1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LUẬN văn LUẬT THƯƠNG mại mô HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY cổ PHẦN TRANH CHẤP – HƯỚNG HOÀN THIỆN

79 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Thông qua định hướng phát triển công ty;  Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;  Bầu miễ

Trang 1

Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Đoàn Nguyễn Phú Cường Lê Thị Hồng Nhung

Bộ môn: Thương mại MSSV: 5085984

Lớp: Thương mại 1 - K34

Cần Thơ, 5/2012

Trang 2

NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 3

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

………

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU ………1

1 Lý do và mục đích nghiên cứu đề tài:……… 1

2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài:……….1

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài:……… 2

4 Cấu trúc đề tài:……… 2

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN:……… 3

1.1KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN:……… 3

1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần:……….3

1.1.2 Đặc điểm về công ty cổ phần:……… 5

1.1.2.1 Vốn của công ty cổ phần:……….5

1.1.1.2 Số lượng cổ đông:……….6

1.1.2.3 Về tư cách pháp nhân:……… 6

1.1.2.4 Về tính trách nhiệm hữu hạn của cổ đông:……… 7

1.1.2.5 Về khả năng chuyển nhượng cổ phần:……… 7

1.2 VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN: 8

1.2.1 Vai trò của công ty cổ phần: 8

1.2.2 Ý nghĩa công ty cổ phần: 8

1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN:……….9

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần ở trên thế giới…… 9

1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần ở Việt Nam:………… 12

1.3.2.1 Từ sau thời Pháp thuộc đến năm 1975:……… 12

1.3.2.2 Từ sau năm 1975 đến năm 2005:……… 14

CHƯƠNG 2: MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN:……… 17

2.1 ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG:……… 17

2.1.1Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông:……… 18

2.1.2 Các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông: 19

2.1.2.1 Đại hội đồng cổ đông thường niên: 19

2.1.2.2 Đại hội đồng cổ đông bất thường:………….……….19

2.1.3 Triệu tập Đại hội đồng cổ đông:……… 20

2.1.3.1 Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông:……… 20

Trang 5

2.1.3.2 Mời họp Đại hội đồng cổ đông:……… 22

2.1.3.3 Chương trình và nội dung họp Đại hội đồng cổ đông:……… 22

2.1.3.4 Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông:……… 23

2.1.3.5 Thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông:……… 29

2.1.3.6 Thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông:……… 43

2.1.3.6.1 Hình thức thông qua quyết định của Đại hội đồng: 43

2.1.3.6.2 Tỷ lệ thông qua quyết định của Đại hội đồng cổ đông:……… 43

2.1.3.7 Biên bản cuộc họp Đại hội đồng cổ đông:……… 47

2.1.3.8 Hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông:……… 47

2.2 HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ:……… 48

2.2.1 Cấu tạo Hội đồng quản trị:……… 48

2.2.2 Cuộc họp Hội đồng quản trị:……… 50

2.2.2.1 Thẩm quyền triệu tập cuộc họp Hội đồng quản trị:……… 50

2.2.2.2 Người triệu tập:……… 50

2.2.2.3 Thông báo mời họp:……… 50

2.2.2.4 Điều kiện tiến hành họp Hội đồng quản trị:……… 51

2.2.2.5 Yêu cầu cung cấp thông tin:……… 51

2.2.2.6 Biên bản họp Hội đồng quản trị:……….51

2.2.2.7 Thông qua quyết định của Hội đồng quản trị:……… 51

2.2.2.8 Vi phạm liên quan đến cuộc họp Hội đồng quản trị:……… 52

2.2.3 Thẩm quyền của Hội đồng quản trị:……… 58

2.2.4 Chủ tịch Hội đồng quản trị:……… 60

2.3 GIÁM ĐỐC HOẶC TỔNG GIÁM ĐỐC:……… 61

2.3.1 Giám đốc hoặc Tổng giám đốc:……….61

2.3.2 Thẩm quyền của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc:……… 62

2.4 BAN KIỂM SOÁT:……… 63

2.4.1 Cơ cấu tổ chức của Ban kiểm soát:……… 63

2.4.2 Tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên Ban kiểm soát:……… 63

2.4.3 Quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát:……… 63

CHƯƠNG 3: HƯỚNG HOÀN THIỆN MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN:……… 65

3.1 ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG:……… 65

3.1.1 Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông:……… 65

3.1.2 Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông:……… 67

3.1.3 Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông:……….67

Trang 6

3.1.4 Thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ

đông:……… 69

3.1.5 Thông qua quyết định của Đại hội đông cổ đông:……….69

3.1.6 Hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông:……… 70

3.2 HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ:……… 70

3.3 GIÁM ĐỐC HOẶC TỔNG GIÁM ĐỐC: 71

3.4 BAN KIỂM SOÁT: 73

Kết luận:………75

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

8 Nghị định số 102/2010/NNĐ – CP ngày 01 tháng 10 năm 2010 hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp

 Danh mục sách:

9 Bùi Quang Nhơn: “Luật thương mại Việt – Nam dẫn – giải”, quyển 1, Kim Lai Ân Quán, 1972

10 Bùi Thị Khuyên – Nguyễn Thị Khế: “Luật kinh tế”, Nxb Thống Kê, 2002

11 Bùi Xuân Hải: “Luật doanh nghiệp: bảo vệ cổ đông – pháp luật và thực tiễn, Nxb Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật Hà Nội, 2011

12 Đại học Luật Hà Nội: “Giáo trình Luật kinh tế”, Nxb Tư Pháp, 2008

13 Đại học Quốc Gia Hà Nội: “Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1997

14 Đoàn Văn Hạnh: “Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần”, Nxb Thống Kê, 1997

15 Nguyễn Ngọc Bích – Nguyễn Đình Cung: “Công ty vốn quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp 2005, Nxb Tri Thức, 2008

16 Phạm Duy Nghĩa: “Giáo trình Luật kinh tế”, tập 1, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2006

 Danh mục các trang thông tin điện tử:

http://luatsuquangthai.vn

http://www.dantri.com.vn

http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn

http://www.thesaigontimes.vn

Trang 8

http://www.tinmoi.vn

http://www.viBonline.com.vn

Trang 9

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 1 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do và mục đích chọn đề tài:

Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống doanh nghiệp Việt Nam đã và đang từng bước hình thành và phát triển, đông đảo về số lượng, đa dạng về loại hình và quy mô ngày càng lớn do mô hình kinh doanh đa dạng và hội nhập kinh tế quốc tế Việt Nam Theo số liệu thống kê của Bộ kế hoạch và Đầu tư tính đến tháng 03 năm 2009 cả nước có đến gần 35 000 doanh nghiệp với số vốn đăng ký lên đến 1 389 000 tỷ đồng trong đó 95% là doanh nghiệp vừa và nhỏ Loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn chiếm gần 47%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 36,4% và công ty cổ phần chiếm gần 15% Thực tế số lượng doanh nghiệp và quy mô

Chủ yếu là tranh chấp trong công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn Nguyên nhân dẫn đến các tranh chấp là do đâu: ý thức pháp luật của nhà đầu tư, mô hình quản trị công ty…

Tuy nhiên, người viết cũng quan điểm rằng lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật công ty ở Việt nam khá ngắn “ tuổi đời” còn rất non trẻ so với pháp luật công ty của các nước Phương Tây Do đó, pháp luật về công ty của ta chưa hoàn thiện vì thế đó là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tranh chấp trong công ty, đặc biệt là công ty cổ phần

Người viết sẽ tìm hiểu mô hình quản trị công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời kết hợp với những tranh chấp thực tế phát sinh từ mô hình quản trị công ty Tìm ra nguyên nhân nhằm hoàn thiện mô hình quản trị công ty góp phần tránh tranh chấp phát sinh Đó cũng là lý do người viết chọn đề tài “mô hình quản trị công ty cổ phần – tranh chấp – hướng hoàn thiện”

2 Phạm vi nghiên cứu đề tài:

Trong đề tài luận văn tốt nghiệp người viết xoay quanh tìm hiểu về cơ cấu tổ chức và quản lý trong công ty cổ phần như Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc

1

Báo cáo một số tranh chấp điển hình trong luật doanh nghiệp Việt Nam, Mạng kiến thức luật, 2011,

http://www.kienthucluat.vn/kien - thuc - TRONG-LUAT-DOANH-NGHIEP-VIET-NAM/1446, [ngày truy cập 15/02/2012]

Trang 10

luat/lcmvt,1,9,0/51/BAO-CCAO-MOT-SO-TRANH-CHAP-DIEN-HINH-GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 2 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Tổng Giám đốc và Ban kiểm soát, cùng với những tranh chấp thực tế phát sinh để tìm ra những khuyết điểm của mô hình quản trị công ty cổ phần Nhằm đề ra phương hướng hoàn

thiện mô hình quản trị công ty cổ phần

3 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Trong luận văn tốt nghiệp này, người viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp nghiên cứu trên tài liệu, sách vở, các trang thông tin điện tử (internet); phương pháp nghiên cứu, phân tích và so sách các văn bản quy phạm pháp luật; phương pháp sưu tầm số liệu thực tế và phương pháp tổng hợp các thông tin các bài viết, các văn bản pháp

4 Cấu trúc đề tài:

Chương 1: Khái quát về công ty cổ phần:

Chương 2: Mô hình quản trị công ty cổ phần:

Chương 3: Hướng hoàn thiện mô hình quản trị công ty cổ phần

Kết luận

Người viết xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy, cô đã tận tâm chỉ bảo, giảng dạy người viết trong suốt thời gian ngồi trên giảng đường đại học Đặc biệt, người viết xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến thầy Đoàn Nguyễn Phú Cường đã tận tình hướng dẫn

và giúp đỡ người viết hoàn thành tốt luận văn tốt nghiệp của mình

Cần Thơ, tháng 05 năm 2012

Trang 11

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 3 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

CHƯƠNG 1:

KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần:

Công ty cổ phần là một loại hình công ty đối vốn đặc trưng, bởi tính chất của sự liên kết giữa các cổ đông Vì thế, công ty cổ phần thể hiện rõ ưu thế và vai trò quan trọng của nó trong nền kinh tế thị trường Xét về góc độ lịch sử hình thành và phát triển, công ty cổ phần xuất hiện trước công ty trách nhiệm hữu hạn một thời gian khá dài Tuy nhiên cho đến nay, công ty cổ phần vẫn chưa có một khái niệm hoàn chỉnh Công ty cổ phần được định nghĩa với nhiều cách khác nhau Chẳng hạn, Việt Nam từ Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972 đến Luật doanh nghiệp năm 2005 thì có các cách khác nhau định nghĩa về công ty cổ phần bằng cách chỉ ra những đặc điểm của nó

 Trong Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972, công ty cổ phần với tên gọi là

Hội nặc danh cổ phần:

Hội hợp tư cổ phần gồm có một hay nhiều hội viên thụ tự liên đới chịu trách nhiệm vô hạn định về mọi trái khoản của Hội và những hội viên xuất tư chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần

Hội nặc danh gồm các hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần

http://luatsuquangthai.vn/luat-doanh-nghiep/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cong-ty-co-phan-tren-the-gioi-va-o-viet-3Điều 30 Luật công ty năm 1990

Trang 12

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 4 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu;

lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên;

chuyển nhượng, nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp quy định tại Điều

39 của Luật này

 Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

một số trường hợp khác do pháp luật quy định);

chế số lượng tối đa;

nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của luật này;

4Điều 50 Luật doanh nghiệp năm 1999

5Điều 77 Luật doanh nghiệp năm 2005

Trang 13

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 5 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

ký kinh doanh và có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

Luật doanh nghiệp năm 2005 đã mô tả công ty cổ phần tương tự như Luật doanh nghiệp năm 1999 Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp năm 2005 có bổ sung quy định khẳng định

“quyền tự do” trong việc cổ đông chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác

1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần

1.1.2.1 Vốn của công ty cổ phần:

Trong công ty cổ phần, vốn là yếu tố xác định vị thế, năng lực cạnh tranh của công ty

cổ phần trên thị trường Đồng thời, nó có liên quan đến hàng loạt các vấn đề pháp lý của cổ đông công ty như quyền sở hữu, chuyển nhượng và thế chấp Mặt khác, ta nhận thấy rằng vốn của công ty cổ phần là cơ sở vật chất cho hoạt động của nó, có thể nói sự tồn tại và độ tin cậy của một công ty cổ phần trước một đối tác phụ thuộc chủ yếu vào cấu trúc vốn Như vậy, một cấu trúc vốn mềm dẻo linh hoạt sẽ đáp ứng các nhu cầu khác nhau của nhà đầu tư, đáp ứng được hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Theo, Luật doanh nghiệp năm

2005 thì vốn của công ty cổ phần gồm hai loại:

định và được ghi vào điều lệ công ty Vốn điều lệ công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần mỗi cổ phần có thể có mệnh giá là 10 000 đồng hoặc một con số khác Đây là đặc trưng cơ bản phân biệt công ty cổ phần với các loại hình doanh nghiệp khác (công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh…) Như vậy, cổ phần là đơn vị nhỏ của vốn điều lệ Vốn điều lệ công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp năm 2005 chưa cụ thể Nghị

“là tổng giá trị mệnh giá số

cổ phần phát hành Số cổ phần phát hành là số cổ phần mà các cổ đông đã thanh toán đủ cho công ty Tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp, vốn điều lệ của công ty cổ phần là tổng giá trị mệnh giá các cổ phần do các cổ đông sáng lập và các cổ đông khác đã đăng ký mua và được ghi nhận trong điều lệ công ty; số cổ phần này phải thanh toán đủ trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”

Vốn của công ty cổ phần có được thông qua việc phát hành các loại chứng khoán

để huy động vốn Hay nói cách khác, công ty cổ phần đã thực hiện hình thức vay vốn được

Trang 14

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 6 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn Thực tế công

ty cổ phần không thể tiến hành hoạt động kinh doanh nếu chỉ dựa vào vốn điều lệ mà không

Thông qua hình thức vay tín dụng hoặc phát hành trái phiếu, cổ phiếu… Tuy nhiên, cách thức huy động vốn của công ty cổ phần khác với công ty trách nhiệm hữu hạn Người cho công ty cổ phần vay vốn không trở thành chủ nợ của công ty mà

là chủ sở hữu của công ty Chính điểm khác đó làm cho nhà đầu tư thích thú với phần vốn nhàn rỗi lại trở thành chủ sở hữu của một công ty đồ sộ vì thế đã tạo cho công ty cổ phần ưu thế về khả năng huy động vốn nhanh

1.1.2.2 Số lượng cổ đông:

Cổ đông công ty cổ phần chính là các chủ sở hữu của công ty Các chủ sở hữu này có thể là những người không quen biết nhau Cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần, mức độ sở hữu khác nhau tạo sự khác biệt về mức vốn góp, quyền và nghĩa vụ của họ trong công ty

Luật doanh nghiệp không quy định hạn chế số lượng cổ đông tối đa trong công ty cổ phần Hiện nay, có rất nhiều công ty cổ phần có số lượng cổ đông lên đến hàng chục, hàng chục vạn, thậm chí có những công ty có số lượng cổ đông nhiều hơn nữa Vì vậy, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn rất lớn trong công chúng để đầu tư vào những ngành nghề, lĩnh vực khác Với tốc độ phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cộng vào đó là sưu thế toàn cầu hóa đang diễn ra tạo môi trường thuận lợi cho sự lớn mạnh và phát triển của nhiều công

ty cổ phần Đồng thời, số lượng cổ đông cũng tăng lên với đông đủ mọi tầng lớp, giai cấp ngành nghề trong xã hội ai cũng có thể trở thành cổ đông của công ty cổ phần khi họ đầu tư mua cổ phiếu của công ty, đây là điểm mạnh và ưu thế của công ty cổ phần so với các loại hình doanh nghiệp khác

1.1.2.3 Về tư cách pháp nhân:

Tư cách pháp nhân của công ty cổ phần là điều kiện cơ bản quyết định sự tồn tại của công ty trong nền kinh tế quốc dân Nhà nước khẳng định và xác nhận tư cách pháp nhân của công ty cổ phần Theo quy định hiện hành thì công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể

từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân khi công ty cổ phần có đầy đủ các điều kiện theo quy định của Bộ luật dân sự năm

2005 “thành lập một cách hợp pháp, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, nhân danh mình tham gia

8

Nguyễn Thị Khế - Bùi Thị Khuyên: Luật kinh doanh, Nxb Thống kê, 2002, tr 201

Trang 15

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 7 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

các quan hệ xã hội một cách độc lập, có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản đó khi nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách

Việc khẳng định tư cách pháp nhân của công ty cổ phần với tư cách là một thực thể kinh doanh, một mặt được Nhà nước bảo hộ với các hoạt động sản xuất kinh doanh, mặt khác nó phải có trách nhiệm đối với khách hàng, đối tác, có nghĩa vụ đối với Nhà nước Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập, tự mình tham gia vào các giao dịch, xác lập các quyền và nghĩa vụ cho công ty Bên cạnh đó, tài sản của công ty tách bạch với tài sản của các cổ đông công ty và tự chịu trách nhiệm về nghĩa vụ tài sản của công ty bằng tài sản

1.1.2.4 Về tính trách nhiệm hữu hạn của cổ đông:

Tài sản của cổ đông trong công ty cổ phần hoàn toàn độc lập với tài sản của công ty

Cổ đông công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn mà cổ đông đã góp vào công ty Đây là điểm khác biệt giữa cổ đông công ty

cổ phần và thành viên công ty hợp danh khi cả hai đều là chủ sở hữu của công ty Vì thế, nó cũng là thế mạnh của công ty cổ phần trong việc sẽ được ưu tiên lựa chọn cho hình thức kinh doanh thích hợp

1.1.2.5 Về khả năng chuyển nhượng cổ phần: 11

Công ty cổ phần là công ty mang tính mở, việc thay thế cổ đông trong công ty cổ phần khá dễ dàng So với công ty trách nhiệm hữu hạn phần vốn góp của cổ đông trong công

ty cổ phần có khả năng chuyển nhượng dễ dàng hơn Về nguyên tắc, theo Luật doanh nghiệp năm 2005 thì các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập hoặc cổ phần ưu đãi của cổ đông ưu đãi biểu quyết

1.2 VAI TRÕ VÀ Ý NGHĨA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

1.2.1 Vai trò của công ty cổ phần:

Công ty cổ phần có vai trò quan trọng đối với việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh

TS Bùi Xuân Hải: Luật doanh nghiệp - bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiển, trường đại học luật Thành Phố Hồ Chí

Minh, Nxb Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, 2011, tr 61

11

TS Bùi Xuân Hải: Luật doanh nghiệp - bảo vệ cổ đông pháp luật và thực tiển, trường đại học luật Thành Phố Hồ Chí

