1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

76 274 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 546,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam” do Viện Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia thực hiện năm 2001; hội thảo Khoa học cấp trường với đ

Trang 1

Trường đại học luật hà nội

Nguyễn thị thúy hòa

CHUẩN Bị XéT Xử PHúC THẩM Vụ áN DÂN Sự

Trang 2

Lêi Cam §oan

T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i C¸c néi dung ®­îc tr×nh bµy trong b¶n luËn v¨n lµ trung thùc Nh÷ng kÕt luËn trong b¶n luËn v¨n ch­a tõng ®­îc c«ng bè trong bÊt kú mét c«ng tr×nh nµo kh¸c

Hµ Néi, ngµy 26 th¸ng 1 n¨m 2010

NguyÔn ThÞ Thóy Hßa

Trang 3

Lời nói đầu 1

Chương I: KháI quát về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ dân sự 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử

1.2 Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật tố tụng

dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự từ năm

Chương II: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng

dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm

2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 20

2.3 Những việc tiến hành sau khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự 32

2.4 Những việc tiến hành sau khi có quyết định đưa vụ án ra 47

xét xử phúc thẩm

Chương III: Thực tiễn thực hiện các quy định của

pháp luật tố Tụng dân sự Việt Nam hiện hành về Chuẩn bị

3.1.Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng

dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 51

3.2 Các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả chuẩn bị xét xử

Trang 4

BPKCTT : Biện pháp khẩn cấp tạm thời

CBXXPTVADS : Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

HĐTPTANDTC : Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân

PLTTGQCVADS : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCTCLĐ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao

động

Nghị quyết số

01/2005/NQ-HĐTP

: Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31-3-2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng

dân sự năm 2004”

Nghị quyết số

02/2005/NQ-HĐTP

: Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27- 4 -2005 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của Bộ luật

tố tụng dân sự

Nghị quyết số

02/2006/NQ-HĐTP

: Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TA nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai

“Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự

phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự”

TACST : Tòa án cấp sơ thẩm

TACPT : Tòa án cấp phúc thẩm

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 5

Lời nói đầu

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Trước năm 2004, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về

thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân

sự năm 1989 (PLTTGQCVADS); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT); Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 (PLTTGQCTCLĐ)…Các văn bản pháp luật này tuy có giá trị pháp lý rất lớn trong việc giải quyết các vụ việc dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức và lợi ích của Nhà nước nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự trong điều kiện kinh tế, xã hội có nhiều thay đổi ở những năm đầu Thế kỷ XXI của Việt Nam Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các vụ việc dân sự, tại kỳ họp thứ V ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) đầu tiên của nước ta đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng

dân sự Việt Nam

Phúc thẩm vụ án dân sự là thủ tục cơ bản của tố tụng dân sự Trong đó, chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự (CBXXPTVADS) là một nội dung quan trọng của thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự Vì vậy, trong BLTTDS có hẳn một chương - Chương XVI quy định về CBXXPTVADS Tuy nhiên, việc thực hiện chúng tại các Tòa án (TA) trong những năm qua cho thấy vẫn còn có những bất cập nhất định Do

đó, tác giả chọn “Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự” làm đề tài luận văn

thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Từ trước đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được

công bố đề cập đến vấn đề phúc thẩm vụ án dân sự như: công trình nghiên cứu cấp

Bộ “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng

dân sự” do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) thực hiện năm 1996; “Những quan

Trang 6

điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam” do Viện Nhà nước và Pháp luật

thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia thực hiện năm 2001; hội

thảo Khoa học cấp trường với đề tài “Về việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự” của

Trường Đại học Luật Hà Nội xây dựng năm 2005; luận án tiến sĩ luật học “Xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự” năm 2001 của tác giả Phan Hữu Thư; bài viết “Vấn

đề hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự” của tác giả Ngô Vĩnh Bạch đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2001; “Về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp phúc thẩm (TACPT)” của tác giả Lê Thu Hà đăng trên Tạp chí Luật học

số 5/1996; “Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường

đăng trên Tạp chí Đặc San nghề luật số 10 tháng 1/2005; “Một số vấn đề rút ra từ công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự” của tác giả Khuất Văn Nga đăng trên Tạp chí Kiểm sát số 17 tháng 9/2008…Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách tập trung, đầy đủ về CBXXPTVADS theo quy

định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về CBXXPTVADS, các

quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về CBXXPTVADS tại TA và thực tiễn thi hành các quy định đó tại TA Việt Nam trong những năm gần đây Ngoài ra, việc nghiên cứu cũng được tiến hành với các quy định tương ứng của pháp luật tố tụng dân sự một số nước để tham khảo, đối chiếu

CBXXPTVADS là một vấn đề lớn có nhiều nội dung khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sĩ luật học việc nghiên cứu của tác giả chỉ tập trung làm rõ những nội dung cơ bản của đề tài như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của CBXXPTVADS; các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành

về CBXXPTVADS tại TA và việc thực hiện chúng tại các TA Việt Nam từ năm

2005 đến nay

4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Trang 7

Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXXPTVADS; nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về CBXXPTVADS và thực tiễn thi hành chúng tại TA Việt Nam và đề xuất các giải pháp hoàn thiện, thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về CBXXPTVADS góp

phần nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm

Để thực hiện mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm rõ khái niệm,

đặc điểm, ý nghĩa của CBXXPTVADS; sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về CBXXPTVADS; phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về CBXXPTVADS và tìm hiểu việc thực hiện chúng tại các TA từ đó nhận diện được những hạn chế của chúng và đề xuất phương hướng, biện pháp khắc phục

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật Ngoài ra, quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic…

6 Những điểm mới về khoa học của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến CBXXPTVADS nên có những điểm mới khoa học sau:

- Xây dựng khái niệm CBXXPTVADS, chỉ ra đặc điểm và ý nghĩa của CBXXPTVADS

- Phân tích có hệ thống các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về CBXXPTVADS

- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về CBXXPTVADS và thực tiễn thực hiện tại các TA

Trang 8

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về CBXXPTVADS

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba phần: Mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Khái quát về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và kiến nghị

Trang 9

Chương I KháI quát về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là cấp xét xử thứ hai trong quá trình giải quyết một vụ án dân sự Chuẩn bị xét xử là bước đầu tiên của giai đoạn xét xử phúc thẩm

vụ án dân sự

Theo Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Giáo dục, năm

1994 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, phúc thẩm và dân sự được định nghĩa như

sau:

“Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì” [ 31, tr175] “Xét xử”

là “xem xét và xử các vụ án” [ 31, tr.1108].“Phúc thẩm” là (TA cấp trên) xét xử lại một vụ án do TA cấp dưới đã xử sơ thẩm mà chống án [31, tr.763].“Dân sự” là

“việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình.v.v do TA xét xử (nói khái quát)” [31, tr.239] Một số tác giả đưa ra khái niệm về “chuẩn bị xét xử” là “chuẩn

bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật”

[15 tr.136]

Về khái niệm vụ án dân sự, trước đây pháp luật quy định việc hình và việc hộ để phân biệt giữa vi phạm pháp luật trong lĩnh vực hình sự và các việc nảy sinh trong lĩnh vực dân sự của đời sống nhân dân Trong Sắc lệnh số 13-SL ngày 24 tháng 01 năm 1946 về tổ chức TA và các ngạch thẩm phán đã chỉ rõ các loại việc hộ bao gồm

“các việc về dân sự và thương sự” (Điều 3, Điều 17) Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL

ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng quy định TA hòa giải tất cả các vụ kiện về dân sự và thương sự, kể cả các việc ly dị, trừ những vụ kiện mà

theo luật pháp đương sự không có quyền điều đình “Theo quy định này, thuật ngữ

“việc kiện dân sự” cũng có thể được gọi là “vụ kiện dân sự”, để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được TA giải quyết Từ “việc” và “vụ” trong trường hợp

Trang 10

này là tương đồng, có thể dùng là “việc kiện” hoặc “vụ kiện” mà không dùng “vụ việc kiện” [6, tr.154]

Trên cơ sở Điều 97 Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức nhân dân năm 1960 quy

định: Tòa án nhân dân (TAND) xét xử những vụ án hình sự và dân sự Lần đầu tiên, thuật ngữ “vụ án” được quy định Bên cạnh đó, tại Thông tư số 39-NCPL ngày 21/1/1972 của TANDTC về việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và tranh chấp về dân sự, thuật ngữ “vụ kiện dân sự” vẫn được sử dụng để chỉ những loại việc về hôn nhân và gia đình và những tranh chấp dân sự Khi PLTTQCVADS, PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ ra đời thì các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TA đều được gọi chung là vụ án, tương ứng với từng thủ tục giải quyết là các vụ án dân sự, hay kinh tế, riêng lĩnh vực lao động thì gọi là

tranh chấp lao động

Tuy nhiên, từ ngày BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm vụ án dân sự Theo đó, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự Theo Điều 1 BLTTDS về phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng dân sự

thì “Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự thủ tục khởi kiện để TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân

và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự)

và trình tự, thủ tục yêu cầu TA giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình

tự giải quyết các vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại TA…”

Khi BLTTDS ra đời, lần đầu tiên khái niệm vụ án dân sự đã được khái quát hóa là

các “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”

(Điều 1 BLTTDS) Theo BLTTDS, vụ án dân sự là những việc có tranh chấp, bắt

đầu từ sự mâu thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên Theo quy định tại các điều 25, 27, 29, 31 của BLTTDS thì vụ án dân sự bao gồm các tranh chấp sau đây:

Trang 11

- Những tranh chấp về dân sự, bao gồm: Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy

định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp

về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định

- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bao gồm: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng; các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định

- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, bao gồm: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

- Những tranh chấp về lao động, bao gồm: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động; các tranh chấp lao động khác mà pháp luật có quy định

Lần đầu tiên, khái niệm việc dân sự cũng được xây dựng là các “việc yêu cầu dân

sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1 BLTTDS)

Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu

TA công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh

Trang 12

quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác, yêu cầu TA công nhận cho mình quyền dân sự hôn nhân

và gia đình, kinh doanh thương mại Đặc trưng của việc dân sự là do không có yếu

tố kiện, tức là không có tranh chấp trực tiếp về quyền và lợi ích giữa các bên đương

sự mà chỉ có một bên (cá nhân, cơ quan, tổ chức) có yêu cầu TA công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó mà sự kiện pháp lý này phải là những căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự; hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, hoặc công nhận một quyền về dân sự, hôn nhân và gia

đình, kinh doanh thương mại và lao động BLTTDS quy định các việc dân sự trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động tại các điều

án dân sự và việc dân sự có mối liên hệ mật thiết với nhau, tổng hợp các vụ án dân

sự và việc dân sự tạo thành vụ việc dân sự

Xét xử phúc thẩm là một hoạt động cơ bản của quá trình giải quyết vụ án dân sự

của TA Theo các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố thì “Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa

án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị” [8, tr.393]

Đối tượng của xét xử phúc thẩm là các bản án, quyết định chưa hiệu lực của Tòa

án cấp sơ thẩm (TACST), nhưng không phải tất cả các bản án, quyết định sơ thẩm

mà chỉ có những bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo (KC), kháng nghị (KN) mới được xem xét theo trình tự phúc thẩm

Phạm vi xét xử phúc thẩm là những phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có KC,

KN hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung KC, KN

Trang 13

Như vậy, qua các vấn đề đã nêu ở trên, thì CBXXPTVADS là việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để xét xử lại tranh chấp thuộc về quan hệ tài sản, hôn nhân, gia đình hoặc lao động do TA cấp dưới đã xử sơ thẩm mà bị chống án Trong khoa học pháp lý, có nhiều ý kiến khác nhau về CBXXPTVADS Có tác giả cho rằng nếu hiểu CBXXPTVADS với tính chất là một quá trình thì CBXXPTVADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các vụ án dân sự tại TA [8, tr.327] Có tác giả lại cho rằng nếu hiểu CBXXPTVADS với tính chất là hoạt động

tố tụng thì chuẩn bị xét xử vụ án dân sự gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ để bảo đảm cho việc xét xử vụ án theo trình tự phúc thẩm [8, tr.328]

Trong phạm vi bản luận văn này, chúng tôi phân tích CBXXPTVADS với tính chất là hoạt động tố tụng dân sự của TA trong thủ tục xét xử phúc thẩm Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm (TACPT) phải tiến hành những hoạt động tố tụng cần thiết như thụ lý vụ án, nghiên cứu hồ sơ, chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu, hướng dẫn hoặc yêu cầu đương sự tham gia những hoạt động tố tụng cần thiết như cung cấp, bổ sung chứng cứ, ký nhận giấy triệu tập …để hết thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

do pháp luật quy định, phải ra một trong các quyết định như tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự; đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự; quyết định đưa vụ

án ra xét xử Ngoài ra, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, TACPT còn có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ, biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có căn

cứ pháp luật Đồng thời, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải tiến hành các công việc để bảo đảm vụ án dân sự được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm, như tống đạt các giấy triệu tập, giấy báo, giấy mời tham gia phiên tòa phúc thẩm, làm các thủ tục cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; cho phép đương sự và người bảo vệ đương sự được sao chụp các tài liệu trong hồ sơ vụ án để chuẩn bị lý lẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa phúc thẩm

Trang 14

Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa về CBXXPTVADS tại TA như sau:

“Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp

phúc thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị”

1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

CBXXPTVADS là hoạt động không thể thiếu được của quá trình giải quyết lại vụ

án theo thủ tục phúc thẩm Xuất phát từ tính chất yêu cầu của xét xử phúc thẩm, CBXXPTVADS có những đặc điểm cơ bản sau:

- Là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do Tòa án tiến hành

trên cơ sở các quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ

Trong quá trình CBXXPTVADS, việc đầu tiên là TA tiến hành thụ lý vụ án dân

sự Do tính chất của xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là TA cấp trên xét xử các vụ án dân sự do TA cấp dưới đã xét xử sơ thẩm và bị KC, KN nên khi tiến hành thụ lý vụ

án dân sự, TACPT phải kiểm tra kỹ các thủ tục KC, KN thông qua các hoạt động tố tụng sau: xem xét đối tượng để đương sự KC, VKS KN; kiểm tra tính hợp lệ của đơn

KC, của quyết định KN; giải quyết các trường hợp KC quá hạn; vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự; thông báo thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự; thành lập Hội đồng xét

xử phúc thẩm (HĐXXPT), thư ký TA; giải quyết các trường hợp từ chối tiến hành tố tụng và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; các thành viên của HĐXXPT nghiên cứu hồ sơ vụ án; chuyển hồ sơ vụ án cho VKS nghiên cứu đối với những vụ

án pháp luật quy định VKS phải có tham gia phiên tòa phúc thẩm; giải quyết các trường hợp thay đổi hay bổ sung, rút KC, KN trước khi tiến hành xét xử phúc thẩm Trong quá trình chuẩn bị xét xử, TA ra quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc quyết

định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự…Nếu TA ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì TA tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo để bảo đảm cho phiên tòa phúc thẩm vụ án dân sự được tiến hành

Trang 15

- Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tập trung vào việc giải quyết yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị

Mục đích của chuẩn bị xét xử sơ thẩm là phục vụ xét xử sơ thẩm nên trong quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thì TA phải tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết để xây dựng lên hồ sơ vụ án, nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ

án Trong gian đoạn này, TACST phải tiến hành các hoạt động như lấy lời khai, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ, cho các đương

sự đối chất…Xét xử sơ thẩm theo yêu cầu của đương sự, TACST phải xem xét giải quyết tất cả các vấn đề mà người khởi kiện nêu trong đơn khởi kiện, người bị kiện nêu trong đơn phản tố hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nêu trong đơn yêu cầu độc lập nên phạm vi xây dựng và nghiên cứu hồ sơ trong quá trình chuẩn bị xét

xử của TACST phải bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến vụ án

Với tính chất của xét xử phúc thẩm là “xét xử lại vụ án” và trong phạm vi KC,

KN nên TACPT không xây dựng lại hồ sơ vụ án để xét xử mà căn cứ hồ sơ TACST

đã xây dựng sẵn Trong quá trình CBXXPTVADS, TACPT chỉ tiến hành lấy lời khai của đương sự và tiến hành các hoạt động tố tụng thu thập chứng cứ khác như xem xét thẩm định tại chỗ…khi thấy cần thiết và phạm vi nghiên cứu của TACPT trong quá trình chuẩn bị xét xử là chỉ tập trung vào các phần của bản án, quyết định sơ thẩm có KC, KN hoặc có liên quan đến việc KC, KN

- Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Tòa án không hòa

giải các vụ án dân sự

Theo quy định của Điều 180 BLTTDS thì hòa giải là một nguyên tắc bắt buộc trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, TA tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được Trong khi đó, BLTTDS không quy định hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong thời hạn CBXXPTVADS nên trên thực tế hiện nay, TACPT chỉ tiến hành hòa giải khi các đương sự có yêu cầu

Sở dĩ, pháp luật quy định không hòa giải trong quá trình CBCBXX là do tính chất của xét xử sơ thẩm và phúc thẩm là khác nhau Xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là xét

Trang 16

xử lần đầu đối với vụ án dân sự còn xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án Mặt khác, hai hoạt động tố tụng này có mối quan hệ mật thiết với nhau

- Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự có mối liên quan mật thiết với các

hoạt động tố tụng khác

Tại Điều 17 BLTTDS quy định: “Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử”, do đó,

CBXXPTVADS có mối liên hệ pháp lý với các hoạt động tố tụng của TACST Một trong những hoạt động đầu tiên và khá quan trọng của CBXXPTVADS là thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự, hoạt động này có liên quan mật thiết đến việc lập hồ sơ và gửi hồ sơ có KC, KN của TACST Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, TACPT nghiên cứu vụ án trên cơ sở hồ sơ đã được TACST xây dựng sẵn Việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm có liên quan mật thiết đến phiên tòa phúc thẩm, nếu việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm mà tốt thì mới bảo đảm phiên tòa phúc thẩm được đưa ra xét xử, hạn chế việc hoãn phiên tòa do yếu tố chủ quan như nghiên cứu hồ sơ vụ án chưa đầy đủ, triệu tập thiếu đương sự…

1.1.3 ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Với mục đích chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử phúc thẩm, vì vậy

CBXXPTVADS có ý nghĩa sau đây:

- Giúp Tòa án cấp phúc thẩm có đủ các chứng cứ, tài liệu và nhận thức đúng

các tình tiết của vụ án từ đó quyết định giải quyết đúng đắn vụ án

Trong quá trình CBXXPTVADS, thông thường TACPT tiến hành đánh giá lại các chứng cứ, tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án Trong trường hợp thiếu chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án thì TACPT sẽ yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ hoặc tiến hành thu thập chứng cứ bổ sung theo yêu cầu của đương sự để trên cơ sở

đó xác định lại quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự, tư cách đương sự và làm rõ những nội dung KC, KN…Từ đó, TACPT sẽ áp dụng pháp luật để giải quyết

vụ án lại vụ án được đúng đắn

- Giúp Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết để mở phiên tòa phúc

thẩm

Trang 17

Một trong những yếu tố giúp cho phiên tòa phúc thẩm được mở thành công là phải bảo đảm sự có mặt của những người tiến hành tố tụng như Hội đồng xét xử, VKS, và những người tham gia phiên tòa phúc thẩm Công tác chuẩn bị hội trường xét xử tuy là nhỏ nhưng cũng hết sức quan trọng…Chuẩn bị xét xử phúc thẩm nhằm giúp TA mở được phiên tòa phúc thẩm thông qua các hoạt động tố tụng như phân công Hội đồng xét xử, gửi hồ sơ cho VKS nghiên cứu, triệu tập đương sự, gửi giấy báo cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Những người tham gia phiên tòa được TA thông báo lịch xét xử trong thời hạn luật định để họ có thể bố trí lịch làm việc để tham gia phiên tòa

Khi xét xử phúc thẩm, phải chuẩn bị trước hội trường để xét xử Đối với TA cấp tỉnh thì việc bố trí hội trường xét xử không mấy khó khăn Tuy vậy, đối với các Tòa phúc thẩm của TANDTC do đặc thù là phải về địa phương để xét xử phúc thẩm các

vụ án dân sự nên để tránh cho các đương sự phải đến trụ sở của các Tòa phúc thẩm của TANDTC ở các thành phố như Hà Nội, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh gây tốn kém và khó khăn cho họ, đồng thời tránh việc phải hoãn phiên tòa nên các Tòa phúc thẩm của TANDTC phải mượn hội trường của các TA địa phương để xét xử nên vấn đề phối hợp với TA địa phương trong việc bố trí hội trường xét xử các vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của các Tòa phúc thẩm là hết sức có ý nghĩa

- Giúp đương sự bổ sung chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho kháng cáo của

Trang 18

kỳ có thể chia sự phát triển các quy định về CBXXPTVADS thành các giai đoạn sau:

1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960

Sau khi tuyên bố khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày mùng 2

tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Nhà nước và nhân dân Việt Nam bắt tay ngay vào việc xây dựng một xã hội mới Trong giai đoạn này, Nhà nước ta đã khẩn trương xây dựng một bộ máy Cách Mạng, trong đó có cơ quan tư pháp Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh thành lập các TA quân

sự - Cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa

Để kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó chưa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung

và văn bản tố tụng dân sự nói riêng nên ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL cho tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Việt Nam cho đến khi ban hành những Bộ luật mới áp dụng trên toàn cõi Việt Nam

Đến ngày 19/11/1946, Quốc Hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước TA, đánh dấu một sự hình thành trong lịch sử lập hiến của đất nước Từ năm 1946 cho đến năm 1960, Nhà nước TA đã ban hành một loạt các văn bản mới trong đó có nhiều văn bản quy định về các hoạt động tố tụng liên quan đến CBXXPTVADS Về người có quyền KC được quy định tại Sắc lệnh

số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946 (Điều 24); Thông tư số 52/P4 ngày 18/6/1950

của Bộ Tư Pháp (mục D); Thông tư số 22/HCTP ngày 18/2/1957 của Bộ Tư Pháp Việc thực hiện quyền KC được quy định ở các văn bản sau: Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946 tại Điều 1 quy định; Thông tư số 03 của TANDTC quy định về việc việc chống án sơ thẩm vắng mặt về ly hôn Tại Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 quy định về phạm vi xét

xử phúc thẩm Ngoài ra, pháp luật thời kỳ này còn có nhiều văn bản quy định về việc KC quá hạn, nội dung đơn KC, bổ sung thay đổi và rút KC, thẩm quyền KN bản án phúc thẩm, nội dung quyết định KN của VKS, những hậu quả của việc rút

KC, KN, thủ tục nộp đơn KC, thông báo KC, KN…Thông tư số 1828/VHC ngày 18

Trang 19

tháng 10 năm 1955 của Bộ Tư Pháp về quyền chống án và thời hạn chống án quy

định: “đối với án khuyết tịch (xử vắng mặt), thì bị can (về hình), bị cáo (về hộ) đều

có quyền kháng án khuyết tịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt án khuyết tịch, để TA đã xét xử sơ thẩm xét xử lại cho…”

Trong giai đoạn này, do cả nước khẩn trương thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp nên các TA chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sự mà ít giải quyết các vụ án dân sự Theo Thông tư số 12 - NV - CT ngày 19/12/1946 của Bộ Tư pháp về tổ chức tư pháp trong tình hình đặc biệt thì các việc hộ hoặc thương mại sẽ bị đình chỉ, trừ những việc cấp tốc sẽ do hội thẩm chuyên môn của TA quân sự xét xử bằng mệnh

lệnh nên pháp luật tố tụng dân sự nói chung, pháp luật về CBXXPTVADS nói riêng

còn sơ sài

1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989

Trên cơ sở Hiến pháp năm 1959, Luật tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND)

năm 1960 ra đời đánh dấu một bước chuyển biến to lớn trong nền tư pháp nước ta nói chung và luật tố tụng dân sự cũng như CBXXPTVADS nói riêng Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành khá nhiều các văn bản liên quan đến CBXXPTVADS như Công văn số 507-TC ngày 2/4/1963 của TANDTC quy định về loại việc dân sự mà

TA cần phải báo cho VKS biết khi có sự chống án Công văn số 905-NCPL ngày 22/7/1965 của TANDTC quy định trong trường hợp cần thiết TACPT có thể tiến hành việc điều tra bổ sung trước khi xét xử phúc thẩm Công văn số 03/NCPL ngày 03/3/1966, của TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hôn có hướng dẫn: nếu qua thẩm tra hồ sơ, xét có điểm chưa sáng tỏ về một vấn đề nào đó thì TACPT phải đề ra biện pháp bổ sung trước khi xử kể cả việc giao TA điều tra bổ sung nếu xét thấy cần thiết Ngoài ra, CBXXPTVADS còn được hướng dẫn tại các báo cáo tổng kết ngành Tòa án của TANDTC Tại Báo cáo tổng kết ngành TA năm 1971 của TANDTC hướng dẫn trước khi xét xử phúc thẩm nếu các bên đương sự tỏ ý muốn thỏa thuận

với nhau để chấm dứt sự tranh chấp bằng hòa giải “nếu xét thấy sự thỏa thuận của

đương sự phù hợp với luật pháp chính sách thì Tòa phúc thẩm sẽ ra bản án phúc thẩm chấp nhận việc thỏa thuận đó và chấm dứt việc kiện tụng chứ không dùng hình

Trang 20

thức biên bản hòa giải thành” Tại Công văn số 125/NCPL ngày 12/7/1979 của

TANDTC và theo Bản hướng dẫn gửi kèm công văn số 442/NCPL ngày 04/6/1979 của TANDTC thì: trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm nếu

có việc rút KC hoặc rút KN thì đều do một hội đồng gồm ba thẩm phán xét có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận Nếu bản án sơ thẩm có sai lầm thì sẽ bác rút KC của đương sự, hoặc rút KN của VKS để xét xử phúc thẩm ngay với bản án sơ thẩm

đó Theo LTCTAND năm 1981 thì TAND cấp tỉnh có thẩm quyền giám đốc thẩm

đối với các bản án của TAND cấp huyện nên đối với trường hợp đương sự rút KC hoặc VKS rút KN trước khi mở phiên tòa thì do một Thẩm phán, tại phiên tòa thì do Hội đồng xét xử ra quyết định chấp nhận Trường hợp xét thấy bản án sơ thẩm có sai lầm thì ngay sau khi ra quyết định chấp nhận rút KC, KN, TACPT phải thông báo ngay cho TA có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với bản án đó Theo chúng tôi, quy định tại Bản hướng dẫn gửi kèm Công văn số 442/NCPL tiến bộ hơn quy định tại Công văn số 125/NCPL vì khi đương sự tự nguyện rút KC, VKS rút KN thì trong phạm vi quyền hạn của mình, TACPT chỉ chấp nhận việc rút KC, KN đó, chứ không vì xét thấy bản án cấp sơ thẩm có sai lầm mà TACPT lại bác việc rút KC, KN

đó của đương sự và VKS vì làm như vậy là vi phạm nguyên tắc tôn trọng quyền tự

định đoạt của đương sự Bên cạnh đó, nếu xét thấy bản án sơ thẩm của TACST có sai lầm, TACPT có quyền KN theo trình tự giám đốc thẩm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng thời vẫn bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa Nói chung các quy định về CBXXPTVADS trong tố tụng dân sự giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 tuy đã có nhiều tiến bộ nhưng chủ yếu vẫn là các văn bản

do TANDTC ban hành, chưa được quy định trong một văn bản pháp luật tố tụng dân sự có hiệu lực cao nên hiệu quả thực hiện còn hạn chế

1.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

Cùng với sự chuyển mình về kinh tế, xã hội của đất nước, trên tinh thần của Nghị quyết hội nghị Trung ương Đảng lần thứ VI là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Hội đồng Nhà nước

đã thông qua PLTTGQCVADS (năm 1990) PLTTGQCVAKT (năm 1994);

Trang 21

PLTTGQCTCLĐ (năm 1996) cũng được ban hành Theo ba pháp lệnh này, CBXXPTVADS được tập hợp một cách tập trung hơn bao gồm các quy định về các

điều kiện KC, KN; thời hạn xét xử phúc thẩm; quyền của TACPT trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải …

Ngoài ra, Nhà nước ta đã ban hành các văn bản hướng dẫn việc thi hành các Pháp lệnh này, như Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/10/1990 của TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVADS; Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS; Công văn số 310/NCPL ngày 24/12/1990 của TANDTC giải thích một số vấn đề về tố tụng dân sự đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, các quy định về pháp

luật tố tụng dân sự nói chung và CBXXPTVADS nói riêng “vẫn còn tản mạn như các giai đoạn trước Đặc biệt, với sự ra đời của PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTTLĐ

đã dẫn đến các quy định về tố tụng dân sự bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo và mâu thuẫn.” [32, tr.25]

1.2.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường ở thế kỷ XXI, các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự cũng ngày càng phát sinh, đòi hỏi sự giải quyết thỏa đáng, minh bạch, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và Nhà nước, phù hợp với thông lệ thế giới Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực dân sự, Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự (BLTDS) đầu tiên của nước ta tại kỳ họp thứ 5 Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp CBXXPTVADS được quy định thành một chương riêng

(Chương XVI) bao gồm các điều từ Điều 257 đến 262 và một số các điều luật khác

có liên quan Lần đầu tiên khái niệm vụ việc dân sự được xây dựng và khái niệm vụ

án dân sự cũng được cụ thể hóa hơn CBXXPTVADS cũng được BLTTDS quy định với hàng loạt các điểm mới như cấp, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn KC, cung cấp chứng cứ, bổ sung áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời…Tiếp đó,

Trang 22

CBXXPTVADS còn được hướng dẫn cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành BLTTDS như: Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS; Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31/3/2005 của HĐTPTANDTC hướng dẫn một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS; Nghị quyết số 02/2005/NQ - HĐTP ngày 27/4/2005 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS

về chứng minh, chứng cứ; Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04 tháng 8 năm

2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba

“Thủ tục giải quyết vụ án tại TACPT” của BLTTDS và Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí TA

Trong việc xây dựng pháp luật, nếu trước đây chúng ta quan tâm nhiều đến việc xây dựng các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ pháp luật vật chất (luật nội dung) hoặc có thời kỳ theo hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, chúng ta hầu như chỉ tập trung xây dựng các quy định pháp luật điều chỉnh các vi phạm trong lĩnh vực hình sự, thì nay, Đảng và Nhà nước ta đã pháp điển hóa các quy định của tố tụng dân sự nói chung và chuẩn bị xét xử vụ án dân sự nói riêng trong BLTTDS và các

văn bản hướng dẫn nêu trên BLTTDS ra đời “khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây” [32, tr.26], và

vấn đề CBXXPTVADS cũng được quy định khá đầy đủ giúp giải quyết vụ án dân

sự theo trình tự phúc thẩm được hiệu quả hơn

Kết luận chương I Qua việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án

Trang 23

đúng đắn, trước khi xét xử phúc thẩm phải tiến hành việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm

vụ án dân sự Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa

án cấp phúc thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét

xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị

2 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động không thể thiếu của quá trình giải quyết lại vụ án dân sự theo thủ tục phục thẩm, có các đặc điểm như Tòa án

là chủ thể chính tiến hành các hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể trên cơ sở các quy định của pháp luật, đối tượng của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ

án dân sự là giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị và chuẩn bị xét xử phúc thẩm

vụ án dân sự có mối quan hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác

3 Với mục đích chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa to lớn trong việc giúp cho Tòa án cấp phúc thẩm có đủ chứng cứ tài liệu và nhận thức đúng các tình tiết khách quan của vụ án để quyết định giải quyết vụ án được đúng đắn, qua công tác chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự các thủ tục tố tụng cần thiết để mở phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành, bảo đảm cho đương sự thực hiện tốt hơn quyền bảo

vệ của mình thông qua việc quy định đương sự có thể bổ sung chứng cứ tài liệu kèm theo đơn kháng cáo hoặc cung cấp chứng cứ tài liệu bổ sung trong khi chuẩn bị xét

xử phúc thẩm vụ án dân sự

4 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự được quy định ngay từ các văn bản pháp luật ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Các quy định về chuẩn

bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự từ sau năm 1945 đến năm 2004 mặc dù vẫn được

áp dụng và cải tiến, đã góp phần giải quyết vụ án dân sự qua các thời kỳ, tuy nhiên,

do hoàn cảnh đất nước có chiến tranh và do trình độ lập pháp nên có những hạn chế nhất định chỉ cho đến khi Bộ luật tố tụng dân sự ra đời, chuẩn bị xét xử phúc thẩm

vụ án dân sự mới được pháp điển hóa trong văn bản có hiệu lực pháp luật cao do Quốc Hội ban hành, bảo đảm nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự

Trang 24

CHƯƠNG II

Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân Sự 2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Theo Điều 258 BLTTDS, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy

từng trường hợp, TACPT ra một trong các quyết định sau đây:

Theo quy định tại tiểu mục 1.3 mục 1 Phần II của Nghị quyết số HĐTP ngày 12/5/2006 của HHĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại TACST” của BLTTDS (Nghị quyết

02/2006/NQ-số 02/2006/NQ-HĐTP) thì “những vụ án có tính chất phức tạp” hoặc “trở ngại khách quan” được hướng dẫn như sau:

“ Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài, cho TA nước ngoài…Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải

Trang 25

chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ ý kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả ủy thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét

xử (kể cả thời hạn gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ vụ án dân sự” [ 22, tr.12]

“Trở ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu…làm cho TA không thể giải quyết vụ án trong thời hạn luật định” [22, tr.12]

Trước khi BLTTDS ra đời, các văn bản tố tụng không quy định trong thời hạn CBXXPT TACPT có quyền ra quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, mặc dù trên thực tế khi gặp các căn cứ

để tạm đình chỉ TACPT vẫn tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án nhưng không quyết định tạm đình chỉ hoặc có căn cứ để đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, TACPT vẫn đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án Vô hình chung do sự không điều chỉnh kịp thời của pháp luật đã dẫn tới sự vi phạm pháp luật của TACPT BLTTDS ra đời đã quy định rất rõ nhiệm vụ của TACPT tại Điều 258 là trong thời hạn hai tháng, sau khi tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết như nghiên cứu hồ sơ, lấy lời khai đương

sự, yêu cầu đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ, thu thập chứng cứ khi đương sự không thể thu thập được và có yêu cầu căn cứ vào quy định tại các điều 259, 260,

189, 190, 195 TACPT phải ra một trong ba quyết định, đó là quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án, quyết định

đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Quy định này đã tạo hành lang pháp lý cho TACPT trong việc giải quyết vụ án trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, khắc phục thiếu sót của các văn bản tố tụng trước đây BLTTDS cũng quy định TACPT có quyền gia hạn thời hạn CBXXPT đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP cũng đã quy định rất rõ thế nào là

“tính chất phức tạp” hoặc “trở ngại khách quan” Quy định của BLTTDS về gia hạn thời hạn CBXXPT và các quy định về lý do được gia hạn thời hạn CBXXPT của Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP rất có ý nghĩa cho TACPT trong việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm, tránh được trường hợp vi phạm pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét

Trang 26

xử phúc thẩm nhất là trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, số lượng các vụ án dân sự ngày càng nhiều, tính chất tranh chấp dân sự càng gay gắt, phức tạp có yếu tố nước ngoài đòi hỏi cần phải có nhiều thời gian để nghiên cứu hồ sơ, phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc thu thập, xác minh chứng cứ

Theo Điều 179 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định ngắn hơn thời hạn của CBXXPTVADS và trong thời hạn CBXXPTVADS TACPT không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự

2.2 Thụ lý Phúc thẩm vụ án dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đặc biệt bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Một trong những biện pháp bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự là quy định TA thực hiện chế độ hai cấp xét xử (Điều 17- BLTTDS)

Đây là quy định “thể hiện tính dân chủ trong tố tụng, bảo đảm cho các đương sự bảo vệ quyền của mình bị xâm phạm” [36, tr.242] Theo nguyên tắc này, đương sự

có quyền KC, VKS có quyền KN đối với bản án, quyết định chưa có hiệu lực của TACST yêu cầu TA cấp trên phúc thẩm lại Khi đương sự thực hiện quyền KC, VKS thực hiện quyền KN thì TACPT phải thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm Hoạt động thụ lý phúc thẩm bao gồm các thủ tục nhận đơn, kiểm tra tính hợp lệ của KC, KN, vào sổ thụ lý vụ án dân sự là việc làm quan trọng đầu tiên của quá trình CBXXPTVADS của TACPT

2.2.1 Nhận hồ sơ vụ án dân sự

Theo quy định tại các điều 245, 252 BLTTDS thì thời hạn KC của đương sự đối với bản án của TACST là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn KC được tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc

được niêm yết Thời hạn KC đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ

án của TACST là 7 ngày, kể từ ngày người có quyền KC nhận được quyết định Thời hạn KN đối với bản án của TACST của VKS cùng cấp là 15 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là 30 ngày, kể từ ngày tuyên án Trường hợp VKS không tham gia phiên tòa thì thời hạn KN tính từ ngày VKS cùng cấp nhận được bản án Thời hạn

KN của VKS cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án

Trang 27

của TACST là 7 ngày, của VKS cấp trên trực tiếp là mười ngày kể từ ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định

Theo hướng dẫn tại Mục 3 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04/8/2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ

ba “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự (Nghị Quyết số 05/2006/NQ-HĐTP) thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn KC, KN

bản án sơ thẩm là ngày tiếp theo của “ngày được xác định”, nghĩa là ngày tiếp theo

của ngày tuyên án đối với đương sự có mặt tại phiên tòa sơ thẩm và VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm; là ngày tiếp theo của ngày bản án sơ thẩm được giao hoặc niêm yết đối với đương sự có mặt tại phiên tòa sơ thẩm; là ngày tiếp theo ngày bản án sơ thẩm được giao cho VKS cùng cấp trong trường hợp VKS cùng cấp không tham gia phiên tòa Thời điểm bắt đầu thời hạn KC, KN quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của TACST là ngày tiếp theo của ngày người có quyền KC, VKS cùng cấp nhận được quyết định đó Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được ban hành tại phiên tòa sơ thẩm và Hội đồng xét xử giao ngay quyết định này cùng ngày cho đương sự có mặt tại phiên tòa, đại diện VKS tham gia phiên tòa (nếu có) thì thời điểm bắt đầu thời hạn KC, KN là ngày tiếp theo của ngày ban hành quyết định đó Nếu ngày giao quyết định không cùng ngày ban hành quyết định, thì thời điểm bắt đầu thời hạn KC, KN được xác định là ngày tiếp theo của ngày giao quyết định cho đương sự, VKS cùng cấp Trường hợp quyết định tạm

đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án được ban hành trước khi mở phiên tòa sơ thẩm hoặc tại phiên tòa sơ thẩm mà đương sự vắng mặt thì thời điểm bắt đầu thời hạn KC,

KN được xác định là ngày tiếp theo của ngày quyết định đó được giao hoặc niêm yết; đối với VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp là ngày VKS cùng cấp nhận được quyết định đó

Thời điểm kết thúc KC, KN là ngày cuối cùng của thời hạn Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ, thì thời hạn KC, KN kết thúc vào lúc hai mươi tư giờ của ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó

Trang 28

Như vậy, so với các quy định trước đây thì Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP tiến bộ hơn vì đã quy định thống nhất thời điểm bắt đầu KC, KN là ngày tiếp theo

của “ngày được xác định” chứ không phân biệt thời điểm bắt đầu KC là ngày tiếp

theo của ngày tuyên án hoặc ngày nhận được bản sao bản án, còn ngày KN lại tính

từ ngày tuyên án hoặc ngày nhận được bản sao bản án

Trong trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở bì thư

Theo quy định tại Điều 255 BLTTDS thì TACST phải gửi hồ sơ vụ án, KC, KN

và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho TACPT trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn KC, KN, nếu người KC không phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm hoặc người KC nộp cho TACST biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm BLTTDS cũng quy định rất rõ về thủ tục thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Điều 248 Theo đó, TACST phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn KC, sau đó ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho đương sự Trong thời hạn 10 ngày

kể từ ngày nhận được thông báo nộp tiền tạm ứng án phí của TA, người KC phải nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm và nộp cho TACST biên lai nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm Như vậy, tổng hợp các quy định trên sau thời hạn năm ngày làm việc

kể từ ngày hết thời hạn KN của VKS cấp trên và sau khi đương sự nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm thì TACST phải lập hồ sơ có KC, KN vụ án dân sự

để chuyển cho TACPT

Khi nhận được hồ sơ vụ án có KC, KN do TACST chuyển lên, TACPT phải kiểm tra hồ sơ vụ án còn thời hạn KC, KN hay không vì thực tế có những vụ án tuy chưa hết thời hạn KC, KN nhưng TACST đã chuyển hồ sơ cho TACPT Bên cạnh đó, có những hồ sơ đã quá thời hạn KC, KN rất lâu, TACST mới chuyển lên để TACPT xem xét Việc làm này dẫn đến việc xét xử phúc thẩm chậm, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự TACPT phải kiểm tra số bút lục có trong hồ sơ vụ án qua đối chiếu bản kê tài liệu có trong hồ sơ vụ án do TACST lập ra, có chữ ký xác nhận của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Hồ sơ vụ án phải bảo đảm có đủ các tài liệu nêu sau

đây: đơn khởi kiện, bản án hoặc quyết định sơ thẩm, biên bản nghị án, biên bản

Trang 29

phiên tòa, đơn KC hoặc quyết định KN; biên bản tống đạt bản án, quyết định cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; thông báo KC, KN để các đương sự trong cùng vụ án có quyền nộp ý kiến phản hồi của mình về việc KC, KN; thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm của TACST và biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho TACST của đương sự Việc làm này rất cần thiết vì thông qua đó, TACPT xác định được việc KC, KN có hợp pháp hay không, tài liệu trong hồ sơ vụ

án có đủ không để thụ lý vụ án xét xử phúc thẩm.Thực tế cho thấy có những TACST lập hồ sơ có KC, KN nhưng không có bản kê chi tiết bút lục, hoặc có bản kê chi tiết bút lục từ một đến hết nhưng thực tế hồ sơ lại thiếu một trong số các tài liệu quan trọng nêu trên Trong những trường hợp này, TACPT không nhận hồ sơ mà trả lại

hồ sơ cho TACST và yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hồ sơ Nếu hồ sơ đã đầy đủ những

điều kiện ban đầu về mặt hình thức như đã nêu ở trên thì TACPT tiến hành nhận hồ sơ và tiếp tục thực hiện các thủ tục tiếp theo như kiểm tra tính hợp lệ của đơn KC, quyết định KN, xử lý các trường hợp KC quá hạn…

2.2.2 Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị

TACPT kiểm tra các tài liệu trong hồ sơ có KC, KN mà TACST chuyển lên và dựa vào các quy định của pháp luật tố tụng dân sự để xác định có thụ lý xét xử phúc thẩm được hay không, cụ thể là phải làm rõ các điều kiện sau:

2.2.2.1 Kiểm tra đối tượng kháng cáo, kháng nghị

Theo Điều 242 BLTTDS thì đối tượng được xem xét theo trình tự phúc thẩm là

các bản án, quyết định của TACST chưa có hiệu lực pháp luật bị KC, KN Trong

quá trình tiến hành tố tụng, tùy theo diễn biến của vụ án, TACST có quyền ra một trong số những văn bản sau đây: thông báo trả lại đơn khởi kiện; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, bản án…nhưng theo quy định tại của Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì chỉ có quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ vụ án, bản án của TACST mới được coi là đối tượng để các đương sự KC, VKS KN yêu cầu TA cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm BLTTDS không quy định quyết

định áp dụng BPKCTT là đối tượng của quyền KC, KN là khoa học vì quyết định

Trang 30

này có tính cấp thiết, nghĩa là phải được thực hiện ngay sau khi TA ra quyết định áp

dụng và có tính tạm thời vì “nó không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi ra quyết

định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì TA có thể hủy bỏ quyết định này ngay trong quá trình chuẩn bị xét xử, hoặc khi TA ra quyết định cuối cùng sẽ phải có phán quyết về biện pháp khẩn cấp tạm thời mà TA áp dụng.” [26, tr.3] Vì vậy, để thụ lý xét xử phúc thẩm, TACPT phải

kiểm tra xem việc KC, KN có đúng đối tượng KC, KN do pháp luật quy định

không

2.2.2.2 Kiểm tra điều kiện về đơn kháng cáo

Khi nhận hồ sơ có KC do TACST chuyển đến, TACPT phải kiểm tra những nội dung chính cần có trong đơn KC quy định tại Điều 244 BLTTDS như sau:

- Thứ nhất: ngày, tháng, năm kháng cáo

Theo Mục 2 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì ngày kháng cáo được xác định như sau: đối với trường hợp người kháng cáo nộp trực tiếp đơn kháng cáo tại TACST thì ngày KC được xác định là ngày nộp đơn kháng cáo; đối với trường hợp người kháng cáo gửi đơn kháng cáo cho TACST qua bưu điện thì ngày KC

được xác định là ngày có dấu bưu điện nơi gửi đơn Trong trường hợp không xác

định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện nơi gửi trên phong bì thì ngày kháng cáo được xác định là ngày TA nhận đơn Trường hợp người KC trực tiếp nộp đơn

KC tại TACPT hoặc gửi đơn KC đến TACPT qua đường bưu điện thì TACPT phải chuyển ngay đơn KC và các tài liệu, chứng cứ kèm theo (nếu có) cho TACST để TACST lập hồ sơ KC

Việc xác định ngày KC giúp TACPT kiểm tra việc KC trong hạn luật định hay quá hạn luật định trên cơ sở đó sẽ tiến hành cách xử lý KC khác nhau

- Thứ hai: tên, địa chỉ của người kháng cáo

Theo Điều 243 BLTTDS thì người KC bao gồm đương sự, người đại diện của

đương sự, cơ quan tổ chức khởi kiện Theo Điều 56 BLTTDS và Mục 1 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì đương sự là cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố

Trang 31

tụng dân sự và đương sự là người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động theo hợp đồng hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình

là đương sự trong vụ án về tranh chấp liên quan đến hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự đó có thể tự mình làm đơn KC Theo Điều 73 BLTTDS thì người đại diện của đương sự bao gồm người đại diện theo pháp luật (đối với đương sự là cơ quan, tổ chức và là người chưa thành niên) và người đại diện theo ủy quyền Đối với người đại diện theo pháp luật đương nhiên có quyền KC bản án, quyết định của TACST Đối với người đại diện do đương sự ủy quyền KC trong trường hợp đương

sự ủy quyền thay mặt mình KC BLTTDS và Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP không quy định trường hợp người được ủy quyền khởi kiện và giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm có được KC hay không nhưng theo hướng dẫn tại điểm b, mục 4 Công văn số 81/2000/KHXX ngày 3/7/2000 của TANDTC thì trong trường hợp này, người được ủy quyền không có quyền KC bản án, quyết định của TACST Cơ quan,

tổ chức khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 của BLTTDS có quyền KC

- Thứ ba: nội dung đơn kháng cáo

Việc kiểm tra nội dung đơn KC để xác định đương sự KC phần nào của bản án, quyết định của TACST chưa có hiệu lực pháp luật; lý do của việc KC, yêu cầu của việc KC Tổng hợp nội dung KC chưa rõ ràng, đầy đủ thì có thể yêu cầu người KC sửa chữa, bổ sung Quy định này của pháp luật tố tụng dân sự bảo đảm cho đương

sự thực hiện hiệu quả quyền tự bảo vệ của mình

- Thứ tư: chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo

Việc kiểm tra chữ ký hoặc điểm chỉ của người KC để xác định người làm đơn KC

có quyền KC không, KC có hợp lệ không

- Thứ năm: các chứng cứ tài liệu gửi kèm theo đơn kháng cáo

Đương sự có thể gửi kèm theo đơn KC các tài liệu, chứng cứ bổ sung để chứng minh cho yêu cầu KC của mình là có căn cứ và hợp pháp Nếu đương sự gửi các tài liệu chứng cứ bổ sung kèm theo đơn KC thì TACPT xem xét đưa vào hồ sơ vụ án

Trang 32

2.2.2.3 Kiểm tra điều kiện về quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát

Trước đây, PLTTGQCVADS không quy định việc KN phải gửi bằng văn bản, nội dung của quyết định KN, việc gửi KN và các tài liệu, chứng cứ bổ sung cho TACST Nay, tại Điều 251 BLTTDS quy định rõ về nội dung quyết định KN nên trong quá trình thụ lý, TACPT phải kiểm tra quyết định KN của đại diện VKS phải

có đầy đủ những nội dung chính sau: ngày, tháng, năm ra quyết định KN; số của quyết định KN; tên của VKS ra quyết định KN; nội dung, lý do KN; họ tên người

ký quyết định KN Trường hợp quyết định kháng nghị của VKS không nêu đầy đủ các nội dung trên thì TACPT có thể yêu cầu sửa chữa bổ sung

BLTTDS không quy định về KN quá hạn của VKS là bất lợi cho hoạt động KN của VKS vì trên thực tế, VKS rất ít khi có đầy đủ thời gian theo quy định tại Điều

252 BLTTDS để thực hiện việc kháng nghị Bởi lẽ, theo quy định tại khoản 2 Điều

241 BLTTDS cho phép TA gửi bản án cho VKS cùng cấp trong thời hạn 10 ngày kể

từ ngày tuyên án nên TA thường gửi bản án cho VKS vào ngày cuối cùng của thời hạn này Do đó, thực chất thời hạn để VKS cùng cấp ban hành KN đối với bản án sơ thẩm chỉ còn 05 ngày đối với VKS cùng cấp và 20 ngày đối với VKS cấp trên Theo quan điểm của chúng tôi cần phải quy định về KN quá hạn của VKS Vì VKS tuy có nhiều điều kiện thực hiện quyền KN hơn so với việc thực hiện quyền

KC của người có quyền kháng cáo nhưng theo khoản 2 Điều 264 BLTTDS thì VKS chỉ tham gia phiên tòa trong một số trường hợp nhất định nên nếu TACST gửi bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật cho VKS trước khi hết thời hạn kháng nghị một thời gian nhất định nhưng do VKS gặp trở ngại khách quan như

thiếu nhân lực, thiên tai thì có thể VKS sẽ không KN đúng hạn được

2.2.2.4 Kiểm tra về việc thông báo kháng cáo, kháng nghị của Tòa án cấp sơ

thẩm

Theo quy định tại Điều 249 và 253 của BLTTDS thì ngay khi chấp nhận được

đơn KC hợp lệ, TACST phải thông báo ngay bằng văn bản cho VKS cùng cấp và

đương sự có liên quan đến việc KC biết về việc KC (không phải thông báo về việc

KC cho chính người đã KC), sau khi ra quyết định KN, VKS phải gửi ngay quyết

Trang 33

định KN cho đương sự có liên quan đến việc KN Việc pháp luật quy định phải có thông báo KC, KN là để cho những người được thông báo biết việc KC của các

đương sự khác và việc KN của VKS để họ có quyền gửi văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung KC, KN cho TACPT để làm sáng tỏ vụ án, chuẩn bị tốt hơn cho việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ Vì vậy, trong quá trình thụ lý, TACPT phải kiểm tra trong hồ sơ vụ án có thông báo KC, KN hay chưa, nếu không có các thông báo này thì phải trả lại hồ sơ để TACST bổ sung Trường hợp đương sự nộp văn bản nêu ý kiến về nội dung KC, KN, TACPT phải đưa vào trong hồ sơ vụ án để xem xét trong quá trình xét xử phúc thẩm

2.2.2.5 Trường hợp kháng cáo quá hạn

KC quá hạn là KC quá thời hạn quy định tại Điều 245 BLTTDS Ngoài ra, trong trường hợp đơn KC được làm trong hạn luật định nhưng việc nộp tiền tạm ứng án phí bị chậm thì vẫn được coi là KC quá hạn Trường hợp có KC quá hạn, TACPT yêu cầu người KC trình bày rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cứ về việc nộp đơn

KC hoặc tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chậm, sau đó đưa vào hồ sơ về để TACPT xem xét quyết định chấp nhận KC quá hạn hay không

Theo Mục 5 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP, thủ tục giải quyết KC quá hạn được thực hiện như sau: sau khi nhận được đơn KC quá hạn, TACST phải gửi

đơn KC, bản tường trình của người KC về lý do KC quá hạn và tài liệu, chứng cứ nếu có cho TACPT Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được KC quá hạn và tài liệu chứng cứ kèm theo, TACPT thành lập Hội đồng gồm 3 thẩm phán để xem xét KC quá hạn Trong trường hợp cần thiết, Hội đồng xét đơn KC quá hạn mới triệu tập người KC quá hạn đến phiên họp để yêu cầu họ trình bày bổ sung lý do KC quá hạn hoặc yêu cầu họ cung cấp tài liệu, giấy tờ chứng minh cho việc KC quá hạn của mình là có lý do chính đáng Đại diện VKS cùng cấp tham gia phiên họp xét lý

do KC quá hạn đối với các trường hợp VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm quy định tại khoản 2 Điều 264 của BLTTDS Như vậy, BLTTDS chưa quy định cụ thể cách thức làm việc của Hội đồng xét KC quá hạn là TACPT phải mở phiên tòa hay không

Trang 34

nhưng theo tinh thần của Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP thì khi xét KC quá hạn,

TACPT không phải mở phiên tòa Quy định này nhằm giải quyết nhanh vụ án

Theo điểm 5.1 Mục 5 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP: “Lý do chính

đáng” là trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như:do thiên

tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện…) làm cho người KC

không thể thực hiện được việc KC trong thời hạn luật định

[23, tr.8]

Căn cứ việc KC quá hạn có lý do chính đáng hay không, Hội đồng xét KC quá

hạn có quyền ra quyết định chấp nhận hay không chấp nhận KC quá hạn và phải ghi

rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận trong quyết định Việc KC quá

hạn được chấp nhận nếu có lý do chính đáng Việc KC quá hạn không được chấp

nhận nếu không có lý do chính đáng TACPT phải gửi quyết định về việc chấp nhận

hay không chấp nhận KC quá hạn cho người KC quá hạn và TACST Trường hợp

TACPT chấp nhận KC quá hạn thì TACST phải thông báo về việc KC và gửi hồ sơ

về TACPT Đối với trường hợp có đơn KC quá hạn nhưng không có bản tường trình

về lý do KC quá hạn thì TACPT yêu cầu TACST phải hỏi người KC quá hạn về lý

do KC quá hạn và gửi bản tường trình lý do KC quá hạn cho TACPT

Theo điểm 5.4 Mục 5 Phần I Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP “Việc xét lý do

KC quá hạn phải được thực hiện trước khi mở phiên tòa phúc thẩm không phụ thuộc

vào việc ngoài các đương sự KC quá hạn, trong vụ án còn có KC của các đương sự

khác trong thời hạn quy định tại Điều 245 của BLTTDS hoặc KN của VKS quy định

tại Điều 252 của BLTTDS; do đó khi nhận được hồ sơ vụ án có nhiều người KC,

TACPT phải kiểm tra có KC nào quá hạn hay không Nếu có thì phải xét lý do KC

quá hạn trước khi mở phiên tòa” [ 23, tr.8]

Tuy nhiên giới hạn của thời hạn được KC quá hạn chưa được BLTTDS và Nghị

quyết số 05/2006/NQ-HĐTP quy định cụ thể Khi xét xử KC quá hạn, Hội đồng xét

KC quá hạn tùy từng trường hợp mà quyết định “Theo kinh nghiệm một số nước thì

thời hạn này dao động từ một tháng đến ba tháng Nếu thời gian quá hạn lâu quá e

Trang 35

rằng khó có thể khắc phục các thiếu sót vì bản án đã thi hành xong hoặc các quyền

và lợi ích trong bản án, quyết định sơ thẩm không còn nữa Đồng thời điều luật nên nêu cụ thể thời hạn KC quá hạn là 15 ngày giống như thông thường nhưng được kể

từ ngày trở ngại khách quan cho việc KC không còn” [33, tr.63] Chúng tôi đồng ý

với quan điểm này

2.2.3 Vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự

Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự có ý nghĩa quan trọng vì nó mở đầu cho quá trình CBXXPTVADS; đặt trách nhiệm cho TACPT phải giải quyết vụ án theo thời gian luật định kể từ thời điểm vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Với ý nghĩa pháp lý

đó, nên yêu cầu của việc vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là phải kịp thời và chính xác

Tuy Điều 1 BLTTDS quy định các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia

đình, kinh doanh, thương mại và lao động gọi chung là vụ án dân sự nhưng công tác vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự vẫn chia ra thành các loại sổ riêng cho từng loại tranh chấp Việc làm này có ý nghĩa cho công tác phân công hội đồng xét xử,

địa bàn xét xử, thống kê số liệu, theo dõi hoạt động xét xử vụ án dân sự…của TACPT

Tùy từng TA mà việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự có thể được ghi vào sổ thụ lý theo phương pháp “truyền thống” hoặc cũng có thể được vào máy vi tính với phần mềm thụ lý chuyên biệt Nhưng dù được thực hiện bằng phương pháp nào thì cũng gọi chung là công tác vào sổ thụ lý và cách thức vào sổ thụ lý cũng phải bảo đảm có những nội dung chính sau: số thứ tự của thụ lý, ngày thụ lý, người thụ lý; bản án hoặc quyết định sơ thẩm bao gồm số, ngày, tháng, năm ra bản án, quyết định sơ thẩm, tên TA sơ thẩm giải quyết; quan hệ pháp luật được giải quyết (ví dụ tranh chấp về thừa kế, tranh chấp về đất đai hoặc tranh chấp hợp đồng kinh tế…); người

KC, bao gồm: nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền (nếu có), họ và tên, tuổi địa chỉ của người KC; ngày, nội dung KC; ngày, nội dung bổ sung, thay đổi, rút KC (nếu có); quyết định KN của VKS bao gồm: tên của VKS ra quyết định, số, ngày, tháng, năm,

Trang 36

nội dung của quyết định KN; quyết định bổ sung, thay đổi, rút KN của VKS cũng phải có các tiêu chí sau đây: số quyết định, ngày ra quyết định, nội dung của quyết

định; biện pháp khẩn cấp tạm thời mà TACST đã áp dụng…

Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự với các hoạt động chính như nhận hồ sơ, kiểm tra

KC, KN, vào sổ thụ lý là hoạt động tố tụng hết sức quan trọng vì nó không những có

ý nghĩa pháp lý như đã nêu ở trên mà còn góp phần bảo vệ kịp thời những quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

2.3 Những việc tiến hành sau khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự 2.3.1 Phân công những người tiến hành xét xử phúc thẩm

đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ tọa phiên tòa Khi phân công Thẩm phán tham gia Hội đồng xét xử phúc thẩm thì cần tiếp tục phân công các Thẩm phán đã tham gia Hội đồng xét kháng cáo quá hạn

2.3.1.2 Phân công Thư ký Tòa án

Thư ký TA có nhiệm vụ chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai

mạc phiên tòa như triệu tập những người tham gia phiên tòa, tống đạt giấy triệu tập, soạn thảo phần tóm tắt nội dung vụ án sơ thẩm và nội dung KC theo trình tự phúc thẩm, giúp việc cho Hội đồng xét xử trong quá trình lấy lời khai của đương sự, ghi biên bản hòa giải…BLTTDS không quy định việc phân công thư ký TA dưới hình thức nào và thẩm quyền phân công ra sao Thư ký TA của TAND cấp tỉnh do Chánh

án phân công hoặc do Phó Chánh án phân công nếu có sự ủy quyền của Chánh án Qua tìm hiểu công tác phúc thẩm của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội, chúng

Trang 37

tôi thấy, việc phân công thư ký TA do Trưởng phòng nghiệp vụ đảm trách trên cơ sở lịch phiên tòa do Chánh tòa phúc thẩm ký, đóng dấu

BLTTDS không quy định cụ thể về việc Chánh án TA, Chánh tòa Tòa phúc thẩm TANDTC phân công người tiến hành tố tụng bằng hình thức nào (miệng hay văn bản) Do đó, dẫn đến tình trạng trên thực tế có TA ra quyết định phân công người tiến hành tố tụng bằng văn bản, có TA ghi tên người tiến hành tố tụng vào góc

hồ sơ, có TA phân công người tiến hành tố tụng bằng lịch xét xử có chữ ký của Chánh án và đóng dấu Theo ý kiến của chúng tôi, quyết định phân công Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự phải bằng văn bản vì việc làm này xác định rõ nhiệm

vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án; giúp cho việc quản lý, theo dõi việc giải quyết vụ án được dễ dàng; và mới lưu được hồ sơ

vụ án Ngoài ra, nó còn là căn cứ để Chánh án ra quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng khi có yêu cầu

2.3.1.3 Việc thay đổi người tiến hành tố tụng

Để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được khách quan, đúng pháp luật, từ Điều

46 đến Điều 51 BLTTDS đã quy định việc thay đổi người tiến hành tố tụng

Theo Điều 46 BLTTDS và Mục 1, 2, 3 Phần II Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Thẩm phán, Thư ký TA, Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau: họ đồng thời là đương sự; đã tham gia với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó; có căn cứ rõ ràng cho rằng

họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ

Ngoài những trường hợp nêu trên, Điều 47 BLTTDS còn quy định Thẩm phán còn phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi khi họ đã tham gia xét xử sơ thẩm, phúc thẩm vụ án đó hoặc đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thư ký TA

Theo Điều 48 BLTTDS, Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay

đổi tố tụng trong những trường hợp thuộc Điều 46 BLTTDS và họ đã là người tiến

Trang 38

hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký TA

Theo Điều 49 BLTTDS, Thư ký TA phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay

đổi tố tụng trong những trường hợp thuộc Điều 46 BLTTDS và họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên, Thư ký TA

Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều

50 và Điều 51 BLTTDS Theo các quy định này, việc từ chối tiến hành tố tụng hoặc

đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng trước khi mở phiên tòa phải tiến hành bằng văn bản trong đó nêu rõ lý do và căn cứ của việc từ chối hoặc đề nghị của việc từ chối hoặc đề nghị thay đổi việc thay đổi người tiến hành tố tụng Việc thay đổi Thẩm phán, Thư ký TA trước khi mở phiên tòa do Chánh án TA quyết định Nếu thẩm phán bị thay đổi là Chánh án TA thì Chánh án TA cấp trên trực tiếp quyết

định Việc thay đổi KSV trước khi mở phiên tòa do Viện trưởng VKS quyết định

2.3.3 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự có kháng cáo, kháng nghị

Việc nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm là hoạt động tố tụng

của Hội đồng xét xử phúc thẩm nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, xem xét lại phần bản án, quyết định sơ thẩm có KC, KN hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung KC, KN Do mỗi hồ sơ vụ án có đặc thù riêng, có hồ sơ vụ án có KC, có

hồ sơ vụ án có KN …nên các bước nghiên cứu hồ sơ vụ án không theo một trình tự thống nhất BLTTDS cũng không quy định về quy trình này Việc thực hiện các công việc của Hội đồng xét xử trong CBXXPTVADS cũng chỉ mang tính tương đối Nhưng nhìn nhận một cách tổng quát nhất thì khi CBXXPTVADS, về cơ bản Hội

đồng xét xử phúc thẩm phải làm những công việc sau đây:

2.3.3.1 Xem xét nội dung đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị

Việc làm đầu tiên của TACPT là phải xem xét nội dung đơn KC và quyết định

KN vì căn cứ để vụ án dân sự được xét xử theo trình tự phúc thẩm là bản án, quyết

định sơ thẩm phải bị KC, KN Một lần nữa TACPT lại kiểm tra các điều kiện về mặt hình thức của đơn KC, quyết định KN Theo đó, TACPT phải kiểm tra người KC,

Ngày đăng: 01/04/2018, 17:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2004), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Tác giả: Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2004
2. Ngô Vĩnh Bạch (2001), “Vấn đề hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự” , Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8 năm 2001, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự” , "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8 năm 2001
Tác giả: Ngô Vĩnh Bạch
Năm: 2001
3. Nguyễn Việt Cường (2005), Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Tạp chí Đặc San nghề luật số 10 tháng 1/2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Đặc San nghề luật số 10 tháng 1/2005
Tác giả: Nguyễn Việt Cường
Năm: 2005
4. Nguyễn Triều Dương (2009), Về việc rút đơn khởi kiện của đương sự trong tố tụng dân sự, Tạp chí TAND số 22/2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí TAND số 22/2009
Tác giả: Nguyễn Triều Dương
Năm: 2009
5. Lê Thu Hà (1996), Về việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Tòa án cấp phúc thẩm, Tạp chí Luật học số 5/1996, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Luật học số 5/1996
Tác giả: Lê Thu Hà
Năm: 1996
8. Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng dân sự
Tác giả: Học viện Tư pháp
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
10. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1990), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Tác giả: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1990
11. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh t
Tác giả: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 1994
12. Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996), Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Tác giả: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
Nhà XB: Nxb Chính trò Quốc Gia
Năm: 1996
19. TANDTC (2005), Nghị quyết số 01/2005/NQ- HĐTP ngày 31/3/2005 của HĐTPTANDTC hướng dẫn một số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những quy định chung
Tác giả: TANDTC
Năm: 2005
20. TANDTC (2005), Nghị quyết số 02/2005/NQ - HĐTP ngày 27/4/2005 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các biện pháp khẩn cấp tạm thời
Tác giả: TANDTC
Năm: 2005
22. Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HHĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành các quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại TACST” của BLTTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại TACST
23. TANDTC (2006), Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04 tháng 8 năm 2006 của HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba“Thủ tục giải quyết vụ án tại TACPT” của BLTTDS, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục giải quyết vụ án tại TACPT
Tác giả: TANDTC
Năm: 2006
6. Lê Thu Hà (2006), Bình luận khoa học một số vấn đề của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn áp dụng, Nxb Tư pháp, Hà Nội Khác
7. Phạm Hưng (1998), Pháp luật tố tụng dân sự ở Đan Mạch và Thụy Điển, Tạp chí TAND số 1/1998, Hà Nội Khác
9. Khuất Văn Nga, 2008, Một số vấn đề rút ra từ công tác kháng nghị phúc thẩm vụ án dân sự, Tạp chí Kiểm sát số 17 tháng 9/2008 Khác
13. Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí, lệ phí TA Khác
14. Quốc hội (2004), Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 về việc thi hành BLTTDS Khác
15. Đinh Văn Quế, Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Khác
16. Robert French (2009), Hội nghị Chánh án các nước Châu á - Thái Bình Dương lần thứ 13- Vai trò của Chánh án trong việc nâng cao nhận thức của công Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN