Nếu như xét xử sơ thẩm là hoạt động đầu tiên của Tòa án cấp sơ thẩm khi đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được thi hành nếu các bên l
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Công Bình
Hµ néi - 2013
Trang 3dân sự
26
1.2 Sơ lược sự phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án
dân sự từ năm 1945 đến nay
27
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960 27 1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 28 1.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 30
DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN
Trang 42.2 Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ
68
3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm
vụ án dân sự
68
3.1.1 Những kết quả đạt được trong việc thực hiện các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thụ lý và
chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
68
3.1.2 Những tồn tại trong việc thực hiện các quy định của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét
xử phúc thẩm vụ án dân sự
76
3.1.3 Những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thụ lý và chuẩn bị
xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
83
3.2 Các kiến nghị về hoàn thiện và thực hiện các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về thụ lý và
chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
86
3.2.1 Các kiến nghị về hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự CBXXPT : Chuẩn bị xét xử phúc thẩm TAND : Tòa án nhân dân
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao TTDS : Tố tụng dân sự
VKS : Viện kiểm sát
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xét xử là một hoạt động chuyên biệt của Tòa án Để hoạt động xét xử được đúng đắn thì ngoài việc yêu cầu Tòa án tuân thủ các quy định về luật nội dung còn đòi hỏi phải tuân thủ các quy định về luật hình thức hay còn gọi
là luật tố tụng Để các hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng bảo đảm chặt chẽ, trong những năm trước đây Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996… Tuy vậy, đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, các tranh chấp trong quan hệ dân sự không ngừng phát sinh đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) để bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp Để cụ hóa các nội dung chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp ở Việt Nam và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngày 15/06/2004 tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật TTDS Việt Nam
Theo quy định tại Điều 17 BLTTDS, Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: Cấp xét xử sơ thẩm và cấp xét xử phúc thẩm Mỗi cấp xét xử đều
có một vị trí, ý nghĩa riêng Nếu như xét xử sơ thẩm là hoạt động đầu tiên của Tòa án cấp sơ thẩm khi đương sự có yêu cầu Tòa án giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ được thi hành nếu các bên liên quan không kháng cáo, kháng nghị thì xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị Bản án, quyết định phúc thẩm có tính chất đặc biệt quan trọng vì bản án có hiệu lực pháp luật ngay Vì
Trang 7vậy, để bản án phúc thẩm được đảm bảo thi hành ngay ngoài yêu cầu đúng luật thì bản án đó còn được coi là một "chuẩn mực" cho Tòa án cấp sơ thẩm học hỏi thì một trong những công việc đầu tiên đặc biệt quan trọng,
có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn của bản án của Tòa án cấp phúc thẩm
là thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm (CBXXPT) Thực tiễn xét xử cho thấy, những Tòa án cấp phúc thẩm nào coi trọng việc thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì kết quả bản án được ban hành khách quan, công bằng và đúng pháp luật Ngược lại, những Tòa án cấp phúc thẩm nào chưa coi trọng việc thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự thì kết quả là bản án, quyết định phúc thẩm được ban hành còn thiếu tính đúng đắn Ngoài ra, các quy định của pháp luật TTDS về thụ lý và CBXXPT vẫn còn tồn tại nhiều bất cập Ngày 29/03/2011 tại kỳ họp thứ IX, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật sửa đổi bổ sung một
số điều của BLTTDS trong đó có những quy định sửa đổi, bổ sung về thụ lý
và CBXXPT vụ án dân sự nhưng chưa giải quyết hết những bất cập này Việc nghiên cứu các vấn đề liên quan đến thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự để giải quyết những bất cập còn tồn tại trong lúc này là cần thiết Vì vậy, tác giả đã
chọn đề tài: "Thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự" nghiên
cứu làm luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về phúc thẩm dân
sự, trong đó có đề cập đến thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự Về đề tài nghiên
cứu khoa học có công trình nghiên cứu cấp Bộ "Một số vấn đề về cơ sở lý
luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật Tố tụng dân sự" do Tòa án nhân
dân tối cao (TANDTC) thực hiện năm 1996; công trình nghiên cứu cấp Bộ
"Những quan điểm cơ bản về Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam" do Viện Nhà
nước và Pháp luật thuộc Trung tâm khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia
thực hiện năm 2001; công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ "Thực trạng hoạt
động xét xử phúc thẩm và giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử phúc thẩm của các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao" do
Trang 8TANDTC thực hiện năm 2006 Về giáo trình, có Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2011; Giáo trình Luật TTDS, của Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, 2007; Giáo trình Luật TTDS Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục, 2011 Về các
bài viết trên các báo, tạp chí khoa học pháp lý gồm có: Bài "Thủ tục xét xử phúc
thẩm vụ án dân sự", của Nguyễn Việt Cường, đăng trên Tạp chí Đặc san Nghề
luật, số 10, 1/2005; bài "Chế định phúc thẩm vụ án dân sự", của Nguyễn Thị Thu Hà, đăng trên Đặc san về BLTTDS Tạp chí luật học năm 2005; bài "Tòa án
cấp phúc thẩm giải quyết vụ án như thế nào khi tòa cấp sơ thẩm triệu tập sai
tư cách người tham gia tố tụng", của Nguyễn Đình Huề, đăng trên Tạp chí
Tòa án nhân dân (TAND), Kỳ 2, số 5/2005; bài "Quan niệm về nguyên tắc hai
cấp xét xử trong TTDS nước ta", của Tống Công Cường, đăng trên Tạp chí
Khoa học pháp lý, số tháng 6/2006; bài "Thực hiện chế độ hai cấp xét xử cơ
chế bảo vệ quyền con người trong tố tụng dân sự", của Nguyễn Quang Hiền,
đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử v.v… Trong quá trình xây dựng
và sau khi Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS được ban hành đã có nhiều cuộc hội thảo về Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS và các bài viết đăng trên các tạp
chí pháp lý có đề cập đến vấn đề này như Hội thảo về Luật sửa đổi, bổ sung
Bộ luật Tố tụng dân sự do TANDTC tổ chức tại Sa Pa ngày 29 và
30/01/2010; bài "Những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo trong việc sửa đổi, bổ
sung được thể hiện trong Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự ", của Phạm Quý Tỵ, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, số 12/2011; bài
"Thu thập chứng cứ và chứng minh theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự ", của Tưởng Duy Lượng, đăng trên
Tạp chí Kiểm sát số 12/2011 v.v… Tuy nhiên, cho đến thời điểm này vẫn còn nhiều vấn đề về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự chưa được làm rõ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận
về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự; nội dung các quy định của pháp luật Việt
Trang 9Nam hiện hành về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và việc thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án Qua việc nghiên cứu nhận diện, phát hiện những hạn chế, bất cập trong các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án từ đó tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục để góp phần nâng cao hiệu quả xét xử phúc thẩm
Xuất phát từ mục đích của việc nghiên cứu đề tài nêu trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề lý luận về thụ lý và CBXXPT
vụ án dân sự, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và khảo sát việc thực hiện các quy định này tại các Tòa án cấp phúc thẩm Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề lý luận về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và thực hiện các quy định này tại các Tòa án cấp phúc thẩm Việt Nam
Đề tài có nội dung nghiên cứu rộng, tuy nhiên do giới hạn của luận văn thạc sĩ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào những vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận cơ bản về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự như khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự; mối quan hệ giữa thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự và CBXXPT vụ án dân sự