Minh, Nxb Chính Trị Quốc Gia – Sự Thật, 2011, tr 62

Trang 16

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 8 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

thực hiện sản xuất kinh doanh khổng lồ mà không nhà tư bản riêng biệt nào có thể tự mình làm nổi

 Công ty cổ phần góp phần nâng cao hiệu quả của đồng vốn

 Tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù đã hạn chế những tác động tiêu cực về kinh tế xã hội khi một doanh nghiệp lâm vào tình trạng khủng hoảng và hạn chế mức thất nhất đối với cổ đông Công ty cổ phần với cơ chế phân bổ rủi ro đã tạo điều kiện cho những người có vốn mạnh dạn đầu tư vào công ty làm cho nền kinh tế phát triển và có xu hướng ổn định hơn

 Góp phần thúc đẩy thị trường chứng khoán phát triển thông qua việc huy động vốn

 Công ty cổ phần là hình thức liên doanh tốt nhất tranh thủ đầu tư nước ngoài Thu hút được nguồn vốn, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý góp phần thúc đẩy kinh tế trong nước

Sự phát triển của công ty cổ phần góp phần tác động đến quá trình ổn định trật tự xã hội: công ty cổ phần thúc đẩy kinh tế phát triển cũng góp phần nâng cao mức sống trình độ văn hóa cho người lao động, tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm gánh nặng cho

bộ máy Nhà nước

Đảng và Nhà nước ta cũng sớm nhận ra vai trò của doanh nghiệp cũng như công ty cổ phần đối với sự tồn tại và phát triển nền kinh tế đất nước, thông qua việc từng bước hoàn thiện dần pháp luật về doanh nghiệp

1.2.2 Ý nghĩa của công ty cổ phần:

Công ty cổ phần ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XVII, cùng với sự phát triển mở đầu của nền công nghiệp cơ khí của chủ nghĩa đế quốc và chính sách bóc lột thuộc địa của chúng Tuy nhiên, thế kỷ XIX mới là giai đoạn phát triển mạnh mẽ nhất của công ty cổ phần, khi mà nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh mẽ và nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi phải có nhiều vốn đầu tư thì mới có thể hoạt động hiệu quả Chẳng hạn, nhiều công trình lớn khác của thế giới và kênh đào Suez (thông qua việc phát hành cổ phiếu của ông Jecdinant de Lepsep để huy động vốn) nếu không huy động được vốn

Ưu thế của công ty cổ phần là khả năng huy động vốn lớn trong công chúng, nên

12

Th.s Nguyễn Thị Khế - Th.s Bùi Thị Khuyên: Luật kinh doanh, Nxb Thống Kê, 2002, tr 204

Trang 17

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 9 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

thích hợp với quy mô kinh doanh lớn và hiện đại Công ty cổ phần có khả năng lôi cuốn được mọi tầng lớp trong xã hội tham gia Bởi vì, họ chỉ cần góp vốn vào công ty mà không cần kiến thức về hoạt động kinh doanh, quản lý điều hành công ty cũng trở thành chủ sở hữu công ty Vì thế, nhiều công ty cổ phần nắm trong tay tiềm lực kinh tế của đất nước và khả năng chi phối về mặt chính trị

Chúng ta thấy rằng sự ra đời và phát triển của công ty cổ phần có ý nghĩa rất lớn:

Về mặt xã hội, công ty cổ phần đáp ứng kịp thời nhu cầu tất yếu của xã hội và nhu cầu mong muốn kinh doanh của tất cả mọi người kể cả những người không hiểu biết về kinh doanh cũng có thể tham gia vào công ty cổ phần

Về mặt kinh tế, công ty cổ phần phát triển đẩy kinh tế lên vị thế mới, mở ra một xu thế cạnh tranh và thu hút một nguồn lực trong xã hội không chỉ trong và ngoài nước

1.3 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN

Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Sự hình thành và phát triển của công ty cổ

doanh phổ biến Nó được xem là phương thức phát triển cao nhất cho đến nay của loài người

để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển

1.3.1 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần ở trên thế giới:

Công ty cổ phần là loại hình công ty ra đời muộn hơn so với các loại hình doanh

 Ở Pháp là công ty vô danh (anonymous Company)

 Anh là công ty với trách nhiệm hữu hạn (Company LTD)

 Ở Mỹ nó được gọi là công ty kinh doanh (Commercial Coporation)…

Sự xuất hiện mạnh mẽ công ty cổ phần gắn liền với quá trình công nghiệp hóa ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ XVIII, XIX Công ty cổ phần mang tính đại chúng, nó

ra đời trên cơ sở nền sản xuất xã hội hóa cao, đặc biệt là xã hội hóa về vốn

Mầm mống sâu xa trong quá trình hình thành công ty cổ phần gắn liền với các quy định về liên kết hợp đồng và các quan hệ nợ nần trong luật La Mã Luật La Mã đã chỉ ra hai

Trang 18

http://luatsuquangthai.vn/luat-doanh-nghiep/lich-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cong-ty-co-phan-tren-the-gioi-va-o-viet-GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 10 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

 Societas không phải là một chủ thể pháp luật mà là quan hệ nợ nần của các thể nhân độc lập

 Trong khi đó, Universitas có năng lực pháp lý (pháp nhân) Nó tự bầu ra người quản lý và được cấp phép hoạt động Vì thế, khi tham gia trong các quan hệ với bên ngoài nó

là một chủ thể thống nhất, tài sản là tài sản Universitas chứ không phải là thành viên và vì vậy chỉ có Universitas chịu trách nhiệm về các khoản nợ còn thành viên thì không chịu

Như vậy, từ thời La Mã đã xuất hiện tổ chức có tư cách pháp nhân giống như công ty Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ thì những tổ chức giống như công ty cũng dần dần tàn lụi

Tuy nhiên, thời Trung cổ hai tổ chức do người La Mã để lại đã được phục hồi Đó là giới thương gia tại Italia và các công ty của họ, cùng các phường hội được chính quyền cấp phép ở miền bắc Âu châu

Đến thế kỷ XVI và thế kỷ XVII, xuất hiện nhiều công ty được cấp phép và mang tên các lãnh thổ mà chúng độc quyền mua bán (chẳng hạn công ty East India buôn bán ở Ấn Độ, Muscovy ở Nga…) Các công ty được cấp phép trong thời kỳ này đã tiếp thu hai ý tưởng thời Trung cổ, là bán cổ phiếu trên thị trường tự do và tính chịu trách nhiệm hữu hạn nhân danh cho các hội viên Vì vậy, chúng cũng được gọi là công ty cổ phần Như vậy, công ty cổ phần xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ XVII, mục đích của nó là bóc lột các nước thuộc địa ở Châu Mỹ và Ấn Độ Đến năm 1600, công ty cổ phần đầu tiên xuất hiện ở Anh với tên gọi East India Company được lập bởi một nhóm có 218 người Nó được phép độc quyền kinh doanh trong vòng 15 năm ở vùng Đông Ấn, các quốc gia và hải cảng ở Á châu, Phi châu; được đến tất cả các cảng của đảo, thị trấn, các địa điểm ở Á châu, Phi châu và Mỹ châu và tất cả các điểm tương tự khác nằm ở ngoài Mũi Hảo Vọng và eo biển Magellan Sau khi được cấp phép nó đã cử một đoàn tàu gồm năm chiếc lên đường Nó đã chinh phục được Ấn

Độ và giải thể vào ngày 01/06/1874 Đến năm 1602, Hà Lan xuất hiện các công ty cổ phần theo hình thức tương tự công ty Đông Ấn của Anh, rồi lần lượt xuất hiện ở Thụy Điển, Đan

Trang 19

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 11 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

thành lập theo sắc lệnh của Hoàng gia Sau cách mạng năm 1789, luật Allaerd ngày 02/03/1791 về tự do thương mại và công nghiệp ra đời đã công nhận quyền tự do thành lập công ty cổ phần Trong khoảng thời gian này (năm 1772), Quốc hội Anh đã ban hành luật hạn chế thành lập công ty cổ phần, sở giao dịch chứng khoán đầu tiên được giới thiệu ở Luân Đôn và cho đến năm 1801 mới chính thức thành lập Còn ở Mỹ, thị trường chứng khoán ra đời vào năm 1790; trong đó có liên quan đến công ty cổ phần gồm có công ty cổ phần tư nhân và doanh nghiệp cổ phần do Nhà nước đứng ra thành lập

Cho đến thế kỉ XIX, các công ty cổ phần ra đời nhanh chóng ở các nước trên thế giới:17

 Năm 1825, Anh bỏ luật hạn chế mở rộng công ty cổ phần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc thành lập công ty cổ phần Đến năm 1884, để công ty cổ phần ở Anh hoạt động có trật tự hơn Họ đã ban hành luật về công ty cổ phần Tuy nhiên, luật này đã không cho công ty hưởng tính trách nhiệm hữu hạn Vì thế, luật về tính trách nhiệm hữu hạn ra đời năm 1855, để hạn chế mất doanh nghiệp do sự di chuyển các công ty từ Anh sang Pháp Cuối cùng cả hai văn bản trên được sáp nhập thành một vào năm 1862, từ đó tạo sự gia tăng

về số lượng công ty cổ phần do được pháp luật bảo vệ

 Ở Pháp, Bộ luật Thương mại năm 1807 ra đời đã quy định việc thành lập công

ty phải được sự cho phép của Chính phủ Sau đó, luật ngày 24/07/1867 đã đưa ra một qui chế thật sự cho các công ty cổ phần và xóa bỏ sự thành lập công ty cổ phần

Tuy nhiên các công ty cổ phần trong giai đoạn này hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực giao thông vận tải Song song, với sự phát triển của công ty cổ phần thì Sở giao dịch chứng khoán cũng mọc lên khá phổ biến tại các nước Phương Tây Trước những năm 70 của thế kỷ XIX, công ty cổ phần ra đời với số lượng ít, hình thức cũng chưa đa dạng và quy mô cũng nhỏ Sau những năm 70 của thế kỷ XIX, công ty cổ phần hoạt động khắp các nơi trên thế giới, gia tăng về số lượng đồng thời hình thức và quy mô hoạt động đa dạng và phong phú

Sau chiến tranh thế giới thứ II, các công ty cổ phần cơ bản đã trưởng thành như về cơ cấu tổ chức ngày càng hoàn thiện, qui mô rộng lớn, có nhiều công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia liên kết với nhau thành lập ra các tập đoàn doanh nghiệp quốc tế

1.3.2 Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần ở Việt Nam:

17

Phó Tiến sĩ Đoàn Văn Hạnh: Công ty cổ phần và chuyển doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần, Nxb Thống

Kê, 1997, tr 61

Trang 20

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 12 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Mô hình công ty cổ phần ở Việt Nam ra đời tương đối muộn hơn so với các nước tiên tiến trên thế giới Nguyên nhân không phải do chiến tranh mà do điều kiện cả vùng viễn đông kể cả Trung Quốc đều theo thể chế Nho giáo–trọng nông ức thương kiến, thương mại không phát triển Vì vậy, các mô hình kinh doanh cổ truyền của Việt Nam như là các phường, hội chỉ phát triển xung quanh các làng xã…Trước khi người Pháp xâm lược Việt Nam, các triều đại phong kiến nước ta chưa bao giờ ban hành pháp luật về công ty, mặc dù vẫn có những hoạt động buôn bán kinh doanh

Như vậy mô hình công ty và pháp luật về công ty của ta xuất hiện khi thực dân Pháp xâm lược và biến nước ta thành sứ thuộc địa và bảo hộ của Pháp vào cuối thế kỷ XIX Trải qua cả trăm năm với sự thăng trầm lịch sử thì mô hình công ty cổ phần vẫn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế và một nhà triết học người Đức đã nói “hiện tại chứa đầy quá khứ và phản ánh tương lai”, phần tiếp theo người viết sẽ trình bày sự du nhập mô hình công ty này vào Việt Nam để luận giải những quy định hiện tại và mong mỏi có những đóng góp để mô hình này phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay

1.3.2.1 Từ thời Pháp thuộc đến năm 1975:

Sau khi xâm chiếm đất nước ta, bên cạnh chế độ cai để trị hà khắc, cùng với chính sách chia để trị, thực dân Pháp đã từng bước áp đặt hệ tư tưởng pháp lý và truyền thống pháp luật của họ vào Việt Nam Năm 1864, người Pháp đã đem áp dụng ở Nam Kỳ Bộ luật Thương mại của họ do sắc lệnh ngày 25/07/1864 ban hành kèm theo Nghị định 12/12/1864 Đồng thời, Luật Thương mại của Pháp đã được áp dụng trên toàn lãnh thổ Việt Nam khi ban hành sắc lệnh ngày 08/09/1888 ban hành kèm theo Nghị định ngày 30/12/1888 áp dụng cho

đô hộ biến nước ta thành thuộc địa

Tuy nhiên, luật về công ty của ta được thể hiện rõ hơn trong “Dân luật thi hành tại các tòa Nam Án Bắc Kỳ” năm 1931 mà trong đó có đề cập đến “Hội buôn” Đạo luật này chia các công ty làm hai loại: “Hội người và Hội vốn”

Trang 21

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 13 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

luật đều có bóng dáng của Bộ luật thương mại của Pháp Chế định công ty thì gần giống với chế định công ty theo pháp luật của nước Pháp thời kỳ đó

Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa, hai từ “công ty” trong Tiếng Việt có nguồn gốc từ tiếng Quan Thoại để chỉ công ty Đông Ấn của người Anh, đã trở nên dễ hiểu quên thuộc hơn với các thuật ngữ “hội người”, “hội vốn” đã từng được sử dụng khi dịch các

từ chỉ công ty trong pháp luật của người Pháp sang tiếng Việt trong những năm đầu thế kỷ

XX.19 Như vậy, theo luật công ty thời Pháp thuộc các công ty mang tính chất đối nhân – thành lập dựa trên cơ sở những người quen biết, gia đình, bạn bè

Đến năm 1942, chiếu theo dụ số 46 ngày 27 tháng 04 năm Bảo Đại 17 (ngày 12/06/1942) Triều đình Huế ban hành Bộ luật thương mại Bộ luật này được áp dụng trên

Đến năm 1959, đất nước ta chia thành hai miền và mỗi miền áp dụng theo hệ thống pháp luật khác nhau:

nước Miền Bắc tiến hành xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa – tập trung gồm hai thành phần: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Do đó, không có mô hình công ty và cũng không có luật công ty

hành bộ Luật Thương mại Sài Gòn, công ty cổ phần với tên gọi là những Hội công tư hay

có một hay nhiều hội viên thụ tự liên đới chịu trách nhiệm vô hạn định về mọi trái khoản của Hội và những hội viên xuất tư chỉ chịu trách nhiệm trong giới hạn phần hùn của mình dưới hình thức cổ phần Hội nặc danh gồm có các hội viên mệnh danh cổ đông, chỉ chịu trách

1.3.2.2 Từ sau năm 1975 đến năm 2005:

Từ năm 1975 đến năm 1980, với chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung, các hình thức công ty nói chung và công ty cổ phần nói riêng Khái niệm công ty cổ phần trong giai

19

TS Bùi Xuân Hải: Luật doanh nghiệp - bảo vệ cổ đông trong công ty cổ phần, trường đại học Luật Thành Phố Hồ Chí

Minh, Nxb Chính Trị Quốc Gia, 2011, tr 18

20Bùi Quang Nhơn: Luật Thương mại Việt – Nam dẫn – giải, Kim Lai Ân Quán, 1972, tr 21

21Đại học Luật Hà Nội: giáo trình Luật kinh tế, Nxb Tư pháp, 2008, tr 197

22Điều 236 Bộ luật Thương mại Sài Gòn năm 1972

Trang 22

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 14 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

đoạn này không được hiểu giống về bản chất pháp lý như hiện nay mà chỉ được hiểu theo hình thức cải tạo công thương Đến năm 1977, hình thức công ty cổ phần được đề cập đến khi quy định “xí nghiệp hoặc công ty hỗn hợp” có thể thành lập theo hình thức “công ty cổ phần” (Điều lệ đầu tư của nước ngoài ở nước CHXHCN Việt Nam ban hành kèm theo Nghị

Năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việc chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa – có thể nói đây là bước phát triển có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và doanh nghiệp nói riêng

Tuy nhiên cho đến ngày 21 tháng 12 năm 1990 thì Quốc hội mới thông qua Luật công

ty Chế định về công ty cổ phần mới chính thức được thừa nhận sau khi đất nước thống nhất theo Luật công ty có những đặc điểm sau:

Số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy;

Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu;

Cổ phiếu được phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị là những cổ phiếu có ghi tên;

Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng Cổ phiếu ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp quy định tại Điều

39 của Luật này

Sau khi, Luật công ty ra đời nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của doanh nghiệp trong những lĩnh vực khác nhau nhưng được

tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần Tuy nhiên, hoạt động này của các doanh nghiệp một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật công ty, đồng thời phải tuân thủ các quy định của luật chuyên ngành Chẳng hạn, trong Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 tại Điều 12 quy định về các loại hình tín dụng có hình thức tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, hay nói cách khác các Ngân hàng thương mại cổ phần

23

Từ Thảo: lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần ở Việt Nam và thế giới, Quang Thai Law Office, 2010,

nam.html, [ngày truy cập 21/02/2012]

Trang 23

http://luatsuquangthai.vn/luat-doanh-nghiep/lích-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cong-ty-co-phan-tren-the-gioi-va-o-viet-GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 15 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Sau gần 10 năm thực hiện, Luật công ty đã phát huy vai trò tích cực của mình, góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, thực tiễn các quan hệ kinh doanh của nước ta trong thời kỳ này liên tục biến đổi Do đó, Luật công ty đã bộc lộ rất nhiều bất cập, chủ yếu trong vấn đề thủ tục đăng ký kinh doanh Đồng thời, kết hợp với những hạn chế, thiếu sót trong quá trình làm luật Chẳng hạn, Luật công ty chỉ có 46 điều, chỉ quy định có hai loại hình công ty: trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần Công ty trách nhiệm hữu theo luật công ty phải có ít nhất hai thành viên; không chấp nhận mô hình công ty

do một tổ chức hay cá nhân làm chủ sở hữu

Vì thế, nhiều quy định của luật tỏ ra lạc hậu với cách thức tổ chức thị trường và thông

lệ quốc tế Dẫn đến cuộc cải cách pháp luật doanh nghiệp năm 1999 Ngày 12/06/1999, Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp để thay thế cho Luật công ty và Luật doanh nghiệp Nhà nước Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định cả về công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân

Sau hơn 5 năm đi vào hoạt động, Luật doanh nghiệp năm 1999 đã được thay thế bằng Luật doanh nghiệp năm 2005 Trong các văn bản này, công ty cổ phần vẫn tiếp tục được ghi nhận và được quy định theo hướng tiếp cận đến các chuẩn mực quốc tế về quản trị công ty

cổ phần

Tuy nhiên, để hoàn thiện pháp luật về công ty cổ phần nói riêng và pháp luật về doanh nghiệp nói chung Người viết sẽ tìm hiểu mô hình quản trị công ty cổ phần và thực tế phát sinh, nhằm tìm ra nguyên nhân và giải pháp để hoàn thiện nó

24

Từ Thảo: lịch sử hình thành và phát triển công ty cổ phần ở Việt Nam và trên thế giới, Quang Thai Law Office, 2010,

http://luatsuquangthai.vn/luat-su-hinh-thanh-va-phat-trien-cong-ty-co-phan-tren-the-gioi-va-o-viet-nam.html, [ngày truy cập 21/02/2012]

Trang 24

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 16 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

CHƯƠNG 2:

MÔ HÌNH QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN

Với những đặc thù riêng có của công ty cổ phần như công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp có qui mô hoạt động lớn, lĩnh vực kinh doanh đa dạng và có tính chất xã hội hóa cao, cho nên việc quản lý công ty cổ phần trở nên hết sức phức tạp Do đó, đòi hỏi công

ty cổ phần cần phải có cơ cấu tổ chức và quản lý chặt chẽ, có sự tập trung hóa cao Nhằm mục đích để bảo vệ cho lợi ích của các cổ đông và các chủ thế khác có mối liên hệ với công

ty Vì thế, luật điều chỉnh hoạt động công ty cổ phần phải cụ thể rõ ràng Ở nước ta, sau khi

ta công nhận thành phần kinh tế tư nhân thì luật về công ty của ta mới xuất hiện Vì thế, nhà làm luật của ta đã học hỏi kinh nghiệm từ các nước trên thế giới nhưng chủ yếu từ luật của Pháp và Anh Đồng thời, cách làm luật của ta rất ngược đời thường thì các quan hệ xã hội phát sinh, luật mới thấy để điều chỉnh, Luật công ty của ta thì ngược lại Do đó, luật về công

ty của ta còn hạn chế rất nhiều so các nước phát triển Trong chương này, người viết sẽ tập trung phân tích quyền và nghĩa vụ của các cơ quan theo Luật công ty của Việt Nam Đồng thời, dựa vào thực tế các quan hệ phát sinh nhằm góp phần hoàn thiện những thiếu sót của luật về công ty của ta Mà văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hiện thời là Luật doanh nghiệp năm 2005, chủ thể được đề cập đến chủ yếu là công ty cổ phần và những hạn chế của chủ thể này do quá trình lập pháp của ta

Theo Luật doanh nghiệp hiện hành, cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần gồm có: “Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; đối với công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng

có trong cơ cấu quản lý công ty cổ phần khi công ty có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần trong công ty

2.1 ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ ĐÔNG

Theo Luật doanh nghiệp năm 2005, Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết là cơ quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần Như vậy, ngoài trừ cổ

25Điều 95 Luật doanh nghiệp năm 2005

Trang 25

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 17 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

đông sở hữu cổ phần ưu đãi cổ tức và cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi hoàn lại thì tất cả các

cổ đông có quyền biểu quyết theo luật và điều lệ công ty quy định thì mới có quyền tham dự Đại hội đồng cổ đông Các cổ đông này có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp tham dự Đại hội đồng cổ đông (ủy quyền bằng văn bản cho một người khác) tham gia Đại hội đồng cổ đông

2.1.1 Thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông:

Đại hội đồng cổ đông là cơ quan cao nhất của công ty cổ phần, có tính chất quyết định mọi hoạt động của công ty Do đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 trao cho Đại hội đồng

cổ đông công ty cổ phần rất nhiều quyền hạn, đa số đó là những quyền quyết định sự tồn tại hay sụp đổ của công ty

 Thông qua định hướng phát triển công ty;

 Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;

 Bầu miễn nhiệm và bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát;

 Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị tài sản bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác;

 Quyết định sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty, trừ trường hợp điều chỉnh vốn điều

lệ do bán thêm cổ phần được quyền chào bán quy định tại Điều lệ công ty;

 Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;

 Quyết định mua lại 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;

 Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;

 Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty

Ngoài ra, Đại hội đồng cổ đông còn có các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của luật này và điều lệ công ty Tuy nhiên, các quyền và nhiệm vụ đó là quyền nào và nhiệm

vụ nào thì luật còn bỏ gõ Luật doanh nghiệp quy định thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông rất lớn trong việc quản lý điều hành công ty Như vậy, một câu hỏi đặt ra: thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông có ảnh hưởng hay hạn chế đến công việc quản lý điều hành của những

26

Khoản 2 Điều 96 Luật doanh nghiệp 2005

Trang 26

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 18 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

người quản lý khác trong công ty không, đặc biệt là Hội đồng quản trị?

2.1.2 Các cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông:

2.1.2.1 Đại hội đồng cổ đông thường niên:

Thông thường các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên diễn ra trong thời gian rất ngắn, khoảng nữa ngày Ở những nơi có không gian thích hợp cho việc vui chơi giải trí

 Báo cáo tài chính hằng năm;

 Báo cáo của Hội đồng quản trị đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh

ở công ty;

 Quyết định mức cổ tức hằng năm cho từng loại cổ phần;

 Đánh giá hoạt động của Hội đồng quản trị, xem xét xử lí vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị;

 Bầu, bãi, miễn nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;

 Quyết định tổng mức thù lao cho thành viên Hội đồng quản trị; xem xét phê duyệt các đề án kinh doanh lớn do Hội đồng quản trị trình bày;

 Thảo luận biểu quyết về sửa đổi, bổ sung điều lệ, thành lập chi nhánh, sát nhập, phân tách hay các giải pháp tái cơ cấu khác trong công ty

Ngoài các vấn đề cơ bản trên cùng với thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông thường niên quy định tại khoản 2 Điều 96, điểm a khoản 2 Điều 117 Luật doanh nghiệp Tất cả các vấn đề khác sẽ thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị

2.1.2.2 Đại hội đồng cổ đông bất thường:

Ngoài cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên, Luật doanh nghiệp còn cho phép công ty cổ phần tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường Như vậy, công ty có quyền triệu tập họp Đại hội cổ đông bất thường với số lần tùy ý trong năm, nếu thấy trong quá trình hoạt động công ty có vấn đề quan trọng cần có tiếng nói chung của các cổ đông trong công ty

Trang 27

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 19 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

có liên quan khi giao dịch này có giá trị lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản theo sổ sách của công ty;

hạn mười hai tháng;

đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục sáu tháng

Luật doanh nghiệp cho phép Đại hội đồng cổ đông: “bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát” Đồng thời cũng cho họ có quyền xử lý các vi phạm do Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát gây ra điều đó là tất nhiên Tuy nhiên, khi tiến hành triệu tập Đại hội để xử lý vi phạm thì Luật doanh nghiệp chưa có quy định một cơ chế

rõ ràng Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát vẫn có quyền biểu quyết tại cuộc họp Như vậy, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát có tự tay bỏ phiếu để xử phạt mình hay không?

2.1.3 Triệu tập Đại hội đồng cổ đông

“Đại hội đồng cổ đông phải họp thường niên hoặc bất thường, ít nhất mỗi năm họp

quy định số lần họp Đại hội đồng cổ đông do Điều lệ công ty quy định miễn sao trong năm phải có ít nhất một lần Đại hội đồng cổ đông thường niên Đại hội đồng cổ đông bất thường không hạn chế số lần họp Tuy nhiên, các cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông phải được tiến hành ở trên lãnh thổ Việt Nam

2.1.3.1 Thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông:

Hội đồng quản trị có thẩm quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông Đối với cuộc họp Đại hội đồng cổ đông thường niên thì thời hạn này không quá 4 tháng kể từ ngày kết

Ngoài

ra, trong một số trường hợp bắt buộc họ phải triệu tập cuộc họp với thời hạn không quá 30 ngày đối với cuộc họp bất thường khi xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty, theo yêu cầu của Ban kiểm soát hoặc yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều

Trang 28

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 20 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

79 Luật doanh nghiệp Trường hợp, Hội đồng quản trị không triệu tập đúng theo quy định thì chủ tịch Hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại

Nếu Hội đồng quản trị không tiến hành triệu tập đại hội theo quy định đối với đại hội bất thường, thì sau thời hạn đó Ban kiểm soát thay thế Hội đồng quản trị triệu tập họp Tuy nhiên thời hạn triệu tập của Ban kiểm soát cũng không quá 30 ngày Trưởng Ban kiểm soát cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh đối với

Nếu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát không đứng ra triệu tập theo luật định Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục

ít nhất sáu tháng hoặc tỷ lệ khác nhỏ hơn do điều lệ công ty quy định, có toàn quyền triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông bất thường khi thỏa các điều kiện: Hội đồng quản trị vi phạm nghiêm trọng quyền của cổ đông, nghĩa vụ của người quản lý hoặc ra quyết định vượt quá thẩm quyền được giao; nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị đã vượt quá sáu tháng mà Hội đồng

Luật doanh nghiệp đã quy định rất thoáng cho cổ đông để họ bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình Tuy nhiên, nó cũng là điểm yếu khi luật chưa quy định quyết định nào của Hội đồng quản trị là vi phạm nghiêm trọng quyền cổ đông Quy định không rõ ràng có thể tạo ra sự mất ổn định trong công ty và làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty lâm vào tình trạng trì truệ, phải mất nhiều thời gian, chi phí cho việc phải thường xuyên triệu tập Đại hội đồng cổ đông Nguyên nhân, do cổ đông hoặc một nhóm cổ đông trong công ty

đã lợi dụng sự không rõ ràng để yêu cầu triệu tập Đại hội đồng cổ đông một cách tùy tiện để quấy rối công ty vì mục đích cá nhân

2.1.3.2 Mời họp Đại hội đồng cổ đông:

Các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông là nơi mà cổ đông thể hiện ý trí của mình đối với quyền và nghĩa vụ của họ Vì thế, việc họ biết được thông tin về cuộc họp Đại hội đồng cổ đông để có thể đến dự là cực kỳ quan trọng Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định rất sơ sài

về mời họp Đại hội đồng cổ đông “người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi thông báo mời họp đến tất cả các cổ đông có quyền dự họp chậm nhất bảy ngày trước ngày khai

Trang 29

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 21 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

mạc Kèm theo giấy mời họp phải có chương trình họp, các tài liệu làm cơ sở để thông qua quyết định” Quy định như thế rất khó khăn cho doanh nghiệp khi áp dụng các điều khoản, không quy định mời họp, cách thức mời họp và các hướng dẫn chỉ định ủy quyền Luật doanh nghiệp năm 2005 đã khắc phục được những hạn chế thiếu sót của Luật doanh nghiệp năm 1999

Theo Điều 100 Luật doanh nghiệp năm 2005 thì: người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải gửi thông báo mời họp đến tất cả các cổ đông có quyền dự họp chậm nhất là bảy ngày làm việc trước ngày khai mạc nếu điều lệ công ty không quy định thời hạn Thông báo được gửi bằng phương thức bảo đảm đến được địa chỉ thường trú của cổ đông Kèm theo thông báo mời họp phải có mẫu chỉ định đại diện theo ủy quyền dự họp, chương trình họp, phiếu biểu quyết, các tài liệu tham khảo làm cơ sở thông qua quyết định và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp Nếu công ty có trang thông tin điện tử thì thông báo mời họp và các tài liệu gửi kèm theo phải được công bố trên trang thông tin điện

tử đó đồng thời với việc gửi thông báo cho các cổ đông

Luật doanh nghiệp quy định khá chặt chẽ về mời họp Đại hội đồng cổ đông Tuy

họp Đại hội đồng cổ đông dựa trên sổ đăng ký cổ đông của công ty

2.1.3.3 Chương trình và nội dung họp Đại hội đồng cổ đông:

Trước khi cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành Người triệu tập họp phải lập chương trình và nội dung cuộc họp gửi đến cho tất cả cổ đông Để cổ đông biết được cuộc họp thảo luận về vấn đề gì, từ đó có kế hoạch cho từng vấn đề Đồng thời, giúp cho cuộc họp diễn ra nhanh chóng và đạt hiệu quả cao

Theo Điều 99 Luật doanh nghiệp: người triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông phải lập danh sách cổ đông có quyền dự họp và biểu quyết; chuẩn bị chương trình, nội dung, tài liệu cuộc họp và dự thảo nghị quyết đối với từng vấn đề trong chương trình họp; xác định thời gian địa điểm và gửi thông báo mời họp đến cổ đông có quyền dự họp

Sau khi cuộc họp đã được chuyển đi cho các cổ đông thì chỉ có Đại hội cổ đông mới

có quyền thay đổi Tuy nhiên các cổ đông và nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 79 mới có quyền kiến nghị những vấn đề mới bổ sung vào chương trình họp Kiến nghị phải bằng văn bản và được gửi đến công ty chậm nhất là ba ngày làm việc trước ngày khai mạc,

34

Phạm Duy Nghĩa: giáo trình luật kinh tế, tập 1, Nxb đại học quốc gia Hà Nội, 2006, tr 109

Trang 30

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 22 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

quyền từ chối kiến nghị khi: kiến nghị không được gửi đến đúng thời hạn hoặc không đủ không đúng nội dung; vấn đề kiến nghị không thuộc thẩm quyền quyết định của Đại hội

2.1.3.4 Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông:

Theo quy định tại khoản 2 Điều 102 Luật doanh nghiệp điều kiện để cuộc họp Đại hội

đồng cổ đông được tiến hành khi:

Có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 65% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ

cụ thể do điều lệ công ty quy định Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định trên thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba mươi ngày;

Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết; tỷ lệ cụ thể do điều

lệ công ty quy định;

Trường hợp, cuộc họp được triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định thì được triệu tập lần thứ ba trong thời hạn hai mười ngày kể từ ngày dự định họp lần thứ hai Trong trường hợp này cuộc họp được Đại hội đồng cổ đông tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp và tỷ lệ số cổ phần có quyền biểu quyết của cổ đông dự họp

 Con số 65% nói lên rằng nhà làm luật muốn phiên họp phải có nhiều cổ đông để

họ thể hiện ý chí của mình điều đó tăng cường tính dân chủ trong công ty Tuy nhiên, con số này dần giảm đi đến cuộc họp lần thứ 2 chỉ cần ít nhất là 51%, lần thứ ba thì chỉ cần một người cũng họp Điều đó cho thấy tư duy cũng vẫn còn đó Mặt khác, nếu họ phản đối nghị quyết của người quản lý thì họ không tham dự, nếu họ đến dự thì chỉ là tán thành mù quán

Trang 31

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 23 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Nguyên đơn: Nguyễn Văn Khảm

Bị đơn: Trần Hải Âu

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 49 cổ đông Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn

Tóm tắt án:

Ngày 15/05/2006, Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn đã tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường bãi miễn Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm

kỳ I đồng thời bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II (2006- 2011) với tổng số

cổ đông có mặt là 48 đại biểu đại diện cho 157 938 cổ phần, chiếm tỷ lệ 99,81%

Sau đó ngày 16/05/2006, Hội đồng quản trị nhiệm kỳ mới đã nhất trí bầu ông Nguyễn Văn Khảm làm chủ tịch Hội đồng quản trị và là người đại diện theo pháp luật của công ty

Tuy nhiên, Hội đồng quản trị cũ đã bị bãi miễn không chịu bàn giao tài liệu, sổ sách

và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị mới

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Trần Hải Âu và Ban lãnh đạo

đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay công việc, tài liệu, sổ sách, cơ sở vật chất và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị mới để công ty nhanh chóng ổn định và đi vào sản xuất kinh doanh

Bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đồng thời khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy bỏ tất cả các quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/05/2006 vì đại hội đã được tiến hành không đúng trình tự, thủ tục đã ghi trong chương trình và quy chế tổ chức đại hội, vi phạm Điều lệ công ty và Luật doanh nghiệp

Một số cổ đông trong Công ty cổ phần vận tải sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn đồng ý với nguyên đơn, khi đó có một số người đồng ý với bị đơn

Nhận xét:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại (tranh chấp giữa các thành viên trong công ty với nhau liên quan đến hoạt động của công ty) bị đơn cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh Vì vậy, căn cứ vào

37

Nguyễn Đình Cung – Nguyễn Ngọc Bích: Công ty vốn, quản lý và tranh chấp theo Luật doanh nghiệp năm 2005, Nxb

Tri Thức, 2008, tr 581 – 592

Trang 32

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 24 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 1999, Điều 107 Luật doanh nghiệp năm 2005 và khoản 3 Điều 9, khoản 1 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2005, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục tố tụng dân sự

Ngày 15/05/2006, Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn tổ chức Đại hội đồng cổ đông bất thường thông qua quyết định bãi miễn Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát nhiệm kỳ I và bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II Ngày 18/05/2006, Tòa án nhân dân nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm và ngày 24/05/2006 nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hải Âu

Căn cứ vào Điều 79 Luật doanh nghiệp năm 1999 và khoản 1, điểm a khoản 3 Điều

159 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn và bị đơn đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ

án trong thời hạn quy định Do đó, cần được chấp nhận thụ lý để giải quyết

Trong vụ án cả ông Nguyễn Văn Khảm và ông Trần Hải Âu đều nhân danh Công ty

cổ phần Đay Sài Gòn (với tư cách là người đại diện theo pháp luật) đưa ra yêu cầu giải quyết đối với bên kia

Tòa án nhân dân quận 1 đã nhận đơn khởi kiện của ông Nguyễn Văn Khảm vào ngày 18/05/2006 và đã thụ lý vụ án trong ngày 18/05/2006 với tư cách là các bên do người ký đơn khởi kiện (nguyên đơn Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn do ông Khảm đại diện và bị đơn là ông Trần Hải Âu), đồng thời xác định quan hệ có tranh chấp là

“quyền sở hữu tài sản”

Toà án nhân dân đã nhận đơn khởi kiện của ông Trần Hải Âu vào ngày 24/05/2006 và

đã thụ lý vụ án vào ngày 08/06/2006 cũng với tư cách của các bên do người ký đơn khởi kiện (nguyên đơn là Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn do ông Âu đại diện và bị đơn là ông Nguyễn Văn Khảm nhưng xác định quan hệ tranh chấp là quan hệ giữa các thành viên công ty với nhau liên quan đến hoạt động của công ty) theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự

Sau khi thụ lý vụ án do ông Nguyễn Văn Khảm ký đơn khởi kiện được Tòa án nhân dân quận 1 chuyển lên giải quyết theo thẩm quyền Xét thấy cần nhập 2 vụ án nói trên thành

1 vụ án do có cùng quan hệ pháp luật có tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh có quyết định số 298/2006/QĐ-NVA ngày 20/06/2006 nhập 2 vụ án nói trên để giải

Trang 33

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 25 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

quyết

Đồng thời, xét thấy các bên (ông Trần Hải Âu và ông Nguyễn Văn Khảm) đang tranh chấp về quyền quản lý và nhân dân công ty Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã xác định lại cho chính xác tư cách của người ký đơn khởi kiện là tư cách cá nhân và xác định nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Khảm, bị đơn là ông Trần Hải Âu, không chấp nhận tư cách đại diện theo pháp luật cho công ty như 2 bên đã tự xác định trong đơn khởi kiện

Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn đòi ông Trần Hải Âu và các thành viên Hội đồng quản trị I đã bị miễn nhiệm phải bàn giao ngay trách nhiệm, tài sản, tài liệu, sổ sách của công ty cho Hội đồng quản trị nhiệm kỳ II mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/05/2006

Căn cứ vào các chứng cứ do các bên đương sự cung cấp đã được thẩm tra tại phiên tòa, bao gồm:

Hoàng Thêm làm chủ tọa và các thư ký Nguyễn Thị Ngọc Giàu, Đặng Thị Mỹ Hạnh lập;

biểu quyết của công ty) sau khi xảy ra sự cố một số cổ đông rời khỏi đại hội (vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 15/05/2006); sự xác nhận tại phiên tòa của ông Bùi Hoàng Thêm - chủ tọa đại hội, các thành viên trong Ban bầu cử (gồm các ông Đặng Trần Cường, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Văn Tiến, Hồ Thanh Võ) và của bị đơn là ông Trần Khải Âu đã có căn cứ xác định:

hoặc đại diện cổ đông sở hữu 157 938 cổ phần, đạt tỷ lệ 99,81% số cổ phần có quyền biểu quyết là 158 238 cổ phần (160 000 cổ phần – 1 762 cổ phần công ty đã mua lại) (vì công ty chỉ có một loại cổ phần phổ thông)

 Đại hội đã được tiến hành đến giai đoạn kiểm phiếu bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II tức là đã thực hiện xong việc biểu quyết, thông qua quyết định bãi nhiệm Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ I, đã thực hiện xong việc bỏ phiếu bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II và đang tiến hành kiểm phiếu đối với số

Trang 34

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 26 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

phiếu bầu này Tuy nhiên ông Trần Hải Âu và các cổ đông rời khỏi đại hội trước khi công bố kết quả kiểm phiếu không xác nhận kết quả này nhưng 26 số cổ đông sở hữu 51,30% số cổ phần có phiếu biểu quyết tiếp tục tiến hành đại hội có xác nhận bằng văn bản và xác nhận tại phiên tòa rằng họ đã bỏ phiếu bầu cho các cổ đông có tên nói trên, nếu cộng tất cả số cổ phần mà họ sở hữu thì đúng với kết quả ghi trong biên bản

Căn cứ vào các Điều 6, 26, 35 Điều lệ công ty và các Điều 70, 88 Luật doanh nghiệp năm 1999 Các Điều 96, 108, 109, 121 Luật doanh nghiệp năm 2005, yêu cầu của nguyên đơn đòi ông Trần Hải Âu và Hội đồng quản trị nhiệm kỳ I phải bàn giao ngay trách nhiệm, tài sản, tài liệu, sổ sách và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị mới được bầu tại Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/05/2006 là có căn cứ và hợp pháp cần được chấp nhận

Phán quyết của Tòa:

Chấp nhận yêu cầu nguyên đơn, buộc ông Trần Hải Âu và Hội đồng quản trị nhiệm

kỳ I của Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn phải bàn giao nhiệm vụ, tài sản, tài liệu, sổ sách và con dấu của công ty cho Hội đồng quản trị nhiệm kỳ II

Bác yêu cầu của bị đơn đòi hủy bỏ tất cả các quyết định của Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/05/2006 của Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn

Tuy nhiên các nguyên đơn đã có đơn yêu cầu kháng cáo Bản án số 33/2007/KDTM–

PT của TAND TPHCM xét xử giữa nguyên đơn ông Nguyễn Văn Khảm và bị đơn ông Trần

Giao toàn bộ hồ sơ vụ kiện về TAND TPHCM giải quyết lại vụ án

Nhận xét của người viết:

Về điều kiện dự họp Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 15/05/2006 của công ty

cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn:

 Thứ nhất: Theo Luật doanh nghiệp năm 1999 thì điều kiện tiến hành cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% số cổ phần

có quyền biểu quyết Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định Trường hợp cuộc họp lần thứ nhất không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 1 Điều này, thì được triệu tập họp lần thứ hai trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày cuộc họp lần thứ nhất dự định khai mạc Cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông triệu tập lần thứ hai được tiến hành khi có số cổ đông

38

Phạm Thục: Tranh chấp ở công ty Đay Sài Gòn – khẩn trương bình ổn hoạt động kinh doanh đảm bảo đời sống cho người lao động, Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh, 2007, http://www.tand.hochiminhcity.gov.vn/DetailNews.asp?ID=744, [ngày truy cập 02/03/2012]

Trang 35

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 27 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

dự họp đại diện ít nhất 30% số cổ phần có quyền biểu quyết Tỷ lệ cụ thể do Điều lệ công ty quy định Trường hợp cuộc họp triệu tập lần thứ hai không đủ điều kiện tiến hành theo quy định tại khoản 2 Điều này, thì được triệu tập họp lần thứ ba trong thời hạn hai mươi ngày, kể

từ ngày cuộc họp lần thứ hai dự định khai mạc Trong trường hợp này, cuộc họp của Đại hội đồng cổ đông được tiến hành không phụ thuộc vào số cổ đông dự họp

Như vậy, cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngày 15/05/2006 của Công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn là hợp lệ với 99,81% số cổ phần có quyền biểu quyết tham gia trong khi luật quy định chỉ cần có 51% là đủ điều kiện để cuộc họp Đại hội đồng cổ

đông được tiến hành Tuy nhiên, khi đại hội được tiến hành đến giai đoạn kiểm phiếu bầu

Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II tức là đã thực hiện xong việc biểu quyết, thông qua quyết định bãi nhiệm Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ I, đã thực hiện xong việc bỏ phiếu bầu Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát nhiệm kỳ II và đang tiến hành kiểm phiếu đối với số phiếu bầu này Nhưng ông Trần Hải Âu đã tự ý rời khỏi cuộc họp Số

cổ đông còn lại chiếm 51,30% thỏa điều kiện tham dự cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Điều

đó có nghĩa là nếu tỷ lệ 51% theo luật định dù là “đầu, cuối hay toàn bộ” phiên họp thì cuộc họp Đại hội đồng cổ đông ngày 15/06/2006 của công ty cổ phần thương mại dịch vụ Đay Sài Gòn vẫn có giá trị

 Thứ hai: nếu áp dụng các điều kiện trên cho Luật doanh nghiệp năm 2005 thì cuộc họp Đại hội bất thường của công ty cổ phần sản xuất dịch vụ thương mại Đay Sài Gòn vào ngày 15/06/2006 có giá trị vào thời điểm tiến hành đại hội với số cổ phần có quyền biểu quyết 99,81% (vì luật quy định chỉ cần 65% là đủ điều kiện dự họp) tham dự cuộc họp và vẫn có giá trị cho đến khi ông Trần Hải Âu tự ý bỏ về với số cổ phần đạt 51,30% và nó vẫn

có giá trị cho toàn bộ cuộc họp nếu như túc số 65% áp dụng cho đầu phiên họp

Nếu túc số 65% áp dụng cho toàn bộ và cuối phiên họp thì cuộc họp Đại hội đồng cổ đông vào ngày 15/06/2006 chỉ có giá trị ở giai đoạn đầu phiên họp với tỷ lệ thông qua điều kiện cuộc họp được tiến hành là 99,81% Khi ông Trần Khải Âu tự ý bỏ về thì túc số 51,30%

sẽ không có giá trị cuộc họp kết thúc Đại hội cổ đông không thành công

Như vậy: quy định chưa rõ ràng về các túc số khác nhau đó sẽ dẫn đến hai kết quả khác nhau, hai hậu quả pháp lý khác nhau cùng áp dụng cho một đối tượng Người viết kiến nghị Luật doanh nghiệp nên làm rõ các túc số 65%, 51% có cần phải duy trì cho cả cuộc họp hay không?

