặt lên hàng đầu Tại tất cả các nước EU, doanh nghiệp xin cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm phải đáp ứng đủ các yêu cầu về vốn pháp định tùy thuộc vào loại nghiệp vụ mà doanh nghiệp dự kiến tiến hành, cụ thể là 800.000 ECU đối với công ty bảo hiểm nhân thọ và 1.400.000 ECU đối với công ty bảo hiểm phi nhân thọ Tuy nhiên, hiện nay EU đang có kế hoạch tăng mức vốn pháp định do yếu tố lạm phát và sự phát triển của thị trường

2.5 Quản lý doanh nghiệp bảo hiểm:

Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ đáp ứng các yêu cầu về biên khả năng thanh toán và trích lập đủ các khoản dự phòng nghiệp vụ cho toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Từ nhiều năm nay, trong nỗ lực nới lỏng sự kiểm soát thị trường, các nước

EU đã từ bỏ việc áp dụng chế độ tái bảo hiểm bắt buộc cho một tổ chức do Chính phủ chỉ định, hay phê duyệt quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, mẫu đơn hay các tài liệu in ấn khác mà doanh nghiệp bảo hiểm sử dụng trong khi giao dịch với người tham gia bảo hiểm, trừ các loại hình bảo hiểm bắt buộc Nói cách khác, hiện nay, tại các nước này, các bên tham gia bảo hiểm có toàn quyền thỏa thuận các điều kiện của hợp đồng bảo hiểm cũng như ấn định mức phí bảo hiểm thích hợp trừ trường hợp hợp đồng bảo hiểm bắt buộc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 18

2.6 Quản lý hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm:

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể dùng các quỹ dự phòng nghiệp vụ để chi trả các khiếu nại cho người được bảo hiểm và các tài sản dùng để thanh toán cho các chủ nợ khác để đem đầu tư Nguyên tắc của hoạt động đầu tư mà các doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ là “đa dạng hóa, phân tán rủi ro và đảm bảo tính thanh khoản cao” nhằm đảm bảo các yêu cầu an toàn và khả năng sinh lời Các nước EU quy định chặt chẽ về việc đa dạng hóa tài sản đầu tư, đặt ra những hạn chế về giá trị, tỷ lệ đầu tư vào những loại tài sản nhất định, hay đảm bảo sự tương ứng giữa tài sản và trách nhiệm mang tính thanh toán Thông thường các quỹ dự phòng nghiệp vụ có thể đầu tư vào các công cụ sau đây: cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản, cho vay, tiền gởi ngân hàng

Một điều đáng chú ý là mặc dù có mức độ tự do hóa cao, các nước EU cũng chú trọng yêu cầu “nội địa hóa tài sản đầu tư”, theo đó, các tài sản tạo thành biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm phải được cất giữ lại một nước EU, nơi có hoạt động kinh doanh bảo hiểm Ngoài ra, để tránh các rủi ro về

tỷ giá, pháp luật EU cũng quy định các khoản đầu tư phải được thực hiện bằng đồng tiền mà doanh nghiệp bảo hiểm đã cam kết với khách hàng, mặc khác, thời hạn đầu tư cũng phải tương ứng với thời hạn thanh toán cho các nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm đối với người tham gia bảo hiểm để hạn chế những rủi ro

về lãi suất Để duy trì sự quản lý nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động này, theo quy định của pháp luật EU, theo định kỳ, doanh nghiệp bảo hiểm phải báo cáo cho

cơ quan quản lý bảo hiểm về cơ cấu tài sản và biến động trong danh mục đầu tư của doanh nghiệp Về cơ bản, không có sự khác biệt trong pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư giữa doanh nghiệp trong nước và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài

3 Giới thiệu sơ lược về pháp luật kinh doanh bảo hiểm của một số nước Châu Á:

3.1 Luật bảo hiểm Trung Quốc:

Vào những năm 20 của thế kỷ XX, các công ty bảo hiểm ở Trung Hoa ra đời chủ yếu phục vụ hoạt động ngoại thương ở các thành phố ven biển và ở các cảng mở Tuy nhiên, ra đời chẳng được bao lâu thì thế chiến thứ hai bùng nổ nên hoạt động của các công ty này bị hạn chế Sau ngày nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, các công ty bảo hiểm tư doanh được quốc hữu hóa, cải tổ thành Công ty bảo hiểm nhân dân Trung Quốc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 19

Sau đó, cùng với việc đẩy mạnh cải tổ nền kinh tế và mở cửa, Trung Quốc cũng mở rộng và phát triển thị trường bảo hiểm cả về lượng và chất Năm 1995, luật bảo hiểm Trung Hoa ra đời tạo điều kiện cho bảo hiểm ngày càng phát triển

Luật bảo hiểm Trung Hoa gồm 152 điều chia làm 8 chương

- Chương I gồm 8 điều quy định về phạm vi điều chỉnh và các chủ thể được phép kinh doanh bảo hiểm Luật bảo hiểm Trung Hoa quy định Vụ giám sát và quản lý tài chính trực thuộc Hội đồng Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm giám sát và quản lý

- Chương II gồm 60 điều chia làm 3 phần quy định về hợp đồng bảo hiểm + Phần 1 là các quy định chung về quyền và nghĩa vụ của các bên khi ký kết hợp đồng bảo hiểm, hình thức và nội dung của hợp đồng

Luật bảo hiểm của Trung Hoa quy định người yêu cầu bảo hiểm phải có lợi ích có thể bảo hiểm được trong đối tượng của hợp đồng bảo hiểm Và một hợp đồng bảo hiểm sẽ bị coi là vô hiệu và bị hủy bỏ nếu người yêu cầu bảo hiểm không có lợi ích có thể bảo hiểm được trong đối tượng của hợp đồng bảo hiểm

Trong luật bảo hiểm của Trung Hoa thì thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm theo hợp đồng kể từ ngày ghi trên hợp đồng Ngoài ra người yêu cầu bảo hiểm có thể chấm dứt hợp đồng bảo hiểm sau khi hợp đồng đó đã được xác lập nhưng không quy định rõ các trường hợp

Ngoài ra, bên bảo hiểm phải thanh toán tiền bồi thường hay trả tiền bảo hiểm trong vòng 10 ngày sau khi đạt được một thỏa thuận với người được bảo hiểm hay người thụ hưởng

