Đồng thời, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải tiến hành các công việc để đảm bảo VADS được đưa ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục sơ thẩm VADS như: phân công Thẩm phán
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BÙI THỊ THU HIỀN
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRIỀU DƯƠNG
HÀ NỘI - 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các
số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những kiến nghị, đề xuất trong Luận văn không sao chép của bất kỳ tác giả nào
Tác giả Luận văn
Bùi Thị Thu Hiền
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo cùng với gia đình, bạn
bè đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để có được kết quả ngày hôm nay
Đặc biệt em xin được nói lời cảm ơn sâu sắc tới thầy giáo – TS Nguyễn Triều Dương đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này
Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2013
Trang 4LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân
LTCVKSND : Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
PLTTGQCTTLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
Trang 5MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 4
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 4
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 4
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 11
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 13
1.3 SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY 16
1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1989 16
1.3.2 Từ năm 1990 đến năm 2004 18
1.3.3 Từ năm 2005 đến nay 19
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 20
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 22
2.1 THỜI HẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 22
2.1.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án dân sự đến trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử 23
2.1.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa 27
2.2 NHỮNG VIỆC TIẾN HÀNH SAU KHI THỤ LÝ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 28
2.2.1 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án và xem xét, giải quyết thay đổi người tiến hành tố tụng 28
Trang 62.2.2 Thông báo việc thụ lý vụ án dân sự 30
2.2.3 Lập hồ sơ vụ án dân sự 32
2.2.4 Các quyết định trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 39
2.3 NHỮNG VIỆC TIẾN HÀNH SAU KHI CÓ QUYẾT ĐỊNH ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ 41
2.3.1 Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự 42
2.3.2 Triệu tập người tham gia tố tụng 45
2.3.3 Thực hiện các công việc khác 46
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 46
CHƯƠNG III: THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TOÀ ÁN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 48
3.1 THỰC TIỄN THỰC HIỆN VIỆC CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN 48
3.1.1 Những kết quả đạt được trong thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 48
3.1.2 Những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 50
3.1.3 Nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 56
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 63
3.2.1 Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 63
3.2.2 Một số kiến nghị khác nhằm bảo đảm Toà án thực hiện tốt việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 69
KẾT LUẬN 70
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Sơ thẩm vụ án dân sự (VADS) là một trong những giai đoạn cơ bản và có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết VADS Trong đó chuẩn bị xét xử sơ thẩm (CBXXST) VADS là một nội dung đặc biệt quan trọng của thủ tục sơ thẩm VADS CBXXST VADS là toàn bộ hoạt động do TA cấp sơ thẩm tiến hành trước khi đưa
vụ án ra xét xử sơ thẩm, nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc tiến hành việc hòa giải và tiến hành phiên tòa sơ thẩm Để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của hoạt động xét xử VADS thì TA cần phải thực hiện tốt hoạt động chuẩn bị xét xử
sơ thẩm (CBXXST)
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động CBXXST VADS, Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua tại kỳ họp thứ V ngày 15 tháng 6 năm 2004 và Luật sửa đổi, bổ sung BLTTDS được thông qua vào kỳ họp thứ IX ngày 29/3/2011 đã tạo cơ sở pháp
lý vững chắc cho việc giải quyết vụ việc dân sự, đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật TTDS Việt Nam Trong đó, BLTTDS đã dành chương XIII và nhiều quy định khác để quy định về hòa giải, CBXX
Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS) hiện hành về CBXXST về
cơ bản đã đầy đủ Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định về CBXXST tại các TA trong những năm qua cho thấy vẫn còn những bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật và những tồn tại trong thực tiễn áp dụng các quy định này đã ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình giải quyết VADS
Do đó, tác giả đã chọn đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” làm
đề tài Luận văn Thạc sỹ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta, tính đến thời điểm hiện nay, việc nghiên cứu về CBXXST VADS cũng đã được tiến hành Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học pháp lý đã được
công bố đề cập đến CBXXST VADS như: Công trình nghiên cứu cấp bộ: “ Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng BLTTDS ” do Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) thực hiện năm 1996; “Những quan điểm cơ bản về BLTTDS Việt Nam” do Viện nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm khoa học xã hội và
nhân văn quốc gia thực hiện năm 2001; Hội thảo khoa học cấp trường: với đề tài:
Trang 8“Về việc thi hành BLTTDS ” của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005; Luận văn Thạc sỹ luật học: “ Thụ lý và CBXXST VADS theo pháp luật TTDS Việt nam” năm
1998 của tác giả Đoàn Đức Lương; “Quyết định của TA trong quá trình CBXX ” năm 2011 của tác giả Phạm Thị Minh Hiền; Bài viết : “Hoàn thiện các quy định về CBXXST VADS trong BLTTDS năm 2004” của tác giả Đoàn Đức Lương đăng trên tạp chí TANDTC số 4 năm 2011; “Những vấn đề cơ bản cần lưu ý khi thụ lý đơn khởi kiện, đơn phản tố, đơn yêu cầu độc lập trong giải quyết VADS” đăng trên tạp
chí Kiểm sát số 7 năm 2012… Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này chỉ nghiên cứu một số nội dung cụ thể về CBXX hoặc lồng ghép về CBXX với các nội dung khác mà chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu một cách tập
trung, đầy đủ, hệ thống về CBXXST VADS Do vậy, đề tài: “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” lần đầu tiên được nghiên cứu ở cấp độ Luận văn Thạc sỹ một
cách chuyên sâu, toàn diện, đảm bảo tính logic, hệ thống, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về CBXXST VADS, các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS tại TA Việt Nam từ đó đề xuất một số kiến nghị
CBXXST VADS là một vấn đề rộng với nhiều nội dung Vì vậy, trong khuôn khổ một Luận văn Thạc sỹ luật học, tác giả chỉ tập trung làm rõ những nội dung cơ bản của đề tài như: khái niệm, ý nghĩa của CBXXST VADS, cơ sở khoa học của việc quy định và sơ lược sự hình thành và phát triển của các quy định về CBXXST VADS; các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
và thực tiễn thực hiện việc CBXXST VADS tại TA Việt Nam từ năm 2005 đến nay
từ đó đề xuất một số kiến nghị
4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về CBXXST VADS; phân tích, đánh giá được nội dung các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS và thực tiễn thi hành chúng tại TA Việt Nam
và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật TTDS về CBXXST VADS góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết VADS theo thủ tục sơ thẩm
Trang 9Để thực hiện mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm rõ: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở khoa học của CBXXST VADS; sự phát triển của pháp luật TTDS Việt Nam về CBXXST VADS; phân tích, đánh giá các quy định pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS và tìm hiểu thực tiễn việc thực hiện chúng tại các TA từ đó xác định những hạn chế, tìm ra các nguyên nhân
để đề xuất kiến nghị khắc phục
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được hoàn thành dựa trên cơ sở phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin; hệ thống quan điểm, lý luận của Đảng cộng sản Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp quyền xã hội chủ nghĩa Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: lịch sử, phân tích, chứng minh, thống kê, so sánh, tổng hợp…
6 Những kết quả nghiên cứu mới của Luận văn
Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống những vấn đề liên quan đền CBXXST VADS nên có những nghiên cứu mới sau:
- Xây dựng được khái niệm CBXXST VADS, chỉ ra đặc điểm, ý nghĩa và cơ
sở khoa học của CBXXST VADS
- Phân tích và đánh giá được toàn diện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
- Đánh giá toàn diện thực trạng các quy định pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS và thực tiễn thực hiện tại các TA
- Đề xuất những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành về CBXXST VADS
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Chương 3: Thực tiễn thực hiện việc chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của Tòa án và một số kiến nghị
Trang 10CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Xét xử sơ thẩm VADS là cấp xét xử thứ nhất trong quá trình giải quyết một VADS CBXXST VADS là một giai đoạn của quá trình giải quyết VADS ở TA cấp
sơ thẩm Vậy CBXXST VADS là gì ?
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1994 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, sơ thẩm và dân sự được định nghĩa như sau:
“Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì”.[47, tr.175]
“Xét xử” là “xem xét và xử các vụ án”.[47, tr.1108] “Sơ thẩm” là “xét xử lần đầu một vụ việc ở TA cấp thấp”.[47, tr.1460] Tuy nhiên, khái niệm sơ thẩm như vậy
xem xét dưới góc độ luật học chưa phải là một khái niệm đầy đủ vì người đọc sẽ
hiểu khái niệm “sơ thẩm” đồng nghĩa với khái niệm xét xử VADS tại phiên tòa sơ thẩm “Dân sự” là “việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình”.[47,
tr.239]
Trong cuốn “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Quế thì khái niệm “chuẩn bị xét xử” theo quan điểm một số tác giả là “chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật”
Đối với khái niệm VADS, trước đây trong các TA dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TA được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ Theo đó, Sắc lệnh số 13 – SL ngày 24/01/1946 về tổ
chức TA và ngạch Thẩm phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự và thương sự ” (Điều 3, Điều 17) Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85 – SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc kiện dân sự” Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dân sự” cũng có thể được gọi là “vụ kiện
Trang 11dân sự ” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được TA giải quyết Từ “việc”
và “vụ” trong trường hợp này là tương đồng, có thể dùng là “việc kiện” hoặc “vụ kiện” mà không dùng “vụ việc kiện”.[12, tr.154] Trên cơ sở Hiến pháp 1959, Điều
1 Luật tổ chức TAND 1960 quy định: “TAND xét xử những vụ án hình sự và dân sự…” Từ những quy định này, thuật ngữ “vụ án” chính thức được sử dụng trong
các văn bản pháp luật Tiếp theo đó, Thông tư số 01 – UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản án sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự, Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) hướng dẫn về thủ tục giám đốc thẩm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng
nhiều lần thuật ngữ “vụ án” Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”, “VADS” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử
dụng để chỉ những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của TAND Chỉ đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết các VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc thẩm quyền xét xử về dân sự của TA mới sử dụng thống nhất
thuật ngữ “VADS”
Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm VADS
Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện để TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS) và trình tự, thủ tục yêu cầu để TA giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân
sự ); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự ) tại TA…” Với quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS
là vụ việc dân sự, gồm VADS và việc dân sự
Như vậy, khi BLTTDS ra đời, lần đầu tiên khái niệm VADS được khái quát
bao gồm các “tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” Theo BLTTDS, VADS là những việc có tranh chấp, bắt đầu từ sự mâu
thuẫn giữa các bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên
Trang 12Theo quy định tại các điều 25,27,29,31 của BLTTDS thì VADS bao gồm các tranh chấp sau đây:
- Những tranh chấp về dân sự như: tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định
- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình như: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi
ly hôn; tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng; các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định
- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại như: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đich lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty
- Những tranh chấp về lao động như: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; tranh chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động; các tranh chấp lao động khác mà pháp luật có quy định
Bên cạnh đó, khái niệm “việc dân sự” cũng được xây dựng là các “yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1
BLTTDS) Việc dân sự có đặc tính là các bên không có tranh chấp về quyền, nghĩa
Trang 13vụ mà chỉ yêu cầu TA công nhận cho mình các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác [49, tr.364] Tiêu chí để phân biệt giữa VADS và việc dân sự là loại việc có tranh chấp hay không có tranh chấp Tuy nhiên, yếu tố này cũng chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, đối với yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật, dù chỉ có một bên yêu cầu, bên kia không muốn chấm dứt mối quan hệ đó, nghĩa là có tranh chấp giữa hai bên về việc có yêu cầu hủy hôn nhân hay không thì yêu cầu hủy hôn nhân trái luật vẫn được xác định là việc dân sự [12, tr.69]
Khái niệm CBXXST VADS có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề của từng đối tượng tham gia TTDS Nếu hiểu CBXXST với tính chất là một quá trình thì CBXXST VADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA [16, tr.327] Nếu hiểu CBXXST VADS với tính chất là hoạt động tố tụng thì CBXXST VADS gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị tố tụng của họ làm cho hoạt động xét xử sơ thẩm VADS được đảm bảo [16, tr.328]
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả nghiên cứu CBXXST VADS với tính chất là hoạt động TTDS độc lập của TA trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA cấp sơ thẩm CBXXVADS nói chung và CBXXST VADS nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Đối với mô hình tố tụng tranh tụng, giai đoạn CBXX do các đương sự thực hiện, cơ bản không có sự can thiệp của
TA Các đương sự tự thu thập chứng cứ, trao đổi thông tin, tự dàn xếp và hòa giải
để có thể đi đến rút đơn khởi kiện và quan trọng nhất là thời gian cho các bên chuẩn
bị các phương án, chiến thuật cho phiên tòa Nếu như mô hình tố tụng tranh tụng để cho các đương sự tự điều khiển và chuẩn bị cho cuộc đấu trí tại phiên tòa, thì trong
mô hình tố tụng thẩm xét, đây là giai đoạn để TA xây dựng hồ sơ vụ án Đó là các hoạt động TA thu thập chứng cứ, nghiên cứu nội dung vụ án, tìm hiểu sự thật vụ án
Trang 14và công tác chuẩn bị phiên tòa, kể cả phương án giải quyết vụ án Ở nước ta, CBXX nói chung và CBXXST VADS nói riêng được hiểu là một giai đoạn tố tụng bắt đầu
từ khi TA thụ lý vụ án và kết thúc bằng một quyết định tố tụng.[8, tr.320] Theo đó, sau khi TA thụ lý vụ án, những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tiến hành các công việc cần thiết nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án Như vậy, giai đoạn CBXXST VADS được bắt đầu từ sau khi TA thụ lý vụ án và kết thúc bằng một trong các quyết định tố tụng tương ứng như: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết VADS; Quyết định đình chỉ việc giải quyết VADS Trường hợp sau khi TA ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử thì các công việc CBXX được tiến hành cho đến khi TA mở phiên tòa
sơ thẩm Ngoài ra, trong quá trình CBXXST VADS, TA cấp sơ thẩm còn có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu có căn cứ pháp luật, quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng Đồng thời, sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải tiến hành các công việc để đảm bảo VADS được đưa ra xét xử theo đúng trình tự, thủ tục sơ thẩm VADS như: phân công Thẩm phán giải quyết VADS; thông báo việc thụ lý VADS; lập hồ sơ vụ án; ra các quyết định
tố tụng quan trọng, nghiên cứu hồ sơ vụ án; triệu tập người tham gia tố tụng và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên tòa sơ thẩm…
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa CBXXST VADS tại TA như sau:
“Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm”
1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- CBXXST VADS được bắt đầu từ khi TA thụ lý VADS và thường kết thúc khi TA mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS
CBXXST VADS bắt đầu ngay khi TA thụ lý VADS Từ khi thụ lý VADS,
TA chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết VADS Sau khi thụ lý VADS, Thẩm phán phải triệu tập các đương sự đến TA để xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải Đối với những việc pháp luật quy định
Trang 15không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc hòa giải không thành,
TA phải hoàn thiện hồ sơ để đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm Các hoạt động này của TA được gọi là CBXX Các công việc CBXX của TA bao gồm: phân công Thẩm phán giải quyết VADS; thông báo việc thụ lý VADS; tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để lập hồ sơ vụ án; tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật; ra các quyết định tố tụng quan trọng, nghiên cứu hồ sơ vụ án; triệu tập người tham gia tố tụng và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên tòa sơ thẩm Tuy nhiên, công tác CBXXST VADS có thể kết thúc trước thời điểm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS khi trong giai đoạn CBXXST VADS TA ra các quyết định như: đình chỉ giải quyết VADS, tạm đình chỉ giải quyết VADS, công nhân sự thỏa thuận của các đương sự
Như vậy, có thể thấy thời điểm bắt đầu hoạt động CBXXST VADS từ khi
TA thụ lý VADS và thường kết thúc khi TA mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS là đặc điểm đầu tiên và quan trọng để phân biệt hoạt động CBXXST VADS với các hoạt động tố tụng khác như: hoạt động tiến hành phiên tòa sơ thẩm hay hoạt động CBXX phúc thẩm VADS
- CBXXST VADS là hoạt động tố tụng rất đa dạng, phức tạp và toàn diện
do TA cấp sơ thẩm tiến hành
Tính đa dạng của CBXXST VADS thể hiện, CBXXST là hoạt động phục vụ xét xử sơ thẩm nên trong quá trình CBXXST VADS TA phải tiến hành rất nhiều hoạt động nhằm mục đích giải quyết yêu cầu của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của
bị đơn, yêu cầu của người có quyền và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập để từ
đó giải quyết VADS một cách đúng đắn Thẩm phán được phân công giải quyết vụ
án phải tiến hành các công việc cần thiết để xây dựng hồ sơ vụ án như yêu cầu đương sự cung cấp chứng cứ và trong trường hợp do luật định TA có thể tự mình tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ như tiến hành để đương sự, người làm chứng đối chất trong trường hợp cần thiết, lấy lời khai của người làm chứng; tiến hành hòa giải, ra các quyết định tố tụng phù hợp, áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp cần thiết…
Trang 16Tính phức tạp của CBXXST VADS thể hiện, bản thân VADS đã rất phức tạp với nhiều nội dung, phạm vi giải quyết không ổn định; hoạt động CBXXST VADS không chỉ là đơn thuần là chuẩn bị các hoạt động trên thực tế để hoàn thiện hồ sơ
mà còn là chuẩn bị cơ sở pháp lý cho việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án; các công việc mà TA phải tiến hành trong giải đoạn CBXXST VADS rất phức tạp Ví
dụ như việc xác minh, đánh giá, thu thập chứng cứ TA phải tiến hành rất nhiều biện pháp thu thập chứng cứ khác nhau như lấy lời khai, đối chất, trưng cầu giám định, xem xét, thẩm định tại chỗ…
Tính toàn diện của CBXXST VADS thể hiện rất rõ nét khi so sánh với
CBXXPTVADS Bởi vì, do tính chất của phúc thẩm là “xét xử lại vụ án” nên trong
CBXX phúc thẩm VADS TA không xây dựng lại hồ sơ vụ án để xét xử mà căn cứ vào hồ sơ TA cấp sơ thẩm đã xây dựng sẵn nên các hoạt động thu thập chứng cứ chỉ được tiến hành khi cần thiết và tập trung vào những phần bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và những phần có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Vì vậy, CBXXST VADS phải thực hiện một cách toàn diện thông qua các hoạt động cụ thể như: triệu tập đương sự, xác minh, thu thập chứng cứ, hòa giải, ra quyết định tố tụng…nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm
- Hòa giải là hoạt động tố tụng thông thường TA phải tiến hành trong giai đoạn CBXXST VADS
Hòa giải VADS là hoạt động tố tụng do TA tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết VADS Theo quy định tại Điều 180 BLTTDS thì trong thời hạn CBXXST vụ án, TA tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải (Điều 181 BLTTDS) hoặc những vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 182 BLTTDS) Khi tiến hành hòa giải giữa các đương sự, TA giữ vị trí đặc biệt quan trọng Với tư cách là cơ quan xét xử của Nhà nước, TA phải chủ động trong việc hòa giải để giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau Khi hòa giải, TA sẽ chủ động giải thích để các đương sự hiểu về pháp luật và về vấn đề mà họ đang tranh chấp, giải quyết vướng mắc giữa đương sự để họ thỏa thuận với nhau giải quyết các vấn
Trang 17đề của vụ án Giải quyết tranh chấp bằng hòa giải giúp các bên đương sự tiết kiệm tối đa chi phí về thời gian và tiền bạc, tính khả thi trong các thỏa thuận hòa giải khá cao Bên cạnh đó, khi tiến hành hòa giải cho các bên đương sự, TA hiểu rõ thêm nội dung vụ án cũng như tâm tư, nguyện vọng của các bên tranh chấp và nếu hòa giải
không thành thì TA có điều kiện đưa ra phán quyết chính xác, đúng pháp luật
Đặc điểm này của CBXXST VADS khác với CBXX phúc thẩm VADS Bởi
vì, BLTTDS không quy định việc TA tiến hành hòa giải trong thời hạn CBXX phúc thẩm VADS nên trên thực tế hiện nay, TA cấp phúc thẩm chỉ công nhận sự thỏa thuận của các đương sự khi đương sự tự thỏa thuận được và có yêu cầu Tòa án phúc thẩm công nhận
- CBXXST VADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác
CBXXST VADS là giai đoạn TA tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn
bị cho việc xét xử sơ thẩm VADS Trong quá trình CBXXST VADS TA sẽ lập hồ
sơ, nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết Việc CBXXST VADS có liên quan mật thiết đến phiên tòa sơ thẩm và hoạt động tố tụng của TA sau này Nếu việc CBXXST VADS mà tốt thì việc tiến hành hòa giải và phiên tòa sơ thẩm diễn ra mới được thuận lợi, hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa do các nguyên nhân chủ quan cũng như hạn chế tình trạng xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc CBXX để giải quyết vụ án Ngoài ra, CBXXST VADS được tiến hành đầy đủ cũng giúp cho TA cấp phúc thẩm khi giải quyết để xét các kháng cáo, kháng nghị được nhanh chóng, thuận lợi hơn
1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
Giai đoạn CBXXST VADS có vai trò quan trọng giúp TA chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm VADS, vì vậy CBXXST VADS có những ý nghĩa sau đây:
- CBXXST VADS giúp TA cấp sơ thẩm có đủ chứng cứ, tài liệu và các kết luận khách quan về tình tiết, sự kiện của vụ án từ đó xác định được các căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
Trong quá trình CBXXST VADS, TA phải tiến hành lập hồ sơ VADS Trong giai đoạn này, TA xem xét chứng cứ, tài liệu do đương sự cung cấp cùng với việc
Trang 18nộp đơn khởi kiện Trong trường hợp cần thiết có thể yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ, tài liệu hoặc TA tự mình thu thập để làm rõ hơn tình tiết, sự kiện của vụ án trong trường hợp đương sự không tự mình thu thâp được chứng cứ và có yêu cầu Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, một lần nữa Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải tiến hành nghiên cứu hồ sơ một cách kỹ lưỡng, đưa
ra kết luận khách quan về tình tiết, sự kiện của vụ án, trên cơ sở đó xác định được căn cứ pháp lý làm cơ sở cho việc giải quyết vụ án
- CBXXST VADS tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ
để chứng minh cho yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Khi nộp đơn khởi kiện, các đương sự có thể chưa có đủ chứng cứ, tài liệu để cung cấp ngay cho TA Việc pháp luật quy định thời gian CBXXST VADS tạo điều kiện cho các đương sự có điều kiện để thu thập chứng cứ, tài liệu bổ sung cho yêu cầu của họ cũng như có đầy đủ chứng cứ tài liệu để chứng minh yêu cầu phản đối hay yêu cầu phản tố của họ là có căn cứ và hợp pháp
- CBXXST VADS tạo điều kiện cho các bên đương sự có cơ hội và thời gian để thoả thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của VADS
Trong giai đoạn CBXXST VADS, sau khi được Thẩm phán tiến hành hòa giải thông qua việc giải thích pháp luật để các đương sự sẽ hiểu rõ các quy định pháp luật về quan hệ đang tranh chấp, từ đó có thể đi đến thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Nếu các bên thỏa thuận được với nhau thì sẽ giảm thiểu chi phí cho các bên tham gia tố tụng và Nhà nước, đồng thời giúp cho ngành TA giảm được các vụ án phải đưa ra xét xử Tính khả thi của thỏa thuận hòa giải cao vì nó xuất phát từ sự thỏa thuận tự nguyện của cả hai bên nên họ thường tôn trọng và thực hiện nghiêm túc phương án hòa giải
Ngoài ra, trong giai đoạn CBXXST VADS, nếu các đương sự tự thỏa thuận
và yêu cầu Tòa án công nhận thì nếu TA thấy sự thỏa thuận đó là tự nguyên, không trái pháp luật và đạo đức xã hội thì TA công nhận sự thỏa thuận đó theo thủ tục như trường hợp TA tiến hành hòa giải thành
Trang 19- CBXXST VADS giúp TA tiến hành các công việc cần thiết khác để chuẩn
bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm
Trong giai đoạn CBXXST VADS, TA phân công HĐXX; triệu tập đương sự đến tham gia phiên tòa sơ thẩm, gửi quyết định đưa vụ án ra xét xử cho đương sự và VKS cùng cấp, gửi giấy thông báo cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của dương sự, thông báo lịch xét xử Ngoài ra, TA còn phải chuẩn bị các điều kiện vật chất như: chuẩn bị về hội trường xét xử, âm thanh, ánh sáng Đây là công việc quan trọng, giúp cho phiên tòa sơ thẩm diễn ra theo đúng kế hoạch Công tác chuẩn
bị về cơ sở vật chất kỹ lưỡng thì các trở ngại sẽ bị hạn chế, đồng thời cũng hạn chế tình trạng hoãn phiên tòa do lý do cơ sở vật chất chuẩn bị không đầy đủ gây ra
1.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC QUY ĐỊNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT
XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Việc xây dựng các quy định về CBXXSTVADS xuất phát từ yêu cầu khách quan đó là trước khi muốn thực hiện tốt, có hiệu quả bất cứ một công việc gì thì đều phải tiến hành việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết để thực hiện công việc đó Chỉ khi tiến hành công việc chuẩn bị mới có thể hiểu rõ những nhiệm vụ, những công việc cụ thể, cách thức tiến hành và có nhận thức đúng đắn về công việc cần thực hiện Việc xét xử tại phiên tòa sơ thẩm cũng vậy, để đảm bảo công việc xét xử được tiến hành thuận lợi, ban hành được một phán quyết công bằng, chính xác thì trước khi tiến hành mở phiên tòa sơ thẩm, TA cũng phải tiến hành việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho phiên tòa sơ thẩm Vì vậy, để có cơ sở pháp lý cho công tác chuẩn bị của TA cho phiên tòa sơ thẩm thì việc xây dựng các quy định về CBXXSTVADS là rất cần thiết
Xuất phát từ quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 49/NQ – TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định mục tiêu, quan điểm của cải cách tư pháp là: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao.” [11] Để hoạt động xét xử được tiến hành hiệu quả và hiệu lực cao thì hoạt động xét xử
Trang 20không những cần đảm bảo về chất lượng mà còn cần tiến hành nhanh chóng và tiết kiệm thời gian Vì vậy, cần xây dựng được cơ sở pháp lý cho hoạt động xét xử thông qua việc xây dựng hệ thống các quy định pháp luật TTDS phù hơp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, trong đó có các quy định hợp lý và khoa học về CBXXST VADS
Xuất phát từ sự cần thiết của việc cần phải xây dựng một quy trình tố tụng toàn diện, nhiều trình tự, thủ tục, có sự phân định giữa các công việc, phạm vi công việc cần tiến hành, đảm bảo được một quy trình tố tụng liên tục và có hiệu quả cao
Vì vậy, cần xây dựng các quy định về CBXXST VADS như một bước chuyển tiếp, một khâu quan trọng giữa thụ lý VADS và phiên tòa sơ thẩm VADS
Bên cạnh đó, trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của TA thì việc xây
dựng các quy định về CBXXST VADS đảm bảo cơ sở pháp lý cho TA tiến hành những thủ tục cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao chất lượng xét xử Bởi vì, thông qua hoạt động CBXXST VADS, TA mới có thời gian cũng như những điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử sơ thẩm được tốt nhất Chỉ khi CBXX với các công việc như phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo thụ lý, lập hồ sơ VADS, thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc tự mình thu thập chứng cứ, ra các quyết định cần thiết được tiến hành kỹ lưỡng thì hoạt động xét xử sơ thẩm mới được tiến hành thuận lợi, các phán quyết của TA mới dễ dàng thi hành trên thực tiễn
Trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự thì việc xây dựng các quy định về CBXXST VADS là đảm bảo cho quyền tiếp cận công lý của người dân được thực thi trên thực tế Bởi vì, quyền tiếp cận công lý gồm năm yếu tố cơ bản đó là: Nhà nước pháp quyền, quyền tiếp cận thông tin pháp luật, quyền trợ giúp pháp luật và hệ thống TA công bằng và hiệu quả Việc xây dựng các quy định về CBXXST VADS như vậy đã góp phần xây dựng một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh – tiêu chuẩn đầu tiên của một Nhà nước pháp quyền; các quy định về CBXXST VADS đảm bảo cho các bên đương sự được tiếp cận thông tin về các tình tiết, nội dung vụ án, thu thập tài liệu, chứng cứ cần thiết Trong quá trình CBXXST VADS,
TA đã tiến hành trợ giúp pháp luật thông qua việc giải thích cho đương sự hiểu về
Trang 21quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình CBXXST VADS góp phần nâng cao chất lượng xét xử của TA để xây dựng một hệ thống TA công bằng và hiệu quả Ngoài
ra, xây dựng các quy định về CBXXST VADS còn đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS Theo đó, CBXXST VADS tạo điều kiện về thời gian để các đương sự có thể bổ sung những chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Bên cạnh đó, các quy định về CBXXST VADS sẽ góp phần đảm bảo quyền tự định đoạt của đương
sự vì CBXXST VADS tạo điều kiện về mặt pháp lý để các đương sự đưa ra các yêu cầu, phản đối yêu cầu, thay đổi, bổ sung yêu cầu, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau
về việc giải quyết các vấn đề của vụ án
Các quy định về CBXXST VADS được xây dựng dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa việc thực hiện nhiệm vụ của TA với việc thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của đương sự trong VADS Việc xây dựng các quy định về CBXXST VADS bên cạnh việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý, quyền tự định đoạt của đương sự…còn phải tính đến khả năng đáp ứng của TA, tính hiệu quả trong công tác xét xử của TA…Bởi vì, xây dựng các quy định về CBXXST VADS khi đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của đương sự như các quy định về sao chép, thu thập chứng cứ, các quy định về công nhận sự thỏa thuận của đương sự…còn phải xem xét việc quy định như vậy có ảnh hưởng gì đến hoạt động tố tụng của TA hay không hoặc khi quy định về CBXXST VADS thuận lợi cho hoạt động xét xử của TA sẽ tác động như thế nào đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các đương sự
Mỗi quốc gia khi xây dựng các quy định pháp luật cần phải phù hợp với xã hội mà quy định pháp luật đó chi phối Nếu các quy định pháp luật được ban hành không thể thực hiện trên thực tế thì hiệu lực của quy định pháp luật đó không còn tồn tại.Vì vậy, khi xây dựng các quy định về CBXXST VADS phải đáp ứng một số yêu cầu khác như: xây dựng các quy định về CBXXST VADS phải phù hợp với khả năng thực hiện của hệ thống TA như nguồn lực, trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất…Bên cạnh đó, khi xây dựng các quy định về CBXXST VADS, nhà làm luật cần tính đến khả năng thực tế để thực hiện quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng bởi có thể pháp luật trao quyền cho các đương sự nhưng các chủ
Trang 22thể này không có khả năng tiếp nhận các quyền đó hoặc khả năng thực hiện các quyền đó còn rất hạn chế
1.3 SƠ LƯỢC SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
Từ năm 1945 đến nay, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Căn cứ vào sự phát triển của pháp luật TTDS ở các thời kỳ có thể chia sự phát triển các quy định về CBXXST VADS thành các giai đoạn sau:
1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1989
Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập các TA quân
sự - cơ quan xét xử của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó chưa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật TTDS nói riêng, ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 47/SL theo đó, tại Điều 11 quy định cho phép tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ nếu những luật lệ này không trái với những thay đối ấn định trong Sắc lệnh
Ngày 24/01/1946 Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức cán bộ và các ngạch Thẩm phán do Chính phủ lâm thời ban hành đã có các quy định về người tiến hành tố tụng, nghị án, tuyên án và cách thức tổ chức một phiên tòa được ban hành Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về tổ chức, thủ tục giải quyết vụ án của TA Tiếp
đó, ngày 17/4/1946, Sắc lệnh số 51/SL ấn định thẩm quyền các tòa và sự phân công giữa các nhân viên trong TA
Ngày 09/11/1946, Hiến pháp năm 1946 được Quốc hội thông qua đã định ra những nguyên tắc cơ bản nhất của việc xét xử và tiến hành phiên tòa Sau đó, việc giải quyết tranh chấp dân sự của TA được áp dụng theo Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 về cải cách tư pháp và tố tụng
Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1954 chế định về CBXXST VADS bước đầu đã được ghi nhận Ví dụ: Những quy định về hòa giải,
Trang 23một trong những hoạt động của CBXXST VADS được quy định tại: Điều 3 Sắc lệnh số 13/SL; Điều 4,9,12 Sắc lệnh 51/SL; Điều 10, 11 Sắc lệnh số 85/SL Tuy nhiên, do tình hình đất nước còn khó khăn nên các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tục TTDS còn ít và chưa được quy định cụ thể Phần lớn các văn bản pháp luật ban hành ra còn ở dưới dạng Sắc lệnh chứ chưa được luật hóa Các TA trong thời
kỳ này cũng chỉ tập trung vào xét xử các vụ án về hình sự mà không giải quyết các tranh chấp về dân sự Theo quy định của Thông tư số 12/NV-CT ngày 29/12/1946
của Bộ Tư Pháp về tổ chức tư pháp trong tình thế đặc biệt thì: “Nếu vì một lẽ gì, TA thường không thể tiếp tục công việc xử án được, việc xét xử những phạm pháp sẽ do quyết định của Ủy ban bảo vệ khu mà giao cho TA quân sự Còn các việc hộ hoặc thương mại sẽ đình chỉ, trừ những việc cấp tốc sẽ do hội thẩm chuyên môn của TA quân sự xét xử bằng mệnh lệnh”
Từ năm 1954 trở đi, miền Bắc nước ta được giải phóng và xây dựng theo con đường XHCN Nhà nước ta tiếp tục ban hành một số văn bản tố tụng khác như: Thông tư số 141/HCTP ngày 05/02/1957 quy định về tổ chức và phân công trong nội bộ TA; Thông tư số 1507/HCTP ngày 24/8/1956 của Bộ tư pháp về tư pháp xã
và công nhận thuận tình ly hôn; Thông tư số 69/TC ngày 31/12/1958 của Bộ Tư Pháp và TAND sửa đổi thẩm quyền của các TAND v.v
Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 Đến năm
1960 thì hai văn bản pháp luật tố tụng quan trọng được ban hành là Luật tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND) năm 1960 và Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân (LTCVKSND) năm 1960 Trên cơ sở những văn bản pháp luật này, TANDTC, VKSNDTC đã ban hành các văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết các tranh chấp
về dân sự và hôn nhân – gia đình nói chung và các công việc trong giai đoạn CBXXST nói riêng Cụ thể: Thông tư số 613/V5 ngày 04/6/1969 của VKSND hướng dẫn về quyết định khởi tố vụ kiện dân sự, Thông tư số 06/TATC ngày 25/02/1974 của TANDTC hướng dẫn về công tác điều tra trong TTDS, Thông tư số 25/TATC ngày 30/11/1974 hướng dẫn việc hòa giải trong TTDS Năm 1980, Nhà nước ta ban hành bản Hiến pháp mới, thể chế hóa đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước Năm 1981 LTCTAND và LTCVKSND cũng được ban
Trang 24hành Nói chung, các quy định CBXXST VADS trong TTDS giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 cũng đã dần được hoàn thiện Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về giai đoạn CBXXST VADS Các văn bản này bước đầu xây dựng nên những quy định cơ bản của pháp luật TTDS, làm cơ sở cho việc xây dựng PLTTGQCVADS năm 1989
đã được Hội đồng nhà nước thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1990 Tiếp
đó nhà nước ta tiếp tục ban hành các pháp lệnh như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 16/3/1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/4/1996 Đây là những văn bản pháp luật TTDS có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các VADS trong thời
kỳ này, đánh dấu bước tiến mới trong quá trình phát triển pháp luật TTDS nói chung và pháp luật về CBXXST VADS nói riêng
CBXXST VADS được quy định tương đối đầy đủ và chi tiết từ Điều 38 đến Điều 47 PLTTGQCVADS; Điều 34 đến Điều 40 PLTTGQCVAKT và từ Điều 36 đến Điều 42 PLTTGQCTCLĐ Trong giai đoạn này, TA có thể tiến hành các hoạt động tố tụng như điều tra; hòa giải; ra các quyết định như: áp dụng BPKCTT, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định đưa vụ án ra xét xử hay quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 20 PLTTGQCVADS thì “Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ ” Khoản 1 Điều 42 PLTTGQCVADS quy định:
“Trước khi mở phiên tòa, nếu có yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì đương sự phải làm đơn, Viện kiểm sát phải có văn bản gửi cho TA…Nếu cần phải
áp dụng ngay biện pháp khẩn cấp tạm thời thì TA có quyền quyết định ngay ” Bên
cạnh đó, hòa giải tiếp tục là hoạt động tố tụng bắt buộc của TA trong giai đoạn này trừ một số trường hợp cụ thể quy định tại Điều 43 PLTTGQCVADS Nhiều văn bản
Trang 25hướng dẫn cũng đã được ban hành nhằm hoàn thiện pháp luật về CBXXST VADS như: Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/10/1990 của TANDTC, VKSNDTC, Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVADS; Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định của PLTTGQCVADS; Công văn số 10/1998/KHXX ngày 23/02/1998 của TANDTC về việc xác định vụ án có tính chất phức tạp và việc tính thời hạn CBXX; Thông tư liên tịch số 04/TT-LN ngày 07/01/1995 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVAKT
Nhìn chung, các văn bản tố tụng liên quan đến CBXXST VADS trong thời
gian này được ban hành khá nhiều và cụ thể Tuy nhiên, các quy định này “ vẫn còn tản mạn như các giai đoạn trước Đặc biệt, với sự ra đời của PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTTLĐ đã dẫn đến các quy định về TTDS bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng
chéo và mâu thuẫn ”[49, tr.24]
1.3.3 Từ năm 2005 đến nay
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các yêu cầu, tranh chấp về dân sự trong giai đoạn này ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và mức độ phức tạp, nhiều tranh chấp mới phát sinh mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế Các Pháp lệnh mới chỉ quy định những nguyên tắc chung, những trình tự, thủ tục cơ bản của TTDS, còn thiếu nhiều quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS cũng như thiếu các quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại TAND Mặt khác, nhiều quy định của các Pháp lệnh này không còn phù hợp, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác như BLDS năm 1995, BLLĐ năm 1994… Do đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là cần có một văn bản pháp lý cao hơn và thống nhất hơn
Trước tình hình này, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua BLTTDS, và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 Trong BLTTDS năm 2004, CBXXST VADS được quy định tại Chương XIII từ điều 179 đến điều 195 BLTTDS và quy định trong khác có liên quan Nhằm cụ thể hóa các quy định trong bộ luật, TANDTC đã
Trang 26ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành trong giai đoạn này như: Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27/4/2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn
thi hành một số quy định về “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời”; Nghị quyết số
04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một
số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số
04/2005/NQ-HĐTP); Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của HĐTP
TANDTC hướng dẫn thi hành các quy định về “Thủ tục giải quyết vụ án tại TA cấp
sơ thẩm” (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 02/2006/NQ – HĐTP) Nhìn chung, quy
định về TTDS nói chung và CBXXST VADS nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch Đương sự đóng vai trò chủ động trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước TA
Tuy nhiên, qua một thời gian dài thực hiện thì một số quy định về CBXXST VADS cũng đã bộc lộ một số điểm hạn chế Vì vậy, ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011) nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tố tụng nói chung và CBXXST nói riêng Luật này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2012
xử sơ thẩm TA phải tiến hành việc CBXXST VADS CBXXST VADS là hoạt động
tố tụng do TA cấp sơ thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc hòa giải và xét xử sơ thẩm VADS
2 CBXXST VADS có các đặc điểm như: CBXXST VADS được bắt đầu từ khi TA thụ lý VADS và thường kết thúc khi TA mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS; CBXXST VADS là hoạt động tố tụng do TA cấp sơ thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm VADS nên rất đa dạng,
Trang 27phong phú và toàn diện, hòa giải thông thường là hoạt động tố tụng bắt buộc của
TA trong giai đoạn CBXXST VADS, CBXXST VADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác
3 Với mục đích chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm
VADS, CBXXST có ý nghĩa lớn trong việc giúp TA cấp sơ thẩm có đủ chứng cứ,
tài liệu và nhận thức đúng về tình tiết của vụ án từ đó giải quyết vụ án chính xác, đúng pháp luật, tạo điều kiện cho các bên đương sự cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp hoặc phản bác yêu cầu của phía bên kia, ngoài ra còn tạo điều kiện cho các bên đương sự hòa giải với nhau Bên cạnh đó, CBXXST VADS giúp TA tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn
bị cho phiên tòa sơ thẩm
4 Cơ sở khoa học của việc xây dựng các quy định về CBXXST VADS là: xuất phát từ quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp; sự cần thiết của việc xây dựng một quy trình tố tụng toàn diện; sự cần thiết có một cơ sở pháp lý vững chắc
để nâng cao chất lượng xét xử của TA; đảm bảo quyền tiếp cận công lý của đương
sự và quyền tự định đoạt của đương sự; bảo đảm nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong TTDS; xây dựng các quy định về CBXXST VADS dựa trên việc giải quyết hài hòa giữa việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của TA và quyền, nghĩa
vụ của đương sự trong VADS
5 CBXXST đã được quy định trong các văn bản pháp luật từ sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công Trong suốt thời kỳ từ năm 1945 đến năm 2004, mặc
dù các quy định pháp luật về CBXXST đã ngày càng bổ sung, sửa đổi góp phần không nhỏ trong quá trình giải quyết các VADS Đặc biệt, khi BLTTDS 2004 ra đời
và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011, các quy định về CBXXST VADS đã được hoàn thiện tương đối đầy đủ làm cơ sở cho việc giải quyết các VADS có hiệu quả
Trang 28CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
2.1 THỜI HẠN CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
Trong các quy định pháp luật TTDS Việt Nam về CBXXST VADS thì vấn
đề đầu tiên phải đề cập tới là thời hạn CBXXST VADS Việc quy định thời hạn CBXXST VADS nhằm đảm bảo cho TA tiến hành các công việc cần thiết giải quyết vụ án trong khoảng thời gian nhanh chóng, tránh sự ỷ lại, chậm chạp, ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự
Thời hạn CBXXSTVAS được tính từ ngày TA vào sổ thụ lý vụ án đến ngày
TA mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS Như vậy, thời điểm TA cấp sơ thẩm thụ lý
vụ án là thời điểm xác định trách nhiệm pháp lý của TA trong việc giải quyết vụ án, đồng thời là thời điểm bắt đầu tính thời hạn CBXXST theo quy định của BLTTDS
Vì vậy, để xác định chính xác thời hạn CBXXST VADS trước tiên cần xác định đúng thời điểm TA cấp sơ thẩm tiến hành thụ lý vụ án
Để VADS được thụ lý thì việc khởi kiện cần phải đáp ứng một số điều kiện khởi kiện và các điều kiện khác pháp luật quy định, cụ thể: Các điều kiện khởi kiện phải được đảm bảo theo quy định của pháp luật bao gồm điều kiện về chủ thể thực hiện quyền khởi kiện; điều kiện về thời hiệu khởi kiện; điều kiện về thẩm quyền giải quyết của TA; VADS chưa được giải quyết bằng một bản án hay quyết định pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác và các điều kiện mà luật nội dung quy định mang tính chất bắt buộc thì phải thoả mãn; Người khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ cho TA; Người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm; Đơn khởi kiện phải thỏa mãn các nội dung cơ bản theo quy định tại Khoản 2 Điều 164 BLTTDS
Do đó, để tiến hành thụ lý vụ án, TA cần phải kiểm tra các điều kiện trên Nếu việc khởi kiện chưa thỏa mãn một trong các điều kiện trên thì TA giải quyết
Trang 29như sau: Trường hợp đơn khởi kiện không thỏa mãn điều kiện về hình thức thì TA thông báo cho người khởi kiện sửa đổi, bổ sung trong thời hạn pháp luật quy định Nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của TA thì TA trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện (Điều 169 BLTTDS); Chuyển đơn khởi kiện cho TA có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TA khác (Khoản 2 Điều 167 BLTTDS); Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều
168 BLTTDS
Nếu việc khởi kiện thỏa mãn các điều kiện mà pháp luật quy định thì TA sẽ thụ lý vụ án Thời điểm TA thụ lý vụ án là thời điểm TA nhận được biên lai nộp tạm ứng án phí của người khởi kiện và ghi vào sổ thụ lý vụ án Trong trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí thì thời điểm thụ lý
vụ án là thời điểm TA nhận được đơn kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo
Thời hạn CBXXST VADS được chia thành hai giai đoạn là: thời hạn từ khi thụ lý VADS đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và thời hạn chuẩn bị cho việc mở phiên tòa:
2.1.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử từ khi thụ lý vụ án dân sự đến trước khi
có quyết định đưa vụ án ra xét xử
Thời hạn CBXXST VADS là khoảng thời gian tối đa mà pháp luật quy định
để TA tiến hành các hoạt động cần thiết nhằm giải quyết các vụ án đã thụ lý Trước đây, thời hạn CBXXST VADS được quy định tại Điều 47 PLTTGQCVADS, theo
đó thời hạn CBXX là 4 tháng Nếu vụ án có tính chất phức tạp, khó khăn thì thời hạn trên tối đa là 6 tháng Kế thừa các quy định trên, Điều 179 BLTTDS tiếp tục quy định về thời hạn CBXXST VADS theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn Các trường hợp về gia hạn và lý do gia hạn hướng dẫn tại tại Nghị Quyết 02/2006/NQ-HĐTP đã tạo điều kiện cho TA cấp sơ thẩm CBXXVADS trong đúng thời hạn, tránh trường hợp vi phạm pháp luật về thời hạn CBXXST nhất là trong tình hình hiện nay khi số lượng VADS ngày càng nhiều, tính chất ngày càng phức tạp, đòi hỏi cần nhiều thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ và nghiên cứu hồ sơ …
Trang 30Theo đó, theo quy định Khoản 1 Điều 179 BLTTDS 2004 và hướng dẫn tại Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP thì:
“ Tuỳ từng trường hợp cụ thể thời hạn CBXX được tính như sau:
1.1 Trường hợp có quyết định đưa vụ án ra xét xử
a Nếu không phải gia hạn thời hạn CBXX, thì thời hạn CBXX kể từ ngày Toà
án thụ lý vụ án tối đa là:
- Bốn tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của BLTTDS;
- Hai tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của BLTTDS
b Nếu phải gia hạn thời hạn CBXX, thì thời hạn CBXX kể từ ngày Toà án thụ
lý vụ án tối đa là:
- Sáu tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của BLTTDS;
- Ba tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31của BLTTDS
c Trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm a và b tiểu mục 1.1 mục
1 này mà phiên toà không được mở trong thời hạn một tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử vì có lý do chính đáng, thì thời hạn CBXX đối với từng trường hợp được cộng thêm tối đa là một tháng nữa
1.2 Trường hợp có quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS
Trong trường hợp có quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS, thì thời hạn CBXX kết thúc vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ Thời hạn CBXX được bắt đầu tính lại, kể từ ngày Toà án tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa.”
Cách tính thời hạn, thời điểm tính thời hạn, thời điểm bắt đầu, kết thúc thời hạn áp dụng theo quy định BLDS 2005 (các Điều 151, 152, 153 )[16, tr.329]
Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Mục 12 Phần I Nghị quyết 02/2006/NQ – HĐTP thì thời điểm thụ lý vụ án để tính thời hạn CBXXST VADS trong trường hợp
TA nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết trong cùng vụ án dân sự Tùy từng trường hợp được quy định như sau:
“Trong trường hợp Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải
Trang 31quyết trong cùng một vụ án, thì ngày thụ lý vụ án để tính thời hạn CBXX vụ
án đó được xác định như sau:
a Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, thì ngày thụ lý vụ án
là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố của bị đơn hoặc yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu, chứng
cứ kèm theo
b Trường hợp bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải nộp tiền tạm ứng án phí, thì ngày thụ lý vụ án là ngày bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nộp cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí
c Trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, thì ngày thụ lý vụ án được xác định như sau:
c.1 Là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố hoặc đơn về yêu cầu độc lập cuối cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí;
c.2 Là ngày người nộp cuối cùng cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, nếu họ thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí.”
Những vụ án quy định tại Điều 25 và 27 BLTTDS là những tranh chấp về dân sự và hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của TA Sở dĩ pháp luật quy định thời hạn đối với những tranh chấp này là bốn tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án vì việc giải quyết thường phức tạp, để có đủ tài liệu, chứng cứ TA phải tiến hành thu thập,
ủy thác thu thập chứng cứ…nên thường mất nhiều thời gian Còn đối với những vụ
án quy định tại Điều 29 và Điều 31 BLTTDS là những tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của TA, thời hạn CBXX là hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án vì những tranh chấp này thường đòi hỏi việc giải quyết phải kịp thời Thời hạn CBXXPTVADS theo quy định tại Khoản 1 Điều 258 BLTTDS là hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án Như vậy, thời hạn CBXXST VADS quy định tại Điều 179 BLTTDS dài hơn thời hạn CBXXPTVADS Quy định này là hoàn toàn hợp lý bởi lẽ sơ thẩm VADS là cấp xét xử đầu tiên vì vậy cần nhiều thời gian để
Trang 32chuẩn bị, hoàn thiện và nghiên cứu hồ sơ vụ án còn phúc thẩm VADS thông thường không phải là xem xét lại toàn bộ vụ án mà chi xem xét lại phần bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, quyết định bị kháng cáo, kháng nghị hoặc phần
có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị Ngoài ra, trong thời hạn CBXX, TA cấp phúc thẩm không ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự như TA cấp
sơ thẩm
Trong quá trình CBXXST VADS, nếu Thẩm phán tiến hành giải quyết vụ án xét thấy các vụ án này chứng cứ rõ ràng, không có tính chất phức tạp hay gặp trở ngại khách quan thì TA sẽ tiến hành giải quyết vụ án trong thời hạn luật định mà không cần phải gia hạn Đối với những vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan quy định tại điểm a và điểm b Khoản 1 Điều 179 của BLTTDS mà thời hạn gần hết (thời hạn CBXX còn lại không quá 5 ngày) mà Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án thấy rằng vụ án phức tạp nên chưa thể ra được một trong những quyết định quy định tại Khoản 2 Điều 179 của BLTTDS, thì cần phải báo ngay với Chánh án Toà án để ra quyết định gia hạn thời hạn CBXX Việc gia hạn thời hạn CBXX không được quá thời hạn quy định tại đoạn cuối Khoản 1 Điều 179 của BLTTDS và hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần II của Nghị quyết 02/2006/NQ – HĐTP
Những vụ án có “Tính chất phức tạp” và “trở ngại khách quan” đã được
hướng dẫn cụ thể tại tiểu mục 1.3 Mục 1 phần II, Nghị Quyết số HĐTP, theo đó:
02/2006/NQ-“Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu, tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ
vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định
kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho TA nước ngoài… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định
Trang 33kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả ủy thác tư pháp mà đã hết thời hạn CBXX (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm phán căn cứ vào Khoản 4 Điều 189 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết VADS
“Trở ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu…làm cho TA không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định”
Đối với những vụ án đơn giản, các tình tiết, sự kiện có liên quan đã được làm
rõ, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể sớm ra các quyết định tương ứng để rút ngắn quá trình giải quyết vụ án Đối với những vụ án TA phải ra quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn CBXX tạm ngừng vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Thời hạn CBXX được bắt đầu lại kể từ ngày TA tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa
2.1.2 Thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa
Theo quy định tại Khoản 3 Điều 179 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải mở phiên tòa; trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng”
Để hướng dẫn quy định trên, theo tiểu mục 1.3 Mục 1 Phần II Nghị quyết số
02/2006/NQ – HĐTP thì: “Lý do chính đáng” quy định tại Khoản 3 Điều 179 của
BLTTDS được hiểu là các sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp TA khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán để tiến hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho TA cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ TA khác đến… nên cản trở TA tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định
Sau khi nghiên cứu các quy định về thời hạn CBXXST VADS có thể thấy: Theo như quy định tại Điều 179 BLTTDS về thời hạn CBXX thì thời hạn CBXX được hiểu bao gồm cả thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa Nhưng Khoản 1 Điều 179
BLTTDS lại viết: “Thời hạn CBXX các loại vụ án được quy định như sau:….”,
Trang 34Khoản 2 Điều 179 BLTTDS lại quy định: “Trong thời hạn CBXX quy định tại Khoản 1 Điều này, tùy từng trường hợp TA ra một trong các quyết định sau đây: ” Việc quy định như vậy sẽ dẫn đến cách hiểu rằng CBXX chỉ bao gồm các
hoạt động từ thụ lý đến ra các quyết định tố tụng tương ứng không bao gồm thời hạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến thời điểm mở phiên tòa Theo quan điểm tác giả thì cần hiểu thời hạn CBXXST VADS được tính từ thời điểm TA thụ
lý vụ án đến điểm mở phiên tòa Vì tại Mục 1 Phần II Nghị quyết 02/2006/NQ –
HĐTP quy định: “Điều 179 của BLTTDS quy định về thời hạn CBXX; do đó, các thời hạn quy định trong Điều này đều được tính trong thời hạn CBXX ” Như vậy,
theo tinh thần của các nhà làm luật khi xây dựng Điều 179 BLTTDS thì thời hạn CBXX bao gồm cả thời hạn chuẩn bị mở phiên tòa Vì vậy, theo quan điểm của tác giả, cần sửa đổi Điều 179 BLTTDS để không gây nhầm lẫn về cách tính thời hạn CBXXST VADS
2.2 NHỮNG VIỆC TIẾN HÀNH SAU KHI THỤ LÝ SƠ THẨM VỤ
ÁN DÂN SỰ
2.2.1 Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án và xem xét, giải quyết thay đổi người tiến hành tố tụng
Công việc đầu tiên sau khi thụ lý VADS là phân công Thẩm phán giải quyết
vụ án Việc phân công này có ý nghĩa quan trọng trong xử lý vụ án vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng với việc giải quyết VADS trong giai đoạn CBXX
Theo quy định tại Điều 172 BLTTDS thì: “trong thời hạn ba ngày làm việc
kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh án TA phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án”
Việc nhanh chóng chỉ định một Thẩm phán phụ trách để xử lý các vấn đề liên quan đến vụ án là hết sức quan trọng Các sự kiện phát sinh trong quá trình giải quyết một VADS là tương đối nhiều và phức tạp Cần phải có người có thẩm quyền đứng
ra thực hiện các biện pháp ngăn chặn khi cần thiết, nhằm đảm bảo tính khách quan của vụ án Vì vậy, tại Mục 10 Phần I Nghị quyết 02/2006/NĐ – HĐTP quy định Chánh án Toà án cấp huyện có thể tự mình hoặc uỷ nhiệm cho một Phó Chánh án phân công Thẩm phán giải quyết vụ án Chánh án Toà án cấp tỉnh có thể uỷ nhiệm cho một Phó Chánh án hoặc uỷ quyền cho Chánh toà hoặc Phó Chánh toà phân
Trang 35công Thẩm phán giải quyết vụ án Khi phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thì cần tiếp tục phân công Thẩm phán đã thực hiện việc xem xét đơn khởi kiện và thụ
lý vụ án Việc phân công này không phải ra quyết định Sau khi được phân công, Thẩm phán sẽ tiến hành các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại các điểm 1, 2, 3,
xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu”
Mặc dù pháp luật không quy định cụ thể nhưng theo quan điểm của tác giả
để đảm bảo cho việc CBXX được thực hiện tốt trên thực tiễn thì Chánh án TA cũng cần có những nguyên tắc nhất định, đảm bảo lựa chọn được Thẩm phán phù hợp để bảo đảm thực hiện công việc khách quan và hiệu quả cao
Ngoài ra, theo Điều 43 BLTTDS thì thư ký TA có nhiệm vụ chuẩn bị các công tác nghiệp vụ trước khi khai mạc phiên tòa như ghi biên bản hòa giải; giúp Thẩm phán lấy lời khai, giúp Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ, giúp Thẩm phán sắp xếp hồ sơ, tài liệu… Theo quy định tại Điều 40 BLTTDS thì Chánh
án TA có quyền ra quyết định phân công thư ký TA tiến hành TTDS với mỗi VADS, thay đổi thư ký TA trước khi mở phiên tòa Khi Chánh án vắng mặt thì Phó Chánh án được Chánh án ủy nhiệm thực hiện nhiệm vụ và chịu trách nhiệm trước Chánh án về nhiệm vụ được giao
Đặc biệt, để bảo đảm việc giải quyết vụ việc dân sự được khách quan, trong giai đoạn CBXXST VADS cũng cần xem xét giải quyết thay đổi người tiến hành tố
tụng Việc thay đổi người tiến hành tố tụng được quy định từ Điều 46 đến Điều 51
BLTTDS nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật Theo Điều 46 BLTTDS và Mục 1, 2, 3 Phần 2 Nghị Quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì Thẩm phán, thư ký TA, Kiểm sát viên phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong những trường hợp sau: họ đồng thời là đương sự, người đại diện hoặc
Trang 36người thân thích của đương sự; đã tham gia với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trong cùng vụ án đó, hoặc có căn cứ cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ Điều 47 BLTTDS còn quy định thêm trường hợp Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong trường hợp họ đã là người tiến hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, thư ký TA Việc thay đổi thư ký TA được quy định tại Điều 48 BLTTDS Họ phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi trong các trường hợp quy định tại Điều 46 BLTTDS hoặc họ đã là người tiến
hành tố tụng trong vụ án đó với tư cách là Kiểm sát viên, Thẩm phán
Thẩm quyền và thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng được quy định tại Điều 50, 51 BLTTDS Việc thay đổi Thẩm phán và thư ký TA trong giai đoạn này
do Chánh án TA quyết định Nếu Thẩm phán là Chánh án TA thì do Chánh án TA cấp trên trực tiếp quyết định Thay đổi Kiểm sát viên trong giai đoạn này do Viện trưởng VKS cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng VKS thì do Viện trưởng VKS cấp trên trực tiếp quyết định
2.2.2 Thông báo việc thụ lý vụ án dân sự
Sau khi thụ lý vụ án dân sự, để thực hiện việc CBXXST VADS TA phải
thông báo việc thụ lý VADS Điều 174 BLTTDS quy định: “Sau khi TA thụ lý vụ
án thì trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, TA phải thông báo về việc thụ lý vụ án cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan và cho VKS cùng cấp về việc TA đã thụ lý vụ án” Thông báo thụ lý phải
được thể hiện dưới hình thức văn bản và bao gồm các nội dung chính quy định tại Khoản 2 Điều 174 BLTTDS Nội dung thông báo phải thể hiện được yêu cầu của người khởi kiện và danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện và hậu quả pháp lý của việc việc người được thông báo không nộp cho
TA văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện
Việc quy định nghĩa vụ thông báo về việc thụ lý của TA như vậy tạo điều kiện cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan và VKS kịp thời nắm bắt được thời điểm thụ lý VADS và những yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu chứng cứ ban đầu của VADS Tuy nhiên, để hoạt động thông
Trang 37báo thụ lý của TA được tiến hành hiệu quả đòi hỏi các quy định pháp luật TTDS không chỉ là các quy định về thông báo thụ lý phải được hoàn thiện mà còn liên quan đến các quy định về hoạt động cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng Bởi
vì, hiện nay các quy định pháp luật về hoạt động cấp, tống đạt văn bản tố tụng còn chưa được chặt chẽ dẫn tới người được nhận được thông báo thụ lý cố tình không nhận hoặc không nhận được thông báo do cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc cấp, thông báo, tống đạt không tiến hành hoặc tiến hành không đúng mà quy định
về biện pháp chế tài đối với người có nghĩa vụ thực hiện hoạt động cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng lại chưa cụ thể
Theo Điều 175 BLTTDS, người được thông báo phải nộp cho TA văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn nhất định, đó là thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho TA nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì TA phải gia hạn, nhưng không quá 15 ngày nữa Người được thông báo có quyền thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu của người khởi kiện trước TA là đồng ý hay bác bỏ yêu cầu này; có quyền yêu cầu TA cho xem, ghi chép, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Theo quan điểm của tác giả thì việc pháp luật TTDS quy định như trên là góp phần tạo điều kiện cho TA có thể tiến hành hoạt động CBXXST VADS được nhanh chóng Tuy nhiên, quy định tại Điều 175 BLTTDS mới chỉ là quy định chung mang tính hình thức Bởi vì, pháp luật TTDS không quy định bất cứ một biện pháp chế tài nào khi người được thông báo không nộp cho TA văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của người khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Bên cạnh đó, trên thực tế người được thông báo có thể đưa ra ý kiến của mình và các tài liệu, chứng cứ kèm theo vào các thời điểm sau thời hạn 15 ngày nói trên như tại các phiên hòa giải, các thời điểm TA triệu tập để thu thập chứng cứ…Vì vậy, quy định tại Điều 175 còn nhiều bất cập cần sửa đổi cho hợp lý
Cùng với việc phải nộp cho TA các văn bản và tài liệu trên đây, theo Điều
176 BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố
Trang 38đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập Việc pháp luật quy định như vậy tạo điều kiện cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn ngoài ra cũng tránh được việc TA phải mở phiên tòa riêng đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tuy nhiên, theo quan điểm của tác giả, hiện nay do trình độ hiểu biết pháp luật của người dân còn hạn chế nên nhiều trường hợp không thể tự mình thực hiện quyền lợi
và nghĩa vụ của mình Vì vậy, TA nên hướng dẫn bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập và thủ tục thực hiện các quyền đó để TA có thể tiếp nhận nhanh chóng hiệu quả, tiết kiệm thời gian mà
việc giải quyết vụ án của TA lại nhanh chóng, khách quan và toàn diện
Bên cạnh đó, nhằm quy định cụ thể hơn về thời điểm bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập thì BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã quy định những người này có quyền đưa ra yêu cầu của mình trước khi TA ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm Quy định trên bên cạnh việc đảm bảo quyền tự định đoạt cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có thể lựa chọn thời điểm đưa ra yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập để bảo vệ quyền lợi của mình thì BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 cũng đã đảm bảo sự chủ động cho TA khi tiếp nhận yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tránh được trường hợp kéo dài vụ án do phải tính lại thời điểm CBXXST đồng thời cũng tránh được tình trạng hoãn phiên tòa nếu người có quyền đưa ra yêu cầu tại phiên tòa sơ thẩm, [20] tạo nên sự hài hòa giữa việc thực hiện nhiệm vụ của TA với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự như đã phân tích tại Mục 1.2 của Luận văn
2.2.3 Lập hồ sơ vụ án dân sự
Lập hồ sơ vụ án là hoạt động có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình CBXXST VADS Thông qua lập hồ sơ VADS, Thẩm phán có cái nhìn tổng quan về VADS, hoàn thiện các tài liệu, chứng cứ để đảm bảo việc giải quyết VADS được đúng đắn
Đối với việc lập hồ sơ VADS trong giai đoạn CBXXST VADS thì hoạt động thu thập chứng cứ được coi là quan trọng nhất Bởi vì, sau khi có hồ sơ ban đầu do
Trang 39các đương sự cung cấp bao gồm các chứng cứ, tài liệu được cung cấp cùng với việc nộp đơn khởi kiện thì để giải quyết vụ án, TA cần phải tập hợp thêm chứng cứ để hoàn thiện hồ sơ vụ án Bởi vì, chứng cứ và chứng minh trong TTDS có ý nghĩa rất lớn đến việc giải quyết vụ án TA chỉ giải quyết đúng đắn vụ án khi được cung cấp đầy đủ các chứng cứ cần thiết và các tình tiết của vụ việc dân sự đã được làm sáng
tỏ [49, tr.48]
Việc tiến hành thu thập chứng cứ được các quốc gia trên thế giới quy định khác nhau Đối với các nước thuộc hệ thống Common Law mà điển hình là pháp luật Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì vai trò của đương sự và luật sư trong việc thu thập chứng cứ được đề cao hơn Họ có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, còn Thẩm phán chỉ đóng vai trò là người thứ ba đứng trung gian và ra quyết định với thái độ vô tư Thông thường Thẩm phán chủ tọa không bao giờ tự mình thu thập chứng cứ vụ kiện Vì vậy, khi các bên xuất trình chứng cứ, Thẩm phán tự mình đánh giá chứng cứ đó Nếu thấy chứng cứ chưa đầy đủ thì Thẩm phán có thể yêu cầu các bên cung cấp thêm chứng cứ [21, tr.23] Các bên đương sự phải thống nhất với nhau những vấn đề còn mâu thuẫn và chứng cứ của
vụ việc, TA chỉ đóng vai trò là trọng tài đứng ra xem xét chứng cứ do các bên cung cấp để đưa ra phán quyết hợp pháp
Đối với các nước theo hệ thống Civil Law thì pháp luật lại đề cao vai trò của Thẩm phán trong việc thu thập chứng cứ, pháp luật Pháp là một điển hình Theo quy
định tại Điều 144 BLTTDS Pháp thì “Thẩm phán có thể quyết định thực hiện các biện pháp thẩm cứu ở giai đoạn sơ thẩm cũng như phúc thẩm, khi Thẩm phán không có đầy đủ các yếu tố cần thiết để xét xử” Thẩm phán có thể quyết định bổ
sung mọi biện pháp thẩm cứu cần thiết khác vào bất cứ thời điểm nào và các quyết định này chỉ có thể bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm hoặc kháng cáo, kháng nghị phá án cùng với bản án đã xử về mặt nội dung (Điều 170 BLTTDS Pháp) Từ các quy định trên ta có thể thấy rằng trong giai đoạn CBXXST VADS, theo quy định của pháp luật TTDS Pháp, Thẩm phán có vai trò rất lớn trong việc thu thập chứng cứ Tuy nhiên, các bên đương sự vẫn phải có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trường hợp không giúp
Trang 40đỡ hoặc từ chối giúp đỡ
Theo pháp luật nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thì trong giai đoạn CBXXST VADS đương sự có trách nhiệm cung cấp những chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình Nếu do nguyên nhân khách quan mà đương sự và người đại diện tố tụng không thể tự mình sưu tầm chứng cứ hoặc TAND cho rằng
để xét xử vụ án cần có chứng cứ, thì TA phải điều tra, sưu tầm So sánh giữa pháp luật Trung Hoa và pháp luật Việt Nam trong hoạt động thu thập chứng cứ ta thấy
có khá nhiều điểm tương đồng Ở Việt Nam theo quy định của BLTTDS đã được sửa đổi, bổ sung thì nghĩa vụ chứng minh của đương sự được đề cao hơn trước và
TA chỉ hỗ trợ đương sự thu thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không tự thu thập được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc các trường hợp khác do pháp luật quy định
Hiện nay trên thế giới, hai hệ thống pháp luật không hoàn toàn khác biệt mà
có những ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau Vì vậy, mà chúng ta có thể thấy rằng trong pháp luật tố tụng Mỹ đã bắt đầu đề cao vai trò của Thẩm phán trong thu thập chứng cứ, và trong quy định của pháp luật tố tụng Pháp thì các đương sự vẫn phải có nghĩa vụ giúp Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ thẩm cứu và có thể bị xử phạt nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Bên cạnh đó, các bên đương sự phải được tiếp cận yêu cầu của phía bên kia và được tiếp cận các chứng cứ do phía bên kia cung cấp [22, tr.13]
Theo quy định của tại Điều 6 BLTTDS Việt Nam thì về nguyên tắc các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Nguyên tắc này đã được cụ thể hóa tại Điều 79, Điều 84 BLTTDS và hướng dẫn tại mục 1, 2, 3 Phần I Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP TA chỉ tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp cần thiết theo quy định của pháp luật TA cần hướng dẫn các bên cung cấp những chứng
cứ cần thiết hoặc yêu cầu đương sự, các tổ chức, cá nhân khác đang giữ các chứng
cứ có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án phải giao nộp chứng cứ hoặc có thể tiến hành các biện pháp xác minh, thu thập chứng cứ trong các trường hợp cần thiết