Trang 36

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 28 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

2.1.3.5 Thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông:

Luật doanh nghiệp năm 1999, không quy định cụ thể về “thể thức tiến hành họp Đại

Quy định như thế tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý điều hành công ty, Nhà nước sẽ không can thiệp sâu vào công việc nội bộ công ty Tuy nhiên, quy định này đã gây ra nhiều bất cập liên quan đến thể thức họp và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông Luật doanh nghiệp năm

2005, góp phần giải quyết những khó khăn trên

Trong trường hợp Điều lệ công ty không quy định thì thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành như sau:

Trước ngày khai mạc cuộc họp phải tiến hành đăng ký việc dự họp Đại hội đồng

cổ đông cho đến khi bảo đảm việc đăng ký đầy đủ các cổ đông có quyền dự họp Người đăng ký dự họp sẽ được cấp thẻ biểu quyết tương ứng với số vấn đề cần biểu quyết trong

Chủ tịch Hội đồng quản trị làm chủ tọa các cuộc họp do Hội đồng quản trị triệu tập; trường hợp Chủ tịch vắng mặt hoặc tạm thời mất khả năng làm việc thì các thành viên còn lại bầu một người trong số họ làm chủ tọa cuộc họp; trường hợp không có người có thể làm chủ tọa thì thành viên Hội đồng quản trị có chức vụ cao nhất điều khiển để Đại hội đồng

cổ đông bầu chủ tọa cuộc họp trong số những người dự họp và người có số phiếu bầu cao

Trong các trường hợp khác người ký tên triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông điều khiển để Đại hội đồng cổ đông bầu chủ tọa cuộc họp và người có số phiếu bầu cao nhất làm chủ tọa cuộc họp; Chủ tọa cử một người làm thư ký lập biên bản họp Đại hội đồng cổ đông;42

Đại hội đồng cổ đông bầu ban kiểm phiếu không quá ba người theo đề nghị của

Khoản 1 Điều 103 Luật doanh nghiệp năm 2005

41Điểm a khoản 2 Điều 103 Luật doanh nghiệp năm 2005

42Điểm b khoản 2 Điều 103 Luật doanh nghiệp năm 2005

43Điểm c khoản 2 Điều 103 Luật doanh nghiệp năm 2005

Trang 37

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 29 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

52/2007/KDTM-ST ngày 10/05/2007 và ngày 15/05/2007 của Tòa án nhân dân Hà Nội về tranh chấp giữa các thành viên công ty với thành viên công

ty về yêu cầu hủy quyết định của Đại hội đồng cổ đông do quy phạm về thể thức tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông

Nguyên đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn công nghệ và thiết bị hàn, Bà Bùi Thị Thanh Hà, Ông Lê Huy Cầm

Bị đơn: Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân

Tóm tắt:

Theo đơn khởi kiện ngày 30/11/2006 của nguyên đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn công nghệ và thiết bị hàn, bà Bùi Thanh Hà, ông Lê Huy Cầm là các cổ đông của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân trình bày:

Cuối tháng 12/2004 đầu tháng 01/2005 trong đợt phát hành cổ phiếu của Công ty

cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân Công ty trách nhiệm hữu hạn và công nghệ hàn đã mua 10 000 cổ phiếu (tương ứng với 01 tỷ đồng) tăng cổ phiếu lên 1 560 000 000 đồng, ông

Lê Huy Cẩm mua 4 000 cổ phiếu (tương ứng 400 000 000 đồng) tăng cổ phần lên 1 011 099

120 đồng, bà Bùi Thanh Hà mua của công ty 4 000 cổ phiếu (tương ứng với 400 000 000 đồng) tăng cổ phần lên 405 375 048 đồng Kết quả việc bán cổ phiếu và tư cách của các nguyên đơn trong việc đại diện cho số cổ phần tương ứng với số cổ phiếu đã mua được Đại hội đồng cổ đông của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân công nhận trong nghị quyết số 11/HĐQT ngày 07/04/2005 Như vậy số cổ phần của các nguyên đã được công ty công nhận về mặt pháp lý (thể hiện trên sổ sách của công ty) để chia cổ tức của mỗi người Trong thời gian từ đó đến nay, các nguyên đơn tham gia vào việc biểu quyết, bổ sung thêm vào Hội đồng quản trị công ty với tư cách là người đại diện cho toàn bộ số vốn của mỗi người (bao gồm vốn góp trước đó và vốn mua cổ phiếu nêu trên)

Ngày 09/11/2006, Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân đã tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường và ra nghị quyết số 186/HĐQT có nội dung hủy bỏ kết quả bán 25 000 cổ phần năm 2004 - 2005 (trong đó có số cổ phiếu mà các nguyên đơn đã mua)

44

Khoản 3 Điều 103 Luật doanh nghiệp năm 2005

45Website Sưu tầm án lệ Việt Nam: Tranh chấp giữa thành viên công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân,

ViBonline, 2008, hanh-khach-Thanh-Xuan-Ha-Noi.aspx, [Ngày truy cập 25/03/2012 ]

Trang 38

http://www.vibonline.com.vn/Banan/188/Tranh-chap-giua-cac-thanh-vien-Cong-ty-co-phan-van-tai-GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 30 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Theo các nguyên đơn trình bày, việc tiến hành Đại hội đồng cổ đông bất thường ngày 09/11/2006 không tuân thủ Điều lệ công ty và Luật doanh nghiệp năm 2005, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn Chính vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết các vấn

Tại phiên tòa hôm nay, các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện nêu trên và cho rằng Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân tiến hành ngày 09/11/2006 không đúng thể thức họp và biểu quyết theo quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 và Điều lệ công ty Cụ thể:

Đại hội không thông qua việc bầu Ban kiểm phiếu mà Ban kiểm phiếu do Chủ tọa đại hội chỉ định

Số vốn của các nguyên đơn ghi trong phiếu biểu quyết không đúng với số vốn được ghi trong danh sách cổ đông, như Công ty trách nhiệm hữu hạn công nghệ và thiết bị hàn có số vốn trong công ty là 1 560 000 000 đồng, nhưng phiếu biểu quyết thì chỉ ghi có

560 000 000 đồng Bà Bùi Thị Thanh Hà có số vốn trong công ty là 405 375 048 đồng, nhưng phiếu biểu quyết chỉ ghi 5 375 048 đồng

Vào thời điểm này vốn điều lệ của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân là 8 000 000 000 đồng được thể hiện trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, nhưng Ban kiểm phiếu lại tính tỷ lệ biểu quyết trên số vốn cũ trước khi phát hành cổ phiếu là

5 500 000 000 đồng Thẩm quyền phán quyết về việc hủy bỏ kết quả bán 25 000 cổ phần năm 2004 - 2005 không thuộc thẩm quyền của Đại hội cổ đông

Trong quá trình tiến hành tố tụng cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn trình bày: Tại Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân ngày 21/04/2004 đã thông qua nghị quyết tăng vốn điều lệ từ 5,5 tỷ đồng lên 08 tỷ đồng nhưng không quyết định loại cổ phần và số lượng cổ phần mỗi loại được quyền chào bán

Trang 39

GVHD: Đoàn Nguyễn Phú Cường 31 SVTH: Lê Thị Hồng Nhung

Việc Hội đồng quản trị và Giám đốc công ty tự ý quyết định bán 25 000 cổ phần phổ thông là không tuân thủ đúng quy định tại điều lệ công ty cũng như Luật doanh nghiệp Chính vì vậy, việc tiến hành Đại hội đồng cổ đông ngày 09/11/2006 để hủy bỏ việc phát hành cổ phiếu là nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông Trình tự, thủ tục tiến hành đại hội này hoàn toàn phù hợp với Luật doanh nghiệp và Điều lệ công ty Danh sách Ban kiểm phiếu do chủ tọa đề nghị và tổ chức biểu quyết Kết quả số phiếu biểu quyết tán thành nghị quyết hủy kết quả bán 25 000 cổ phần đạt tỷ lệ 65% Do điều lệ hiện hành chưa sửa đổi nên nó vẫn có giá trị pháp lý cao nhất và mọi việc về tổ chức và hoạt động của công ty vẫn phải tuân theo điều lệ đó Theo đoạn 2 khoản 6 Điều 104 Luật doanh nghiệp thì

tỷ lệ thông qua chỉ cần 51% tổng số phiếu biểu quyết của tất cả cổ đông dự họp chấp nhận Chính vì vậy, nghị quyết số 186/HĐQT ngày 09/11/2006 của Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân là hoàn toàn hợp pháp

Nhận xét:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Công ty cổ phần vận tải hành khách Thanh Xuân được thành lập năm 1999 trên cơ

sở cổ phần hóa một bộ phận Công ty vận tải hành khách số 14 (doanh nghiệp Nhà nước) Vốn điều lệ của công ty là 5,5 tỷ đồng

Ngày 21/04/2004, Đại hội đồng cổ đông thường niên của công ty lần thứ 4 đã thông qua nghị quyết số 04/HĐQT tăng vốn điều lệ từ 5,5 tỷ đồng lên 08 tỷ đồng

Thực hiện nghị quyết nêu trên, cuối năm 2004 đầu năm 2005 Giám đốc công ty đã quyết định bán 25 000 cổ phần nhưng không thông báo đến tất cả các cổ đông Ngày 09/11/2006, chủ tịch Hội đồng quản trị công ty đã triệu tập Đại hội cổ đông bất thường để xem xét bán 25 000 cổ phần do Giám đốc tự ý quyết định Tại đại hội này, các cổ đông đã nhất trí ra nghị quyết số 186/HĐQT ngày 09/11/2006 hủy việc bán cổ phần trái quy định

Không đồng ý với nghị quyết 186/HĐQT ngày 09/11/2006, ngày 30/11/2006 các nguyên đơn đã có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án hủy bỏ quyết định số 186/HĐQT nêu trên Căn cứ điều 107 Luật doanh nghiệp năm 2005, đơn khởi kiện của các nguyên đơn nằm trong thời hiệu mà pháp luật quyết định, do vậy được Tòa chấp nhận xem xét

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về thể thức tiến hành họp và biểu quyết tại Đại hội đồng cổ đông ngày

Ngày đăng: 05/04/2018, 23:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w