Có thể thấy rằng giá trị thi hành của phán quyết trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của các chủ thể kinh doanh lựa chọn phương thức giải quyết bằng Trọng tài hay Toà án, chọn Trọng tà
Trang 1VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
Nguyễn Thị Hoa Cúc Tô Huyền Trang
Bộ môn Luật thương mại MSSV: 5095576
Lớp: LK0964A2 – K35
Cần Thơ, 11/2012
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Bố cục của luận văn 3
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI 1.1 Khái quát về Trọng tài thương mại 4
1.1.1 Lược sử phát triển của Trọng tài thương mại 4
1.1.1.1 Giai đoạn trước khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 có hiệu lực 4
1.1.1.2 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 có hiệu lực6 1.1.1.3 Giai đoạn từ khi Luật trọng tài thương mại 2010 có hiệu lực đến nay 7
1.1.2 Khái niệm Trọng tài thương mại 8
1.1.3 Đặc điểm của Trọng tài thương mại 9
1.1.4 Ưu điểm của Trọng tài thương mại so với Tòa án 10
1.1.5 Các hình thức tổ chức trọng tài 13
1.1.5.1 Trọng tài vụ việc ( ad- hoc) 13
1.1.5.2 Trọng tài quy chế 14
1.1.6 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại 16
1.1.6.1 Các bên phải có thỏa thuận trọng tài, thỏa thuận trọng tài phải có hiệu lực 16
1.1.6.2 Tranh chấp phát sinh phải thuộc thẩm quyền của Trọng tài 17
1.2 Sơ lược về phán quyết trọng tài thương mại 17
1.2.1 Khái niệm phán quyết trọng tài 17
1.2.2 Phân biệt quyết định và phán quyết của Trọng tài 18
1.2.3 Nguyên tắc ban hành phán quyết trọng tài 19
1.2.4 Phân loại phán quyết trọng tài 19
CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010 VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Hình thức, nội dung, hiệu lực và lưu trữ phán quyết trọng tài thương
Trang 3mại 22
2.1.1 Hình thức và nội dung của phán quyết trọng tài 22
2.1.2 Hiệu lực của phán quyết trọng tài 24
2.1.3 Lưu trữ phán quyết trọng tài 25
2.2 Sữa chữa và giải thích phán quyết trọng tài, phán quyết bổ sung 26
2.2.1 Sữa chữa phán quyết trọng tài 26
2.2.2 Giải thích phán quyết trọng tài 27
2.2.3 Phán quyết bổ sung 28
2.3 Đăng ký phán quyết trọng tài vụ việc 31
2.3.1 Thủ tục đăng ký phán quyết 31
2.3.2 Nội dung đăng ký phán quyết 35
2.4 Thi hành phán quyết trọng tài thương mại 35
2.4.1 Thỏa thuận thi hành phán quyết trọng tài 36
2.4.2 Quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 37
2.4.2.1 Căn cứ thực hiện quyền yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 37
2.4.2.2 Quyền yêu cầu áp dụng biện pháp bảo đảm khi yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 38
2.4.3 Thủ tục yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 39
2.4.4 Thời hiệu yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 40
2.4.5 Từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành phán quyết trọng tài 40
2.5 Hủy phán quyết trọng tài thương mại 41
2.5.1 Tòa án có thẩm quyền hủy phán quyết trọng tài 41
2.5.2 Thời hạn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 41
2.5.3 Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 43
2.5.4 Căn cứ hủy phán quyết trọng tài 43
2.5.5 Nghĩa vụ chứng minh phán quyết trọng tài cần bị hủy 53
2.5.6 Phạm vi xem xét hủy phán quyết trọng tài 53
2.5.7 Thủ tục Tòa án xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 54
2.5.7.1 Chuẩn bị mở phiên họp xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 54 2.5.7.2 Mở phiên họp xét đơn hủy phán quyết trọng tài 54
2.5.7.3 Hậu quả pháp lý khi Tòa án ra quyết định 54
2.5.7.4 Tạm đình chỉ xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 55
2.5.7.5 Sự vắng mặt của bên yêu cầu hủy phán quyết trọng tài 55
KẾT LUẬN 59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Kể từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Nhà nước ta đã thực hiện đường lối đổi mới công nhận nền kinh tế nhiều thành phần với sự tham gia của nhiều ngành kinh tế khác nhau làm cho các hoạt động thương mại càng trở nên đa
dạng và phức tạp Mặt khác, Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 tại Điều 57 có
quy định “công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật”, có
nghĩa là các chủ thể có quyền tự do kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận trong khuôn khổ pháp luật Chính vì vậy, tranh chấp thương mại là một phần tất yếu trong hoạt động thương mại và không thể tránh được
Với nền kinh tế thị trường hiện nay càng ngày càng có nhiều khó khăn đối với nền kinh tế nói chung và cộng đồng doanh nghiệp nói riêng Số vụ tranh chấp trong thương mại ngày càng tăng Không chỉ có sự tranh chấp thương mại trong nước mà sự tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài cũng xảy ra rất nhiều
Và một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại nhanh chóng và hiệu quả hiện nay là giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại Mặc dù vậy nhưng các doanh nghiệp Việt Nam vẫn ưa chuộng phương thức giải quyết tranh chấp bằng Tòa án hơn Một trong những nguyên nhân chủ yếu là họ cho rằng quyết định của Tòa án có giá trị pháp lý cao hơn phán quyết của Trọng tài và họ nghĩ rằng chỉ với bản án của Tòa án thì kết quả giải quyết tranh chấp của họ mới được đảm bảo thi hành trên thực tế
Bởi lẽ, rõ ràng không có gì làm thất vọng các bên kinh doanh bằng việc bỏ ra những tốn kém khổng lồ về công sức và tiền của để rồi chỉ có được một tờ giấy ghi phán quyết mà số phận của nó mong manh dễ dàng bị hủy bởi Tòa án Các bên kinh doanh sẽ không bao giờ lựa chọn Trọng tài một khi họ không tin tưởng vào hiệu lực thi hành của phán quyết trọng tài Có thể thấy rằng giá trị thi hành của phán quyết trọng tài sẽ ảnh hưởng đến quyết định của các chủ thể kinh doanh lựa chọn phương thức giải quyết bằng Trọng tài hay Toà án, chọn Trọng tài ở đâu thì kết quả giải quyết tranh chấp sẽ đạt hiệu quả…
Và quả thật, mặc dù đã kế thừa và rút kinh nghiệm từ thực tiễn giải quyết tranh chấp của việc áp dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 nhưng Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời và có hiệu lực ngày 01/01/2011 ngoài những tiến bộ đã đạt được thì vẫn còn không ít những quy định chưa phù hợp và thiếu sót cần được sửa đổi và bổ sung Một trong số những vấn đề cần được nghiên cứu để hoàn thiện
là những quy định liên quan đến phán quyết của Trọng tài thương mại, điều mà ít người quan tâm đến Qua khảo sát của người viết thì chủ yếu các nghiên cứu tập
Trang 5trung vào vấn đề giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thường trực, quy chế pháp lý Trọng tài viên, thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Trọng tài…
Từ những lý lẽ trên cho thấy cần thiết phải quan tâm đúng mức và hoàn thiện những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài thương mại Chính vì vậy mà
người viết chọn đề tài “Đánh giá những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài theo Luật trọng tài thương mại 2010 và hướng hoàn thiện” để làm đề
tài luận văn tốt nghiệp cho mình
2 Mục đích nghiên cứu
Trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại có nhiều ưu điểm vượt trội tuy nhiên các nhà kinh doanh vẫn không mấy “mặn mà” với phương thức này Một trong những lý do quan trọng là quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài còn tồn tại nhiều vấn đề ảnh hưởng đến giá trị thi hành của phán quyết Người viết nghiên cứu
đề tài này với mong muốn đánh giá một cách khách quan, toàn diện những tiến bộ
đã đạt được đồng thời cũng làm sáng tỏ những hạn chế, bất cập trong những quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 về phán quyết trọng tài thương mại Từ đó người viết đề ra những giải pháp để hoàn thiện những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài thương mại Với sự cố gắng của người viết, mong rằng sẽ giúp người đọc hiểu một cách rõ ràng nhất có thể những vấn đề xoay quanh phán quyết trọng tài và hi vọng trong tương lai gần những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài sẽ được hoàn thiện góp phần làm Trọng tài thương mại Việt Nam tạo được niềm tin vững chắc cho không chỉ chủ thể kinh doanh trong nước mà đối với cả chủ thể kinh doanh ngoài nước
3 Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian cũng như khả năng của người viết có hạn nên đề tài chủ yếu phân tích đánh giá những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài theo Luật trọng tài thương mại 2010 Bằng cách so sánh những quy định về phán quyết trọng tài của Luật trọng tài thương mại 2010 với một số quy định của Luật mẫu trọng tài UNICITRAL và Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Từ đó làm nổi bật lên những vấn đề mà Luật trọng tài thương mại 2010 đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại cần được sửa đổi bổ sung để Luật đi vào thực tế, phát huy được hiệu quả điều chỉnh đồng thời để tương thích với pháp luật trọng tài thế giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài nghiên cứu người viết đã sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở; phương pháp trình bày, phân tích, tổng hợp vấn đề đồng thời so sánh các quy định của pháp luật với nhau và phương pháp phân tích luật viết để giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài
Trang 65 Bố cục của luận văn
Luận văn được trình bày gồm những phần:
Mục lục
Lời nói đầu
Chương 1 Khái quát chung về Trọng tài thương mại và phán quyết của Trọng tài
Chương 2 Đánh giá những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài theo Luật trọng tài thương mại 2010 và hướng hoàn thiện
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
Trang 7CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI VÀ
PHÁN QUYẾT CỦA TRỌNG TÀI
1.1 Khái quát về Trọng tài thương mại
1.1.1 Lược sử phát triển Trọng tài thương mại
Giải quyết tranh chấp thương mại là một đòi hỏi tất yếu bắt nguồn từ sự phát triển của các quan hệ kinh tế và gắn liền với nhiệm vụ quản lý nhà nước đặt ra trong từng giai đoạn Việc xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta luôn là mục tiêu, định hướng phấn đấu của Đảng và Nhà nước ta Tuy nhiên tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, chủ trương của từng thời kì mà pháp luật nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng đã có những bước phát triển để đáp ứng với tình hình thực tế phục vụ cho mục tiêu này
