Tuy nhiên, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith có nhược điểm là đồng nhất sựphân công lao động trong nước với sự phân công lao động quốc tế mà không tính đến sựkhác biệt giữa các
Trang 1CHƯƠNG 2: THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
I Khái niệm, đặc điểm và các hình thức thương mại quốc tế:
1 Khái niệm và đặc điểm của thương mại quốc tế:
1.1 Khái niệm thương mại quốc tế:
Là một hình thức của quan hệ kinh tế quốc tế, là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ quabiên giới quốc gia hoặc lãnh thổ thông qua các chủ thể của quan hệ kinh tế quốc tế
Thương mại quốc tế dựa trên cơ sở phân công lao động giữa các quốc gia, cho phépmỗi quốc gia có thể phát huy tối đa lợi thế của mình
Các chủ thể của thương mại quốc tế:
- Chính phủ, cơ quan chính phủ
- Các công ty quốc tế
- Các tổ chức kinh tế quốc tế
- Các hãng, tập đoàn, tổ chức kinh doanh
1.2 Đặc điểm của thương mại quốc tế:
- Thương mại quốc tế những năm gần đây có xu hướng tăng với tốc độ nhanh, cao hơntốt độ tăng trưởng của ngành sản xuất Tỷ trọng kim ngạch ngoại thương trong tổng sảnphẩm quốc dân của mỗi quốc gia ngày càng lớn, thể hiện mức độ mở cửa của nền kinh tếmỗi quốc gia ra thị trường thế giới
- Tốc độ tăng trưởng thương mại “vô hình” nhanh hơn tốc độ tăng trưởng của thươngmại “ hữu hình” thể hiện sự biến đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế, cơ cầu hàng xuất nhậpkhẩu của mỗi quốc gia Điều này đã kéo theo nhiều quốc gia đang có sự đầu tư phát triểnnhiều lĩnh vực dịch vụ
- Cơ cấu mặt hàng trong thương mại quốc tế có những thay đổi sâu sắc với những xuhướng chính sau đây:
+ Giảm đáng kể tỷ trọng của nhóm hàng lương thực, thực phẩm, đồ uống
+ Giảm mạnh tỷ trọng của nhóm hàng nguyên vật liệu, tăng nhanh tỷ trọng dầu mỏ, khíđốt
+ Giảm tỷ trọng hàng thô, tăng nhanh tỷ trọng sản phẩm công nghiệp chế tạo, nhất làmáy móc, thiết bị và những mặt hàng tinh chế
+ Giảm tỷ trọng buốn bán những mặt hàng chứa đựng nhiều lao động giản đơn, tăngnhanh những mặt hàng kết tinh lao động thành thạo, lao động phức tạp
Trang 2+ Tỷ trọng buốn bán những mặt hàng chứa đựng hàm lượng vốn lớn, công nghệ caotăng nhanh.
- Sự phát triển của nền thương mại thế giới ngày càng mở rộng phạm vi và phương thứccạnh tranh với nhiều công cụ khác nhau, không những về mặt chất lượng, giá cả mà còn vềđiều kiện giao hàng, bao bì, mẫu mã, thời hạn thanh toán, các dịch vụ sau bán hàng và cáctiêu chuẩn khác gắn với trách nhiệm xã hội và quyền lợi người tiêu dùng
- Trình độ phát triển của các quan hệ thị trường càng cao, càng mở rộng phạm vi thịtrường sang các lĩnh vực tài chính, tiền tệ và chính công cụ tài chính tiền tệ ngày càng đóngvai trò quan trọng trong quan hệ kinh tế quốc tế
- Đi đôi với các quan hệ mậu dịch, sự phân công lao động quốc tế, hợp tác đầu tư, hợptác khoa học và kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, ngày càng đa dạng và phong phú, bổ sungcho nhau và thúc đẩy nhau phát triển
- Chu kỳ sống của từng loại sản phẩm ngày càng được rút ngắn, việc đổi mới thiết bị,đổi mới công nghệ, đổi mới mẫu hàng hóa diễn ra liên tục, đòi hỏi pahỉ năng động, nhạy bénkhi gia nhập thị trường thế giới Các sản phẩm có hàm lượng khoa học và công nghệ cao cósức cạnh tranh mạnh mẽ trong khi các sản phẩm nguyên liệu thô ngày càng mất giá, kém sứccạnh tranh
Sự phát triển của các quan hệ kinh tế quốc tế một mặt thúc đẩy tự do hóa thương mại,song mặt khác, giữ các liên kết kinh tế quốc tế cũng hình thành các rào cản mới, yêu cầu bảo
hộ mậu dịch này càng tinh vi
2 Các hình thức của thương mại quốc tế:
2.1 Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa hữu hình ( nguyên vật liệu, may mặc, thiết bị,lương thực thực phẩm, các loại hàng tiêu dùng, ) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặcxuất nhập khẩu ủy thác
2.2 Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa vô hình:
2.3 Gia công xuất khẩu:
2.4 Tái xuất khẩu, chuyển khẩu:
2.5 Xuất khẩu tại chỗ
II Các lý thuyết về thương mại quốc tế:
1 Quan điểm của phái trọng thương ( Mercantilism ) về thương mại quốc tế:
Đây là lý thuyết thương mại quốc tế đầu tiên trong lịch sử
Những tác giả tiêu biểu cho phái trọng thương: Thomas Mun, Montchrestien, AntinioSerra,
1.1 Những đặc điểm kinh tế xã hội để hình thành các quan điểm:
Trang 3- Vào đầu thế kỷ 15, xã hội Tây Âu vẫn chủ yếu là nông nghiệp, sản xuất tự cung tự cấp
là chính, thương mại chưa phát triển
- Cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, thương mại đã có bước phát triển do:
+ Sản xuất ra những sản phẩm như: đồng hồ, kính hiển vi, phong vũ biểu, giúp quansát và thực nghiệm chính xác hơn, nâng tầm hiểu biết của con người về thế giới xung quanh
+ Khám phá ra những vùng đất mới, tạo điều kiện giao lưu giữa các khu vực
+ Sự gia tăng dân số tạo nên thị trường lao động, thị trường tiêu thụ
1.2 Những nội dung cơ bản:
- Coi trọng xuất nhập khẩu, cho rằng đó là con đường mang lại sự phồn thịnh cho quốcgia Tuy nhiên, phương châm phải là xuất siêu “ Một quốc gia chỉ có thể thu lợi do ngoạithương nếu xuất khẩu vượt nhập khẩu”
- Chủ trương “ Một cán cân thương mại thặng dư” dẫn đến:
+ Chỉ chú ý đến xuất khẩu: tìm mọi cách để xuất khẩu cả về số lượng lẫn giá trị, cònnhập khẩu rất hạn chế
+ Thực hiện độc quyền mậu dịch: tức là loại ngoại quốc ra khỏi một số vùng nàođó, Cán cân thương mại được cải thiện bằng cách mỗi quốc gia mua ở những nơi thuộcquyền kiểm soát của họ với giá rẻ và bán đắt ơ những nơi khác
+ Tiến hành bảo hộ mậu dịch: không đánh thuế đối với nhập khẩu nguyên liệu hay cóthêm một khoản trợ cấp Cấm xuất khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm,
+ Vàng bạc được coi trọng quá mức: Đo lợi ích dân tộc bằng kho dự trữ kim loại quý,cho rằng quốc gia nào có mỏ vàng, mỏ bạc là số 1 nếu không phải buôn bán với nước ngoài
để đổi lấy quý kim
Tóm lại, quan điểm của phái trọng thương là:
- Đánh giá được vai trò quan trọng của thương mại quốc tế, coi đó là nguồn quantrọng mang lại quý kim cho đất nước
- Nêu cao vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực ngoại thương như: lập ra các hàng ràothuế quan, khuyếch trương xuất khẩu, hạn chế nhập khẩu,
- Coi việc buôn bán với nước ngoài không phải xuất phát từ lợi ích của hai phía màchỉ có thu lợi cho lợi ích quốc gia mình
Mặc dù quan điểm của các tác giả phái trọng thương còn nhiều hạn chế nhưng họ đãkhẳng định được vai trò của thương mại quốc tế và sự can thiệp của nhà nước vào nền kinhtế
2 Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ( Absolute Advantage ):
Trang 4Adam Smith ( 1723-1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh, ông nổi tiếng với quanđiểm “ bàn tay vô hình” Ông đã có những đóng góp trong việc nêu lên những luận điểmkhoa học về vai trò và lợi ích của thương mại quốc tế mang tính khoa học và thực tiễn hơn.2.1 Đặc điểm kinh tế xã hội thời bấy giờ:
- Từ thế kỷ 18, nền kinh tế các nước Tâu Âu đã có những thay đổi đáng kể:
+ Từ một xã hội nông nghiệp đơn giản phát triển thành một xã hội kinh tế phức tạp,bao gồm nhiều ngành nghề kinh tế khác nhau
+ Công nghiệp phát triển
+ Thương mại nội bộ địa phương đã được mở rộng ra toàn quốc và toàn cầu, các mặthàng xuất khẩu đa dạng hơn
+ Hệ thông ngân hàng phát triển, hệ thống thương phiếu ra đời và bắt đầu phát triểntiền tệ
+ Vai trò của các doanh nghiệp được đề cao
2.2 Quan điểm kinh tế cơ bản của Adam Smith:
- Đề cao vai trò của tư nhân và các doanh nghiệp, ủng hộ một nền thương mại tư do,không có sự can thiệp của chính phủ Thương mại tư do sẽ làm cho thế giới sử dụng tàinguyên có hiệu quả hơn
- Thấy được tính ưu việt của chuyên môn hóa
- Cơ sở thương mại giữa hai quốc gia là lợi thế tuyệt đối
Lợi thế tuyệt đối của Adam Smith:
Là chi phí sản xuất thấp hơn ( chỉ tính chi phí lao động ) Nếu quốc gia I có lợi thế tuyệtđối về một sản phẩm A và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B Trong khi đó quốc gia II
có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm B và không có lợi thế tuyệt đối về sản phẩm A Khi đó, cảhai quốc gia đều có thể có lợi nếu quốc gia I chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm A, quốc gia
II chuyên môn hóa sản xuất sản phẩm B và trao đổi cho nhau Bằng cách đó tài nguyên mỗinước sẽ sử dụng có hiệu quả hơn và sản phẩm sản xuất của hai nước sẽ tăng lên Phần tănglên này chính là lợi ích của chuyên môn hóa
Minh họa:
Giả sử một giờ lao động ở Mỹ sản xuất được 6 giạ lúa mì ( 1 giạ bằng 36 lít ), ở Anhđược 1 giạ Trong khi đó 1 giời lao động ở Anh sản xuất được 5 mét vải, còn Mỹ sản xuấtđược 4 mét Thể hiện qua bảng như sau:
Trang 5Sản phẩm Mỹ Anh
Lúa mì ( giạ/người/giờ ) 6 1
Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì Mỹ sẽ chuyên môn hóa sản xuất lúa
mì, còn Anh sẽ chuyên môn hóa sản xuất vải và sau đó đem trao đổi cho nhau: Mỹ sản xuấtlúa mì, nhập vải còn Anh thì sản xuất vải nhập lúa mì
Nếu đổi Mỹ 6 giạ lúa mì ( 6W ) với Anh để lấy 6 mét vải ( 6C ) thì Mỹ sẽ có lợi 2C haytiết kiệm được ½ giờ tức 30 phút thời gian lao động ( vì trong nội địa Mỹ chỉ có thể đổi 6Wlấy 4C mà thôi ) Tương tự như vậy, nếu Anh nhận được từ Mỹ 6W, tức là Anh không phảitiêu phí một lượng thời gian 6h để sản xuất ở trong nước Với thời gian đó, Anh chỉ tập trungcho sản xuất vải thì sẽ được 30C ( 6hx5m/vải/người/giờ) Trong đó, 6C dùng đểtrao đổi với Mỹ, còn 24C là lợi ích thuộc về Anh Hay nói cách khác Anh đã tiết kiệm đượcgần 5 giờ ( vì một giời sản xuất được 5 mét vải trong nội địa nước Anh )
Qua ví dụ trên, chúng ta thấy thức tế là Anh có lợi nhiều hơn so với Mỹ Tuy nhiên, điều
đó không quan trọng Điều quan trọng là cả hai quốc gia đều có lợi nhờ chuyên môn hóa vàthương mại quốc tế
Tuy nhiên, lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith có nhược điểm là đồng nhất sựphân công lao động trong nước với sự phân công lao động quốc tế mà không tính đến sựkhác biệt giữa các quốc gia là rất lớn về thể chế chính trị, phong tục tập quán,
Lý thuyết tuyệt đối chỉ có thể giải thích được một phần rất nhỏ trong mậu dịch quốc tếngày nay ví dụ như giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển Lý thuyết nàykhông thể giải thích được trong trường hợp một nước được xem là “tốt nhất” tức là quốc gia
đó có lợi thế tuyệt đối để sản xuất tất cả sản phẩm hoặc một nước được xem là “kém nhất”tức là quốc gia đó không có một sản phẩm nào có lợi thế tuyệt đối để sản xuất trong nước.Liệu trong trường hợp đó, các quốc gia còn gia thương với nhau được nữa không là lợi íchmậu dịch nằm ở chỗ nào Ngày nay, đặc biệt là thương mại giữa các nước phát triển với nhaunếu dùng lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith thì không giải thích được Để là đượcđiều này phải nhờ tới quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo
3 Lợi thế so sánh của David Ricardo ( Comparative Advantage )
Để xây dựng quy luật lội thế so sánh, Ricardo đã đưa ra một số giả thiết làm đơn giản hóa
mô hình thương mại
- Chỉ có 2 quốc gia và hai loại sản phẩm
- Thương mại tự do
Trang 6- Loa động có thể chuyển dịch hoàn toàn chỉ trong 01 quốc gia nhưng không có khả năngchuyển dịch giữa các quốc gia.
- Chi phí sản xuất là cố định
- Không có chi phí vận chuyển
- Lý thuyết tính giá trị bằng lao động
Theo quy luật này, ngay cả một quốc gia là “kém nhất” ( tức là không có lợi thế tuyệt đối
để sản xuất cả hai sản phẩm ) vẫn có lợi khi giao thương với một quốc gia khác được coi là
“tốt nhất” ( tức là có lợi thế tuyệt đối để sản xuất cả hai sản phẩm ) và quốc gia thứ hai lạicàng có lợi hơn so với khi không giao thương
Nguợc lại, chi phí sản xuất cả hai sản phẩm ở Mỹ đều thấp hơn so với ở Anh nhưng Mỹchỉ tập trung sản xuất sản phẩm mình có lợi thế so sánh Mỹ có lợi thế tuyệt đối ở hai sảnphẩm lúa mỉ và vải so với Anh nhưng lợi thế tuyệt đối sản xuất lúa mì lớn hơn ( 6 so với 1 )
so với vải ( 4 so với 2 ) nên Mỹ có lợi thế so sánh về lúa mì
Theo quy luật lợi thế so sánh của David Ricardo thì cả hai quốc gia đều có lợi nếu Mỹchuyên môn hóa sản xuất lúa mì và xuất khẩu một phần để đối lấy vải của Anh Còn Anh thìchuyên môn hóa sản xuất vải và xuất khẩu một phần để đổi lấy lúa mì của Mỹ
Một cách tổng quát, quy luật lợi thế so sánh có thể được phát biểu như sau:
Nếu trong một thời gian nhất định ( giờ, ngày ) quốc gia sản xuất được a1 sản phẩm A và
b1 sản phẩm B; quốc gia II sản xuất được a2 sản phẩm A và b2 sản phẩm B thì quốc gia I sẽxuất khẩu A và nhập khẩu B nếu a1/b1>a2/b2 và quốc gia II sẽ xuất khẩu B và nhập khẩu A.Ngược lại, nếu a1/b1<a2/b2 thì quốc gia I sẽ nhập khẩu A xuất khẩu B và quốc gia II sẽ xuấtkhẩu A nhập khẩu B
Trang 7Tóm lại, David Ricardo đã đi xa hơn Adam Smith ở chỗ chứng minh rằng tất cả các quốcgia đều có lợi khi giao thương với nhau bất kể quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối hay không.Tuy nhiên , lý thuyết này còn có nhược điểm như sau:
- Trong chi phí sản xuất mới tính đến có một yếu tố duy nhất là lao động còn các yếu
tố khác như đất đai, vốn, kỹ thuật và trình độ của người lao động thì không đề cậpđến Do đó không tìm ra nguyên nhân tại sao năng suất lao động của nước này lạicao hay thấp hơn so với năng suất lao động của nước kia
- Mặc dù học thuyết này có chứng minh được lợi ích của thương mại quốc tế nhưngvẫn không xác định được tỉ lệ giao hoán quốc tế, tức là giá cả quốc tế, căn bản vẫn
là hàng đổi hàng
- Một sản phẩm mang trao đổi không chỉ phụ thuộc vào chi phí sản xuất ra nó mà cònphụ thuộc vào nhu cầu tiêu dùng sản phẩm đó ở trong nước Davia Ricardo khôngthấy được điều này, ông chỉ chú ý đến cung ma không chú ý đến cầu, đặc biệt là cầutrong nước Do đó, không xác định được giá cả tương đối của sản phẩm dùng đểtrao đổi giữa các nước với nhau
4 Lý thuyết chi phí cơ hội của Gottfried Haberler ( The Opportunity cost theory )
Vào năm 1936, Gottfried Haberler đã đưa ra lý thuyết chi phí cơ hội để giải thích quyluật lợi thế so sánh của Davia Ricardo ( vì lý thuyết này còn nhiều hạn chế )
Theo lý thuyết chi phí cơ hội thì chi phí cơ hội của một sản phẩm là số lượng một sảnphẩm khác mà người ta phải hy sinh để có đủ tài nguyên làm tăng thêm một đơn vị sản phẩmthứ nhất
Ví dụ: Nếu không có mậu dịch thì Mỹ cần phải bỏ ra 2/3 mét vải để có đủ số tàinguyên sản xuất một giạ lúa mì Như vậy chí phí cơ hội để sản xuất ra một đơn vị lúa mì sẽ
là 2/3 Còn ở Anh, chi phí sản xuất ra một đơn vị lúa mì là 2 Như thế cơ hội để sản xuất mộtđơn vị lúa mì của Mỹ thấp hơn của Anh và Mỹ sẽ có lợi thế so sánh ( lợi thế chi phí ) so vớiAnh về lúa mì Cũng tương tự, chi phí cơ hội để sản xuất một đơn vị vải của Mỹ là 3/2, củaAnh là ½
Do đó, Anh sẽ có lợi thế so sánh ( lợi thế chi phí ) thấp hơn so với Mỹ về vải Kết quảnày cũng đúng như trước đây đã nghiên cứu qua quy luật lợi thế so sánh của David Ricardonhưng chỉ khác ở chỗ thay vì giải thích bởi lý thuyết tính giá trị bằng lao động, Haberler đãgiải thích bằng lý thuyết chi phí cơ hội, tránh được giả thiết cho rằng lao động là yếu tố duynhất tạo ra sản phẩm
Chi phí cơ hội được minh họa bằng đường giới hạn khả năng sản xuất ( Theproduction possibility frontier )
Ví dụ, có số liệu như sau, đơn vị tính ( triệu giạ lúa mì hay triệu mét vải )
Trang 8Mỹ MỹLúa mì ( W ) Vải ( C ) Lúa mì ( C ) Vải ( C )
Ta có thể biểu diễn giới hạn khả năng sản xuất của Anh và Mỹ theo những số liệu trênqua biểu đồ Mỗi một điểm trên đường giới hạn khả năng sản xuất biểu hiện một sự phối hợpgiữa lúa mì và vải mà mỗi quốc gia có thể sản xuất Ví dụ, tại điểm A, Mỹ sản xuất được90W và 60C Tại điểm A’, Anh sản xuất được 40W và 40C
Trang 9Những điểm nằm bên trong đường giới hạn khả năng sản xuất biểu thị nguồn tài nguyênkhông được sử dụng hoàn toàn, không hiệu quả Còn những điểm nằm bên ngoài đường giớihạn khả năng sản xuất là không thề đạt tới bằng nguồn tài nguyên và kỹ thuật hiện có củaquốc gia.
Trong khi chi phí cơ hội là không đổi trong mỗi quốc gia thì nó lại khác nhau giữa cácquốc gia và chính điều này làm cơ sở để sinh ra mậu dịch
Giả sử giá cả bằng chi phí sản xuất, lúc đó ta có chi phí cơ hội sản xuất một đơn vị lúa mìbằng Pw/Pc Như vậy, Pw/Pc = 2/3 và ngược lại Pc/Pw = 3/2 ở Mỹ Ở Anh, Pw/Pc = 2 vàPc/Pw = ½ Tỉ số Pw/Pc ở Mỹ thấp hơn, tức là Mỹ có lợi thế so sánh về lúa mì Tương tự, tỉ
số Pc/Pw ở Anh là thấp hơn, tức là Anh có lợi thế so sánh về vải Chính sự khác nhau tronggiá cả sản phẩm so sánh giữa hai quốc gia chính là biểu hiện lợi thế so sánh của họ và là cơ
sở để tiến hành thương mại giữa đôi bên
III Các nguyên tắc cơ bản trong thương mại quốc tế
Từ trước tới nay trong quan hệ buôn bán quốc tế người ta sử dụng 3 nguyên tắc cơ bản
để điều chỉnh
1 Nguyên tắc tương hỗ ( Reciprocity )
Các bên dành cho nhau những ưu đãi và nhân nhượng tương xứng nhau trong quan hệbuôn bán với nhau
Mức độ ưu đãi và điều kiện nhân nhượng phụ thuộc vào tiềm lực kinh tế của các bêntham gia Bên yếu hơn sẽ bị lép vế và thường bị buộc phải chấp nhận những điều kiện do bên
có thực lực kinh tế mạnh hơn đưa ra
2 Nguyên tắc tối huệ quốc ( Most Favoured Nation – MFN )
Trang 10Đây là một phần của nguyên tắc “ không phân biệt đối xử”(Nondiscrimination ) nghĩa
là các bên tham gia trong quan hệ kinh tế buôn bán sẽ dành cho nhau những điều kiện ưu đãikhông kém hơn những ưu đãi mà mình đã hoặc sẽ dành cho các nước khác
Theo luật quốc tế thì nguyên tắc tối huệ quốc là một nguyên tắc điều chỉnh các mốiquan hệ thương mại và kinh tế giữa các nước trên cơ sơ các hiệp định, hiệp ước ký kết giữacác nước một các bình đẳng và có đi có lại cùng có lợi Do đó xét theo góc độ luật pháp quốc
tế thì điều chủ yếu của quy chế tối huệ quốc là không phải cho nhau hưởng các đặc quyền ,
mà là đảm bảo sự bình đẳng giữa các quốc gia có chủ quyền về các cơ hội giao dịch thươngmại quốc tế
Mục đích của việc sử dụng nguyên tắc MFN trong buôn bán quốc tế là nhằm chốngphân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, làm cho điều kiện cạnh tranh giữa các bạn hàngngang hàng nhau nhằm thúc đẩy quan hệ buôn bán giữa các nước phát triển Mức độ vàphạm vi pháp luật áp dụng nguyên tắc MFN phụ thuộc vào mối quan hệ thân thiện giữa cácnước với nhau
Áp dụng chế độ tối huệ quốc không điều kiện: là nguyên tắc nước này cho nướckhác hưởng chế độ MFN mà không kèm theo điều kiện ràng buộc nào cả
Để đạt được chế độ tối huệ quốc của một quốc gia khác, có 2 phương pháp thực hiện
Thông qua đàm phán song phương để ký kết các hiệp định thương mại
Gia nhập tổ chức thương mại (WTO)
Ngoài ra, các nước đang phát triển cũng dành một hệ thống ưu đãi về thuế quan chomột số sản phẩm nhất định được nhập khẩu từ các nước đang phát triển, còn gọi là chế độthuế quan ưu đãi phổ cập ( GSP ) Áp dụng GSP cho phép giảm thuế nhập khẩu theo chế độtối huệ hoặc miễn hoàn toàn thuế nhập khẩu đối với hàng hoá có xuất xứ nhập khẩu từ cácnước đang phát triển
3 Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia (National Treatment - NT )
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là là hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá tương tự sản xuấttrong nước phải được đối xử công bằng, bình đẳng như nhau
Mục tiêu chính của nguyên tắc đãi ngộ quốc gia là tạo ra những điều kiện cạnh tranhbình đẳng giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa cùng loại
Trang 11Bất kỳ một sản phẩm nhập khẩu nào, sau khi đã qua biên giới, trả xong thuế hải quan
và các chi phí khác tại cửa khẩu, bắt đầu đi vào thị trường nội địa, sẽ được hưởng sự đối xửngang bằng (không kém ưu đãi hơn) với sản phẩm tương tự được sản xuất trong nước
Nguyên tắc đãi ngộ quốc gia cùng với MFN là hai nguyên tắc nền tảng quan trọngnhất của hệ thương mại đa phương mà ý nghĩa thực sự là bảo đảm việc tuân thủ một cáchnghiêm túc những cam kết về mở cửa thị trường mà tất cả các nước thành viên đã chấp nhậnkhi chính thức trở thành thành viên của WTO
IV Các biện pháp cơ bản thực hiện trong thương mại quốc tế:
1 Biện pháp thuế quan
1.1 Khái niệm:
Thuế quan là một khoản tiền tệ mà người chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hoặcquá cảnh phải nộp cho cơ quan hải quan là cơ quan đại diện cho nước chủ nhà
Vai trò của thuế quan:
Điều tiết xuất khẩu và nhập khẩu thông qua thuế
Bảo hộ thị trường nội địa
Tăng thu cho ngân sách nhà nước
Phân loại thuế quan:
Theo đối tượng đánh thuế:
- Thuế xuất khẩu
- Thuế nhập khẩu
- Thuế quá cảnh
Theo phương pháp đánh thuế:
- Thuế tính theo giá trị
- Thế tính theo số lượng
- Thuế quan hỗn hợp
Biểu thuế quan:
Trang 12Là bảng tổng hợp trong đó quy định một cách có hệ thống các mức thuế quan đánhvào các loại hàng hoá phải chịu thuế khi ra hoặc vào một nước.
Biểu thuế đơn:
Là biểu thuế trong đó mỗi loại hàng chỉ quy định một mức thuế Loại này ít ápdụng
Biểu thuế kép:
Là biểu thuế trong đó mỗi loại hàng hoá quy định từ hai mức thuế trở lên Nhữngloại hàng hoá khác nhau chịu mức thuế khác nhau
2 Biện pháp phi thuế quan:
2.1 Biện pháp hạn chế về số lượng ( Quantitative Restrictions )
Thực chất của nhóm biện pháp này là sử dụng các quy định hành chính pháp lý đểđiều tiết quá trình xuất khẩu, nhập khẩu
Vai trò của nhóm biện pháp hạn chế về số lượng:
Là công cụ tham gia bảo hộ thị trường nội địa trong trường hợp thuế quankhông phát huy tác dụng
Là công cụ để thực hiện phân biệt đối xử trong quan hệ đối ngoại, gây áp lựcđối với các đối thủ cạnh tranh
Tham gia điều tiết cung cầu đối với những sản phẩm xuất khẩu và nhập khẩuquan trọng, trên những thị trường chiến lược
Các hình thức hạn chế về số lượng :
Hình thức cấm hẳn xuất khẩu hoặc nhập khẩu một số loại hàng hóa nào đó :
- Tùy thuộc vào chính sách kinh tế của mỗi nước, đây là hình thức bảo hộ mậudịch tuyệt đối, loại hoàn toàn đối thủ cạnh tranh trên thị trường nội địa
- Hình thức này càng ngày càng ít sử dụng do sức ép của WTO
Hình thức giấy phép :
Hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép bằngviệc cấp giấy phép Có hai hình thức giấy phép phổ biến :
- Giấy phép chung ( General open licence ) :
Các doanh nghiệp có giấy phép này mới được quyền ký kết các hợp đồng xuất nhậpkhẩu trực tiếp với các đối tác nước ngoài Thực chất đây là hình thức thông qua giấy phép đểquy định quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu cho các doanh nghiệp
Loại giấy phép này thường áp dụng ở các nước có nền kinh tế phi thị trường Thôngqua giấy phép này Nhà nước thực hiện quản lý độc quyền về ngoại thương