Luật bảo hiểm Trung Hoa còn quy định rõ trong trường hợp bảo hiểm phi nhân thọ thì quyền yêu cầu của người được bảo hiểm, người thụ hưởng sẽ chấm dứt nếu không thực hiện trong vòng 2 tháng kể từ ngày biết được việc xảy ra sự kiện bảo hiểm Đối với bảo hiểm nhân thọ thì thời hạn này là 5 tháng

+ Phần 2: Hợp đồng bảo hiểm tài sản:

Trong đó, luật của Trung Hoa quy định một hợp đồng bảo hiểm hàng hóa hay một hợp đồng phương tiện vận chuyển không được phép chấm dứt bởi bất kỳ bên nào sau khi phát sinh trách nhiệm bảo hiểm Như vậy, khi hợp đồng bảo hiểm hàng hóa chưa phát sinh nghĩa vụ bảo hiểm thì người yêu cầu bảo hiểm mới có quyền yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm Khi đó, người bảo hiểm phải hoàn trả cho người yêu cầu bảo hiểm số phí bảo hiểm đã nộp Nếu người yêu cầu bảo

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 20

hiểm yêu cầu chấm dứt hợp đồng bảo hiểm sau khi hợp đồng đã phát sinh nghĩa

vụ bảo hiểm, thì người bảo hiểm có thể giữ lại số phí bảo hiểm tương ứng với khoảng thời gian tính từ ngày phát sinh nghĩa vụ bảo hiểm đến ngày chấm dứt hợp đồng và hoàn trả phí bảo hiểm còn lại cho người yêu cầu bảo hiểm Bên cạnh đó, luật bảo hiểm Trung Hoa quy định khá chặt chẽ việc bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm

+ Phần 3 là các quy định về hợp đồng bảo hiểm con người

Điều 54 quy định người yêu cầu bảo hiểm không được phép yêu cầu và người bảo hiểm không được phép nhận bảo hiểm con người trong đó quy định cái chết là điều kiện tiên quyết cho việc trả tiền bảo hiểm cho người không có năng lực pháp luật dân sự Luật còn nghiêm cấm người bảo hiểm dựa vào thủ tục tố tụng để đòi người yêu cầu bảo hiểm con người nộp phí bảo hiểm Trong luật của Trung Hoa cũng cho phép các bên bảo hiểm có quyền từ chối trả tiền bảo hiểm nếu người được bảo hiểm tự sát mà trong hợp đồng quy định cái chết là điều khoản tiên quyết

- Chương III quy định về thành lập và chấm dứt hoạt động của công ty bảo hiểm

Khác với Việt Nam, Trung Hoa cho phép công ty bảo hiểm được thành lập dưới hai hình thức: Công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn và doanh nghiệp nhà nước

Về mức vốn tối thiểu để thành lập một công ty bảo hiểm là 200 triệu nhân dân tệ (200.000.000 RMB) Ngoài ra, để hoạt động công ty bảo hiểm phải ký quỹ 20% tổng số vốn điều lệ

- Chương IV chủ yếu quy định về các nguyên tắc hoạt động bảo hiểm bao gồm 15 điều

Trong nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ, công ty bảo hiểm phải tái bảo hiểm 20% của mỗi hợp đồng bảo hiểm mà công ty khai thác theo quy định có liên quan

- Chương V gồm 16 điều quy định về việc quản lý và giám sát bảo hiểm

- Chương VI về đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm

- Chương VII gồm 17 điều quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý Trong

đó còn quy định những hành vi vi phạm và các biện pháp xử phạt cần thiết

- Chương VIII bao gồm các điều khoản bổ sung

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 21

3.2 Luật bảo hiểm Campuchia:

Hoạt động bảo hiểm ở Campuchia được hình thành từ năm 1959 Lúc đó, ở Campuchia đã có 5 công ty bảo hiểm của người Pháp và người Hoa Vào năm

1963, Nhà nước Campuchia mua cổ phiếu của các công ty này và thành lập công

ty Bảo hiểm quốc gia Campuchia Nhưng vào năm 1975, sau khi chiếm Phnômpênh, Polpot xóa bỏ các công ty bảo hiểm Sau đó được sự giúp đỡ của Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam, Nhà nước Campuchia cho thành lập lại công ty bảo hiểm Tuy nhiên, do bị xóa bỏ trong một thời gian, nên thế hệ những người Campuchia đã làm bảo hiểm và hiểu về bảo hiểm hầu như rất ít, có thể nói chưa hình thành tập quán bảo hiểm Năm 1990, công ty bảo hiểm nhà nước Campuchia bắt đầu đi vào hoạt động Năm 1999 doanh số của công ty này xấp xỉ 3 triệu đôla, chủ yếu là về bảo hiểm hàng nhập và hàng không, xe cơ giới, gần như chưa tiến hành bảo hiểm con người Để hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển và đưa hoạt động này vào nề nếp, ngày 20.06.2000 Quốc Hội Campuchia đã ban hành Luật bảo hiểm

Luật Bảo hiểm của vương quốc Campuchia ngắn gọn, bao gồm 56 điều, chia làm 8 chương

Chương I: có 7 điều qui định phạm vi điều chỉnh và các chủ thể được phép

kinh doanh bảo hiểm Các công ty bảo hiểm, đại lý, môi giới bảo hiểm hoạt động kinh doanh tại Campuchia được Nhà nước đảm bảo, được cạnh tranh lành mạnh theo pháp luật

Cũng giống như các nước khác, Luật bảo hiểm của Campuchia qui định:

Bộ tài chính là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động bảo hiểm

Chương II: Quy định về hoạt động bảo hiểm, gồm 37 điều Công ty bảo

hiểm được Nhà nước cấp giấy phép mới được phép ký kết hợp đồng bảo hiểm tại Campuchia

Luật bảo hiểm có quy định các bên có quyền hủy bỏ hợp đồng nhưng lại không quy định rõ trong trường hợp nào Tuy nhiên trong nội dung của hợp đồng, luật cho phép các bên ký kết hợp đồng thỏa thuận các trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

Trong 15 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tái tục hay hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, nếu doanh nghiệp bảo hiểm không trả lời thì người được bảo hiểm mặc nhiên được coi như đã chấp nhận yêu cầu Đây là quy định nhằm bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm chống lại tệ quan liêu, cửa quyền có thể có

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 22

Luật bảo hiểm Campuchia cũng quy định thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm trước khi hợp đồng bảo hiểm bị hủy bỏ do người được bảo hiểm chậm đóng phí

Trong bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Luật bảo hiểm Campuchia cho phép doanh nghiệp bảo hiểm có thể bồi thường trực tiếp cho nạn nhân

Trong bảo hiểm tài sản để bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm.Luật quy định nếu xảy ra tổn thất toàn bộ đối với tài sản dược bảo hiểm nhưng rủi ro dẫn đến tổn thất đó không thuộc phạm vi bảo hiểm, thì người bảo hiểm có nghĩa

vụ trả lại cho người được bảo hiểm 90% số phí bảo hiểm của thời gian còn lại của hợp đồng

Mục 3 của chương hợp đồng bảo hiểm quy định về “Bảo hiểm nhân thọ và Bảo hiểm tai nạn” Luật bảo hiểm Campuchia quy định các điều kiện khi ký kết hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và cho phép các công ty bảo hiểm từ chối ký kết hợp đồng bảo hiểm trong trường hợp người được bảo hiểm bị bệnh thần kinh, đang nằm viện và cho phép công ty bảo hiểm từ chối trả tiền bảo hiểm nếu người bảo hiểm tự tử sau khi hợp đồng bảo hiểm nhân thọ ký kết được trên 2 năm và doanh nghiệp bảo hiểm cũng sẽ không trả tiền bảo hiểm nếu người được bảo hiểm bị chết

do hành động cố ý của người thụ hưởng

Chương III: quy định về các lọai hình bảo hiểm bắt buộc

Mục 1 gồm 4 điều quy định về bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới Chủ xe cơ giới phải mua bảo hiểm trách nhiệm dân sự Tuy nhiên, những thiệt hại của người thứ ba do xe cơ giới gây ra ở bên ngoài lãnh thổ Campuchia thì việc giải quyết thiệt hại không theo quy định này

Mục 2 gồm 2 điều quy định việc bắt buộc bảo hiểm trách nhiệm trong xây dựng

Mục 3 chỉ có 1 điều (điều 42) nói về bảo hiểm hành khách Luật bảo hiểm quy định các chủ phương tiện vận tải hành khách đường sông, biển, bộ, hàng không, xe lửa đều phải chịu trách nhiệm về bảo hiểm cho hành khách đi lại trên phương tiện của mình

Chương IV: gồm các quy định về công ty bảo hiểm và việc kiểm tra của

Nhà nước về hoạt động bảo hiểm

Mọi công ty bảo hiểm muốn hoạt động đều phải xin phép và chịu sự kiểm tra của Bộ Tài chính vương quốc Campuchia

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 23

Về mức vốn pháp định đối với công ty bảo hiểm nhân thọ là 5 triệu SDR (quyền rút vốn đặc biệt), công ty phi nhân thọ 5 triệu SDR, công ty hỗn hợp thì vốn pháp định là 10 triệu SDR (cao gấp ba lần so với Việt Nam) Ngoài ra để hoạt động, các công ty bảo hiểm Campuchia phải ký quỹ 10% số vốn pháp định tại kho bạc Nhà nước Campuchia Còn biên khả năng thanh toán sẽ tùy thuộc vào từng loại hình công ty nhưng không nhỏ hơn 50% vốn pháp định Bên cạnh đó, còn quy định trường hợp liên doanh có vốn nhà nước thì vốn nhà nước phải chiếm 51%

Chương V quy định về đại lý và môi giới bảo hiểm.Luật cho phép đại lý là

thể nhân nhưng cũng có là pháp nhân

Chương VI nói về các hình thức xử phạt

Chương VII có một điều quy định việc thực hiện điều 40, 42 về bảo hiểm

xây dựng và hành khách từ khi luật được ban hành cho đến ngày 31.12.2000 (tức

là trong giai đoạn chuyển đổi)

Chương VIII có một điều gọi là điều khoản cuối cùng, theo đó mọi quy

định trước đây trái với luật này đều bãi bỏ

III SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM:

Bảo hiểm Việt Nam hình thành và phát triển theo 4 giai đoạn khác nhau với những đặc thù và tính chất khác nhau

- Giai đoạn trước 30-04-1975

- Giai đoạn từ 30-04-1975 đến 18-12-1993

- Giai đoạn từ 18-12-1993 đến 09-12-2000

- Giai đoạn sau 09-12-2000

1.Giai đoạn trước 30-04-1975:

1.1.Ở miền Bắc:

Trong giai đoạn này, ngành bảo hiểm có một tổ chức đại diện duy nhất là Bảo Việt (tức Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam) được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ngày 17-11-1964 và hoạt động chính thức ngày 15-11-

1965

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 24

Lúc này, do ảnh hưởng của chiến tranh chống Mỹ nên Bảo Việt chỉ thực hiện chức năng theo mệnh lệnh hành chính và không thể hiện rõ chức năng kinh doanh bảo hiểm Vì thế, quy mô của Bảo Việt không được phát triển, chỉ có hai chi nhánh ở Hà Nội và Hải Phòng Hoạt động chủ yếu tập trung vào nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa vận chuyển trên các tuyến vận tải hàng hải, hàng không, đường sắt, đường bộ trong nước và các yêu cầu bảo hiểm của các đơn vị vận tải của các nước

có quan hệ mật thiết như Trung Quốc, Liên Xô, Ba Lan…

1.2.Ở miền Nam:

Ngược với miền Bắc, trong giai đoạn này hoạt động kinh doanh bảo hiểm

ở miền Nam khá phát triển Trước 1975, miền Nam đã có 52 công ty bảo hiểm (trong đó có gần một nửa là của nước ngoài)

Các công ty được thành lập dưới hình thức Hội vô danh và Hội tương hỗ Còn các công ty nhà nước chủ yếu được thành lập dưới hình thức chi nhánh Hầu hết các công ty đặt trụ sở chính ở Sài Gòn Mạng lưới trung gian bảo hiểm được

sử dụng phổ biến (môi giới, đại lý bảo hiểm) để bán bảo hiểm trên phạm vi toàn miền Nam Các công ty bảo hiểm thực hiện các loại nghiệp vụ như: Bảo hiểm tai nạn lao động, bảo hiểm sinh mạng, bảo hiểm chuyên chở, bảo hiểm xe tự động…

Các công ty bảo hiểm đã thành lập Hiệp hội bảo hiểm nghề nghiệp của mình nhằm thực hiện chức năng vốn có như thông tin, tư vấn, đào tạo, tạo môi trường hợp tác…

Quản lý nhà nước do Bộ Tài chính quản lý các hợp đồng bảo hiểm, kiểm tra việc tuân thủ các văn bản pháp lý Ngoài ra còn có Hội đồng tư vấn quốc gia bảo hiểm hướng dẫn nghiệp vụ cho các công ty bảo hiểm

2.Giai đoạn từ 30-04-1975 đến trước ngày 18-12-1993:

Sau ngày giải phóng miền Nam, việc quốc hữu hóa các công ty bảo hiểm

cũ của miền Nam đã dẫn đến việc thành lập công ty bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam (BAVINA) BAVINA tiếp tục thực hiện trách nhiệm của các công ty cũ với người được bảo hiểm muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm Đối với công ty bảo hiểm nhà nước, BAVINA có trách nhiệm thanh toán và đòi nợ theo đúng thỏa thuận trên hợp đồng

Vào năm 1976, Nhà nước chủ trương thống nhất bảo hiểm nên BAVINA được chuyển thành chi nhánh của công ty bảo hiểm Việt Nam (gọi là Bảo Việt /HCM) tại thành phố Hồ Chí Minh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 25

Như vậy từ năm 1976 đến năm 1993, Bảo Việt là công ty bảo hiểm duy nhất của Nhà nước hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam theo chế độ hạch toán kinh tế toàn ngành (năm 1980) Bảo Việt trực thuộc Bộ Tài chính có chức năng giúp Bộ Tài chính thống nhất công tác quản lý bảo hiểm nhà nước và trực tiếp tiến hành nghiệp vụ bảo hiểm trong cả nước Trong thời gian này, Bảo Việt đã nghiên cứu triển khai nhiều loại hình nghiệp vụ bảo hiểm mới cho khách hàng trong và ngoài nước, tiến tới sự cân đối thu chi ngoại tệ vào năm 1986 và được nâng cấp lên Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam có chi nhánh ở tất cả các tỉnh thành trong cả nước (năm 1993 có 53 chi nhánh) Ngoài ra, Bảo Việt còn làm đại lý giám định bồi thường cho các công ty bảo hiểm của nhiều nước trên thế giới khi được ủy quyền, qua đó đã tạo được ảnh hưởng và uy tín nhất định trên thị trường quốc tế, tạo ra được một doanh số và lợi nhận tương đối lớn

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, hoạt động của Bảo Việt còn nhiều hạn chế mới đơn thuần là thu phí bảo hiểm, bảo vệ tài sản chưa thể hiện được vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế và cũng chưa thực hiện được chức năng thu hút tiết kiệm và đầu tư Còn về quản lý nhà nước, Bảo Việt không có tổ chức bộ máy thực hiện chức năng này Vì vậy, hệ thống các văn bản pháp quy về kinh doanh bảo hiểm chưa được hình thành, quan hệ quốc tế mới chỉ giới hạn trong quan hệ tái bảo hiểm giữa Bảo Việt và các nước khác mà chưa mở rộng sang việc hợp tác

về quản lý nhà nước để xây dựng môi trường pháp lý và thúc đẩy thị trường bảo hiểm phát triển

3.Giai đoạn từ 18-12-1993 đến trước ngày 09-12-2000:

Ngày 18-12-1993, trước nhu cầu cấp thiết phải đổi mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường đang chuyển sang cơ chế thị trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định 100/CP quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nhằm

mở rộng nhiều loại hình kinh doanh bảo hiểm với nhiều tổ chức trong và ngoài quốc doanh, nâng cao chất lượng hoạt động bảo hiểm thông qua xóa bỏ sự độc quyền của bảo hiểm

Nghị định 100/CP ra đời đã mở đầu cho sự phát triển mạnh mẽ của thị trường bảo hiểm Việt Nam Ngày 28-11-1994 Bộ Tài chính ra Quyết định cho phép thành lập Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là Bảo Minh) trên cơ sở tách chi nhánh của Bảo Việt tại thành phố HCM thành công ty độc lập Sau đó hàng loạt công ty bảo hiểm ra đời: Công ty bảo hiểm cổ phần (PVIC), Công ty bảo hiểm cổ phần Nhà Rồng (Bảo Long), Công ty tái bảo hiểm Quốc gia (VINARE), Công ty bảo hiểm cổ phần bưu điện (PTI) Năm 1996, Công ty Bảo Việt nhân thọ bắt đầu hoạt động đáp ứng nhu cầu bảo hiểm nhân thọ trong tầng

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 26

lớp dân cư Các công ty liên doanh bảo hiểm giữa các công ty trong nước và nước ngoài cũng đang trong quá trình hình thành và phát triển Bên cạnh đó, Nhà nước cũng cho phép công ty bảo hiểm nước ngoài mở văn phòng đại diện để xúc tiến, thu hút sự đầu tư kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam

4.Giai đoạn sau 09-12-2000 đến nay:

Từ năm 2000 đến nay, hoạt động bảo hiểm ngày càng phát triển nhưng hiện nay hệ thống luật pháp về kinh doanh bảo hiểm còn phân tán ở nhiều văn bản khác nhau và chỉ có Nghị định 100/CP là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất.Với tình hình trên chưa tạo được một môi trường pháp lý đầy đủ và ổn định cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm để khai thác tiềm năng phát triển thị trường bảo hiểm, phục

vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế Vì thế, trước nhu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, trên cơ sở nghiên cứu hoạt động bảo hiểm của các nước phát triển trên thế giới, ngày 09-12-2000, Nhà nước đã ban hành Luật kinh doanh bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm này có quy định về quản lý và giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm gồm những phần sau đây :

- Quản lý trước khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua việc cấp giấy phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm, dựa trên các quy định về hình thức pháp lý, lĩnh vực hoạt động, mức vốn tối thiểu và ký quỹ của doanh nghiệp bảo hiểm

- Quản lý, giám sát trong quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm Đây là việc quản lý, giám sát bằng hệ thống mẫu báo cáo định kỳ và hoạt động kiểm tra tại chỗ nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp bảo hiểm triệt để tuân thủ các quy định về khả năng thanh toán, dự phòng nghiệp vụ, hoạt động đầu tư và nội dung thu chi trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm ra đời cùng với các văn bản có nội dung liên quan đến hoạt động kinh doanh bảo hiểm như: Luật dân sự, Luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam…đã tạo một môi trường pháp lý khá vững chắc, tạo niềm tin cho các doanh nghiệp bảo hiểm cũng như khách hàng, thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam ngày càng phát triển

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 27

Mục 2 PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

Ở VIỆT NAM

I.KHÁI NIỆM PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM:

1.Khái niệm về pháp luật kinh doanh bảo hiểm :

Hoạt động bảo hiểm tồn tại thông qua các mối quan hệ giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, giữa tổ chức bảo hiểm với người thứ ba tromg quá trình thiết lập, hoạt động, giải thể, phá sản Do vai trò quan trọng của hoạt động bảo hiểm đối với đời sống xã hội mà Nhà nước sử dụng pháp luật đó để điều chỉnh chúng

Có ba nhóm quy phạm chủ yếu điều chỉnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm (bên bảo hiểm) được quy định trong Luật doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp nhà nước, Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài

kinh doanh như các quy định về thực hiện chế độ kế toán thống kê, chế độ nộp thuế cho Nhà nước Các quy phạm này được Nhà nước ban hành ở nhiều văn bản khác nhau như Pháp lệnh kế toán thống kê, luật thuế…

giữa các bên tham gia bảo hiểm, các quy phạm này được đề cập trong Luật Tài chính (điều chỉnh hoạt động thu nộp phí bảo hiểm, trả tiền bảo hiểm), và các ngành luật khác như Luật Dân sự, Luật Thương mại, Pháp lệnh hợp đồng kinh tế

Như vậy, từ sự phân định các nhóm quy phạm như trên có thể rút ra khái niệm chung về pháp luật kinh doanh bảo hiểm: “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật quy định địa vị pháp lý của doanh

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 28

nghiệp kinh doanh bảo hiểm thương mại và điều chỉnh các quan hệ xã hội phát

Nếu quan niệm pháp luật về bảo hiểm thương mại là một chế định của ngành luật tài chính thì khái niệm pháp luật về bảo hiểm thương mại là: “Tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội giữa doanh nghiệp bảo hiểm với các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm phát sinh trong quá trình đóng

2.Vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm :

Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trong đó quy luật giá trị là trục xoay để điều chỉnh mọi hoạt động và các mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế Mặc dù mang tính chất tự do, nhưng trong những giai đoạn phát triển của nó, Nhà nước vẫn giữ một vai trò nhất định đối với nền kinh tế

và pháp luật chính là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Trong Luật kinh doanh bảo hiểm, pháp luật là cơ sở để điều chỉnh các quan

hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm Trên cơ sở các quy định của pháp luật đã tạo ra một môi trường ổn định cho các chủ thể tiến hành kinh doanh bảo hiểm phát triển theo một hướng nhất định phù hợp với sự phát triển kinh tế của một quốc gia

Vai trò của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thể hiện

(7)

Giáo trình luật tài chính Việt Nam - Trường Đại học luật Hà Nội- Trang 286

(8)

Giáo trình luật tài chính Việt Nam-Trường Đại học luật Hà Nội -trang 286-

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 29

Chính vì vậy, cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhằm đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài, khả năng thanh toán chi trả của người bảo hiểm Suy cho cùng là để giữ quyền “luôn được bồi thường” cho người được bảo hiểm theo đúng như cam kết trong hợp đồng bảo hiểm đã ký

Mặt khác, cam kết này lại đặt trên một sự trung thực tối đa, trong khi đó xét

về mặt phương diện kỹ thuật nghiệp vụ thì người được bảo hiểm luôn là “kẻ yếu” hơn “nhà khổng lồ” là nhà bảo hiểm Điều này đôi khi gấy khó khăn, tai hại rất lớn cho người được bảo hiểm

- Hai là, pháp luật nhằm đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của toàn bộ nền kinh tế

Sự tồn tại và phát triển của hoạt động bảo hiểm không chỉ đáp ứng nhu cầu

an toàn (cho cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp) mà còn đáp ứng nhu cầu vốn không ngừng tăng lên của các nhà sản xuất

Với sự “đảo ngược chu trình sản xuất” các nhà bảo hiểm chiếm giữ một phần ngân quỹ rất lớn thể hiện sự cam kết của họ đối với khách hàng và ngân quỹ này tạm thời nhàn rỗi Và do vậy, họ trở thành nhà đầu tư và huy động vốn lớn, quan trọng cho các hoạt động khác trong nền kinh tế quốc dân

Ngoài ra, pháp luật còn có vai trò quan trọng trong việc giữ cho thị trường bảo hiểm hoạt động một cách lành mạnh, hài hòa chống sự đầu cơ…

Như vậy, vai trò của pháp luật trong việc kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm là cần thiết và xuất phát từ vị trí quan trọng của nó Đảm bảo sự vững mạnh, hoạt động lâu dài của các doanh nghiệp bảo hiểm cũng là đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế Bên cạnh đó, cũng cần thấy rằng bảo vệ quyền lợi cho người được bảo hiểm cũng có nghĩa là đảm bảo cho toàn bộ đời sống xã hội được diễn ra bình thường và liên tục

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM :

1.Sự cần thiết phải có quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm :

Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, nền kinh tế đã được thúc đẩy phát triển với tốc độ cao Nền kinh tế ngày càng phát triển, đời sống vật

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 30

chất tinh thần ngày càng được nâng cao thì bảo hiểm trở thành một nhu cầu không thể thiếu đối với không chỉ mỗi cá nhân, tổ chức mà ngay cả các doanh nghiệp Không chỉ thế, hoạt động bảo hiểm ngày càng xâm nhập vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập ngày càng nhiều, sản phẩm bảo hiểm ngày càng đa dạng Điều này đã đặt doanh nghiệp bảo hiểm đứng trước thực trạng môi trường cạnh tranh gay gắt Đã cạnh tranh thì tất yếu sẽ dẫn đến hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh nếu thiếu sự quản lý của

cơ quan nhà nước và một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh để điều chỉnh nó Hơn nữa, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một trong những lĩnh vực có tính chất nhạy cảm cao, ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân, tình hình thị trường tài chính Cho nên, Nhà nước cần phải quản lý, điều hành, giám sát chặt chẽ thị trường bảo hiểm Sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm đảm bảo khả năng hoạt động lâu dài, khả năng chi trả của các tổ chức hoạt động bảo hiểm

Như vậy, cũng như đối với các ngành khác, hoạt động bảo hiểm cũng cần phải có sự quản lý của Nhà nước Vai trò quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm là vô cùng quan trọng, bảo đảm thúc đẩy thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển lành mạnh và an toàn, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước, đáp ứng được nhu cầu bảo hiểm của dân cư, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân tham gia bảo hiểm

2.Cơ quan quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm:

Hoạt động bảo hiểm là loại dịch vụ tài chính mang tính chuyên ngành cao

và thuộc ngành kinh doanh có điều kiện Các rủi ro xảy ra đối với các doanh nghiệp bảo hiểm và sự hoạt động không lành mạnh của thị trường bảo hiểm có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế xã hội và lợi ích của người tham gia bảo hiểm đồng thời tác động gián tiếp đến tình hình tài chính của một quốc gia Vì vậy, cần thiết phải tổ chức một cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Ở Việt Nam hiện nay, Chính phủ quản lý thống nhất hoạt động kinh doanh bảo hiểm Bộ Tài chính là cơ quan của chính phủ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm Bộ Tài chính có trách nhiệm của Bộ Tài chính được quy định tại điều 46 Nghị định 42/CP

Với việc tổ chức như trên, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm vẫn còn hạn chế về quy mô và chưa thực hiện được chức năng chuyên ngành, nên thành lập một số cơ quan chuyên trách khác để hỗ trợ cho việc

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 31

quản lý như Uỷ ban giám sát về hoạt động kinh doanh bảo hiểm, Hội đồng tư vấn quốc gia về bảo hiểm, Phòng thống kê về hoạt động bảo hiểm thuộc Tổng cục thống kê

3 Nội dung quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm :

-Ban hành và hướng dẫn thực hiện các quy phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm; xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam

-Cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; giấy phép đặt văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam;

-Ban hành, phê chuẩn, hướng dẫn thực hiện quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm;

-Áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệp bảo hiểm bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;

-Tổ chức thông tin và dự báo tình hình thị trường bảo hiểm;

-Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo hiểm;

-Chấp thuận việc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm hoạt động ở nước ngoài;

-Tổ chức việc đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và chuyên môn nghiệp vụ về bảo hiểm;

-Thanh tra, kiểm tra hoạt động kinh doanh bảo hiểm; giải quyết khiếu nại,

tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về kinh doanh bảo hiểm

III ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM :

1 Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm:

Hầu hết luật kinh doanh bảo hiểm của các nước trên thế giới đều quy định hình thức pháp lý của doanh nghiệp bảo hiểm tập trung chủ yếu gồm: doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty có vốn đầu tư nước ngoài, công ty tương hỗ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 32

Ở Việt Nam, theo quy định của điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm, các loại hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm gồm:

- Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước

- Công ty cổ phần bảo hiểm

- Tổ chức bảo hiểm tương hỗ

- Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh

- Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài

1.1 Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước:

Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh theo nhiệm

vụ nhà nước giao

Hoạt động bảo hiểm là một trong những lĩnh vực kinh doanh có tính chất nhạy cảm cao, liên quan đến sự ổn định sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân, ổn định thị trường tiền tệ nên Nhà nước phải quản lý, điều hành, giám sát chặt chẽ thị trường bảo hiểm Đồng thời, Nhà nước phải đầu tư vốn để thành lập doanh nghiệp nhà nước đủ mạnh để hợp tác, cạnh tranh trong thị trường và chi phối, hướng dẫn thị trường bảo hiểm phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp đều phải bình đẳng trước pháp luật, doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, cũng như tất cả các loại hình doanh nghiệp khác phải tự vận động và tuân thủ pháp luật, cạnh tranh lành mạnh

Thực tế hiện nay, các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước đều do cơ quan nhà nước có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập Hiện nay có bốn doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước:

+Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (BẢO VIỆT), được thành lập ngày 12-1964, vốn điều lệ khi thành lập là 629 tỷ đồng kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ

17-+Công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (BẢO MINH) thành lập ngày 28-11-1994, vốn điều lệ khi thành lập là 45 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

+Công ty bảo hiểm dầu khí (PVIC), thành lập ngày 23-01-1996 vốn điều lệ khi thành lập là 2 triệu USD, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 33

+Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (VINARE) kinh doanh tái bảo hiểm

1.2 Công ty cổ phần bảo hiểm:

Công ty cổ phần bảo hiểm hay công ty cổ phần kinh doanh bảo hiểm là doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm được thành lập theo luật doanh nghiệp Đó là loại công ty đối vốn, trong đó vốn điều lệ của công ty được chia thành các thành phần bằng nhau, mỗi phần được gọi là cổ phần, người mua cổ phần được gọi là cổ đông

Với lợi thế thu hút được nhiều thành phần kinh tế tham gia góp vốn, tăng cường cạnh tranh, các công ty cổ phần bảo hiểm đã góp phần thúc đẩy hoạt động

và đa dạng hóa thị trường bảo hiểm Việt Nam

Hiện nay trên thị trường bảo hiểm đã có ba công ty cổ phần bảo hiểm:

+Công ty cổ phần bảo hiểm Nhà Rồng (Bảo Long) thành lập ngày

11-07-1995, vốn điều lệ khi thành lập là 22 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ, trong đó tỷ lệ vốn Nhà nước là 49%

+Công ty cổ phần bảo hiểm Petrolimex (PJICO) thành lập ngày

21-06-1996, vốn điều lệ khi thành lập là 55 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

+Công ty cổ phần bảo hiểm bưu điện (PTI) thành lập vào cuối năm 1998 với vốn điều lệ là 30 tỷ đồng

1.3 Công ty bảo hiểm tương hỗ:

Tại khoản 1 điều 2 NĐ100/CP, quy định công ty bảo hiểm tương hỗ là công ty hoạt động kinh doanh bảo hiểm cho các thành viên của mình theo nguyên tắc tương hỗ, không nhằm mục đích thu lợi nhuận Mỗi thành viên vừa là bên bảo hiểm vừa là bên mua bảo hiểm hoặc người được bảo hiểm

Theo quy định điều 70 Luật kinh doanh bảo hiểm thì tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm

Luật bảo hiểm Canada quy định các công ty bảo hiểm tương hỗ là những doanh nghiệp khác với công ty bảo hiểm cổ phần ở chỗ người sở hữu hợp đồng bảo hiểm có quyền biểu quyết chứ không phải cổ đông Lợi nhuận thu về có thể

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 34

được giữ lại để tăng quỹ dự trữ hoặc đem chia cho các thành viên dưới hình thức

Ở các nước, hình thức công ty bảo hiểm tương hỗ tương đối phổ biến, nhưng đối với Việt Nam thì mô hình này hoàn toàn mới Mặc dù đã được quy định trong NĐ100/CP và luật kinh doanh bảo hiểm nhưng trên thực tế chưa triển khai được vì hệ thống pháp luật hiện hành chưa có quy định về hình thức pháp lý của

mô hình này Hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam chỉ có duy nhất công ty bảo hiểm dầu khí PVIC mang tính chất của công ty bảo hiểm tương hỗ

1.4 Công ty liên doanh bảo hiểm:

Công ty liên doanh bảo hiểm là công ty bảo hiểm được hình thành trên cơ

sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài Công ty bảo hiểm liên doanh là kết quả của chính sách mở cửa, thu hút đầu tư nước ngoài của nền kinh tế Việt Nam

Việc cấp giấy phép cho các nhà đầu tư nước ngoài tham gia kinh doanh vào lĩnh vực bảo hiểm đã chứng tỏ được sự cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư tại Việt Nam

Hiện nay, thị trường bảo hiểm đã có sự góp mặt của 5 công ty liên doanh bảo hiểm:

+Công ty môi giới bảo hiểm (INCHINBROK)

+Công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế Việt Nam–VIA(phi nhân thọ)

+Công ty bảo hiểm liên hiệp –UIC (phi nhân thọ)

+Công ty liên doanh bảo hiểm Việt-Úc (phi nhân thọ )

+Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Bảo Minh –CMG (nhân thọ)

1.5 Công ty bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài:

Là công ty bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn và thành lập tại Việt Nam Việc chính phủ cho phép các công ty nước ngoài kinh doanh bảo hiểm là nhằm tạo ra một sân chơi rộng hơn, nhưng cũng khắt khe hơn buộc các doanh nghiệp trong nước thực sự vào cuộc, phục vụ tốt hơn cho khách hàng của mình Dù Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch & Đầu tư đã cố gắng xem xét

Trang 35

kỹ, hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam từng bước hội nhập nhưng cho đến nay Việt Nam đã có bốn công ty bảo hiểm 100 vốn nước ngoài: Chifon–Manulife, Prudential, AIA (American International Assurance), công ty TNHH bảo hiểm ALLIANZ-AGF (phi nhân thọ)

Các công ty 100% vốn nước ngoài này hoạt động rất hiệu quả mặc dù họ chỉ mới được cấp giấy phép và hoạt động trong năm 1999 (có cả năm 2000) nhưng

họ đã nhanh chóng chiếm lĩnh một thị phần đáng kể trên thị trường

Các công ty 100% vốn nước ngoài này là những tập đoàn lớn của những nước mà ngành bảo hiểm đã phát triển lâu đời và mạnh mẽ nên các công ty này sẽ mang đến cho thị trường bảo hiểm Việt Nam những cách kinh doanh đạt hiệu quả nhất và thu được lợi nhuận nhiều nhất, nên các công ty bảo hiểm trong nước sẽ học hỏi nhiều từ họ Nhưng đó cũng chính là mối lo ngại lớn nhất cho các công ty bảo hiểm trong nước vì công ty 100% vốn nước ngoài này không chỉ mang đến những điểm tốt mà họ còn mang đến những điểm xấu, những mưu mô trong kinh doanh, những thủ đoạn Nên các công ty bảo hiểm trong nước cần phải cải thiện mình để còn theo kịp một thị trường cạnh tranh khốc liệt

2.Thành lập doanh nghiệp bảo hiểm :

2.1 Điều kiện thành lập:

Bảo hiểm thương mại ra đời góp phần đáp ứng các nhu cầu của người dân trong xã hội Bảo hiểm thương mại có hai vai trò cơ bản:

- Chuyển giao rủi ro

- Trung gian tài chính Như vậy, bảo hiểm đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hiện đại Do

đó, hoạt động bảo hiểm có ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển kinh tế quốc dân, nên việc quy định các điều kiện để được kinh doanh bảo hiểm rất chặt chẽ

Theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm, để được phép kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải có giấy phép thành lập và hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp

Giấy phép thành lập và hoạt động do cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm cấp cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

là văn bản pháp lý xác nhận quyền tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm hợp pháp của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 36

Xuất phát từ tính chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm thuộc lĩnh vực dịch vụ tài chính mang tính rủi ro cao, việc phát triển thị trường bảo hiểm phải xuất phát từ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và sự ổn định, lành mạnh của thị trường, phải đặt lợi ích chung lên trên lợi ích của từng doanh nghiệp bảo hiểm, cho nên điều kiện để cho phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm phải được quy định chặt chẽ, đảm bảo nguyên tắc: Nhà nước phải xem xét, tính toán kỹ nhu cầu của thị trường bảo hiểm để quyết định số lượng doanh nghiệp được phép thành lập, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam, bảo đảm doanh nghiệp bảo hiểm ra đời phải an toàn và hiệu quả

Vì vậy, để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải đáp ứng các yêu cầu sau:

- Doanh nghiệp phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính Phủ

- Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

- Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của luật kinh doanh bảo hiểm và các quy định khác của pháp luật

- Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp

hợp pháp, ít nhất 3 năm tính đến thời điểm nộp hồ sơ theo luật pháp hiện hành của nước nơi các tổ chức đó đóng trụ sở chính, và được cơ quan tài chính hoặc kiểm toán hợp pháp tại nguyên xứ xác nhận tình hình tài chính lành mạnh và hiện đang hoạt động bình thường

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 37

• Các bên dự định tham gia liên doanh không là các đối tác có quyền lợi đối nghịch nhau

hoạt động kinh doanh bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm

Việt Nam tối thiểu là 3 năm, không vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam và có đóng góp tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

của các bên dự định tham gia liên doanh

tính hợp pháp

vị trí quản lý của công ty liên doanh

- Đối với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài còn phải đáp ứng các điều kiện:

nộp hồ sơ theo luật pháp hiện hành của nước nơi các tổ chức đóng trụ sở chính và được cơ quan tài chính hoặc kiểm toán hợp pháp tại nguyên xứ xác nhận tình hình tài chính lành mạnh và hiện đang hoạt động bình thường

năm không vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam và có đóng góp tích cực cho sự phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam

vị trí quản lý của công ty

Việc quy định điều kiện kinh doanh bảo hiểm chặt chẽ như trên nhằm thể hiện rõ mục đích sau:

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 38

- Tạo thuận lợi trong việc kiểm tra giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về tình hình tài chính cũng như tình hình hoạt động kinh doanh bảo hiểm

- Đảm bảo cho các doanh nghiệp được thành lập hoạt động một cách có hiệu quả

- Tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm hoạt động tốt hơn

- Bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm

2.2 Thủ tục thành lập:

Khi doanh nghiệp đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên, để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp phải nộp hồ sơ xin cấp giấy phép, bao gồm :

- Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

- Dự thảo điều lệ doanh nghiệp

- Phương án hoạt động 5 năm đầu, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích của việc thành lập doanh nghiệp

- Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của người quản trị, người điều hành doanh nghiệp

- Mức vốn góp và phương thức góp vốn, danh sách những tổ chức, cá nhân chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên, tình hình tài chính và những thông tin khác có liên quan đến các tổ chức cá nhân đó

- Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiến tiến hành

Ngoài ra, tùy theo từng loại doanh nghiệp dự kiến thành lập, hồ sơ xin cấp giấy phép phải có những tài liệu sau:

- Đối với doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm:

+ Văn bản của cơ quan quyết định thành lập doanh nghiệp chấp thuận doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh môi giới bảo hiểm

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 39

+ Giải trình về nguồn vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

- Đối với công ty cổ phần bảo hiểm, công ty cổ phần môi giới bảo hiểm, công ty trách nhiệm môi giới bảo hiểm, doanh nghiệp tư nhân môi giới bảo hiểm, công ty hợp danh môi giới bảo hiểm:

+ Biên bản hợp của chủ đầu tư về việc thành lập công ty cổ phần bảo hiểm, công ty cổ phần môi giới bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm, công ty hợp danh môi giới bảo hiểm

+ Xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về tính hợp pháp của nguồn vốn thành lập công ty

- Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài:

+ Điều lệ của bên nước ngoài tham gia liên doanh và của chủ đầu tư nước ngoài (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài)

+ Giấy phép hoạt động của bên nước ngoài tham gia liên doanh và của chủ đầu tư nước ngoài (đối với doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới 100% vốn nước ngoài)

+ Văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép bên nước ngoài tham gia góp vốn thành lập liên doanh hoặc cho phép chủ đầu tư nước ngoài thành lập doanh nghiệp bảo hiểm,doanh nghiệp môi giới bảo hiểm 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Trường hợp quy định của nước nơi bên nước ngoài hoặc chủ đầu tư nước ngoài có trụ sở chính không yêu cầu có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này

+ Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh phải có văn bản của cấp có thẩm quyền của bên Việt Nam cho phép tham gia vào liên doanh

+ Giải trình về nguồn vốn góp của đối tác là bên Việt Nam có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền

Sau đó hồ sơ xin cấp giấy phép được Bộ Tài chính tiếp nhận và kiểm tra Khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính cấp cho chủ đầu tư hoặc đại diện ủy quyền của chủ đầu tư giấy biên nhận tiến nhận hồ sơ xin cấp giấy phép

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Trang 40

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ xin cấp giấy phép của chủ đầu tư, Bộ Tài chính quyết định cấp giấy phép hoặc từ chối cấp giấy phép Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính có văn bản giải thích

lý do

Trong quá trình thẩm định hồ sơ xin cấp giấy phép, trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính có thể gởi thông báo yêu cầu chủ đầu tư bổ sung sửa đổi hồ sơ nếu thấy cần thiết

Thời hạn chủ đầu tư gởi văn bản bổ sung, sửa đổi hồ sơ xin cấp giấy phép

là 30 ngày làm việc kể từ khi nhận được văn bản yêu cầu của Bộ Tài chính Hết thời hạn bổ sung sửa đổi hồ sơ xin cấp giấy phép bao gồm cả thời gian gia hạn nếu chủ đầu tư không hoàn chỉnh hồ sơ theo yêu cầu, hồ sơ xin cấp giấy phép hết giá trị xem xét

Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép doanh nghiệp phải nộp lệ phí cấp giấy phép: mức lệ phí cấp giấy phép là 0,1% vốn pháp định

Trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để khai trương hoạt động Nếu quá thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm không bắt đầu hoạt động thì bị thu hồi giấy phép Ngoài ra trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng báo hằng ngày báo Trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số liên tiếp theo những nội dung đã được quy định

2.3 Thẩm quyền cấp giấy phép thành lập:

Cấp giấy phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm là nguyên tắc cơ bản của quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm Luật các nước quy định một doanh nghiệp muốn tiến hành kinh doanh bảo hiểm đều phải xin cấp giấy phép hoạt động Sau khi được cấp giấy phép hoạt động, các doanh nghiệp bảo hiểm phải đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật

Theo kinh nghiệm của các nước, thẩm quyền cấp giấy phép thường được tập trung vào một đầu mối để đảm bảo tính thống nhất trong khâu cấp giấy phép ban đầu và quản lý hoạt động sau này của công ty

Tiếp thu kinh nghiệm của các nước và xuất phát từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm hiện nay, luật kinh doanh bảo hiểm đã quy định “Bộ tài chính cấp giấy

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w