1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

chuong III kinh te quoc te

13 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 97 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài ra điều kiện sản xuất giữa các nước không giống nhau, chênh lệch nhau về giá cả hàng hoá sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý v.v… Tìm kiếm đầu tư ở bên

Trang 1

CHƯƠNG 3 : ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

I KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ CÁC HÌNH THỨC CỦA ĐẦU

TƯ QUỐC TẾ :

1 Khái niệm:

Đầu tư quốc tế là hình thức di chuyển từ nước nay sang nước khác nhằm mục đích kiếm lời

Tư bản di chuyển gọi là vốn đầu tư quốc tế Vốn đó có thể thuộc một tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB, ADB v.v…), có thể thuộc một nhà nước hoặc vốn đầu tư của tư nhân

Vốn đầu tư có thể đóng góp dưới dạng sau:

- Các ngoại tệ mạnh và tiền nội địa

- Hiện vật hưũ hình: tư kiệu sản xuất, nhà xưởng, hàng hoá, mặt đất, mặt nước, mặt biển, tài nguyên v.v…

- Hàng hoá vô hình: sức lao động, công nghệ, bi quyết công nghệ, bằng phát minh, nhãn hiệu, biểu tượng, uy tín hàng hoá v.v…

- Các phương tiện đầu tư đặc biệt khác: cổ phiếu, hối phiếu, vàng bạc, đá quý v.v…

2 Nguyên nhân hình thành đầu tư quốc tế:

Có 6 nguyên nhân chính yếu nảy sinh hiện tượng đầu tư quốc tế

a) Do sự phát triển không đồng đều về trình độ

phát triển lực lượng sản xuất, kết quả làm cho chi phí sản xuất hàng hoá giữa các nước không giống nhau Ngoài ra điều kiện sản xuất giữa các nước không giống nhau, chênh lệch nhau về giá cả hàng hoá sức lao động, tài nguyên, vốn, khoa học kỹ thuật, vị trí địa lý v.v…

Tìm kiếm đầu tư ở bên ngoài cho phép lợi dụng những chênh lệch này để giảm chi phí sản xuất: chi phí nguyên vật liệu, chi phí lương, chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng v.v…ví dụ khi đầu tư vào các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, các nhà đầu tư thường đầu tư vào các ngànhsử dụng nhiều lao động như lắp ráp hàng điện tử, ngành dệt may, chế biến thực phẩm v.v…Vì giá công nhân các nước này rẻ hơn nhiều so với các nước công nghiệp, sản phẩm làm ra cho phép có khả năng cạnh tranh về giá (xem bảng 12.1)

Trang 2

Bảng 12 1:

Lương lao động dệt – may ở một số nước trên

thế giới

Tên nước Lương lao động

USD/ giờ

Indonesia

Việt Nam

Trung Quốc

Aán Độ

Pilipphines

Thái Lan

Malaysia

Singapore

Hồng kông

Hàn Quốc

Anh

Mỹ

Pháp

Nhật

0.12 0.18 0.34 0.54 0.67 0.85 0.95 3.16 3.39 5.00 10.16 12.33 12.63 16.37

Nguồn:Theo bản tinCN dệt số 113/1995

b) Ở các nước công nghiệp phát triển tỷ xuất lợi nhuâän

có xu hướng giảm dần p’=m/c+v và kèm theo là hiện tượng thừa”tương đối”tư bản ở trong nước.Cho nên đầu tư ra nước ngoài nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn

Theo Bộ trưởng Thương mại Mỹ,tỷ lệ lãi trung bình ở các công Mỹ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương là 23%, gấp lần tỷ lệ lãi trung bình cùng kỳ ở 24 nước công nghiệp phát triển (OECD)

C) Nhu cầu về vốn của thế giới rất lớn, trong khi khả năng

tự thoả mản ở tường nước, từng khu vực có hạn cho nên dãn tới gia tăng đầu tư quốc tế Thật vậy, mọi nơi trên thế giới nhu cầu về vốn tăng vọt:

- Theo một báo cáo WB thì các nước SNG và Đông Âu cần

100 tỷ USD để khôi phục nền kinh tế sau những suy sụp về kinh tế, chính trị và xã hội

- Các nước chậm và đang phát triển cần vốn để thực hiện quá trình công nghiệp háo đất nước, đầu tư vào hạ tầng cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

Ngân hàng phát triển Châu Á và Ngân hàng thế giới cho rằng nhu cầu vốn cho sây dựng cơ sở hạ tầng ở Đông Á

Trang 3

tăng nhanh, lên tới mưc1,3 - 1,5 nghìn tỷ USD từ nay đến năm

2004 chỉ tiêu cho cơ sở hạ tầng được dự đóan sẽ tăng

d) Sự quốc tế hoá kinh tế toàn cầu gia tăng dẩn đến sư

hợp tác phân công lao động khu vực và quốc tế phát triển theo hướng mới, các nước đi trước (như Nhật Bản, EU) phải chuyển dịch cơ cấu lao động lên cao hơn và những lợi thế cũ để phát triển ngành dệt, lắp ráp, chế biến… Được chuyể sanh Hàn Quốc, Singapore… sau đó là Thái Lan , Philippines và hiện nay chuyển dịch sang Việt Nam Chính sự thay đổi trong phân công lao động này là động lực kích thích đầu tư ra nước ngoài để chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế nhằm khai thác có hiệu quả những lợi thế so sánh mới

e) Đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm được lâu dài và ổn

định cung cấp nguyên liệu chiến lược với giá rẻ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ cao

f) Tình hình bất ổn định và an ninh quốc gia là nguyên nhân

khiến những ngừơi có tiền, những nhà đầu tư chuyển vốn ra nước ngoài đầu tư nhằm bảo toàn vốn, phòng chống rủi ro khi có sự cố về kinh tế chíng trị xảy ra ở trong nước

g) Sự ra đời của các công ty đa quốc gia và xuyên quốc gia

củng là nguyên nhân dẩn tới hoạt động đầu tư quốc tế sôi động, sự dịch chuyển vốn giữa các nước diển ra không ngừng nghỉ

3 Vai trò của đầu tư quốc tế :

Đầu tư quốc tế ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đi đầu tư lẫn tiếp nhận vốn đầu tư

a)Vai trò của đầu tư quốc tế đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư:

- Gíup nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sở dụng những lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư

- Xây dựng trường cung cấp nguyên liệu ổn định với giá phải chăng: ví dụ nhờ có đầu tư nước ngoài mà Mỹ nhập khẩu ổn định toàn bộ phốt phát, đồng , thiếc,3/4quạng sắt, mangan,vv

- Bành trướng sức mạnh về kinh tế và nâng cao uy tính chính trị trên trường quốc tế: thông qua việc xây dựng nhà máy sản xuất và thị trường tiêu thụ ở nước ngoài mà các nước xuất khẩu vốn mở rộng được thị trường tiêu thụ, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch của các nước Ngoài ra nhiều nước đế quốc qua hình thức viện trợ và cho vay vốn với quy mô lớn, lãi suất hạ, mà áp đặt các điều kiện về chính trị và kinh tế trói buộc các nước đang phát triển phụ thuộc vào họ

Trang 4

- Đầu tư vốn ra nước ngoài giúp các chủ vốn đầu tư phân tán rủi ro do tình hình kinh tế trong nước bất ổn định Làn sóng đầu tư mạnh mẽ của các nhà doanh nghiệp Hong Kong, Ma cao, Đài Loan sang các nước công nghiệp phát triển nhằm để phòng có những thay đổi lớn về quản lý kinh doanh sau khi có sự sát nhập của các nước này vào Trung Quốc vào cuối thế kỷ này

- Đầu tư ra nước ngoài sẽ giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động lĩnh vực và quốc tế mới Trong 20 năm 1975 –

1996 khi đồng Yên tăng giá và việc di chuyển sản xuất của các công ty Nhật Bản ra nước ngoài sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho việc liên kết theo chiều ngang trong khu vực Trong đó, các công ty mẹ ở Nhật Bản chỉ tập trung sản xuất vào những mặt hàng cao cấp, những thiết bị cần thiết để cung cấp cho những chi nhánh của họ ở khắp Châu Á, và những khâu kỹ thuật cao đòi hỏi phải có sự nghiên cứu, còn các chi nhánh và hợp doanh đang ngày càng được phát triển tại các nước trong khu vực sẽ được hướng vàosản xuất các mặt hàng cần nhiều lao động, kỹ thuật vừa và thấp để thay thế các cho các xuất khẩu từ Nhật Bản, phục vụ cho thị trường địa phương, cung cấp lẫn nhau, xuất khẩu sang nước thứ ba và ngược lại Nhật Bản*

- Cơ chế quản lý hoạt động đầu tư của mỗi nước khác nhau, sự đầu tư vốn ở nhiều nước giúp cho các công ty đa quốc gia có thể thực hiện “chuyển giá” để tránh mức thuế cao nhằm tối ưu hoá lợi nhuận đầu tư

b) Vai trò của đầu tư quốc tế đối với các nước tiếp nhận vốn đầu tư:

Hiện nay dòng chảy của tư bản quốc tế vào 2 khu vực: các nước tư bản phát triển và các nước chậm và đang phát triển Đối với cả 2 khu vực này đầu tư quốc tế đều có vai trò quan trọng đặc biệt

* Đối với các nước tư bản phát triển như Mỹ và Tây

Âu đầu tư của nước ngoài có ý nghĩa quan trọng: như các chuyên gia kinh tế của Mỹ sau khi nghiên cứu hiện tượng Nhật

ồ ạt đầu tư vào Mỹ (từ 1951- 1991 Nhật đã đầu tư 148,6 tỷ USD chiếm 42,2% tổng số vốn đầu tư của Nhật ra nước ngoài)đã đưa ra nhận định việc đầu tư của Nhật mang lại nhiều cái lợi cho nền kinh tế Mỹ hơn là mặt hại Những cái lợi đó là:

- Giúp giải quyết những vấn đề khó khăn về kinh tế xã hội trong nước như: thất nghiệp, lạm phát v.v…

- Việc mua lại những công ty, xí nghiệp có nguy cơ bị phá sản giúp cải thiện tình hình thanh toán, tạo công ăn việc làm mới cho người lao động

Trang 5

- Tăng thu ngân sách dưới hình thức các loại thuế để cải thiện tình hình bội chi ngân sách của Mỹ

- Tạo ra môi trường cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và thương mại của Mỹ

- Giúp các nhà doanh nghiệp Mỹ học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của Nhật

Chính nhận thức được vai trò của đầu tư quốc tế đối với sự phát triển kinh tế Mỹ, cho nên mặc dù Mỹ đã thu hút trên 30% tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới, nhưng chính phủ Mỹ vẫn không ngừng thực hiện chính sách “mở cửa đầu tư” và ngăn chặn xu hướng rút vốn đầu

tư ra khỏi nước Mỹ

* Đối với các nước chậm và đang phát triển:

- Đầu tư quốc tế giúp các nước này đẩy mạnh tốc độ phát triển nền kinh tế thông qua việc tạo ra những xí nghiệp mới hoặc tăng quy mô của các đơn vị kinh tế

- Thu hút thêm lao động giải quyết một phần nạn thất nghiệp ở các nước này Theo thống kê của Liên hiệp quốc, số người thất nghiệp và bán thất nghiệp của các nước chậm và đang phát triển khoảng 35 – 38% tổng số lao động, cho nên hàng vạn xí nghiệp có vốn FDI hoạt động tại các nước đang phát triển giúp các nước này giải quyết một phần nạn thất nghiệp Ví dụ như Trung quốc tính đến tháng 9/2002 chỉ riêng lĩnh vực đầu tư FDI nhà nước đã phê chuẩn hơn 414.000 dự án với tổng số vốn đăng ký là 813,66 tỷ USD, trong đó vốn đầu tư đã thực hiện là 434,78 tỷ USD giải quyết việc là cho hàng triệu lao động Trung Quốc Hay ở Việt Nam kể từ khi có Luật Đầu tư nước ngoài 12/1987 đến hết năm 2002 đã cấp giấy phép cho 4582 dự án với tổng số vốn đăng ký 50,3 tỷ USD giải quyết công ăn việc làm cho gần 400.000 lao động

- Các dự án FDI góp phần tạo ra môi trường cạnh tranh là động lực kích thích nền kinh tế tăng trưởng về lượng cũng như về chất

- Giúp các nước chậm phát triển giảm một phần nợ nước ngoài Số nợ hiện nay khoảng 1.500 tỷ USD, giá trị tương đương khoảng 86.000 tấn vàng, núi vàng này đang lớn dần lên do lãi mẹ đẻ lãi con và phải tiếp tục vay thêm để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội trong nước

- Ngoài ra thông qua tiếp nhận đầu tư quốc tế các nước đang phát triển có điều kiện tiếp nhận kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài

4 CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CHỦ YẾU:

Đầu tư quốc tế được thực hiện chủ yếu dưới 3 hình thức: đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế

4.1 Đầu tư trực tiếp:

a) Khái niệm:

Trang 6

Là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất hoặc dịch vụ, cho phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.

b) đặc điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:

- Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một số vốn tối thiểu, tuy øtheo quy định của luật đầu tư từng nước, ví dụ như Luật đầu tư của Việt Nam quy định “số vốn đóng góp tối thiểu phía nước ngoài phải bằng 30% vốn pháp định của dự án” hay Luật đầu tư của Nam Tư cũ trước đây quy định “phần của bên đối tác nước ngoài đóng góp không dưới 5% tổng số vốn đầu tư”

- Quyền hành quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn, nếu góp 100% vốn thì xí nghiệp hoàn tòan do chủ đầu tư nước ngoài điều hành

- Lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào hoạt động kinh doanh của xí nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định sau khi đã nộp thuế

lợi tức cho nước chủ nhà

- Đầu tư trực tiếp được thể hiện dưới các hình thức:

+ Đóng góp vốn để xây dựng xí nghiệp mới

+ Mua lại toàn bộ hoặc từng phần xí nghiệp đang hoạt động

+ Mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập

c) Ưu điểm của hình thức đầu tư trực tiếp:

- Về phía chủ đầu tư nước ngoài:

+ Cho phép chủ đầu tư nước ngoài ở mức độ nhất định (phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn) tham dự vào điều hành quá trình kinh doanh của xí nghiệp, nên họ trực tiếp kiểm soát sự hoạt động và kịp thời đưa ra những quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra Nếu môi trường đầu tư ổn định các chủ đầu tư thường thích bỏ 100% vốn đầu tư

+ Giúp cho các chủ đầu tư nước ngoài dễ chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ và nguồn cung cấp nguyên liệu chủ yếu của nước chủ nhà

+ Lợi dụng cơ chế quản lý thuế đối với các hoạt động đầu tư ở các nước khác nhau, mà các nhà đầu tư mở các công ty con ở các nước khác nhau để thực hiện “chuyển giá” nhằm tối đa hoá lợi nhuận

+ Giúp chủ đầu tư khai thác lợi thế của các quốc gia khác: thị trường, vị trí địa lý, tài nguyên, nguồn nhân lực, đất đai…nhằm giảm chi phí kinh doanh để tăng lợi nhuận

+ Tránh được hàng rào bảo hộ mậu dịch vì thông qua đầu tư trực tiếp họ tạo được các xí nghiệp, nằm bên”trong lòng” các nước thi hành chính sách bảo hộ mậu dịch

- Về phía nước ngoài tiếp nhận đầu tư:

Trang 7

+ Giúp tăng cường khai thác vốn của các chủ đầu tư nước ngoài Nhiều nước thiếu vốn trầm trọng nên đối với hình thứcđầu tư trực tiếp không quy định mức đóng góp tối đa của mỗi chủ đầu tư, thậm chí đóng góp vốn càng nhiều, thì càng được hưởng những chính sách ưu đãi về thuế của nước chủ nhà

+ Giúp tiếp thu được công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý kinh doanh của các chủ đầu tư nước ngoài

+ Nhờ có vốn đầu tư nước ngoài cho phép chủ nhà có điều kiện khai thác tốt nhất những lợi thế của mình về tài nguyên, vịo trí, mặt đất, mặt nước v.v…

+ Đẩy nhanh tiến trình hội nhập của quốc gia với nền kinh tế thế giới vì đầu tư trực tiếp là nhân tố tác động mạnh đến tiến trình hoàn thiện thể chế, chính sách đến môi trường đầu tư

+ Góp phần thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp và dịch vụ làm cho tính hiệu quả của sự phát triển kinh tế được nâng lên

+ Đầu tư FDI góp phần nâng cao mức sống của nước tiếp nhận đầu tư thông qua giải quyết việc làm, tăng thu nhập, tạo đội ngũ lao động có trình độ và tay nghề

Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước tiếp nhận đầu tư nước ngoài cho thấy bên cạnh những ưu điểm thì hình thức đầu

tư trực tiếp cũng có những hạn chế nhất định

- Nếu đầu tư vào môi trường bất ổn định về kinh tế và chính trị chủ đầu tư nước ngoài dễ bị mất vốn

- Nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể và khoa học dẫn tới sự đầu tư tràn lan kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên bị bóc lột quá mức và nạn ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vì hiện nay ở các nước tư bản phát triển thực hiện sự kiểm soát gắt gao những dự án gây ô nhiễm môi trường, nên xu thế nhiều nhà tư bản nước ngoài đã và đang chuyển giao những công nghệ độc hại sang các nước kém phát triển

- Đầu tư FDI co thể gây tác động không thuận lợi: “Tác động âm” lên cán cân thương mại và cán cân thanh toán Sự

“nhập siêu” trong cán cân thương mại của Việt Nam hàng năm từ 2 – 3 tỷ USD trong suốt 15 năm qua, cũng do một phần tác động của hoạt động FDI

- Hoạt động FDI cũng tạo ra điều kiện để dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo, sự di dân ồ ạt ra thành thị các trung tâm đô thị lớn gây ra sự xáo trộn xã hội; bất bình đẳng gia tăng: bất bình đẳng giữa các vùng kinh tế, các ngành kinh tế và giữa các tầng lớp dân cư

- Hoạt động đầu tư FDI là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự pha trộn về văn hoá, bản sắc dân tộc bị mai một

Trang 8

4.2 Đầu tư gián tiếp:

a) Khái niệm:

Là hình thức đầu tư mà chủ tư bản chuyển vốn vào một quốc gia khác để mua cổ phần hoặc chứng khoán trên thị trường tài chính nhằm thu lợi thông qua cổ tức hoặc thu nhập chứng khoán.

b) Đặc điểm của hình thức đầu tư gián tiếp:

- Tuỳ theo luật định của tầng nước mà mỗi chủ đầu tư nước ngoài bị khống chế mức độ góp vốn Thường dưới 10 – 25% vốn pháp định

- Các chủ đầu tư nước ngoài kiếm lời qua cổ chức (thu nhập cổ phiếu hoặc chứng khoán)

- Chủ đầu tư nước ngoài không được phép điều hành hoạt động của xí nghiệp mà họ bỏ vốn mua cổ phiếu (hoặc chứng khoán)

- Nhà đầu tư bỏ vốn kinh doanh thông qua thị trường tài chính

c) Ưu điểm của hình thức đầu tư gián tiếp:

- Khi có sự cố trong kinh doanh xảy ra đối với xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì chủ đầu tư ít bị thiệt hại vì vốn đầu

tư được phân tán trong vô số đông những người mua cổ phiếu

- Bên tiếp nhận vốn đầu tư hoàn toàn chủ động quản lý vốn kinh doanh theo ý mình một cách tập trung

- khi tình hình tài chính, tiền tệ, chính trị của nước tiếp nhận đầu tư bất ổn định có thẻ dễ dàng bán hoặc chuyển nhượng chứng khoán hơn(so với hình thức đầu tư FDI)

- Mở rộng khả năng thu hút vốn từ các chủ đầu tư có số vốn nhỏ từ mọi nguồn của thế giới

Những hạn chế của hình thức đầu tư gián tiếp:

- Quản lý và điều tiết thị trường chứng khoán thiết chặt chẽ, dễ dẫn tới sự thao túng của các thế lực đầu cơ tiền tệ quốc tế

- Hạn chế khả năng thu hút vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài vì bị khống chế mức độ đóng góp vốn tối đa của từng chủ đầu tư

- Chủ đầu tư nước ngoài ít thích hình thức đầu tư gián tiếp bởi họ không được trực tiếp tham gia điều hành hoạt động kinh doanh của xí nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư

- Hạn chế khả năng tiếp thu kỹ thuật, công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các chủ đầu tư nước ngoài

4.3 Hình thức tín dụng quốc tế:

a) Khái niệm:

Về thực chất đây cũng là hình thức đầu tư gián tiếp,

nhưng nó có những đặc thù riêng cho nên trong thực tế hình thức này vẫn được phân loại như là một hình thức độc lập

Trang 9

Là hình thức đầu tư dưới dạng cho vay và kiếm lời thông qua lãi suất tiền va Đây là hình thứcđầu tư chủ yếu vì nó có những ưu điểm sau đây:

- Vốn vay chủ yếu dưới dạng tiền tệ dễ dàng chuyển

thànhcác phương tiện đâù tư khác

- Nước tiếp nhận đầu tư hoàn toàn quền sử dụng vốn

đầu tư cho các mục đích riêng rẽ của mình

- Chủ đầu tư nước ngoài có thu nhập ổn định thông qua lãi suất, số tiền này không phụ thuộc vào hiệu quả của vốn đầu tư

- - nước cho vay vốn được trục lợi về chính trị, trói buộc các

nước vay vốn vào vòng ảnh hửông của mình

Nhưnh hình thực đầu tư này cũng có nhược điểm là hiệu quả sử dụng vốn thường thấp do bên nước ngoài không trực tiếp tham gia vào quản lý hiệu quả vốn đầu tư Hậu quả nhiều nước chậm và đang phát triển lâm vào tình trạng vay nợ, nhiều nước mất khả năng chi trả Năm 1997 nợ nước ngoài của các nước đang phát triển là 1.500 tỷ USD, là một trong những nguyên nhânâ dẩn đến cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ diểnå ra 1997-1998 ở các nước Đông và Đông Nam Châu Á là do tình hình vay nợ nước ngoài khá trầm trọng: Năm 1999 Thái Lan nợ nước ngoài 9,9 tỷ USD chiếm 34% GDP, Malaysia nợ 36,4 tỷ USD chiếm 38,5% GDP, Indonesia nợ 109,3 tỷ USD

b) ODA - Hình thức tín dụng quốc tế đặc biệt:

ODA là gì? ODA viết tắt các từ chữ tiếng anh Official Devolopment Assistance – Hỗ trợ phát triển chính thức:đây là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn với những điều kiện đặc biệt ưu đãi: cho vay dài hạn lãi suất thấp, các trả nợ thuận lợi nhằm giúp các nước chậm và đang phát triển đẩy nhanh tốc độ tăng trưỡng kinh tế và phúc lợi xã hội

Có nhiều loại ODA, được phân loại theo những tiêu thức

khác nhau:

- Phân loại theo cách hoàn trả vốn, ODAchia 3 loại:

+ Viện trợ không hoàn lại: chiếm khoảng 57% tổng số

vốn ODA (xen bảng 50)

+ Vay vốn: với lãi suất ưu đãi phải hoàn trả lại vốn sau

một thời hạn quy định

+ ODA hỗn hợp: áp dụng một phàn ODA không hoàn lại,

một phần cho vay ưu đãi Thậm chí có loại ODA không hoàn lại, một phần vay vốn ưu đãi,một phần tín dụng thương mại(lãi suất tính theo thị trường)

- Phân loại theo nguồn hình thành ODA:

ODA chia 2 loại: nguồn vốn song phương và nguồn vốn da

phương

Trang 10

+ Nguồn vốn song phương: là khoản viện trợ trực tiếp từ

nước này đến nước kia thông qua việc ký kết hiệp định chính phủ Viện trợ song phương thường chiếm tỷ trọngtrên 80%tổng vốv ODA của thế giới

+ Nguồn vốn đa phương:là hình thức viện trợ ODA cho các

nước đang phát triển thông qua các tổ chức tài chính quốc te ánhư Ngân hàng thế giới (WB), Quỹ phát triển Châu phi…

Nguồn ODA đa phương được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các nước công nghiệp phát triển

Phân loại theo hình thức sử dụng vốn:ODA chia làm 4

loại:

+Dự án đầu tư: là hình thức đầu tư vào một công trình

để trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc là dịch vụ cho xã hội Đây là hình thức đầu tư cơ bản chiếm 90% tổng trị giá đầu tư và 51% số dự án đầu tư ODA VÀO Việt Nam.Nguồn tài trợ chủ yếu dưới dạng vay với lãi suất ưu đãi

+ dự án hỗ trợ về kỹ thuật: là hình thức đầu tư cho

việc thuê chuyên gia tư vấn, tổ chức đào tạo cán bộ, đi nghiên cứu khảo sát nước ngoài Các dự án này thường sử dụng nguồn viện trợ không hoàn lại

+ Chương trình: Đó là một loại hình tài trợ ODA, trong đó

người ta lồng ghép một hoặc nhiều mục tiêu với tập hợp nhiều dự án Có thể phân loại các chương trình này theo mục tiêu và chính sách của các nhà tài trợ như sau:

- Các chương trình tăng cường cải cách cơ cấu kinh tế vĩ mô và thể chế của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB Ví dụ chương trình điều chỉnh cơ cấu kinh tế, chương trình nông nghiệp, chương trình tài chính – ngân hàng…

+ Các chương trình hợp tác theo ngành kinh tế hoặc theo lĩnh vực xã hội của các nước hoặc của Liên hiệp quốc Ví dụ chương trình hợp tác Việt Nam – Australia về đào tạo…

c) Hỗ trợ ngân sách:

Tổng số vốn đã được ký hiệp định trong dạng ODA nàỳ chiếm 4% tổng số vốn hiệp định đã ký và chiếm 1,08% số dự án đã ký Loại này thường chỉ có ở giai đoạn đầu khi quan hệ hợp tác giữa nước ta các nước mới được nối lại Ví dụ việc Nhật Bản, Bỉ, Hà Lan hỗ trợ nước ta giải quyết nợ với các tổ chức tài chính quốc tế hay chương trình cơ cấu kinh tế mở rộng cho thời kỳ trung hạn của IMF Dạng hỗ trợ này có thể được thực hiện dưới dạng hàng hoá hoặc tiền mặt

II.CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

1.HỆ THỐNG LUẬT PHÁP ĐẦU TƯ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

1.1/ Tính cần thiết khách quan của việc nghiên cứu Luật Đầu Tư:

Ngày đăng: 04/04/2018, 13:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w