- Các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự và CBXXPT vụ án dân sự mà chủ yếu là các quy định của BLTTDS và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và Nghị quyết hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTDS về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự của Hội đồng thẩm phán TANDTC Riêng đối với các quyết định được đưa ra trong thời hạn CBXXPT
vụ án dân sự thì khóa luận chỉ nghiên cứu, phân tích về quyết định tạm đình
Trang 10chỉ, quyết định đình chỉ, quyết định đưa vụ án ra xét xử Còn quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời sẽ được nghiên cứu ở một công trình khoa học khác
- Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự tại các Tòa án cấp phúc thẩm (chủ yếu là TAND thành phố Hà Nội) trong những năm gần đây
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Quá trình nghiên cứu luận văn tác giả cũng đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh v.v để thực hiện đề tài
6 Những điểm mới về khoa học của luận văn
Đây là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý có tính hệ thống về những vấn đề liên quan đến thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự giúp các độc giả, đặc biệt là những người đang làm công tác thực tiễn hiểu biết sâu sắc hơn về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự Những điểm mới về khoa học của luận văn thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
- Hoàn thiện khái niệm thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự; chỉ rõ đặc điểm và ý nghĩa của thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự
- Đánh giá đúng thực trạng các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện tại các Tòa án
Trang 11- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc
thẩm vụ án dân sự
Chương 2: Nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Chương 3: Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân
sự Việt Nam hiện hành về thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
và kiến nghị
Trang 12
1.1.1 Khái niệm thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Vì vậy, khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm hoặc tranh chấp thì các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa
án bảo vệ Tuy nhiên, tùy thuộc vào tính chất của từng loại vụ việc mà Tòa án giải quyết vụ việc theo thủ tục TTDS, tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính Trong đó, TTDS là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để Tòa án giải quyết một vụ việc dân sự Pháp luật của đa số các nước quan niệm vụ việc dân sự là các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động, theo đó các tranh chấp
về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được gọi
là vụ án dân sự; các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được gọi là việc dân sự Như vậy, khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án dân sự ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác thì Tòa án phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật đã quy định để ra một phán quyết công minh, chính xác và đúng pháp luật Tuy nhiên, bản án, quyết định của Tòa án
vì nguyên nhân khách quan hoặc chủ quan vẫn có thể có những thiếu sót, sai lầm Vì vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời khắc phục những sai lầm có thể có trong các bản án, quyết
định của Tòa án cấp sơ thẩm thì các nước đều áp dụng "nguyên tắc xét xử vụ
án theo nhiều cấp và tổ chức Tòa án theo thứ bậc" [14, tr 12] Tuy nhiên, các
Trang 13nước thực hiện nguyên tắc này không hoàn toàn giống nhau Các nước theo truyền thống pháp luật dân sự áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử, các nước theo truyền thống pháp luật án lệ áp dụng nguyên tắc chung thẩm (Principle
of Finality) [9, tr 12]
Đối với các nước áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử như Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga… thì sau khi Tòa án sơ thẩm tuyên án, bản án quyết định chưa có hiệu lực pháp luật ngay mà còn một thời hạn để các đương sự kháng cáo, Viện kiểm sát (Viện công tố) (VKS) kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo trình tự phúc thẩm trừ trường hợp pháp luật quy định bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật ngay Tòa án cấp phúc thẩm
có quyền xem xét lại vụ án về vấn đề sự kiện và luật pháp Do đó, các chứng
cứ mới do đương sự xuất trình có thể được chấp nhận ở Tòa án cấp phúc thẩm
và Tòa án cấp phúc thẩm có thể ra bản án mới
Ở các nước áp dụng nguyên tắc chung thẩm như Anh, Mĩ… thì các bản
án, quyết định sau khi ban hành sẽ mặc nhiên được thừa nhận là giải pháp cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay Tuy nhiên, để đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự thì VKS không được kháng nghị phúc thẩm mà chỉ có đương sự
có quyền kháng cáo phúc thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên sửa chữa những sai
lầm có thể có của Tòa án cấp dưới Nhưng Tòa án cấp phúc thẩm "chỉ xét lại
về mặt pháp lý của vụ án chứ không xét đến các vấn đề sự kiện" [9, tr 68]
Tòa án cấp phúc thẩm ở những nước này rất ít khi hoặc không tiếp nhận và xem xét các chứng cứ mới của vụ kiện mà chủ yếu thực hiện chức năng áp dụng và giải thích pháp luật, có nghĩa là Tòa án cấp phúc thẩm chỉ sửa lại những lỗi, sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm và trả hồ sơ cho Toà án cấp sơ thẩm nếu tìm ra lỗi mà không xem xét để ra một quyết định mới để thay thế quyết định của tòa cấp dưới
Ở Việt Nam, nguyên tắc xét xử vụ án theo nhiều cấp được thực hiện khác nhau ở từng giai đoạn lịch sử Nhưng, hiện nay theo quy định tại Điều 17
Trang 14của BLTTDS, chúng ta áp dụng nguyên tắc hai cấp xét xử Theo đó, tất cả các bản án, quyết định sơ thẩm sau khi tuyên đều chưa có hiệu lực pháp luật
và có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm Khi đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì Tòa án cấp trên sẽ thụ lý để xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
Từ những phân tích trên có thể thấy, ở mỗi quốc gia khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, tập quán, truyền thống lập pháp mà nội dung cụ thể của chế định phúc thẩm vụ án dân sự có những điểm khác nhau Vậy, về mặt lý luận, khái niệm phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu như thế nào?
Dưới góc độ ngôn ngữ học, "Phúc thẩm" theo Từ điển Tiếng Việt là
"Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có
chống án" [10, tr 790] Theo cách giải thích này thì phúc thẩm là việc Tòa án
cấp trên xét xử lại vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm khi có sự chống án
Dưới góc độ pháp lý, phúc thẩm được giải thích thông qua thuật ngữ kháng án Trong từ điển luật học Pháp, kháng án (Appel) là một hình thức kháng án theo thông luật nhằm cải sửa hoặc hủy bỏ, theo đó bên kháng
án đưa vụ kiện ra trước một Tòa án cấp cao hơn, thậm chí có thể đưa ra trước cùng một Tòa án với một hội đồng xét xử khác [55, tr 41] Trong Từ điển pháp luật Anh - Việt, kháng án (appeal) có nghĩa là tất cả các thỉnh cầu tới một cấp thẩm cao hơn (kháng cáo và thượng tố giám đốc thẩm) [47, tr 34] Qua việc giải thích thuật ngữ kháng án, có thể hiểu phúc thẩm là biện pháp Tòa án cấp cao hơn xem xét lại vụ án đã được giải quyết ở của Tòa án cấp dưới khi có sự chống án (kháng cáo hoặc thượng tố giám đốc thẩm) Ngoài ra,
Trong Từ điển Luật học Việt Nam, "phúc thẩm là xét lại vụ án, quyết định đã
được Tòa án cấp dưới xét xử sơ thẩm, nhưng chưa có hiệu lực pháp luật mà
bị kháng cáo hoặc kháng nghị" [53, tr 626] Như vậy, có thể thấy dưới góc
độ pháp lý, thuật ngữ phúc thẩm cũng được hiểu không hoàn toàn giống nhau
Trang 15Ở Việt Nam, trong lĩnh vực khoa học pháp lý, khái niệm phúc thẩm vụ
án dân sự được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau là "giai đoạn phúc thẩm", "chế định phúc thẩm", "thủ tục xét xử phúc thẩm" và "cấp xét xử phúc thẩm"
Dưới góc độ là giai đoạn thì phúc thẩm vụ án dân sự là giai đoạn của
quá trình TTDS, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm kiểm tra tính hợp pháp, tính căn cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm, khắc phục kịp thời sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước [9, tr 24-25]
Dưới góc độ là chế định pháp luật thì phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu là một hệ thống những qui tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình giải quyết lại vụ án dân sự trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Dưới góc độ là thủ tục xét xử thì phúc thẩm vụ án dân sự được hiểu là thủ tục xét xử do Tòa án cấp trên trực tiếp tiến hành nhằm xét xử lại vụ án dân
sự mà bản án và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của TAND cấp dưới khi có kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật
Dưới góc độ là một cấp xét xử, phúc thẩm vụ án dân sự là cấp xét xử