1.1.1.1 Giai đoạn trước khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 có hiệu lực 1
Trước khi có Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, ở Việt Nam tồn tại hai loại hình Trọng tài, đó là Trọng tài kinh tế nhà nước và Trọng tài phi chính phủ
Thứ nhất, đối với Trọng tài kinh tế nhà nước:
Trọng tài kinh tế nhà nước là mô hình Trọng tài do nhà nước lập ra, có chức năng giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng kinh tế của các doanh nghiệp nhà nước Thực chất, Trọng tài kinh tế nhà nước là cơ quan của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước Mô hình này được thiết lập lần đầu tiên bằng Nghị định số 20/TTg ngày 14 tháng 4 năm 1960 của Thủ tướng chính phủ
về tổ chức và hoạt động của Trọng tài kinh tế Nhà nước Qua quá trình phát triển đến năm 1990 Nghị định này được nâng lên bằng Pháp lệnh trọng tài kinh tế2
Theo
đó, Trọng tài được tổ chức ở ba cấp, bao gồm Trọng tài kinh tế nhà nước, Trọng tài kinh tế tỉnh và Trọng tài kinh tế huyện Đến năm 1993, mô hình này đã không còn phù hợp với điều kiện cơ chế kinh tế mới Sự phát triển đa dạng của các loại hình kinh tế cùng với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có hình thức sở hữu khác nhau dẫn đến sự thay đổi về hình thức, tính chất và nội dung tranh chấp Điều này đòi hỏi phương pháp giải quyết tranh chấp cũng phải được đổi mới Chính vì vậy,
hệ thống Tòa án kinh tế với tư cách là một tòa chuyên trách trong hệ thống Tòa án
Trang 8nhân dân theo Luật sửa đổi một số điều của Luật tổ chức Tòa án năm 19933 được hình thành Bắt đầu từ thời điểm này, các Tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp kinh tế, chấm dứt vai trò của Trọng tài kinh tế nhà nước tồn tại hơn 30 năm
Thứ hai, đối với Trọng tài phi chính phủ:
Trọng tài kinh tế phi chính phủ là một tổ chức độc lập, không phụ thuộc vào
hệ thống cơ quan nhà nước Nó có thể được thành lập dưới dạng Công ty hoặc các Hiệp hội trọng tài Mô hình này phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường Chẳng hạn: Hiệp hội trọng tài Mỹ, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản, Tòa án trọng tài quốc tế Luân Đôn…
Trong giai đoạn này để đáp ứng nhu cầu về giải quyết tranh chấp đối với hợp đồng chuyên biệt, những tranh chấp đặc thù, ở Việt Nam tồn tại hai mô hình Trọng tài khác nhau, đó là Hội đồng trọng tài kinh tế và Trung tâm trọng tài kinh tế
Hội đồng trọng tài kinh tế:
Hội đồng trọng tài ngoại thương ra đời bằng Nghị định 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng chính phủ về việc thành lập Hội đồng trọng tài ngoại thương Sau đó với Nghị định 153/CP ngày 5/10/1964 về việc thành lập Hội đồng trọng tài hàng hải, Hội đồng trọng tài hàng hải đã được thành lập Hai tổ chức này
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong mua bán và hàng hải khi có
ít nhất một bên là chủ thể nước ngoài Phán quyết của cả hai Hội đồng đều chung thẩm và không thể kháng cáo ở bất kì tổ chức nào Thực tế thì Hội đồng trọng tài ở thời kì này rất ít việc để giải quyết Để đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường, ngày 28/4/1993, Thủ tướng chính phủ ra quyết định số 204/TTg về việc thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương
và Hội đồng trọng tài hàng hải Cụ thể tại Điều 1 Quyết định 204/TTg quy định:
“Cho phép thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương
và Hội đồng trọng tài hàng hải”
Trung tâm trọng tài kinh tế:
Sau khi Nghị định 116/CP có hiệu lực thì hàng loạt các Trung tâm trọng tài kinh tế được thành lập: 02 Trung tâm trọng tài kinh tế tại Hà Nội, 01 Trung tâm trọng tài kinh tế tại thành phố Hồ Chí Minh, 01 Trung tâm trọng tài kinh tế ở thành phố Cần Thơ và 01 Trung tâm trọng tài kinh tế tại tỉnh Bắc Giang
3 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 06/10/1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo các luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Tòa án nhân dân 28/ 12/1993 và 28/10 /1995 Hiện nay luật này đã được thay thế bằng Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 được Quốc hội thông qua ngày 02/4/2002 và có hiệu lực từ ngày 01/10/2002
Trang 9Có thể dễ dàng thấy rằng tuy các Trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định 116/CP mang bản chất là tổ chức trọng tài phi chính phủ, nhưng lại chịu
sự điều chỉnh của nhiều văn bản khác nhau Cụ thể, VIAC hoạt động theo Quyết định 204/TTg, còn 05 Trung tâm trọng tài còn lại được thành lập và hoạt động theo quy định của Nghị định 116/CP, không liên quan gì đến Quyết định 204/TTg của Thủ tướng chính phủ Hơn nữa, các văn bản pháp luật ở giai đoạn này giá trị pháp
lý còn thấp, chỉ mới dừng lại ở Nghị định Nội dung văn bản còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế bảo đảm cần thiết để vận hành có hiệu quả Các văn bản về pháp luật trọng tài cũng chưa đề cập đến những vấn đề cơ bản như : thỏa thuận trọng tài, sự hỗ trợ cần thiết của Cơ quan tư pháp… Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này nhưng chủ yếu là do nước ta đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường nên có nhiều vấn đề mới chưa hề có trong thực tiễn Việt Nam Những điều này làm hệ thống pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực thương mại đi chậm hơn so với các quan hệ phát sinh trong thực tiễn
1.1.1.2 Giai đoạn từ khi Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 có hiệu lực 4
Trong quá trình tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp trong kinh doanh, Pháp lệnh trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/3/2003 và có hiệu lực ngày 1/7/2003 đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình lập pháp của Việt Nam nói chung và pháp luật trọng tài nói riêng
Sự ra đời của Pháp lệnh phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế như hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc trở thành Trọng tài viên, ghi nhận Trọng tài vụ việc, mở rộng thẩm quyền chọn Trọng tài viên, ghi nhận mối quan hệ giữa Trọng tài và Tòa án bằng một loạt các quy định cụ thể như hỗ trợ thi hành thỏa thuận trọng tài, chỉ định Trọng tài viên, giải quyết khiếu nại về thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, giải quyết yêu cầu hủy quyết định trọng tài, lưu trữ hồ sơ trọng tài…Về cơ bản Pháp lệnh đã khắc phục được những khiếm khuyết, hạn chế trong các quy định của pháp luật trọng tài thương mại trước đây mà theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu chính những khiếm khuyết, hạn chế đó là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút đáng kể sự hấp dẫn của các chế định Trọng tài trong thực tiễn giải quyết tranh chấp phát sinh trong quá trình kinh doanh Với sự ra đời của Pháp lệnh đã góp phần làm cho các doanh nghiệp hứng thú hơn, tin tưởng lựa chọn và sử dụng Trọng tài nhiều hơn
4
Nguyễn Thái Phúc, Một số ý kiến về Pháp lệnh Trọng tài thương mại, tạp chí nghiên cứu lập pháp, số 2/
2003, tr 35
Trang 101.1.1.3 Giai đoạn từ khi Luật Trọng tài thương mại 2010 có hiệu lực cho đến nay
Gần 10 năm thực hiện, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 đã bộc lộ không
ít hạn chế, bất cập và cần được khắc phục kịp thời Những vấn đề cần được xem xét
để hoàn thiện như: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài, cơ chế hỗ trợ của Tòa
án, Cơ quan thi hành án đối với quyết định trọng tài…
Để hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, Luật Trọng tài thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,
kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011 Luật trọng tài thương mại 2010 đã giúp cho pháp luật về Trọng tài của Việt Nam tiến gần đến các chuẩn mực quốc tế, bước sang một giai đoạn phát triển mới
Luật trọng tài thương mại 2010 đã có những thay đổi tiến bộ so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Một số điểm mới nổi bật như sau:5
Thứ nhất, Luật trọng tài thương mại đã dỡ bỏ hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp thương mại của Trọng tài thông qua việc mở rộng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài tới nhiều loại tranh chấp
liên quan đến quyền và lợi ích của các bên 6
Thứ hai, thỏa thuận trọng tài an toàn hơn bởi tính vô hiệu của nó đã được hạn chế, ví dụ khi thỏa thuận không rõ ràng mà các bên không thỏa thuận lại hoặc thỏa thuận không được thì nguyên đơn có thể lựa chọn hình thức và tổ chức trọng tài thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Thứ ba, quyền của Hội đồng trọng tài được mở rộng chẳng hạn như quyền được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, được thu thập chứng cứ, được triệu tập nhân chứng…
Thứ tư, Luật trọng tài thương mại không yêu cầu Trọng tài viên phải có quốc tịch Việt Nam Điều đó có nghĩa là người nước ngoài cũng có thể được chỉ định làm Trọng tài viên ở Việt Nam nếu các bên tranh chấp hoặc tổ chức trọng tài tín nhiệm
họ Quy định này đáp ứng nhu cầu thực tế trong giai đoạn Việt Nam tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế
5Hà Phương, Những điểm mới cơ bản của Luật trọng tài thương mại,
http://moj.gov.vn/ct/tintuc/lists/nghin%20cu%20trao%20i/view_detail.aspx?ItemID=2775 , [ngày đăng 04/8/2010], [ngày truy cập 18/8/2012]
6
Xem Điều 2 Luật Trọng tài thương mại 2010, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/2011
Trang 11Ngoài ra, điều quan trọng phải kể đến là căn cứ để hủy phán quyết trọng tài
rõ ràng hơn, minh bạch hơn Trước đây không ít bên thua kiện đã lợi dụng một số nhược điểm của căn cứ hủy phán quyết trọng tài theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 để yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài Tăng tính minh bạch của căn
cứ hủy phán quyết trọng tài đồng nghĩa với việc tăng sự tin tưởng vào hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại
Tóm lại, theo pháp luật Việt Nam, việc giải quyết tranh chấp thương mại có thể bằng nhiều hình thức như: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án Mỗi phương thức có những ưu điểm riêng, các bên có thể cân nhắc để lựa chọn một cách thức giải quyết phù hợp nhất, hiệu quả nhất Nếu như phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng và xem
đó là sự ưu tiên hàng đầu thì ở Việt Nam, Trọng tài thương mại vẫn chưa thực sự chiếm được lòng tin của các doanh nghiệp Nhìn lại quá trình phát triển cho thấy pháp luật về Trọng tài thương mại đang cố gắng từng bước hoàn thiện, tiến gần đến các chuẩn mực quốc tế, góp phần gánh bớt gánh nặng cho Tòa án Với những bước tiến dài, phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài ngày càng được coi là sự lựa chọn tối ưu của các doanh nghiệp
1.1.2 Khái niệm Trọng tài thương mại
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên thỏa thuận đưa những tranh chấp ra một Trọng tài viên hoặc Ủy ban trọng tài để giải quyết và Trọng tài sau khi xem xét vụ việc sẽ đưa ra một phán quyết ràng buộc các bên tranh chấp Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp của Trọng tài viên, với tư cách là một bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt các xung đột bằng cách đưa ra một phán quyết buộc các bên tham gia tranh chấp phải thực hiện.7
Theo Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 được Ủy ban thường vụ Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XI thông qua ngày 25 tháng 2 năm
2003 thì: “Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng
7 Dương Kim Thế Nguyên, Giáo trình Luật thương mại 3, Khoa luật, Trường đại học Cần Thơ, 6/2008, tr 7
Trang 12Nhìn chung, có thể hiểu rằng Trọng tài thương mại là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của Trọng tài viên theo một trình tự thủ tục nhất định, với tư cách là bên thứ ba độc lập với các bên tranh chấp nhằm chấm dứt xung đột, mâu thuẫn bằng việc đưa ra phán quyết buộc các bên phải thi hành Khác với hòa giải, bên thứ ba trong tố tụng trọng tài có quyền quyết định đúng sai giữa các bên tranh chấp và đưa ra phán quyết Phán quyết này có hiệu lực bắt buộc, nếu không thi hành sẽ bị cưỡng chế bằng quyền lực nhà nước
1.1.3 Đặc điểm của Trọng tài thương mại
Từ những mô hình tổ chức và hoạt động của Trọng tài thương mại của một
số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam, có thể đưa ra một số đặc điểm sau:8
Thứ nhất, Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, hoạt động theo pháp luật và quy chế về Trọng tài thương mại Khi giải quyết tranh chấp Trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước, các Trọng tài viên không do Nhà nước bổ nhiệm, không hưởng lương từ ngân sách nhà nước “Phi chính phủ” không có nghĩa
là tách biệt hoàn toàn mà chịu sự quản lý của Nhà nước thông qua hệ thống các quy định của pháp luật, cũng như những tác động khác như tham gia Điều ước quốc tế, đào tạo, hỗ trợ kinh phí và cơ sở vật chất cho hình thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
Thứ hai, Trọng tài chỉ tiến hành khi có thỏa thuận của các bên tranh chấp Thời điểm lựa chọn Trọng tài có thể bất kì lúc nào và không phụ thuộc vào tính pháp lý của hợp đồng mà các bên giao kết Bởi giá trị của thỏa thuận trọng tài độc lập hoàn toàn với hợp đồng Cho dù hợp đồng có vô hiệu thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị Các bên tranh chấp toàn quyền quyết định việc lựa chọn Trọng tài viên để giải quyết tranh chấp Đối với các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, các bên
có quyền thỏa thuận luật áp dụng cho mình Nếu không có thỏa thuận thì Hội đồng trọng tài quyết định luật áp dụng mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất Phán quyết của trọng tài được Cơ quan thi hành án hoặc Tòa án ra quyết định thi hành tùy thuộc vào quy định của mỗi nước
Thứ ba, pháp luật của nhiều nước và pháp luật Việt Nam đều có ghi nhận sự
hỗ trợ của Tòa án đối với việc tổ chức và hoạt động của Trọng tài thương mại Chẳng hạn: thông qua trình tự thủ tục công nhận và cho thi hành phán quyết của Trọng tài thương mại, Tòa án đảm bảo các phán quyết của Trọng tài thương mại được thực thi trên thực tế khi các bên không tự nguyện thi hành, Tòa án hỗ trợ trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định Trọng tài viên, kê biên tài sản,
8 Nguyễn Thị Hoài Phương, Thủ tục khởi kiện và tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài, cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, NXB Lao Động, 2011, tr 292 – 293
Trang 13cấm chuyển dịch quyền sở hữu tài sản đang tranh chấp… Xét cho cùng, sự hỗ trợ của Tòa án là cần thiết để Trọng tài thương mại hoạt động có hiệu quả
Thứ tư, Trọng tài thường được tổ chức theo hai mô hình: Trọng tài vụ việc
và Trọng tài quy chế Nhìn chung, về cơ bản các quy tắc tố tụng trọng tài của các nước cũng có những điểm chung do hầu hết các Trung tâm trọng tài trên thế giới đều xây dựng trên khuôn mẫu của Luật Trọng tài mẫu UNICITRAL9
Thứ năm, phán quyết của Trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất kì cơ quan, tổ chức nào Trọng tài chỉ xét xử một lần và phán quyết có giá trị chung thẩm, và nếu không bị hủy thì phải được các bên thi hành, nếu không
tự nguyện thi hành thì bên được thi hành có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành phán quyết trọng tài.10
Đây chính là ưu điểm nổi bật của Trọng tài thương mại
Thứ sáu, tất cả các tổ chức trọng tài đều có biểu phí trọng tài dựa vào tính chất vụ việc, giá trị tài sản tranh chấp, trình độ của Trọng tài viên Trọng tài phải tự hạch toán Phần lớn các nước phương Tây không đặt ra vấn đề hỗ trợ của Nhà nước đối với Trọng tài Tuy nhiên ở nhiều nước Châu Á như Hàn Quốc, Malaysia, Philipine… Nhà nước lại hỗ trợ cho hoạt động của Trọng tài rất nhiều, đặc biệt là về tài chính Thái Lan có Viện trọng tài nằm trong Bộ tư pháp được cấp trụ sở và trả lương hành chính cho tất cả các nhân viên cùng các chi phí văn phòng
Ở Việt Nam hiện nay, Trọng tài với tính chất là hình thức tài phán phi chính phủ, hiệu quả giải quyết tranh chấp cả về số lượng lẫn chất lượng chưa cao, chưa thật sự tạo được vị thế của mình trong nước lẫn quốc tế Hơn nữa, các nhà doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn tâm lý tin tưởng việc giải quyết tranh chấp bằng Tòa án nhiều hơn Trọng tài Đây là vấn đề cần thật sự quan tâm trong quá trình hội nhập của nền kinh tế quốc tế, kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm phát triển kinh tế trong bối cảnh của Việt nam hiện nay
1.1.4 Ưu điểm của Trọng tài thương mại so với Tòa án
Toà án là cơ quan xét xử của Nhà nước, giải quyết tranh chấp theo trình tự được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự Chính vì vậy mà phải trải qua nhiều thủ tục tố tụng rườm rà, thời gian kéo dài; xét xử công khai; án đã tuyên dù có quyền kháng cáo, nhưng “gỡ” được không phải dễ Trong khi đó, Trọng tài thương mại là một tổ chức phi chính phủ, chỉ giải quyết tranh chấp khi các bên có thoả
Trang 14thuận trọng tài Như vậy, so với Toà án thì việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài có một số ưu điểm như sau:11
Thứ nhất, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm, có giá trị bắt buộc đối
với các bên, không thể chống án hay kháng cáo Phán quyết trọng tài được thực hiện ngay, phù hợp với nhu cầu khôi phục nhanh những tổn thất trong kinh doanh thương mại Trong khi Tòa án có hai cấp xét xử từ sơ thẩm đến phúc thẩm, rồi còn thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm, rồi còn khiếu nại, khiếu kiện và còn có sự tham gia của nhiều cơ quan khác (như Viện kiểm sát…) Xét xử tại Trọng tài chỉ có một cấp xét xử Khi tuyên phán quyết xong, Hội đồng trọng tài hoàn thành nhiệm vụ và chấm dứt sự tồn tại của mình
Thứ hai, Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp bí mật Hầu hết pháp luật về Trọng tài của các nước đều thừa nhận nguyên tắc trọng tài xử kín nếu các bên không quy định khác Thông thường, các bên tranh chấp không muốn các đối tác khác và giới truyền thông biết họ đang có tranh chấp nhằm đảm bảo bí mật và
uy tín trong sản xuất kinh doanh Nếu vụ tranh chấp được giải quyết bằng phương thức Tòa án thì tất cả phải công khai theo nguyên tắc tố tụng của Tòa án Do đó, xuất phát từ nguyên tắc xét xử không công khai của Trọng tài, các bên có quyền yêu cầu Trọng tài giải quyết tranh chấp không công khai Điều này sẽ bảo vệ được danh tiếng cũng như sự nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp trên thị trường thông qua tính bảo mật thông tin kinh doanh khi giải quyết tranh chấp
Thứ ba, Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp có tính độc lập và độ tin cậy của các bên khá cao Với tính chất là một tổ chức phi chính phủ, Trọng tài viên hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi một cơ quan chủ quản nào Họ xét xử
vụ việc theo pháp luật và theo khả năng hiểu biết của mình Hơn nữa, sự gần gũi và quan tâm của Trọng tài viên đối với các bên tranh chấp cũng là một ưu điểm của Trọng tài so với Tòa án Đây là yếu tố thuận lợi cho các bên tranh chấp khi sử dụng phương thức này, vì trong quá trình giải quyết tranh chấp các bên đôi khi thiếu sự bình tĩnh, Trọng tài viên sẽ là người bám sát, theo dõi tiến trình vụ việc và giúp đỡ các bên kịp thời Ngoài ra, Trọng tài viên là những người được sự lựa chọn từ chính các bên tranh chấp nên độ tin cậy, tin tưởng của các bên đối với Trọng tài viên là khá cao Điều này sẽ tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp được tiến hành không quá nhiều căng thẳng và áp lực Bởi Hội đồng trọng tài xét xử vụ kiện đã được các bên lựa chọn, hoặc được chỉ định để giải quyết vụ kiện đó Khi giải quyết bằng Trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn Trọng tài viên có trình độ chuyên
11 Bạch Thị Lệ Hoa, Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và cơ chế hỗ trợ của Tòa án, Trang thông tin pháp
luật dân sự, http://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2009/08/11/3590/ , [ ngày đăng 11/8/2009], [ngày truy cập 18/7/2012]
Trang 15môn phù hợp với đối tượng tranh chấp, đem lại hiệu quả, công bằng trong giải quyết tranh chấp
Thứ tư, Trọng tài là một cơ chế giải quyết tranh chấp mềm dẻo, linh hoạt cho các bên Ngoài ra tố tụng trọng tài là một thể thức hết sức linh hoạt, phù hợp với tính chất kinh doanh Điều này thể hiện ở những nội dung như các bên tranh chấp
có thể chọn bất cứ nơi nào thuận tiện để giải quyết tranh chấp, thậm chí có thể thỏa thuận giải quyết tranh chấp không cần dựa theo pháp luật mà chỉ dựa vào sự công bằng trên nguyên tắc không trái pháp luật Có nghĩa là họ giao trọn niềm tin của mình cho các Trọng tài viên mà họ lựa chọn Trên lĩnh vực thương mại quốc tế, các bên có thể thỏa thuận chọn luật và thông lệ quốc tế nào mà các bên cho là có lợi nhất cho họ
Thứ năm, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài sẽ nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, điều mà các Tòa án sẽ rất khó đáp ứng được do luôn phải giải quyết nhiều tranh chấp cùng một lúc Tính nhanh chóng khi giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
là một ưu điểm mà các nhà kinh doanh thường lựa chọn khi xảy ra tranh chấp Bởi
vì, phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm và không trải qua nhiều cấp xét xử như Tòa án Đối với các nhà kinh doanh thì thời gian là tiền bạc và cũng là cơ hội góp phần vào sự thành bại trong kinh doanh Vì thế Trọng tài được ưa chuộng đối với những ai không muốn đồng vốn bị giam giữ quá lâu bởi tố tụng tòa án cho phép các bên được quyền kháng án làm cho tiến độ giải quyết tranh chấp bị kéo dài Trong hoạt động kinh doanh thời gian là lợi nhuận, là cơ hội cho nên không thể lãng phí Trong thực tế, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài, ví dụ như giải quyết tranh chấp bằng VIAC thường kéo dài tối đa là 6 tháng, còn tại Tòa án có thể kéo dài hàng năm trời
Thứ sáu, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài giúp duy trì quan hệ đối tác
Tố tụng tại trọng tài là tự nguyện Xét xử bằng Trọng tài sẽ làm giảm mức độ xung đột của những bất đồng tạo điều kiện để các bên duy trì được quan hệ đối tác, quan
hệ thiện chí đối với nhau và đặc biệt, sự tự nguyện thi hành quyết định trọng tài của một bên sẽ làm cho bên kia có sự tin tưởng tốt hơn trong quan hệ làm ăn trong tương lai
Thứ bảy, Trọng tài cho phép các bên tự lựa chọn và chỉ định Trọng tài viên
mà họ tín nhiệm, điều mà không tồn tại ở Tòa án Điều này có ý nghĩa quan trọng
để giúp các bên tìm thấy sự công bằng trong việc bảo vệ quyền lợi cho mình Khi
vụ việc được đem ra xét xử ở Toà án, có thể Thẩm phán được chỉ định giải quyết vụ việc không có trình độ chuyên môn liên quan đến đối tượng tranh chấp, đặc biệt các ngành có đặc thù chuyên môn cao như: dầu khí, xây dựng, tài chính, đầu tư, bảo hiểm… Nhưng khi giải quyết bằng Trọng tài, các bên hoàn toàn có thể lựa chọn
Trang 16Trọng tài viên và sử dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của chuyên gia có trình độ chuyên môn phù hợp với đối tượng tranh chấp, đem lại hiệu quả, công bằng và chính xác trong giải quyết tranh chấp Các bên có thể chọn một Hội đồng trọng tài dựa trên năng lực, sự hiểu biết của họ về pháp luật thương mại quốc tế, về các lĩnh vực chuyên ngành có tính chuyên sâu như chứng khoán, đầu tư, xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, sở hữu trí tuệ…
1.1.5 Các hình thức tổ chức Trọng tài
1.1.5.1 Trọng tài vụ việc ( ad-hoc) 12
Trọng tài vụ việc có thể được hiểu là hình thức trọng tài được lập ra theo yêu cầu của các đương sự để giải quyết một vụ tranh chấp cụ thể và tự giải thể khi tranh chấp đó đã được giải quyết
Trọng tài vụ việc không có trụ sở, không hình thành bộ máy ổn định, không
lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc tố tụng nào Hình thức này phù hợp với những tranh chấp ít tình tiết phức tạp, có nhu cầu giải quyết nhanh chóng và nhất là các bên tranh chấp có kiến kiến thức và hiểu biết về pháp luật cũng như có kinh nghiệm tranh tụng
Ưu điểm:
Ưu điểm cơ bản của hình thức Trọng tài vụ việc đó là quyền tự định đoạt của các bên Các bên tự thỏa thuận thủ tục giải quyết và các Trọng tài viên phải tuân theo Việc tiến hành Trọng tài vụ việc có chi phí thấp và thời gian giải quyết nhanh, các bên sẽ không phải trả thêm các khoản chi phí hành chính cho các Trung tâm trọng tài (thông thường khoản chi phí này không nhỏ) Ví dụ, theo quy tắc tố tụng của Tòa án trọng tài Quốc tế ICC, khi nộp đơn kiện, nguyên đơn phải nộp một khoản đăng ký là 2.500 USD và khoản phí này sẽ không được hoàn lại trong bất kì điều kiện nào Mức phí hành chính tối đa mà ICC yêu cầu các bên phải nộp có thể lên tới 75.800 USD.13 Ngoài ra, đối với Trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận
bỏ qua một số thủ tục tố tụng không cần thiết để rút ngắn thời gian giải quyết vụ tranh chấp
Nhược điểm:
Nhược điểm lớn nhất của Trọng tài vụ việc đó là phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Quá trình tố tụng có nguy cơ bị trì hoãn và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng trọng tài nếu một bên không có thiện chí và có thể không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng
12 Giải quyết tranh chấp: Trọng tài Ad- hoc hay Trọng tài quy chế,
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/baivietlienquan-96/267/Giai-quyet-tranh-chap-Trong-tai-adhoc-hay-trong-tai.aspx , [ngày truy cập 20/7/2012]
13 Biểu phí tổn và các chi phí trọng tài của ICC có hiệu lực ngày 01/01/1998
Trang 17Trong Trọng tài vụ việc không có tổ chức nào giám sát việc tiến hành trọng tài và giám sát các Trọng tài viên Vì vậy, kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình tố tụng của các Trọng tài viên Cả Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ đặc biệt nào từ một tổ chức Trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các Trọng tài viên không thể giải quyết được vụ việc Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là từ Tòa án
Do vậy, chỉ khi có tồn tại một Hội đồng trọng tài và một quy tắc tố tụng cụ thể được xác lập thì quá trình tố tụng mới có thể tiến hành được suôn sẻ như Trọng tài quy chế
1.1.5.2 Trọng tài quy chế (Trọng tài thường trực) 14
Trọng tài quy chế là hình thức trọng tài được thành lập dưới dạng các Trung tâm, Tổ chức hoặc Hiệp hội, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có trụ sở cố định Có quy tắc tố tụng trọng tài riêng, có danh sách trọng tài viên riêng
Trọng tài thường trực có quy chế tố tụng chặt chẽ, khi các bên lựa chọn Trọng tài thường trực, các bên nhận được sự hỗ trợ nhất định của tổ chức trọng tài này liên quan tới việc tổ chức và giám sát tố tụng trọng tài
Tính đến thời điểm hiện tại, theo khảo sát của người viết thì ở Việt Nam có
07 Trung tâm trọng tài tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Cụ thể như sau:15
1 Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam- VIAC (tại Hà Nội & Chi nhánh ở thành phố Hồ Chí Minh) www.viac.org.vn
2 Trung tâm trọng tài thương mại thành phố Hồ Chí Minh – TRACENT (tại thành phố Hồ Chí Minh) www.tracent.com.vn
3 Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Thái Bình Dương – PIAC (tại thành phố Hồ Chí Minh) www.piac.com.vn
4 Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Á Châu (tại Hà Nội) http://www.trungtamtrongtaithuongmaiachau.com/
5 Trung tâm trọng tài thương mại Hà Nội (tại Hà Nội)
6 Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ (tại thành phố Cần Thơ)
7 Trung tâm Trọng tài Viễn Đông (tại Hà Nội)
14
Giải quyết tranh chấp: Trọng tài Ad- hoc hay Trọng tài quy chế,
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/baivietlienquan-96/267/Giai-quyet-tranh-chap-Trong-tai-adhoc-hay-trong-tai.aspx , [ngày truy cập 20/7/2012]
15 Nguyễn Văn Lộc, Giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tại Việt Nam( phần 3),
Nam-phan-3/3954608.epi, [ngày đăng 09/3/2010], [ngày truy cập 20/7/2012]
Trang 18http://www.baomoi.com/Home/BongDa/saga.vn/Giai-quyet-tranh-chap-bang-Trong-tai-thuong-mai-tai-Viet-Ưu điểm:
Việc quy định chi tiết các thủ tục tố tụng khi bắt đầu cho đến khi kết thúc là thuận lợi lớn nhất của Trọng tài quy chế Chẳng hạn, khi các bên thỏa thuận trọng tài sẽ được tiến hành bởi một Hội đồng trọng tài gồm ba Trọng tài viên nhưng bị đơn lại không tiến hành chỉ định Trọng tài viên Trong trường hợp đó, quy tắc tố tụng trọng tài sẽ quy định cụ thể về việc chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn Theo Quy tắc tố tụng trọng tài của VIAC, nếu bị đơn không tiến hành chỉ định Trọng tài viên trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu chỉ định Trọng tài viên thì Chủ tịch Trung tâm sẽ chỉ định Trọng tài viên cho bị đơn
Ngoài ra, các quy tắc tố tụng của các tổ chức trọng tài thường quy định rất chi tiết về các bước của quá trình tố tụng, đảm bảo trong mọi trường hợp tranh chấp
sẽ được giải quyết, không phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố
tụng trọng tài hay không Theo Quy tắc của ICC: “Nếu một trong các bên, mặc dù
đã được thông báo hợp lệ, nhưng không tham dự, thì Trọng tài viên, nếu thấy rằng việc gửi thông báo đã được tiến hành hợp lệ mà bên nhận được thông báo vắng mặt không có lý do chính đáng, thì trọng tài vẫn có quyền tiếp tục các bước tố tụng, và quá trình tố tụng tố vẫn được coi là được tiến hành với sự có mặt của các bên” 16
Như vậy, trong trường hợp một bên không có thiện chí tham gia tố tụng trọng tài thì các quy định trên là rất cần thiết
Ưu điểm thứ hai đó là để tăng cường khả năng cạnh tranh, các tổ chức trọng tài cố gắng đưa vào danh sách trọng tài viên những người có uy tín, hiểu biết rộng
và giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực giải quyết tranh chấp Các bên tranh chấp sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn Trọng tài viên phù hợp với yêu cầu của mình Đây chính là một trong những yếu tố góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức trọng tài
Nhược điểm:
Nhược điểm lớn nhất của Trọng tài quy chế đó là tốn kém nhiều chi phí Vì ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho các Trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các Trung tâm trọng tài
Nhược điểm thứ hai của Trọng tài quy chế đó là nhiều khi quá trình tố tụng
bị kéo dài vì phải tuân theo các thời hạn theo quy định của quy tắc tố tụng
Như vậy, mỗi hình thức trọng tài đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định Sẽ là lý tưởng khi có thể lựa chọn hình thức Trọng tài vụ việc hoặc Trọng tài quy chế khi tranh chấp đã phát sinh Khi đó các bên sẽ xem xét bản chất của vụ
16 Giải quyết tranh chấp: Trọng tài Ad- hoc hay Trọng tài quy chế ,
http://www.viac.org.vn/vi-VN/Home/baivietlienquan-96/267/Giai-quyet-tranh-chap-Trong-tai-adhoc-hay-trong-tai.aspx , ngày truy cập [20/7/2012]
Trang 19tranh chấp và quyết định loại trọng tài nào sẽ thích hợp, có lợi nhất cho mình để giải quyết Thông thường thì Trọng tài quy chế được ưu tiên lựa chọn
1.1.6 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Trọng tài thương mại
1.1.6.1 Các bên phải có thỏa thuận Trọng tài, thỏa thuận phải có hiệu lực
Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh Trong đó, các chủ thể của các quan hệ kinh tế thể hiện sự nhất trí về việc sẽ đưa các tranh chấp đã hoặc sẽ có thể phát sinh đến Trọng tài để giải quyết Thỏa thuận trọng tài là nội dung đầu tiên trong trình tự, thủ tục trọng tài Tức có nghĩa là tố tụng trọng tài chỉ được hình thành trên cơ sở một thỏa thuận trọng tài của các bên tranh chấp Nói cách khác không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài.17
Thỏa thuận trọng tài có hiệu lực tức không rơi vào trường hợp bị coi là vô hiệu theo quy định của Luật trọng tài 2010 Có 06 tình huống thoả thuận trọng tài bị coi là vô hiệu gồm:18
Thứ nhất, tranh chấp phát sinh trong các lĩnh vực không thuộc thẩm quyền của Trọng tài theo quy định tại Điều 2 của Luật trọng tài thương mại 2010
Thứ hai, người xác lập thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
Thứ ba, người xác lập thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự
Thứ tư, hình thức của thoả thuận trọng tài không phù hợp với quy định tại Điều 16 của Luật trọng tài thương mại 2010
Thứ năm, một trong các bên bị lừa dối, bị đe doạ, bị cưỡng ép trong quá trình xác lập thoả thuận trọng tài và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài đó là vô hiệu
Thứ sáu, thỏa thuận trọng tài vi phạm điều cấm của pháp luật
So với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, Luật trọng tài thương mại 2010
đã bỏ quy định về việc thỏa thuận trọng tài vô hiệu khi không chỉ rõ tên tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thỏa thuận trọng tài không rõ ràng, Luật cho phép các bên có quyền thỏa thuận lại Trong trường hợp không thỏa thuận được thì bên khởi kiện có quyền được tự do lựa chọn tổ chức
Trang 20trọng tài mà mình cho là phù hợp để khởi kiện nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.19 Với quy định này sẽ ngăn chặn và giảm bớt tình trạng thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu hoặc tình trạng không có cơ quan nào giải quyết tranh chấp
1.1.6.2 Tranh chấp phát sinh phải thuộc thẩm quyền của Trọng tài
Phạm vi thẩm quyền xét xử của Trọng tài là một yếu tố quan trọng, Trọng tài chỉ thụ lý khi xem xét thấy vụ kiện nằm trong thẩm quyền xét xử của mình
Theo quy định tại Điều 2 của Luật trọng tài thương mại, Trọng tài có thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp sau:
“Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại;
Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại;
Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”
Luật đã khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, khắc phục việc phân định không rõ ràng phạm vi thẩm quyền của Trọng tài đối với các tranh chấp thương mại
Như vậy, ngoài việc có thẩm quyền đối với các tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại20, Luật còn cho Trọng tài có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp không phát sinh từ hoạt động thương mại nhưng được pháp luật có liên quan quy định sẽ được giải quyết bằng Trọng tài
Ngoài ra, Luật trọng tài thương mại 2010 không có giới hạn về phạm vi chủ thể tranh chấp Tổ chức, cá nhân bất kỳ đều có thể thỏa thuận lựa chọn Trọng tài để giải quyết tranh chấp miễn là lĩnh vực tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại Trong khi đó, theo Pháp lệnh trọng tài thương mại năm 2003, chỉ có tổ chức kinh doanh hoặc cá nhân kinh doanh mới có quyền lựa chọn Trọng tài
Với việc mở rộng thẩm quyền trọng tài số vụ tranh chấp đưa ra Trọng tài thương mại giải quyết sẽ nhiều hơn, góp phần giảm bớt gánh nặng cho Tòa án
1.2 Sơ lược về phán quyết Trọng tài thương mại
1.2.1 Khái niệm phán quyết trọng tài
Trước khi Luật trọng tài thương mại 2010 ra đời thì quyết định giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp của Trọng tài có tên gọi là quyết định Tuy nhiên trong các Điều ước quốc tế về trọng tài (kể cả Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài) cũng không có định nghĩa cụ thể về khái niệm
Trang 21quyết định của Trọng tài thương mại Mặc dù vậy Công ước NewYork 1958 có các quy định xác định cụ thể các loại quyết định của Trọng tài Theo nghĩa rộng, có thể định nghĩa quyết định của trọng tài như sau: quyết định của Trọng tài là quyết định cuối cùng giải quyết tất cả các vấn đề được các bên thỏa thuận đệ trình lên Trọng tài
và bất cứ một quyết định nào khác của Trọng tài xác định rõ vấn đề tài sản, vấn đề
về thẩm quyền hay bất cứ một vấn đề nào về thủ tục giải quyết tranh chấp được các bên đệ trình Như vậy theo cách định nghĩa đó, có hai loại quyết định của Trọng tài: quyết định cuối cùng và quyết định không phải là cuối cùng Từ đó nảy sinh vấn đề
là cần có sự phân biệt hai loại quyết định này để dễ thực hiện và tránh nhầm lẫn.21
Trong Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 tất cả các quyết định của Trọng tài bao gồm cả quyết định giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp đều được thể hiện dưới một tên gọi là quyết định Tuy nhiên Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 cũng không có khái niệm quyết định của Trọng tài thương mại Cho đến Luật trọng tài thương mại 2010 mới khái niệm về quyết định cuối cùng của Trọng tài thể hiện
quan điểm giải quyết vụ tranh chấp bằng tên gọi “phán quyết” Theo khoản 10 Điều
3 Luật trọng tài thương mại 2010 định nghĩa “Phán quyết trọng tài là quyết định
của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp và chấm dứt tố tụng trọng tài”
1.2.2 Phân biệt quyết định và phán quyết trọng tài
Phán quyết trọng tài là kết quả tiến hành tố tụng trọng tài và có sự khác biệt
so với các quyết định trọng tài ban hành trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp Trong quá trình tố tụng Trọng tài có quyền ra nhiều loại quyết định khác nhau liên quan đến vụ tranh chấp như: quyết định về thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của Hội đồng trọng tài, quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời… Sự giống nhau giữa phán quyết trọng tài với những quyết định khác chỉ đơn thuần đều là quyết định của Trọng tài Trước đây Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 chỉ có một tên gọi chung cho tất cả các quyết định của trọng tài bao gồm cả quyết định giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp của Hội đồng trọng tài trong suốt quá trình tố tụng Tuy nhiên giữa phán quyết Trọng tài và các quyết định khác của Trọng tài được phân biệt dựa trên các cơ sở sau: phán quyết của Trọng tài có ý nghĩa chấm dứt tố tụng trọng tài, nội dung của phán quyết Trọng tài thể hiện nội dung giải quyết toàn bộ các vấn đề tranh chấp giữa các bên đương sự, trong đó có quyền lợi và nghĩa vụ, lợi ích tranh chấp giữa các bên được xác định một cách rõ ràng, cụ thể làm cơ sở cho việc thi hành Thiết nghĩ chính vì vậy mà Luật trọng tài thương mại
21
Nguyễn Trung Tín, Công nhận và thi hành các quyết định của Trọng tài thương mại tại Việt Nam, NXB
Tư Pháp Hà Nội, 2005, tr 73
Trang 222010 đã dùng hai thuật ngữ “quyết định” và “phán quyết” để phân biệt rõ ràng đâu
là quyết định liên quan đến vụ tranh chấp, đâu là quyết định chấm dứt quá trình tố tụng để tránh nhầm lẫn và dễ thi hành Bởi khi nói hủy quyết định trọng tài, thi hành quyết định trọng tài người ta không biết là đang nói đến quyết định nào vì trong quá trình tố tụng trọng tài ra rất nhiều quyết định
1.2.3 Nguyên tắc ban hành phán quyết trọng tài
Nguyên tắc ban hành phán quyết trọng tài của Hội đồng trọng tài là biểu quyết theo đa số Đây cũng là nguyên tắc cơ bản của Luật mẫu về trọng tài và được thừa nhận trong pháp luật trọng tài của các nước.22 Điều này có nghĩa phán quyết trọng tài được ban hành và có giá trị thi hành, ràng buộc trách nhiệm với các bên không nhất thiết phải có sự thống nhất tuyệt đối của các thành viên Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp đó Tuy nhiên nguyên tắc này không phải là tuyệt đối Đối với Luật trọng tài thương mại 2010 mặc dù không quy định rõ nhưng có thể hiểu rằng nguyên tắc ban hành phán quyết trọng tài là biểu quyết theo đa số sẽ loại trừ trường hợp Hội đồng trọng tài chỉ có một Trọng tài viên duy nhất và trường hợp không đạt được đa số thì phán quyết được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài
Tố tụng trọng tài bảo đảm cho các bên tranh chấp trong mọi trường hợp đều
có phương án giải quyết cuối cùng bằng một phán quyết Theo đó, nếu có sự thống nhất đa số thì phán quyết được lập theo ý kiến của đa số, nếu biểu quyết không đạt được đa số thì phán quyết trọng tài được lập theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng trọng tài kể cả có Trọng tài viên không ký vào phán quyết trọng tài thì phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực Trong trường hợp này Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải ghi rõ trong phán quyết trọng tài về việc Trọng tài viên không ký vào phán quyết Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa tố tụng trọng tài với tố tụng tòa án trong giải quyết tranh chấp Bởi vì trong tố tụng tòa án, pháp luật chỉ thừa nhận giá trị của bản
án khi đạt được biểu quyết theo đa số phiếu và không có bất kỳ ngoại lệ nào được
áp dụng cho Hội đồng xét xử, và Chủ tọa phiên tòa không có quyền tự mình quyết định các vấn đề cho vụ tranh chấp như Chủ tịch Hội đồng trọng tài Phán quyết trọng tài có giá trị chung thẩm; không bị kháng cáo, kháng nghị trước bất kỳ cơ quan, tổ chức nào Phán quyết có hiệu lực thi hành ngay nếu không bị hủy trước Tòa án Nếu không tự nguyện thi hành thì bên được thi hành có thể yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền cưỡng chế thi hành
1.2.4 Phân loại phán quyết trọng tài
22
Nguyễn Thị Hoài Phương, Thủ tục khởi kiện và tranh chấp tại Tòa án, Trọng tài, cơ chế hiện hữu bảo vệ quyền dân sự, NXB Lao Động, 2011, tr 347
Trang 23Có hai loại phán quyết là phán quyết trọng tài thương mại Việt Nam và phán
quyết trọng tài thương mại nước ngoài Theo khoản 12 Điều 3 Luật trọng tài
thương mại 2010 “Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do Trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận lựa chọn” Trọng tài nước ngoài là Trọng
tài được thành lập theo quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam.23 Phán quyết của trọng tài thương mại Việt Nam có giá trị
chung thẩm và có hiệu lực thi hành ngay, còn phán quyết trọng tài nước ngoài muốn được thi hành tại Việt Nam phải trải qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về cơ cấu, phán quyết của trọng tài thương mại thường gồm có ba phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần cuối cùng
Phần mở đầu của phán quyết thường là phần giới thiệu một cách ngắn gọn, liệt kê các sự kiện liên quan đến vụ kiện Chẳng hạn như thông tin về nguyên đơn,
bị đơn, trọng tài viên, các vấn đề được đề cập, tóm tắt nội dung vụ việc
Phần nội dung là phần căn cứ ra phán quyết (trừ khi các bên có thỏa thuận không cần nêu căn cứ trong phán quyết), kết quả giải quyết tranh chấp, quyền và nghĩa vụ của các bên, thời hạn thi hành phán quyết, chi phí trọng tài, thời hạn thi hành phán quyết và các vấn đề khác có liên quan
Phần cuối cùng là chữ ký của Trọng tài viên
Qua những nội dung đã trình bày như trên cho thấy những quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài theo Luật trọng tài thương mại 2010 ở nước ta từng bước được hoàn thiện Sự ra đời của Trọng tài thương mại đáp ứng yêu cầu thực tế giải quyết tranh chấp ở nước ta đặc biệt là thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn áp dụng Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003, kế thừa và phát triển các quy định phù hợp đã đi vào cuộc sống đồng thời học hỏi từ Luật mẫu trọng tài UNICITRAL, Luật trọng tài thương mại
2010 có hiệu lực ngày 01/01/2011 đã tạo nên cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc lựa chọn Trọng tài để giải quyết các tranh chấp Kết quả của việc giải quyết tranh chấp bằng hình thức Trọng tài thương mại được thể hiện bằng một phán quyết Điều mà các bên trông đợi khi đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài là một phán quyết đúng và nhanh chóng có hiệu lực thi hành bởi trong kinh doanh thời gian là tiền bạc, là cơ hội Để hiểu một cách rõ ràng những vấn đề liên quan đến phán quyết
23
Khoản 11 Điều 3 Luật Trọng tài thương mại 2010, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/2011
Trang 24trọng tài, về sự nỗ lực hoàn thiện các quy định của pháp luật về phán quyết trọng tài của các nhà lập pháp Việt Nam, người viết sẽ đi vào trình bày, phân tích, so sánh, đánh giá và kiến nghị hướng hoàn thiện ở chương tiếp theo
Trang 25CHƯƠNG 2 ĐÁNH GIÁ NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI THEO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI 2010
VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
2.1 Hình thức, nội dung, hiệu lực và lưu trữ phán quyết trọng tài thương mại
2.1.1 Hình thức và nội dung của phán quyết trọng tài
Về nguyên tắc chung, hình thức và nội dung của phán quyết trọng tài được quy định bởi thỏa thuận trọng tài và luật điều chỉnh tố tụng trọng tài Để xác định được hình thức, nội dung phán quyết trọng tài theo thỏa thuận trọng tài sẽ dựa vào
bộ quy tắc tố tụng trọng tài mà các bên đã áp dụng.24 Ví dụ : Điều 32 quy tắc
UNICITRAL quy định “quyết định trọng tài phải được lập thành văn bản Các lý
do mà căn cứ vào đó để ra quyết định trọng tài phải được ghi rõ; quyết định trọng tài phải được ký bởi các Trọng tài viên và phải ghi ngày và địa điểm ra quyết định trọng tài; nếu có ba Trọng tài viên và một trong số họ không ký, quyết định trọng tài phải nêu lý do của việc không ký”
Tuy nhiên, các quy định về hình thức và nội dung của phán quyết trọng tài trong các hệ thống pháp luật quốc gia rất khác nhau, có hệ thống quy định chi tiết nhưng cũng có những hệ thống không quy định:25
Pháp luật Thụy Sỹ quy định chi tiết cho hình thức và nội dung của phán quyết trọng tài cho các vụ kiện trong nước (Điều 33 thỏa ước Thụy Sỹ), nhưng với các vụ kiện quốc tế thì chỉ yêu cầu bốn tiêu chí là phán quyết trọng tài phải lập thành văn bản, có giải thích, đề ngày tháng và được ký (Điều 189 thỏa ước Thụy Sỹ)
Điều 52 Luật trọng tài Anh năm 1966 quy định các bên tự do thỏa thuận về hình thức của phán quyết trọng tài, nếu hoặc trong phạm vi không có thỏa thuận như vậy, các quy định sau được áp dụng: Phán quyết trọng tài phải lập thành văn bản và được ký bởi tất cả các Trọng tài viên hoặc tất cả những người tán thành phán quyết trọng tài Phán quyết trọng tài phải nêu lý do đề ra phán quyết trọng tài trừ khi
đó là một phán quyết trọng tài trên cơ sở thỏa thuận hoặc các bên đã thỏa thuận
Trang 26không nêu lý do Thỏa thuận trọng tài phải ghi địa điểm tiến hành trọng tài và ngày
mà phán quyết trọng tài được lập
Luật trọng tài thương mại 2010 không cho phép các bên có quyền thỏa thuận
về hình thức và nội dung phán quyết trọng tài (trừ phần căn cứ để ra phán quyết)
Điều 61 Luật trọng tài thương mại 2010 ấn định: “Phán quyết của trọng tài phải
lập thành văn bản và có các nội dung chủ yếu sau đây:
Ngày, tháng, năm và địa điểm ra phán quyết;
Tên, địa chỉ của nguyên đơn và bị đơn;
Họ tên, địa chỉ của trọng tài viên;
Tóm tắt đơn khởi kiện và các vấn đề tranh chấp;
Căn cứ để ra phán quyết, trừ khi các bên có thỏa thuận không cần nêu căn
cứ trong phán quyết;
Kết quả giải quyết tranh chấp;
Thời hạn thi hành phán quyết;
Phân bổ chi phí trọng tài và các chi phí khác có liên quan;
Chữ ký của trọng tài viên”
Phán quyết Trọng tài được ban hành ngay tại phiên họp hoặc chậm nhất là ba mươi ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng Phán quyết trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày ban hành Các bên có quyền yêu cầu Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài vụ việc cấp bản sao phán quyết trọng tài
Một trong những yêu cầu về mặt nội dung của phán quyết trọng tài theo pháp
luật Việt Nam trước đây là cần phải có “chữ ký của các Trọng tài viên hoặc Trọng tài viên duy nhất” Đây là yêu cầu được áp dụng phổ biến cho hầu hết pháp luật về
trọng tài của các nước Tuy nhiên, nếu nguyên tắc này được quy định và áp dụng một cách cứng nhắc, rất có thể xảy sẽ ra trường hợp một phán quyết trọng tài có thể
bị huỷ đơn giản chỉ bằng một hành động của một trong các Trọng tài viên cố ý từ chối ký vào phán quyết Để tránh trường hợp có Trọng tài viên cố ý làm hỏng hiệu
lực của phán quyết trọng tài bằng cách không ký vào phán quyết trọng tài, khoản 2
Điều 44 Pháp lệnh trọng tài thương mại 2010 quy định “trường hợp có Trọng tài
viên không ký vào quyết định trọng tài, Chủ tịch Hội đồng trọng tài phải ghi việc này trong quyết định trọng tài và phải nêu rõ lý do” Thiết nghĩ, quy định như vậy
là chưa đủ, vẫn chưa rõ ràng rằng việc nêu rõ lý do trường hợp có Trọng tài viên không ký vào phán quyết trọng tài như vậy đã đủ là căn cứ để phán quyết trọng tài
có hiệu lực hay không Cho nên đến khi ban hành Luật trọng tài thương mại 2010
điều này chỉ còn là “chữ ký của Trọng tài viên” và theo đó là quy định tại khoản 2
Điều 61 “Khi có Trọng tài viên không ký vào phán quyết trọng tài; Chủ tịch Hội
đồng trọng tài phải ghi việc này trong phán quyết trọng tài và nêu rõ lý do Trong
Trang 27trường hợp này phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực” Luật trọng tài thương mại
2010 đã khắc phục được điểm không rõ ràng về vấn đề chữ ký của Trọng tài viên
Về vấn đề quy định thời hạn thi hành phán quyết là một nội dung của phán quyết trọng tài cũng có một số ý kiến trái chiều cho rằng quy định như vậy là không cần thiết, bởi thời hạn thi hành phán quyết trọng tài được điều chỉnh tại một số văn bản pháp luật chuyên nghành về tố tụng dân sự hoặc thi hành án Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, quy định thời hạn thi hành phán quyết là một trong những nội dung của phán quyết là không thừa Bởi lẽ, đứng trên góc độ của các bên tranh chấp, nếu thể hiện rõ thời hạn thi hành trong phán quyết sẽ giúp bên phải thi hành phán quyết không vi phạm nghĩa vụ của họ nếu họ tự nguyện thi hành phán quyết đồng thời giúp bên được thi hành phán quyết bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nếu bên phải thi hành phán quyết không tự nguyện thi hành phán quyết
Nhìn chung, những quy định của Luật Việt Nam về nội dung của một phán quyết trọng tài là khá đầy đủ và phù hợp với pháp luật trọng tài thế giới
2.1.2 Hiệu lực của phán quyết trọng tài
Trọng tài là một tổ chức hoạt động độc lập, không mang tính hệ thống theo cấp tổ chức cấp trên, cấp dưới như tố tụng tòa án Do đó trong tố tụng trọng tài không có cơ chế xét lại phán quyết trọng tài như tố tụng tòa án Đây chính là cơ sở
mà pháp luật trọng tài của các nước đều thừa nhận phán quyết trọng tài có giá trị thi hành ngay sau khi ban hành Luật trọng tài thương mại Việt Nam 2010 tiếp thu tinh thần của Luật mẫu về trọng tài và thể hiện sự tương thích với pháp luật trọng tài các
nước khi quy định “phán quyết của trọng tài là chung thẩm và có hiệu lực kể từ ngày ban hành” 26 Các bên tranh chấp sẽ không có quyền yêu cầu bất cứ cá nhân,
cơ quan tổ chức nào xử lại để thay đổi, sữa chữa nội dung đã được giải quyết trong phán quyết trọng tài mà chỉ có quyền yêu cầu Tòa án hủy phán quyết trọng tài trên
cơ sở xem xét tính hợp pháp của quá trình tố tụng trọng tài chứ Tòa án cũng không
có quyền xử lại những nội dung của phán quyết trọng tài Nếu phán quyết của Trọng tài không bị hủy bởi Tòa án thì các bên phải thi hành chứ cũng không được quyền thỏa thuận đem vụ tranh chấp đó ra Tòa án hoặc Trọng tài khác giải quyết lại một lần nữa
Tuy nhiên, trường hợp vụ tranh chấp chỉ có một Trọng tài viên giải quyết nhưng phán quyết không có chữ ký của Trọng tài viên duy nhất đó thì có ảnh hưởng đến hiệu lực của phán quyết hay không?
26
Khoản 5 Điều 61 Luật trọng tài thương mại 2010, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/2011
Trang 28Ví dụ: Cty A và Cty B xảy ra tranh chấp và có thỏa thuận sẽ giải quyết tại
Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ Hai bên thống nhất chỉ chọn một Trọng tài viên duy nhất để giải quyết tranh chấp là ông Nguyễn Văn C Đến giai đoạn ký
để ban hành phán quyết thì ông C bị đột tử không thể ký vào phán quyết trọng tài
Phán quyết này có hiệu lực hay không thì không có một điều khoản nào quy định Nhưng có thể dựa vào quy tắc chữ ký của Trọng tài viên không ảnh hưởng đến hiệu lực của phán quyết có thể suy ra rằng trong trường hợp này phán quyết trọng tài vẫn có hiệu lực Hơn nữa, suy nghĩa một cách hợp lý thông thường rằng đó là quyết định giải quyết tranh chấp của chính bản thân ông C, nếu như không có chuyện ông C bị đột tử xảy ra thì chắc chắn ông sẽ ký vào phán quyết trọng tài Trường hợp này trên thực tế hiếm khi xảy ra nhưng không đồng nghĩa là nó không thể xảy ra
Trường hợp trong thành phần Hội đồng trọng tài có Trọng tài viên là người nước ngoài cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực của phán quyết, bởi theo quy định của Luật trọng tài thương mại 2010 thì không bắt buộc Trọng tài viên phải là công dân Việt Nam
Tuy nhiên, trường hợp trong Hội đồng trọng tài vụ việc có Trọng tài viên là Trọng tài viên nước ngoài thì phán quyết là phán quyết của trọng tài Việt Nam hay phán quyết của Trọng tài nước ngoài? Điều này rất quan trọng bởi vì nó ảnh hưởng đến tính hiệu lực của phán quyết Như đã đề cập ở Chương 1, phán quyết của Trọng tài nước ngoài muốn được thi hành ở Việt Nam phải trải qua thủ tục công nhận và cho thi hành theo trình tự tố tụng dân sự Đối với trường hợp này, Luật trọng tài thương mại 2010 không có quy định và cũng không có căn cứ nào để xác định phán quyết đó là phán quyết của Trọng tài thương mại Việt Nam hay Trọng tài thương mại nước ngoài
Theo quan điểm của người viết, cần quy định thêm rằng, đối với Hội đồng
trọng tài vụ việc nếu tất cả thành viên Hội đồng trọng tài là Trọng tài nước ngoài thì phán quyết đó là phán quyết của trọng tài nước ngoài
2.1.3 Lưu trữ phán quyết trọng tài
Theo Luật trọng tài thương mại 2010 tại Điều 64: “Trung tâm trọng tài có
trách nhiệm lưu trữ hồ sơ vụ tranh chấp đã thụ lý Hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài
vụ việc giải quyết được các bên hoặc các Trọng tài viên lưu trữ Hồ sơ trọng tài được lưu trữ trong thời hạn 05 năm, kể từ ngày ra phán quyết trọng tài hoặc quyết định đình chỉ giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài”
Hồ sơ vụ tranh chấp được lưu trữ ở Trung tâm trọng tài nếu là Trọng tài thường trực Đối với Trọng tài vụ việc thì do Trọng tài viên hoặc các bên lưu trữ Luật chỉ nên dừng lại ở hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài vụ việc giải quyết sẽ do
Trang 29Trọng tài viên lưu trữ là đủ Khi có vấn đề nào đó phát sinh, cơ quan có thẩm quyền cần đến hồ sơ giải quyết tranh chấp nào đó thì chỉ cấn đến Trung tâm trọng tài hoặc Trọng tài viên đã giải quyết vụ tranh chấp đó là có thể nhanh chóng có được hồ sơ cần thiết mà không cần tìm đến các bên trong vụ tranh chấp
Khoản 1 Điều 64 nên quy định là “Trung tâm trọng tài có trách nhiệm lưu trữ
hồ sơ vụ tranh chấp đã thụ lý Hồ sơ vụ tranh chấp do Trọng tài vụ việc giải quyết
do các Trọng tài viên lưu trữ”
2.2 Sữa chữa và giải thích phán quyết trọng tài, phán quyết bổ sung
2.2.1 Sữa chữa phán quyết trọng tài
Có những phán quyết trong đó có thể có sự sai sót một cách rõ ràng về tính toán, in ấn, đánh máy hoặc viết nhầm hay bất cứ lỗi nào tương tự Theo quy định tại
khoản 1 Điều 63 Luật trọng tài thương mại 2010 thì “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ
ngày nhận được phán quyết, trừ khi các bên có thỏa thuận khác về thời hạn, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa chữa những lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai trong phán quyết nhưng phải thông báo ngay cho bên kia biết Trường hợp Hội đồng trọng tài thấy yêu cầu này là chính đáng thì phải sữa chữa trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu”
Trong thời hạn 30 ngày, Hội đồng trọng tài có thể chủ động sữa chữa những lỗi hình thức trong phán quyết và báo ngay cho các bên.27
Phán quyết trọng tài là kết quả của cả quá trình tố tụng, có những quy định loại bỏ những sai sót nhỏ thường gặp để hoàn chỉnh phán quyết là điều cần thiết Luật chỉ cho phép sữa chữa những lỗi rõ ràng về chính tả, số liệu vì lý do nào đó mà dẫn đến nhầm lẫn hoặc tính toán sai trong phán quyết Ngoài những nội dung trên thì không được sữa chữa bất kỳ nội dung nào khác Điều này cũng dựa trên Luật
mẫu trọng tài UNICITRAL Điều 33 “Trừ khi các bên có thỏa thuận khác về thời
hạn, trong vòng ba mươi ngày kể từ ngày nhận được quyết định, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài sửa trong quyết định những lỗi về tính toán, đánh máy hoặc lỗi in hoặc những lỗi tương tự, có thông báo cho bên kia biết về điều này Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày lập quyết định, Hội đồng trọng tài có thể chủ động sửa chữa những lỗi đánh máy sai được nêu như trên”
Luật trọng tài thương mại 2010 đã mở rộng về quyền và thời hạn sữa chữa phán quyết trọng tài so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 Luật cho phép các bên được quyền tự thỏa thuận thời gian yêu cầu sữa chữa phán quyết khác dài hơn hoặc ngắn hơn tùy theo ý chí của các bên đồng thời cũng cho phép Hội đồng trọng
27
Khoản 3 Điều 63 Luật trọng tài thương mại 2010, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/2011
Trang 30tài được quyền sữa chữa những lỗi về hình thức, kỹ thuật của phán quyết trọng tài điều mà trước đây không hề đề cập đến Thời hạn sữa chữa phán quyết đã được kéo dài hơn 15 ngày và trong trường hợp cần thiết thì Hội đồng trọng tài có thể gia hạn thời gian sữa chữa phán quyết trọng tài
2.2.2 Giải thích phán quyết trọng tài
Một phán quyết được đưa ra có thể vì một lý do nào đó chưa rõ ý hoặc khó hiểu, làm cho các bên sau khi nhận được phán quyết có thể không hiểu hết, hiểu đúng nội dung của phán quyết ở một số điểm, một số phần nào đó thì có quyền yêu
cầu Hội đồng trọng tài giải thích Theo điểm b khoản 1 Điều 33 Luật mẫu trọng tài
UNICITRAL quy định “Nếu các bên có thoả thuận, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài đưa ra những giải thích về điểm cụ thể hoặc một phần của quyết định, có thông báo cho bên kia về yêu cầu này Nếu Hội đồng trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng, Hội đồng trọng tài sẽ tiến hành sửa chữa lại hoặc đưa
ra lời giải thích trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu Giải thích này
là một bộ phận của quyết định”
Điều này hoàn toàn hợp lý, có hiểu đúng mới thực hiện đúng quyền và nghĩa
vụ của mình giúp các bên có thiện chí tự nguyện thi hành phán quyết, xúc tiến quá trình thực thi phán quyết
Luật trọng tài thương mại Việt Nam 2010 ra đời thể hiện sự tương thích với
Luật mẫu UNICITRAL, khoản 2 Điều 63 quy định như sau: “Trong thời hạn 30
ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác
về thời hạn, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài giải thích về điểm cụ thể hoặc phần nội dung của phán quyết nhưng phải thông báo ngay cho bên kia Nếu Hội đồng trọng tài thấy rằng yêu cầu này là chính đáng thì phải giải thích trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu Nội dung giải thích này là một phần của phán quyết” Bởi lẽ, giải thích phán quyết là làm rõ những nội dung của
phán quyết Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể gia hạn việc giải thích phán quyết
Trước đây, Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 chỉ cho phép một trong các bên có liên quan được quyền yêu cầu sữa chữa phán quyết trọng tài chứ không quy định được quyền yêu cầu giải thích phán quyết Xuất phát từ sự cần thiết của sự rõ ràng của phán quyết trọng tài, Luật trọng tài thương mại hiện hành đã bổ sung quy định giải thích phán quyết trọng tài
Luật thừa nhận cơ chế hỗ trợ Trọng tài của Tòa án Vậy Tòa án có quyền giải thích phán quyết của Trọng tài hay không? Đặt trường hợp một trong các bên sau khi nhận được phán quyết cảm thấy có một số chổ không rõ ràng Tuy nhiên, họ không làm đơn yêu cầu Hội đồng trọng tài giải quyết vụ tranh chấp đó giải thích
Trang 31phán quyết mà lại nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải thích Trong trường hợp này, Tòa án không có quyền giải thích phán quyết của Trọng tài Bởi lẽ, phán quyết của Trọng tài được ban hành trên cơ sở độc lập với Tòa án, khách quan, dựa trên tình tiết của vụ tranh chấp, sự thỏa thuận của các bên để giải quyết và tuân theo pháp luật Chính vì vậy, phán quyết được thừa nhận như một bản án của Tòa án Cho nên, không có một chủ thể nào khác Hội đồng trọng tài đã ra phán quyết có quyền giải thích phán quyết của Trọng tài
2.2.3 Phán quyết bổ sung
Phán quyết trọng tài là quyết định của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung tranh chấp nên có rất nhiều vấn đề được đề cập trong suốt quá trình tố tụng Ngoài phán quyết trọng tài chính, Hội đồng trọng tài có thể ra phán quyết bổ sung nếu có cơ sở cho rằng phán quyết của Hội đồng trọng tài đã bỏ qua những phần có ý nghĩa quan trọng đối với quyền và nghĩa vụ của các bên Về vấn đề này
tại khoản 3 Điều 33 Luật mẫu trọng tài UNICITRAL cũng có quy định : “Nếu các
bên không có thoả thuận nào khác, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra quyết định bổ sung những khiếu nại được nêu ra trong quá trình tố tụng nhưng lại không được nêu trong quyết định và phải thông báo yêu cầu này cho bên kia Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì Hội đồng trọng tài sẽ ra quyết định bổ sung trong thời hạn 60 ngày” Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 hoàn toàn không có
quy định về quyền được yêu cầu bổ sung phán quyết của các bên, điều này không phù hợp với xu thế chung của pháp luật trọng tài thế giới đồng thời cũng không phù hợp với thực tế giải quyết tranh chấp thương mại Đến Luật trọng tài thương mại
2010 đã tiếp thu tinh thần của Luật mẫu UNICITRAL đã quy định trường hợp có những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết thì một trong các bên có liên quan có quyền yêu cầu Hội đồng trọng tài
ra phán quyết bổ sung
Khoản 4 Điều 63 Luật trọng tài thương mại 2010 quy định rõ: “Trường hợp
các bên không có thoả thuận khác, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được phán quyết, một bên có thể yêu cầu Hội đồng trọng tài ra phán quyết bổ sung đối với những yêu cầu được trình bày trong quá trình tố tụng nhưng không được ghi trong phán quyết và phải thông báo ngay cho bên kia biết Nếu Hội đồng trọng tài cho rằng yêu cầu này là chính đáng thì ra phán quyết bổ sung trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu” Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng
tài có thể gia hạn việc ra phán quyết bổ sung
Nhận thấy rằng những quy định được phép sữa chữa phán quyết, giải thích phán quyết, được ra phán quyết bổ sung thật sự rất cần thiết giúp loại bỏ những sai
Trang 32sót trong quá trình tố tụng Phán quyết của trọng tài là chung thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trước bất kì cá nhân, cơ quan, tổ chức nào nên Luật tạo điều kiện cho các bên có liên quan cũng như Hội đồng trọng tài quyền và thời gian để hoàn thiện phán quyết trọng tài
Nhìn chung, Luật trọng tài thương mại 2010 bổ sung những điểm còn thiếu sót của Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 như mở rộng quyền của Hội đồng trọng tài được tự mình sữa chữa phán quyết trọng tài, thêm quy định về giải thích phán quyết, phán quyết bổ sung; được phép gia hạn thời gian sữa chữa, giải thích phán quyết, ra phán quyết bổ sung Đồng thời các bên được quyền tự thỏa thuận về thời hạn yêu cầu sữa chữa phán quyết, giải thích phán quyết, ra phán quyết bổ sung khác với thời hạn quy định trong Luật
Hơn nữa, Luật trọng tài thương mại 2010 cũng đã quy định hình thức thông báo trong quá trình tố tụng, cụ thể như sau:28 Nếu các bên không có thỏa thuận khác hoặc quy tắc tố tụng của Trung tâm trọng tài không quy định khác; Các thông báo, tài liệu có thể được Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi bằng phương thức giao trực tiếp, thư bảo đảm, thư thường, fax, telex, telegram, thư điện tử hoặc bằng phương thức khác có ghi nhận việc gửi này
Các thông báo, tài liệu do Trung tâm trọng tài hoặc Hội đồng trọng tài gửi được coi là đã nhận được vào ngày mà các bên hoặc đại diện của các bên đã nhận hoặc được coi là đã nhận nếu thông báo, tài liệu đó đã được gửi đến địa chỉ của các bên hoặc gửi cho đại diện của các bên theo đúng địa chỉ do các bên thông báo;
Thời hạn nhận thông báo, tài liệu được tính kể từ ngày tiếp theo ngày được coi là đã nhận thông báo, tài liệu Nếu ngày tiếp theo là ngày lễ hoặc ngày nghỉ theo quy định của nước, vùng lãnh thổ nơi mà thông báo, tài liệu đã được nhận thì thời hạn này bắt đầu được tính từ ngày làm việc đầu tiên tiếp theo Nếu ngày cuối cùng của thời hạn này là ngày lễ hoặc ngày nghỉ theo quy định của nước, vùng lãnh thổ nơi mà thông báo, tài liệu được nhận thì ngày hết hạn sẽ là cuối ngày làm việc đầu tiên tiếp theo
Điều khoản này nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên được biết các thông tin về việc giải quyết của Trọng tài, cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Trọng tài có đầy đủ thông tin cần thiết để giải quyết tranh chấp, đồng thời giúp Tòa án có cơ sở để xem xét các khiếu nại sau này (nếu có) Đây là điểm tiến bộ của Luật trọng tài thương mại hiện hành đã làm được so với Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003
28
Điều 12 Luật trọng tài thương mại 2010, được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Khóa XII, kỳ họp thứ 7 ngày 17/6/2010 thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/2011
Trang 33Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số điểm mà pháp luật chưa quy định
Khoản 5 Điều 63 Luật trọng tài thương mại 2010 ghi nhận đối với cả ba
trường hợp sửa chữa phán quyết, giải thích phán quyết và phán quyết bổ sung đều
ghi nhận “trong trường hợp cần thiết, Hội đồng trọng tài có thể gia hạn việc sửa chữa, giải thích hoặc ra phán quyết bổ sung theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 63 Luật trọng tài thương mại 2010” Có thể hiểu rằng thời hạn được phép gia
hạn trong các trường hợp trên là 30 ngày nếu như các bên không có thỏa thuận khác
về thời hạn Tuy nhiên Luật không quy định được gia hạn bao nhiêu lần, gia hạn rồi gia hạn tiếp có được hay không? Điều này dẫn đến có thể một trong các bên lợi dụng quy định này để kéo dài thời gian thi hành phán quyết
Theo quan điểm của người viết, cần quy định rõ rằng, thời gian gia hạn tối đa
là 30 ngày và chỉ được gia hạn một lần Bởi những vấn đề về sữa chữa những lỗi hình thức kỹ thuật, tính toán…vấn đề giải thích một nội dung nào đó trong phán quyết và việc ra phán quyết bổ sung đối với những phần có căn cứ rõ ràng là thiếu sót, ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của các bên thì không phải là vấn đề phức tạp cần nhiều thời gian
Vấn đề “báo ngay cho bên kia” “báo ngay cho các bên” ở Điều 63 Luật
trọng tài thương mại 2010 nên hiểu thời điểm thông báo này là thông báo ngay trước khi một trong các bên thực hiện quyền yêu cầu, ngay trước khi Hội đồng trọng tài quyết định tự mình sữa chữa hay ngay sau thời điểm nêu trên thì luật không nói rõ
Ví dụ:
Sau khi tranh chấp giữa Cty A và Cty B được Trung tâm trọng tài thương mại Cần Thơ giải quyết Phán quyết được Hội đồng trọng tài đưa ra ngày 18/8/2012 trong đó có nội dung Cty A phải bồi thường thiệt hại cho Cty B là 132.000.000.000 VND nhưng trong phán quyết lại ghi là 123.000.000.000VND Sau khi phát hiện sự sai sót trên ngày 18/9/2012 Cty B yêu cầu Hội đồng trọng tài hiệu chỉnh sự sai sót Ngày 19/9/2012 Cty B gửi thông báo cho Cty A biết về sự việc trên Tuy nhiên, Cty
B thông báo với Cty A không chấp nhận và khiếu nại với Hội đồng trọng tài với lý
lẽ Cty B đã vi phạm nghĩa vụ thông báo trong quá trình tố tụng Cty A cho rằng Cty
B phải thông báo cho Cty A trước thời điểm ngày 18/9/2012 Hơn nữa hết ngày 18/9/2010 là đã hết thời hạn yêu cầu sữa chữa phán quyết mà Cty A không được biết gì về việc có sự sai sót trên cho nên Cty A chỉ có trách nhiệm bồi thường 123.000.000.000 VND cho Cty B đúng như trong phán quyết
Qua tình huống cho thấy đây là một trong những số điểm chưa rõ ràng của Luật trọng tài thương mại 2010 Theo quy định của luật bên yêu cầu sữa chữa phán quyết trọng tài có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc yêu cầu