thứ hai, theo đó Tòa án có thẩm quyền xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm khắc phục kịp thời sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm, đảm bảo việc xét xử đúng đắn, thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước [9, tr 26]
Trang 16Như vậy, phúc thẩm vụ án dân sự được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, phạm vi khác nhau song tất cả đều coi phúc thẩm vụ án dân sự là việc Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa
án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật Do đó, phúc thẩm vụ án dân sự có đặc điểm cơ bản sau:
- Tính chất của phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
- Căn cứ phát sinh phúc thẩm dựa trên các kháng cáo của đương sự hoặc kháng nghị của VKS
- Đối tượng của phúc thẩm là vụ án dân sự mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị
- Thẩm quyền xét xử phúc thẩm là Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa
án đã xét xử sơ thẩm
- Phạm vi xét xử phúc thẩm phải trong phạm vi nội dung của bản án, quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Như vậy, đối với những vấn đề chưa được đưa
ra xét xử ở cấp sơ thẩm hoặc đã xét xử ở cấp sơ thẩm mà không bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng không có thẩm quyền xét xử lại
- Nhiệm vụ của phúc thẩm là kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn
cứ của các bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị
Thực tế, thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự là những khái niệm pháp lý phức tạp Mỗi khái niệm bao gồm nhiều yếu tố cấu thành, mà mỗi yếu tố cấu thành đó lại có ý nghĩa pháp lý riêng biệt nhưng có mối liên quan mật thiết với nhau Để tìm hiểu khái niệm thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự, chúng ta cần làm rõ từng yếu tố cấu thành của nó
Trang 171.1.1.1 Khái niệm thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt thì "thụ lý" là "việc
cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiếp nhận giải quyết vụ kiện…" [15, tr 961]
Theo cách giải thích này thì, thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là việc Tòa án cấp phúc thẩm bắt đầu nhận trách nhiệm giải quyết lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
Trong khoa học pháp lý, khái niệm thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự có thể được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau là thủ tục TTDS hay hoạt động TTDS
Thủ tục thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự do tòa án cấp phúc thẩm tiến hành nhằm tiếp nhận vụ án dân sự từ Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại trên cơ
sở kháng cáo, kháng nghị hợp pháp theo quy định của pháp luật Điều này có nghĩa rằng, thủ tục thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự chỉ được thực hiện khi có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Đây là điểm khác biệt so với thủ tục thụ lý vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục thụ lý vụ án dân sự khi việc khởi kiện vụ án dân sự tuân thủ đúng và đủ các điều kiện khởi kiện (về nội dung, về hình thức khởi kiện và tạm ứng án phí)
Phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai nên để kiểm tra được tính hợp pháp và tính có căn cứ trong bản án, quyết định sơ thẩm thì phúc thẩm trước tiên phải dựa trên hồ sơ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm Do đó, thụ lý phúc thẩm vụ án
Trang 18dân sự bao gồm thủ tục nhận hồ sơ vụ án dân sự từ Tòa án cấp sơ thẩm và thủ tục vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Các thủ tục này đều phải trên cơ sở các quy định của pháp luật TTDS
Vậy, dưới góc độ thủ tục TTDS, thủ tục thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
là cách thức, trình tự Tòa án cấp phúc thẩm tiếp nhận vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của mình khi có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhằm xét xử lại vụ án dân sự
Dưới góc độ hoạt động TTDS: hoạt động TTDS là hoạt động của các
chủ thể tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự [4, tr 13] Hoạt động này được thực hiện từ khi khởi kiện cho đến khi Tòa án ra được bản án, quyết
định có hiệu lực pháp luật Trong đó, thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt
động tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm tiếp nhận vụ án dân sự từ Tòa án cấp
sơ thẩm để xét xử lại vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của mình khi có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
Hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động khởi điểm làm phát sinh các quan hệ tố tụng trong quá trình Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm đồng thời chính thức ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể vào quá trình này Đây là dấu hiệu để phân biệt với hoạt động thụ lý vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm Hoạt động thụ lý vụ án dân sự ở Tòa án cấp cơ thẩm là hoạt động tố tụng đầu tiên của sơ thẩm dân sự, còn hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động đầu tiên của Tòa án cấp phúc thẩm
Nếu như hoạt động thụ lý vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm là tiền đề
để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các hoạt động tiếp theo như chuẩn bị xét xử
sơ thẩm, xét xử sơ thẩm và ra bản án, quyết định sơ thẩm thì hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là cơ sở để Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình phúc thẩm vụ án dân sự Nếu không có
Trang 19hoạt động thụ lý vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm sẽ không có các hoạt động khác như chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, xét xử phúc thẩm… Như vậy, để tạo tiền đề cho việc giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm được nhanh chóng, chính xác và hiệu quả thì hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân
sự phải tuân theo thể thức, trình tự do pháp luật TTDS quy định
Vậy, dưới góc độ là hoạt động tố tụng thì thụ lý phúc thẩm vụ án dân
sự là hoạt động TTDS của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc tiếp nhận vụ án dân sự thuộc thẩm quyền của mình khi có kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật nhằm xét xử lại
vụ án dân sự
1.1.1.2 Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Kể từ thời điểm Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án dân sự, sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình giải quyết lại
vụ án theo thủ tục phúc thẩm và bắt đầu giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm
Chuẩn bị xét xử phúc thẩm được các quốc gia quy định khác nhau
Ở các nước theo truyền thống pháp luật án lệ như Vương quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kì… do:
Tính chất phúc thẩm vụ kiện là Tòa phúc thẩm chỉ xem xét lại vụ kiện đúng như đã diễn ra tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận việc tiếp nhận và xem xét các chứng cứ mới của vụ kiện, không tiến hành mở một phiên tòa mới và khác đối với vụ kiện đó Do đó, yêu cầu của các bên đương sự xin phúc thẩm
là phải trình cho Tòa án cấp phúc thẩm tòa bộ chứng cứ của vụ kiện như đã trình cho Tòa án cấp sơ thẩm (bản sao) [31, tr 25]
Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại về mặt pháp lý, giải thích pháp luật mà không tiến hành xét xử Do đó, hoạt động CBXXPT vụ án dân sự ở hệ thống này có thể hiểu bao gồm những công việc nhận đơn yêu cầu
Trang 20kháng cáo, tiếp nhận bản sao chứng cứ, nhận hồ sơ vụ án, nghiên cứu hồ sơ
vụ án
Ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự như Cộng hòa Pháp, Liên bang Nga…:
Quyền phúc thẩm bao gồm cả quyền về xem xét lại những
sự kiện thực tế cũng như những vấn đề luật pháp Mặc dù khuynh hướng chung là dựa vào những tài liệu do cấp dưới chuẩn bị như là
cơ sở thực tế cho việc xem xét lại vụ án, tại nhiều Tòa án, các bên
có quyền đưa ra chứng cứ mới tại cấp phúc thẩm Tòa phúc thẩm sẽ
tự mình xem xét tất cả các chứng cứ và thực hiện việc cân nhắc độc lập xem sự thật là gì và tầm quan trọng của chúng như thế nào, Tòa cũng được yêu cầu chuẩn bị ý kiến riêng có lập luận đầy đủ, trong
Ở Việt Nam, tính chất của phúc thẩm là việc xét xử lại vụ án dân sự
mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị nên để thực hiện được việc giải quyết lại vụ án dân sự nhanh chóng và đúng đắn thì Tòa án cấp phúc thẩm vẫn phải tiến hành những công việc cần thiết trước khi đưa vụ án ra xét xử lại tại phiên tòa phúc thẩm như nghiên cứu đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến, triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa, yêu cầu đương sự cung cấp, bổ sung chứng cứ; thu thập bổ sung chứng cứ…
Với những quy định khác nhau trong pháp luật TTDS của các quốc gia về CBXXPT vụ án dân sự như vậy thì về mặt lý luận, khái niệm CBXXPT
vụ án dân sự được hiểu như thế nào?
Trang 21Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt thì "chuẩn bị" là
"làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì" [15, tr 181] Vì vậy, CBXXPT
vụ án dân sự có thể được hiểu là việc tiến hành những công việc cần thiết, những sản phẩm cần có cho hoạt động xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm CBXXPT vụ án dân sự có thể được tiếp cận dưới những góc độ khác nhau là một giai đoạn của TTDS, là một thủ tục TTDS, một hoạt động TTDS hay là một chế định của pháp luật TTDS
Dưới góc độ là một giai đoạn TTDS: giai đoạn tố tụng là các khâu,
các phần việc khác nhau của quá trình tố tụng [53, tr 286] Như vậy, có thể thấy quá trình TTDS được phân chia thành các giai đoạn khác nhau, trong đó CBXXPT vụ án dân sự là một giai đoạn trong quá trình Tòa án giải quyết vụ
án dân sự Giai đoạn CBXXPT vụ án dân sự có tính độc lập tương đối và có mối liên quan chặt chẽ với các giai đoạn khác Kết thúc giai đoạn CBXXPT
có quyết định liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc quyết định chuyển sang giai đoạn tiếp theo Giai đoạn CBXXPT vụ án dân sự là tiền đề cho việc xét xử phúc thẩm Các hoạt động tố tụng trong giai đoạn CBXXPT vụ án dân
sự được thực hiện theo quy định của pháp luật TTDS Như vậy, giai đoạn CBXXPT vụ án dân sự có dấu hiệu riêng để phân biệt với các giai đoạn tố tụng khác, cụ thể:
- Nhiệm vụ giai đoạn CBXXPT là chuẩn bị những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc xét xử lại vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm Nhiệm vụ ở giai đoạn CBXXPT khác với các giai đoạn khác như giai đoạn chuẩn bị xét
xử sơ thẩm có nhiệm vụ chuẩn bị những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc xét xử lần đầu nội dung vụ án dân sự theo trình tự sơ thẩm Còn giai đoạn xét
xử sơ thẩm có nhiệm vụ giải quyết lần đầu vụ án dân sự và ra bản án, quyết định hợp pháp và có căn cứ…
- Giai đoạn CBXXPT xác định phạm vi các chủ thể tiến hành tố tụng
và tham gia tố tụng Đó là, Tòa án cấp phúc thẩm, VKS, những người có
Trang 22quyền kháng cáo, kháng nghị, những người tham gia tố tụng có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị hoặc những người tham gia tố tụng khác mà Tòa án cấp phúc thẩm thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị Đặc điểm này cũng khác với các giai đoạn khác như giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm có Tòa án cấp sơ thẩm, các đương sự và những người tham gia tố tụng khác
- Các quyết định ở giai đoạn này có thể là quyết định đưa vụ án ra xét
xử phúc thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm Các quyết định ở giai đoạn CBXXPT vụ án dân sự cũng khác với các giai đoạn khác Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án ra một trong các quyết định sau: quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Ở giai đoạn xét xử theo trình tự phúc thẩm thì Tòa án ra bản án, quyết định phúc thẩm Ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án ra quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm
Vậy, dưới góc độ là giai đoạn tố tụng, CBXXPT vụ án dân sự là giai
đoạn của quá trình TTDS, trong đó Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa phúc thẩm được khách quan, công bằng và đúng pháp luật
Dưới góc độ hoạt động TTDS: Như đã phân tích ở phần 1.1.2 quá
trình TTDS bao gồm rất nhiều các hoạt động TTDS khác nhau của Tòa án, VKS, đương sự và những người tham gia tố tụng Trong đó, CBXXPT vụ án dân sự là một trong các hoạt động của TTDS nhằm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án dân sự ra xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm
Nếu như hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động khởi điểm, là tiền đề để Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các hoạt động tiếp theo như chuẩn bị xét xử phúc thẩm, xét xử phúc thẩm và ra bản án, quyết định phúc thẩm thì hoạt động CBXXPT vụ án dân sự là cơ sở để Tòa án cấp phúc
Trang 23thẩm mở phiên tòa xét xử phúc thẩm Do đó, để Tòa án cấp phúc thẩm ra được một bản án, quyết định phúc thẩm chính xác và đúng pháp luật thì hoạt động CBXXPT vụ án dân sự phải tuân theo thể thức, trình tự do pháp luật TTDS quy định
Hoạt động CBXXPT vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng gồm một chuỗi nhưng công việc có liên quan mật thiết với nhau nhằm chuẩn bị các điều kiện cho việc xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Hoạt động này bao gồm: thành lập hội đồng xét xử phúc thẩm, chỉ định thư ký Tòa án; thông báo thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự; nghiên cứu hồ sơ vụ án; kiểm tra lại tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị (kiểm tra đối tượng kháng cáo, kháng nghị, kiểm tra hình thức đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị, kiểm tra chủ thể kháng cáo, kiểm tra phạm vi kháng cáo, kháng nghị); chuyển hồ sơ cho VKS cùng cấp; yêu cầu đương sự bổ sung cung cấp chứng cứ; giải quyết vấn đề thay đổi,
bổ sung kháng cáo, kháng nghị, rút kháng cáo, kháng nghị; giải quyết vấn đề thay đổi người tiến hành tố tụng; triệu tập đương sự Trong trường hợp có quyết định đưa vụ án xét xử thì hoạt động CBXXP vụ án dân sự còn bao gồm
cả những hoạt động chuẩn bị cho phiên tòa phúc thẩm được diễn ra như triệu tập đương sự và những người có liên quan, gửi thông báo cho VKS, chuẩn bị hội trường xét xử
Vậy, dưới góc độ hoạt động TTDS, CBXXPT vụ án dân sự là hoạt
động tố tụng của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa phúc thẩm được khách quan, công bằng và đúng pháp luật
Dưới góc độ là một thủ tục TTDS: Như đã phân tích ở phần 1.1.2 nếu
như thủ tục thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là thủ tục nhằm tiếp nhận vụ án dân
sự từ Tòa án cấp sơ thẩm để xét xử lại vụ án dân sự trên cơ sở kháng cáo, kháng nghị hợp pháp đối với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật thì CBXXPT vụ án dân sự là thủ tục tiếp theo trong trình tự giải
Trang 24quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm được thực hiện sau khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án
Thủ tục CBXXPT vụ án dân sự là tiền đề, cơ sở cho việc Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thủ tục xét xử tại phiên tòa Nếu không có thủ tục CBXXPT vụ án dân sự thì Tòa án cấp phúc thẩm không thể tiến hành thủ tục xét xử tại phiên tòa phúc thẩm
Hoạt động CBXXPT vụ án dân sự và pháp luật TTDS là hai mặt không thể tách rời của quá trình TTDS Pháp luật TTDS là cơ sở pháp lý cho hoạt động CBXXPT vụ án dân sự, do đó thủ tục CBXXPT vụ án dân sự phải được pháp luật TTDS quy định Hơn nữa, như đã phân tích hoạt động CBXXPT vụ án dân sự gồm một chuỗi những công việc có liên quan mật thiết với nhau nên thủ tục CBXXPT vụ án dân sự cũng bao gồm nhiều thủ tục khác nhau được thực hiện nhằm chuẩn bị các điều kiện cho việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm
Vậy, dưới góc độ là một thủ tục TTDS, thủ tục CBXXPT vụ án dân sự
là cách thức, trình tự Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các hoạt động chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa phúc thẩm được khách quan, công bằng và đúng pháp luật
Dưới góc độ chế định của pháp luật TTDS thì CBXXPT vụ án dân
sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết để xét xử lại vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm
Sau khi bản án, quyết định sơ thẩm được tuyên, nếu trong thời hạn pháp luật quy định, các đương sự kháng cáo, VKS kháng nghị và kháng cáo, kháng nghị hợp pháp thì các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án dân sự bắt đầu hình thành Trong đó, các quan
hệ phát sinh trong giai đoạn CBXXPT vụ án dân sự bao gồm các quan hệ giữa
Trang 25Tòa án, VKS, người có quyền kháng cáo, kháng nghị, những người tham gia
tố tụng có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và những người tham gia tố tụng khác Các chủ thể tham gia vào các quan hệ này có nhiệm vụ, quyền hạn và địa vị pháp lý khác nhau nhưng đều được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật cụ thể và đều nhằm thực hiện mục đích của CBXXPT là chuẩn bị những điều kiện cần thiết đảm bảo cho việc xét xử lại
vụ án dân sự theo trình tự phúc thẩm
Nội dung của chế định CBXXPT vụ án dân sự quy định về các vấn đề pháp lý liên quan đến việc CBXXPT như nhận hồ sơ vụ án dân sự, kháng cáo, kháng nghị; thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các công việc để chuẩn bị cho việc mở phiên tòa phúc thẩm, các quyết định tố tụng trong thời hạn chuẩn
bị xét xử phúc thẩm Dấu hiệu về nội dung này là một trong những dấu hiệu
để phân biệt chế định CBXXPT vụ án dân sự với các chế định khác trong pháp luật TTDS
Vậy, chế định CBXXPT vụ án dân sự có thể được hiểu như sau: Chế
định CBXXPT vụ án dân sự là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án cấp phúc thẩm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa vụ án dân sự ra xét xử tại phiên tòa phúc thẩm
1.1.2 Đặc điểm của thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Trong phạm vi của luận vặn này tác giả tập trung nghiên cứu theo góc
độ về những quy định của BLTTDS về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự và thực tiễn thực hiện Như đã phân tích ở trên, thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự
là những bước đầu tiên của quá trình Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ
án dân sự Thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự cùng tạo tiền đề, điều kiện cần thiết cho việc xét xử lại vụ án dân sự tại phiên tòa sơ thẩm nhưng do phúc thẩm là thủ tục xét xử lại vụ án dân sự và thụ lý, CBXXPT vụ án dân sự có nhiệm
vụ khác nhau nên chúng có những đặc điểm riêng
Trang 26Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là việc Tòa án có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ có kháng cáo, kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực
do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến để xét xử lại vụ án Qua nghiên cứu thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự có những đặc điểm cơ bản sau đây:
- Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự được phát sinh trên cơ sở có đơn kháng cáo, quyết định kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực của Tòa án cấp sơ thẩm
Cơ sở của việc xét xử lại vụ án dân sự là kháng cáo, kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật Vì vậy, nếu như tại cấp sơ thẩm việc thụ lý vụ án dân sự chỉ được thực hiện khi có đơn khởi kiện của chủ thể có quyền khởi kiện thì việc thụ lý tại cấp phúc thẩm được phát sinh trên cơ sở có đơn kháng cáo của đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự hay có quyết định kháng nghị của VKS đối với bản án của Tòa án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật
- Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự dựa trên hồ sơ vụ án do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến
Xét xử phúc thẩm là xét xử lại vụ án dân sự trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, nếu việc thụ lý sơ thẩm được tiến hành trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu do người nộp đơn khởi kiện cung cấp cho Tòa án thì ngược lại việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự được tiến hành trên cơ sở hồ sơ vụ án do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến sau khi hồ sơ vụ án đã được Tòa án cấp sơ thẩm xây dựng và được xét xử bằng bản án, quyết định nhưng bị kháng cáo, kháng nghị Khi nhận được hồ sơ, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tiến hành thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự ngay
- Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự được tiến hành bởi Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử vụ án
Tại cấp sơ thẩm, trong một số trường hợp để tạo thuận lợi cho đương
sự pháp luật quy định người khởi kiện có quyền lựa chọn Tòa án giải quyết
Trang 27tranh chấp dân sự như đối với tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn
có thể yêu cầu Tòa án nơi tổ chức, tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động v.v… Tuy nhiên, để bảo đảm việc giải quyết lại đúng đắn và nhanh chóng vụ án dân sự pháp luật quy định khi tranh chấp dân sự đã được thụ lý giải quyết tại Tòa án cấp sơ thẩm thì khi có kháng cáo, quyết định kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật sẽ do Tòa án phúc thẩm cấp trên trực tiếp của Tòa án sơ thẩm đó giải quyết Do vậy, đương
sự không có quyền lựa chọn Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án và việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự sẽ do Tòa án cấp trên trực tiếp của Tòa án cấp
sơ thẩm đã xét xử vụ án thực hiện
- Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự không phải là một hoạt động tố tụng đơn giản, độc lập mà nó là cả một quy trình nhiều bước khác nhau để đi đến kết quả là Tòa án vào sổ thụ lý vụ án
Mặc dù thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là bước đầu của giai đoạn phúc
thẩm vụ án dân sự nó không đòi hỏi quá nhiều trình độ của người được phân công giải quyết và cũng được pháp luật qui định rõ nhưng nếu làm không tốt khâu này sẽ ảnh hưởng thậm chí dẫn đến sai lầm không đáng có ở khâu tiếp theo Tuy vậy, để bảo đảm việc giải quyết lại nhanh chóng và đúng đắn vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm thì khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Thẩm phán được giao nhiệm vụ xem xét việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự vẫn phải tiến hành một loạt các hoạt động tố tụng cần thiết để xem xét việc thụ lý như
từ việc nhận hồ sơ, đối chiếu các chứng cứ, tài liệu với danh mục hồ sơ v.v…
cho đến việc ghi vào sổ thụ lý vụ án
CBXXPT vụ án dân sự là bảo đảm các điều kiện cho việc xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa phúc thẩm CBXXPT có các đặc điểm cơ bản sau:
Trang 28- CBXXPT vụ án dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý phúc thẩm vụ
án dân sự và kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Để chuẩn bị các điều kiện cho việc đưa vụ án ra xét xử đúng thời hạn
do pháp luật quy định thì ngay khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Tòa án cấp phúc thẩm đã phải tiến hành các công việc CBXXPT vụ án dân sự như nghiên cứu một số vấn đề về kháng cáo, kháng nghị để xác định điều kiện thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự như vụ án dân sự có thuộc thẩm quyền phúc thẩm của Tòa
án không, việc kháng cáo, kháng nghị có hợp lệ không, người kháng cáo đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm chưa v.v…Việc nghiên cứu này không chỉ
có ý nghĩa đối với việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự mà còn có ý nghĩa đối với cả việc chuẩn bị các điều kiện cho việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm Khi Tòa án cấp phúc thẩm mở phiên tòa để xét xử vụ án dân sự thì việc CBXXPT vụ án dân sự cũng kết thúc Vì vậy, có thể nói rằng CBXXPT vụ án dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự và kết thúc khi Tòa án mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
- CBXXPT vụ án dân sự là hoạt động tố tụng của Tòa án nhằm chuẩn
bị các điều kiện cần thiết để xem xét, giải quyết những vấn đề liên quan đến phần bản án, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị
Đây là điểm khác biệt đối với chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, do tính chất của phúc thẩm là "xét xử lại vụ án" nên trong CBXXPT vụ án dân sự Tòa án không xây dựng lại hồ sơ vụ án để xét xử mà căn cứ vào hồ sơ do Tòa án cấp
sơ thẩm đã xây dựng sẵn Các hoạt động lấy lời khai, thu thập chứng cứ chỉ được tiến hành khi cần thiết và tập trung vào phần bản án, quyết định sơ thẩm
bị kháng cáo, kháng nghị và những phần liên quan đến kháng cáo, kháng nghị
- Trong CBXXPT vụ án dân sự, Tòa án không phải tiến hành hòa giải
vụ án dân sự
Do tính chất của sơ thẩm và phúc thẩm khác nhau, trong đó xét
xử sơ thẩm là xét xử lần đầu đối với tranh chấp dân sự nên pháp luật quy định
Trang 29Tòa án có trách nhiệm hòa giải giữa các đương sự giúp cho họ hiểu rõ hơn quan hệ pháp luật đang tranh chấp và các qui định pháp luật để thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án, qua đó tránh được tình trạng khiếu kiện kéo dài, đỡ tốn thời gian công sức tham gia tố tụng Còn đối với xét xử phúc thẩm
là xét xử lại vụ án, các đương sự đã được Tòa án hòa giải tại cấp sơ thẩm nhưng không thành nên pháp luật quy định trong CBXXPT Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án dân sự
1.1.3 Ý nghĩa của thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
1.1.3.1 Ý nghĩa của thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự tuy là bước đầu tiên của giai đoạn phúc thẩm dân sự nhưng có ý nghĩa pháp lý quan trọng đối với việc giải quyết
vụ án dân sự vừa xác định trách nhiệm của Tòa án đối với việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị vừa là thời điểm để tính các thời hạn giải quyết lại vụ
án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm
Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự xác định việc Tòa án cấp phúc thẩm đã tiếp nhận hồ sơ vụ án và có trách nhiệm trong việc xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị Kể từ khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Tòa án
sẽ tiến hành các công việc cần thiết để xét xử lại vụ án dân sự Đối với những trường hợp không thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự thì Tòa án cấp phúc thẩm không có trách nhiệm trong việc xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị
Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự còn là cơ sở để tính thời hạn giải quyết lại vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm Theo quy định của pháp luật thời điểm thụ lý phúc thẩm vụ án là căn cứ để tính các thời hạn giải quyết vụ án của Tòa án cấp phúc thẩm Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án dân sự Tòa án cấp phúc thẩm phải căn cứ vào thời điểm này để tiến hành các hoạt động tố tụng
Như vậy, từ những vấn đề nêu trên cho thấy, nếu Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng thủ tục thụ lý vụ án dân sự, thì thời hạn giải quyết vụ án
Trang 30được đảm bảo, góp phần khắc phục tình trạng vụ án bị kéo dài, tồn đọng
Vụ án được giải quyết nhanh chóng và chính xác sẽ tạo được niềm tin của nhân dân vào cơ quan bảo vệ pháp luật
1.1.3.2 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
CBXXPT vụ án dân sự có ý nghĩa tạo tiền đề cho việc xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tại phiên tòa phúc thẩm đúng pháp luật và có hiệu quả
Ý nghĩa CBXXPT vụ án dân sự thể hiện ở các mặt sau đây:
- CBXXPT vụ án dân sự giúp Tòa án cấp phúc thẩm có điều kiện nắm vững nội dung vụ án, nội dung bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị để xét xử lại vụ án dân sự được đúng đắn
Trong thời gian CBXXPT vụ án dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự để nắm vững nội dung vụ án, nội dung bản án sơ thẩm và nội dung kháng cáo, kháng nghị Qua nghiên cứu hồ sơ vụ
án dân sự nếu thấy các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ chưa đủ cho việc giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ thiếu hoặc tự mình tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc theo quy định của pháp luật
- CBXXPT vụ án dân sự giúp Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử tại phiên tòa phúc thẩm
Phiên tòa phúc thẩm cũng được tiến hành trực tiếp, công khai và do tập thể Thẩm phán thực hiện Ngoài ra, VKS cùng cấp còn tham gia tất cả các phiên tòa phúc thẩm Vì vậy, trong thời gian CBXXPT vụ án dân sự ngoài việc nghiên cứu hồ sơ thì Tòa án cấp phúc thẩm còn phải triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa phúc thẩm, gửi hồ sơ vụ án dân
sự cho VKS cùng cấp và tiến hành các công việc khác bảo đảm việc xét xử tại phiên tòa như chuẩn bị hội trường xét xử, bố trí đảm bảo an ninh…
Trang 31Như vậy, nếu việc CBXXPT vụ án dân sự đầy đủ, chính xác sẽ giúp cho việc xem xét và quyết định giải quyết đối với yêu cầu kháng cáo, kháng nghị tại phiên tòa phúc thẩm được đúng qui định của pháp luật, hạn chế tình trạng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng lại bị kháng nghị do
có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong giải quyết vụ án
1.1.4 Mối quan hệ giữa thụ lý và chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự
Thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự là những hoạt động đầu tiên trong tiến trình Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án dân sự Tuy thụ lý và CBXXPT
vụ án dân sự là những hoạt động riêng, có nhiệm vụ khác nhau nhưng giữa chúng vẫn có mối quan hệ khăng khít với nhau, thể hiện:
- Thụ lý vụ án dân sự tạo tiền đề cho CBXXPT vụ án dân sự và cùng CBXXPT vụ án dân sự bảo đảm các điều kiện cho việc xét xử lại vụ án tại phiên tòa phúc thẩm
Thụ lý vụ án dân sự là công việc đầu tiên của Tòa án cấp phúc thẩm
và tạo tiền đề cho CBXXPT vụ án dân sự Nếu không có hoạt động thụ lý vụ
án dân sự thì Tòa án cũng không phải xét xử phúc thẩm vụ án nên cũng không phải chuẩn bị cho phiên tòa Bên cạnh đó, nếu hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự không tốt như người kháng cáo không có quyền kháng cáo, không nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm vẫn chấp nhận thụ lý, không kiểm tra các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển đến khi thụ
lý v.v…thì khi CBXXPT vụ án dân sự Tòa án cấp phúc thẩm lại phải khắc phục nên sẽ gặp khó khăn trong việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị
- CBXXPT vụ án dân sự tạo điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, kiểm tra tính đúng đắn của thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
Trong quá trình CBXXPT vụ án dân sự, Thẩm phán được phân công giải quyết sẽ xem xét toàn bộ nội dung kháng cáo, kháng nghị Ví dụ: Xem xét người kháng cáo có quyền kháng cáo hay không, người kháng cáo có kháng
Trang 32cáo đúng hạn hay không hoặc nội dung kháng cáo, kháng nghị có liên quan đến bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và quyền, nghĩa vụ của người kháng cáo không v.v… Thông qua đó, Tòa án cấp phúc sẽ có phương hướng khắc phục được những hạn chế, thiếu sót của thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự
để bảo đảm việc xét xử vụ án dân sự tại phiên tòa phúc thẩm
Ngoài ra, mục đích của xét xử phúc thẩm là ban hành được một bản
án, quyết định phúc thẩm khách quan, công bằng và đúng pháp luật Do đó, công tác thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự là đặc biệt quan trọng Nếu như coi thủ tục thụ lý làm phát sinh quan hệ xét xử phúc thẩm là điều kiện cần thì CBXXPT vụ án dân sự là điều kiện đủ để Tòa án cấp phúc thẩm thực thi đúng đắn chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật Trên thực tế, hoạt động CBXXPT vụ án dân sự còn được tiến hành gần như đan xen với thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự nên cũng có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác Nếu các hoạt động thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự cùng được tiến hành tốt thì tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đầy đủ các tài liệu, chứng cứ để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng để đưa ra phán quyết khách quan, công bằng và đúng pháp luật còn nếu không thì kết quả sẽ ngược lại
1.2 SƠ LƢỢC SỰ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ THỤ LÝ VÀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960
Cách mạng Tháng 8 thành công đưa tới sự ra đời của nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa Ngay từ những năm đầu thành lập nước Cộng hòa non trẻ, Nhà nước ta đã tiến hành xây dựng một bộ quy tắc ứng xử trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm xây dựng xã hội mới Để kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó chưa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung và văn bản TTDS
Trang 33nói riêng, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47/SL cho giữ tạm các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ cho đến khi ban hành những bộ luật pháp duy nhất cho toàn quốc, nếu những quy định trong luật lệ cũ không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa thì Nhà nước ta đã cho xây dựng và ban hành một loạt những văn bản pháp luật mới Tiếp theo, Nhà nước đã ban hành một loạt các văn bản mới như Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 cách tổ chức các Tòa án
và các ngạch thẩm phán; Sắc lệnh số 51/SL ngày 17 tháng 4 năm 1946 ấn định thẩm quyền các Tòa án quân sự và sự phân công giữa các nhân viên
trong Tòa án; Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ sung Sắc lệnh số 51/SL
ngày 17 tháng 4 năm 1946; Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách tư pháp và luật tố tụng v.v… Tuy vậy, do yêu cầu của công cuộc kháng chiến cứu quốc, trong thời gian kháng chiến chống Pháp từ năm 1946 đến năm 1954 các Tòa án chủ yếu chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sự Vì vậy, pháp luật TTDS nói chung và các quy định của pháp luật TTDS về thụ lý và CBXXPT
vụ án dân sự nói riêng chưa được quan tâm nghiên cứu xây dựng
Năm 1954, sau khi miền Bắc được giải phóng Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp luật TTDS trong đó có quy định về việc kháng cáo, kháng nghị, nội dung đơn kháng cáo, kháng nghị, thủ tục nộp đơn kháng cáo,
bổ sung thay đổi và rút kháng cáo, hậu quả của việc rút kháng cáo, kháng nghị, thông báo kháng cáo, kháng nghị Ví dụ Thông tư số 1828/VHC ngày
18 tháng 10 năm 1955 của Bộ Tư pháp về quyền chống án và thời hạn chống
án quy định: đối với án khuyết tịch (xử vắng mặt), thì bị can (về hình), bị cáo (về hộ) đều có quyền kháng án khuyết tịch trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tống đạt án khuyết tịch, để Tòa án đã xét xử sơ thẩm xét xử lại cho…
1.2.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989
Sau khi Nhà nước ban hành Hiến pháp 1959, Nhà nước ban hành Luật tổ chức TAND năm 1960 Trên cơ sở của Hiến pháp năm 1959 và Luật
Trang 34Tổ chức TAND năm 1960 Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định, hướng dẫn thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự trong đó có cả thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự Công văn số 507-TC ngày 2/4/1963 của TANDTC
về thủ tục gửi hồ sơ bị chống án hoặc bị kháng nghị quy định việc gửi hồ sơ
và bản án bị chống án hoặc bị kháng nghị cũng giống như về hình sự nhưng
có khác ở một điểm là TAND sơ thẩm không phải báo cho VKS cùng cấp biết tất cả các vụ án bị chống án mà chỉ báo cho VKS biết những việc trong những loại như việc kiện có liên quan đến quyền lợi của Nhà nước, của tập thể; việc kiện về quyền lợi của những người già cả, tàn tật, ốm đau; việc kiện có liên quan đến quyền lợi của Việt kiều, ngoại kiều… Công văn số 905-NCPL ngày 22/7/1965 của TANDTC trả lời về thủ tục phúc thẩm quy định trước khi đưa một vụ án ra phiên tòa phúc thẩm, Tòa án cần hết sức chú
ý đến tình hình hồ sơ, tài liệu và có kế hoạch bổ sung thiếu sót kịp thời, chuẩn bị điều kiện cho việc giải quyết vụ án ở phúc thẩm một cách toàn diện
và có căn cứ Khi cần thiết, Tòa án phúc thẩm cũng có thể tự mình tiến hành việc điều tra bổ sung phần thiếu sót hoặc ủy cho Tòa án sơ thẩm làm việc điều tra bổ sung trước khi xét xử phúc thẩm Công văn số 773-NCPL ngày 03/10/1968 của TANDTC trả lời một số câu hỏi về thủ tục TTDS có hướng dẫn: Điều quan trọng là Tòa án phúc thẩm cần nắm vững sự việc, nội dung
và lý do của đơn kháng cáo để nếu cần thì bổ sung hồ sơ Thông tư số 03/NCPL ngày 03/3/1966 của TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hôn có quy định khi xét xử phúc thẩm việc ly hôn Tòa án cũng chấp hành các nguyên tắc chung về phúc thẩm dân sự
Ngoài ra, các Báo cáo tổng kết ngành Tòa án của TANDTC cũng hướng dẫn về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự Ví dụ: Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1971 của TANDTC hướng dẫn về trường hợp trước khi xét xử phúc thẩm nếu các bên đương sự đồng ý thỏa thuận với nhau để chấm dứt sự tranh chấp nếu xét thấy sự thỏa thuận của đương sự phù hợp với luật pháp chính sách thì Tòa phúc thẩm sẽ ra bản án phúc thẩm chấp nhận việc thỏa
Trang 35thuận đó và chấm dứt việc kiện tụng chứ không dùng hình thức biên bản hòa
giải thành Ví dụ: Để bảo đảm việc xét xử phúc thẩm, Báo cáo tổng kết ngành
Tòa án năm 1975 của TANDTC hướng dẫn Tòa án cấp phúc thẩm chỉ được xét xử khi hết thời hạn kháng nghị của VKS cấp trên Ngày 04/6/1979, TANDTC có Bản hướng dẫn gửi kèm Công văn số 442/NCPL quy định trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm nếu có việc rút kháng cáo hoặc rút kháng nghị thì đều do một hội đồng gồm ba thẩm phán xét có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận Nếu bản án sơ thẩm có sai lầm thì sẽ bác rút kháng cáo của đương sự, hoặc rút kháng nghị của VKS để xét xử phúc thẩm ngay với bản án sơ thẩm đó Luật Tổ chức TAND năm 1981 quy định TAND cấp tỉnh có thẩm quyền phúc thẩm đối với các vụ TAND cấp huyện đã xét xử sơ thẩm nên đối với trường hợp đương sự rút kháng cáo hoặc VKS rút kháng nghị trước khi mở phiên tòa thì do một Thẩm phán được phân công hoặc tại phiên tòa thì do Hội đồng xét xử ra quyết định Nếu qua nghiên cứu xét thấy bản án sơ thẩm có sai sót thì ngay sau khi ra quyết định chấp nhận rút kháng cáo, kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm phải thông báo ngay cho Tòa
án có thẩm quyền giám đốc thẩm đối với bản án đó biết để xem xét tiến hành các thủ tục giám đốc thẩm theo quy định
Tóm lại, mặc dù các quy định về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự trong TTDS giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 đã có nhiều tiến bộ nhưng chủ yếu vẫn là các văn bản do TANDTC ban hành, chưa được quy định trong một văn bản pháp luật TTDS có hiệu lực pháp lý cao nên hiệu quả thực hiện còn hạn chế
1.2.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004
Trong giai đoạn này nhờ thực hiện chủ trương đổi mới, kinh tế -
xã hội nước ta đã bắt đầu có sự phát triển Để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội trong thời gian này Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong đời sống xã hội như
Trang 36Hiến pháp 1992, Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật hình sự năm 1999, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 v.v… Trong lĩnh vực TTDS, ngày 29/11/1989 Hội đồng Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự (có hiệu lực ngày 01/01/1990) Tiếp đó, năm 1994, Hội đồng Nhà nước
đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và năm 1996 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động Các pháp lệnh này là những văn bản pháp luật rất quan trọng để Tòa án tiến hành các hoạt động tố tụng khi giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của mình Theo
đó, các vấn đề về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự được quy định tập trung, đầy đủ và hợp lý hơn như các quy định về thời hạn gửi hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm; thời hạn xét xử phúc thẩm; quyền của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, tự mình hoặc nhờ Tòa
án khác điều tra thêm, thời hạn VKS nghiên cứu hồ sơ nếu VKS tham gia phiên tòa; các trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định mà không phải mở phiên tòa… Ngoài ra, còn quy định về bổ sung và xác minh chứng
cứ v.v… Theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án dân sự thì:
1- Tòa án cấp tỉnh xét xử phúc thẩm bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn ba tháng; TANDTC xét xử phúc thẩm trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án 2- Thời hạn xét xử phúc thẩm quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị là một tháng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án
Trước khi xét xử phúc thẩm, Tòa án có quyền áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải, tự mình hoặc ủy thác cho Tòa án khác điều tra thêm, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc giải quyết vụ án theo những quy định tại các chương VII, VIII, IX của Pháp lệnh này Nếu VKS tham gia phiên tòa phúc thẩm thì hồ sơ vụ án phải được Tòa án chuyển cho VKS để nghiên cứu trong thời hạn mười lăm ngày [11]
Trang 37Theo quy định tại Điều 65, Điều 66 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế, thì:
Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm gửi đến, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa phúc thẩm; trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, thì thời hạn đó là hai tháng
Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, Viện kiểm sát, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị có quyền bổ sung chứng cứ mới Tòa án cấp phúc thẩm có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiến hành xác minh chứng cứ mới được bổ sung [49]
Theo quy định tại Điều 65 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động thì:
1- Trước khi xét xử hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền bổ sung thêm chứng từ mới 2- Tòa án phúc thẩm tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiền hành hoặc ủy thác cho Tòa án khác tiền hành [50]
Ngoài ra, để cụ thể hóa các quy phạm nêu trên, một loạt các văn bản hướng dẫn việc thi hành như Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/10/1990 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án dân sự; Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự và Công văn số 310/NCPL ngày 24/12/1990 của TANDTC giải thích một
số vấn đề về TTDS đã được Nhà nước ban hành Tuy nhiên, các quy định về
Trang 38pháp luật TTDS nói chung, thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự nói riêng
"vẫn còn tản mạn như các giai đoạn trước Đặc biệt, với sự ra đời của Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996 đã dẫn đến các quy định về tố tụng dân sự bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo và mâu thuẫn" [45, tr 25]
Như vậy, trong giai đoạn này cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật TTDS, trong đó có quy định về vấn đề thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự Những quy định này tuy còn mang tính nguyên tắc, chưa thật cụ thể nhưng cũng đã đặt nền móng cho việc xây dựng và ban hành các quy định về thụ lý
và CBXXPT vụ án dân sự của văn bản pháp luật TTDS sau này
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, với chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa kinh tế xã hội nước ta đã có sự phát triển mới Các quan hệ kinh tế, xã hội đã được mở rộng không những đối với các nước trong khu vực và còn đối với cả các nước trên toàn thế giới Đứng trước yêu cầu của phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, nhằm đáp ứng các yêu cầu, đòi hỏi về giải quyết các tranh chấp trong thực tiễn đời sống xã hội trong điều kiện mới, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XI, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua BLTTDS
Bộ luật này có nhiều chương, phần và quy định về nhiều nội dung khác nhau như: nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật; những nguyên tắc cơ bản; thẩm quyền của Tòa án; cơ quan, người tiến hành tố tụng; thành phần giải quyết vụ việc dân sự… cho đến các thủ tục xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự đến thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án dân sự Trong
Bộ luật này vấn đề thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự được quy định tại Chương XVI Như vậy, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp thụ lý và CBXXPT
vụ án dân sự được quy định thành một chương riêng bao gồm các điều từ
Trang 39Điều 257 đến 262 và một số các điều luật khác có liên quan Như đã nêu trên, lần đầu tiên Bộ luật này đưa ra khái niệm vụ việc dân sự và khái niệm vụ án dân sự cũng được làm rõ hơn Nội dung thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự cũng được quy định với nhiều điểm mới như cấp, thông báo văn bản tố tụng, thời hạn kháng cáo, cung cấp chứng cứ… Như vậy, trải qua một thời kỳ chuẩn bị công phu, lâu dài với sự nhất trí cao sau khi lấy ý kiến của các cơ quan, đoàn thể cũng như của nhân dân, BLTTDS chính thức được ban hành
Việc ban hành BLTTDS năm 2004 đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam, khắc phục được tình trạng tản mạn, mâu thuẫn, khiếm khuyết của các quy định TTDS trước đây, đồng thời cũng thể chế hóa được quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách
tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 34/NQ-TW ngày 03/02/2004 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về một số chủ trương, chính sách, giải pháp lớn nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Từ đó tạo được điều kiện thuận lợi cần thiết cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân sự; bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án Theo các quy định của BLTTDS, quy trình TTDS của các đương sự tại các Tòa án có sự thay đổi căn bản theo hướng công khai, dân chủ và minh bạch Trong đó, đương sự có vai trò quyết định và chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án [45, tr 26-27]
Sau một thời gian thực hiện, BLTTDS đã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập gây khó khăn, hạn chế cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án và
cả việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể tại Tòa án Để khắc phục những hạn chế, bất cập của BLTTDS, ngày 29/03/2011 tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa
Trang 40đổi, bổ sung BLTTDS và có hiệu lực từ ngày 01/01/2012 Luật này sửa đổi nhiều quy định của BLTTDS và bổ sung nhiều quy định mới, trong đó có một số quy định về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung như quy định tại Điều 257 BLTTDS về thông báo thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Theo
đó, sau khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Tòa án cấp phúc thẩm cũng phải tiến hành thông báo việc thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự như ở Tòa án cấp sơ thẩm
Ngoài ra, Nhà nước cũng ban hành một loạt các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành BLTTDS trong đó có đề cập đến vấn đề thụ lý và CBXXPT
vụ án dân sự như Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết số 32/2004/QH11 ngày 15/6/2004 của Quốc hội về việc thi hành BLTTDS; Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định trong phần thứ nhất "Những quy định chung" của BLTTDS; Nghị quyết
số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII "Các biện pháp khẩn cấp tạm thời" của BLTTDS; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của BLTTDS
về chứng minh, chứng cứ; Nghị quyết số 05/2006/NQ- HĐTP ngày 04/8/2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ ba "Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm" của BLTTDS, Nghị quyết số 01/2012/NQ-HĐTP ngày 13/06/2012 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án v.v
Như vậy, trải qua quá trình lâu dài, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam nói chung và các quy định về thụ lý và CBXXPT vụ án dân sự nói riêng ngày càng hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn công tác xét xử phúc thẩm Đây chính là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành các hoạt động tố tụng nhằm bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự