1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

79 296 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu đề tài Xét đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ph p lý được công bố về phúc thẩm trong tố tụng dân sự, có thể kể đến như: Đề tài

Trang 1

NGUYỄN NGỌC NAM

CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Trang 2

Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Những kiến nghị, đề xuất trong Luận văn không sao chép của bất kỳ tác giả nào

Tác giả Luận văn

Nguyễn Ngọc Nam

Trang 3

bạn bè đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên cứu để có được kết quả ngày hôm nay

Đặc biệt em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo - TS Nguyễn Triều Dương đã tận tâm hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này

Hà Nội, ngày 20 tháng 05 năm 2015

Trang 4

LTCTAND : Luật tổ chức Tòa án nhân dân

LTCVKSND : Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

PLTTGQCTTLĐ : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động PLTTGQCVADS : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế

TAND : Tòa án nhân dân

TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 5

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 5

1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 5

1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 9

1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 12

1.2 Yêu cầu của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 13

1.3 Lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự từ năm 1945 đến nay 16

1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1960 16

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989 18

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 19

1.3.4 Giai đoạn từ 2004 đến nay 20

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 24

2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 24

2.2 Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự 26

2.2.1 Nhận hồ sơ vụ án dân sự 27

2.2.2 Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị 29

2.2.3 Vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự 34

2.3 Những việc tiến hành sau khi thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự 35

2.3.1 Phân công những người có thẩm quyền tiến hành xét xử phúc thẩm 35

2.3.2 Nghiên cứu hồ sơ vụ án có kháng cáo, kháng nghị 38

2.3.3 Chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhiên cứu 44

2.3.4 Các quyết định trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm 46

2.4 Những công việc tiến hành sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử 49

2.4.1 Triệu tập những người tham gia phiên tòa phúc thẩm 49

2.4.2 Thực hiện các công việc khác 50

CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 52

3.1 Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 52

Trang 6

hiện c c quy định của ph p luật hiện hành về chuẩn bị x t xử phúc thẩm vụ n dân sự 59

3.2 Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 64

3.2.1 Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 64 3.2.2 Các kiến nghị thực hiện pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 65

KẾT LUẬN 69

Trang 7

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức khi tham gia tố tụng, hệ thống Tòa án Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới đã ghi nhận nguyên tắc hai cấp xét

xử trong hoạt động tố tụng của mình Theo đó phúc thẩm là lần xét xử thứ hai sau thủ tục xét xử sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị Thủ tục phúc thẩm

là một trong những thủ tục tố tụng được quy định trong những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta ngay sau khi giành được độc lập Trong Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 quy định về sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án đã quy định Tòa án đệ nhị cấp có thẩm quyền phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm Ngoài ra, Nhà nước ta cũng ban hành rất nhiều văn bản pháp luật quy định về thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự như: Ph p lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; ph p lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994; Ph p lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996…c c văn bản pháp luật này có giá trị pháp lý trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự Tuy nhiên đứng trước yêu cầu cải c ch tư ph p và hội nhập kinh tế quốc tế, những văn bản pháp luật này đã không còn đ p ứng được yêu cầu giải quyết các vụ việc dân sự hiện nay; do đó tại kỳ họp thứ V Quốc hội khóa XI Quốc hội ta đã thông qua Bộ luật Tố tụng dân sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đ nh dấu bước phát triển mới trong pháp luật tố tụng Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc giải quyết các vụ việc dân sự

Để phúc thẩm vụ án dân sự thực sự có hiệu quả, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của c c bên đương sự thì việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là giai đoạn hết sức quan trọng Do đó, Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam đã giành riêng một chương - Chương XVI quy định về chuẩn bị xét xử

Trang 8

phúc thẩm vụ án dân sự Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành c c quy định này tại các Tòa án ở Việt Nam những năm qua đã xuất hiện nhiều hạn chế, bất cập Vì vậy, tác giả đã chọn “Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự” làm đề tài luận văn của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Xét đến thời điểm hiện tại đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học ph p lý được công bố về phúc thẩm trong tố tụng dân sự, có thể kể đến

như: Đề tài cấp Bộ “Một số vấn đề về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự” do Tòa án nhân dân Tối cao thực hiện năm 1996; “Những quan điểm cơ bản về Bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam” do

Viện nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn

quốc gia thực hiện năm 2001; Hội thảo khoa học cấp trường với đề tài “Việc thi hành Bộ luật tố tụng dân sự” của trường Đại học Luật Hà Nội xây dựng năm 2005; Luận án tiến sỹ luật học “Xây dựng bộ luật tố tụng dân sự” năm

2001 của tác giả Phan Hữu Thư; Luận án tiến sỹ luật học “Phúc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam” năm 2011 của tác giả Nguyễn Thị Thu Hà; Bài viết

“Vấn đề hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự” của tác giả Ngô Vĩnh Bạch đăng trên tạp chí Nhà nước và pháp luật số 8 năm 2001; “Thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự” của tác giả Nguyễn Việt Cường trên Tạp chí Đặc san

nghề luật số 10 th ng 1/2005…Những công trình đã phần nào kh i qu t được phần nào vấn đề nhưng vẫn còn tản m c chưa đi sâu vào nội dung các chế định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, c c quy định của pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ cũng như quy định hiện hành của pháp luật về chuẩn bị xét xử phúc thẩm tại Tòa án và thực tiễn thi hành c c quy định này tại Tòa án Việt

Trang 9

Nam trong những năm gần đây Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu c c quy định tương ứng của pháp luật tố tụng dân sự một số nước để tham khảo, nhằm hoàn thiện c c quy định của pháp luật Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thẩm

vụ án dân sự

Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là một vấn đề phức tạp với nhiều nội dung khác nhau Tuy nhiên, trong khuôn khổ một luận văn thạc sỹ luật học tác giả chỉ tập chung nghiên cứu để làm rõ những nội dung cơ bản nhất như: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự cũng như c c quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành

về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tại Tòa án và việc thực hiện chúng tại các Tòa án Viêt Nam trong những năm gần đây

4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Việc nghiên cứu đề tài với mục đích làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và nội dung những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm và thực tiễn thi hành quy định này, từ đó thấy được những bất cập trong

qu trình thi hành và đưa ra một số kiến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục phúc thẩm

Để thực hiện mục đích trên, việc nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, nghiên cứu sự phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ; phân tích, đ nh gi c c quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự đồng thời tỉm hiệu việc thực thi những quy định này tại các Tòa án từ đó thấy được những mặt còn hạn chế và đưa ra những đề xuất, kiến nghị, biện pháp khắc phục

5 Phương pháp nghiên cứu đề tài

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương ph p luận của chủ nghĩa M c-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật Bên

Trang 10

cạnh đó, việc nghiên cứu đề tài luận văn cũng sử dụng c c phương ph p nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng hợp, so sánh, lịch sử, diễn giải, suy diễn logic…

6 Kết cấu của luận văn

Ngoài danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba phần:

Mở đầu, nội dung và kết luận

Phần nội dung của luận văn bao gồm ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự Chương 2: Nội dung quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện

hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Chương 3: Thực tiễn thực hiện c c quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị

Trang 11

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 1.1.1 Khái niệm chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Phúc thẩm VADS là cấp xét xử thứ hai trong quá trình giải quyết một VADS CBXXPT VADS là một giai đoạn của quá trình giải quyết VADS ở TA cấp phúc thẩm Vậy CBXXPT VADS là gì?

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm từ điển học Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003 thì các thuật ngữ chuẩn bị, xét xử, phúc thẩm và dân sự được định nghĩa như sau:

“Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn cái cần thiết để làm việc gì”.[27, tr.181]

“Xét xử” là “xem xét và xử các vụ án”.[27, tr.1148] “phúc thẩm” là “Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do TA cấp dưới đã xử sơ thẩm mà chống án”.[27, tr.790]

“Dân sự” là “việc thuộc về quan hệ tài sản hoặc hôn nhân, gia đình (nói khái quát)”.[27, tr.246]

Trong cuốn “Thủ tục xét xử sơ thẩm trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” của tác giả Đinh Văn Quế thì khái niệm “chuẩn bị xét xử” theo quan điểm một số tác giả là “chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật”

Đối với khái niệm VADS, trước đây trong c c TA dưới thời Pháp thuộc (trước năm 1945) những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của TA được chia làm hai loại là việc hình và việc hộ Theo đó, Sắc lệnh số 13-SL ngày 24/01/1946 về tổ

chức Tòa án và ngạch Thẩm phán chỉ rõ việc hộ bao gồm “các việc về dân sự và thương sự ” (Điều 3, Điều 17) Tại Điều 9 Sắc lệnh số 85-SL ngày 22/5/1950 về cải cách bộ m y tư ph p và luật tố tụng đã sử dụng thuật ngữ “việc kiện dân sự” Theo quy định này, thuật ngữ “việc kiện dân sự” cũng có thể được gọi là “vụ kiện dân sự” để chỉ những tranh chấp dân sự có yêu cầu được TA giải quyết Từ “việc” và

“vụ” trong trường hợp này là tương đồng, có thể dùng là “việc kiện” hoặc “vụ kiện” mà không dùng “vụ việc kiện”.[14, tr.154] Trên cơ sở Hiến ph p 1959, Điều 1

Trang 12

Luật tổ chức TAND 1960 quy định: “TAND xét xử những vụ án hình sự và dân sự…” Từ những quy định này, thuật ngữ “vụ án” chính thức được sử dụng trong

c c văn bản pháp luật Tiếp theo đó, Thông tư số 01-UB ngày 03/3/1969 của TANDTC hướng dẫn việc viết bản n sơ thẩm và phúc thẩm hình sự và dân sự, Thông tư 01/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC) hướng dẫn về thủ tục gi m đốc thẩm và Thông tư 02/TTLT ngày 01/02/1982 của TANDTC, VKSNDTC hướng dẫn về thủ tục tái thẩm cũng sử dụng

nhiều lần thuật ngữ “vụ án” Trong giai đoạn này các thuật ngữ: “việc kiện dân sự”, “tranh chấp dân sự”, “VADS” là những thuật ngữ cùng đồng thời được sử

dụng để chỉ những loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết về dân sự của TAND Chỉ đến khi có Pháp lệnh thủ tục giải quyết c c VADS được ban hành ngày 29/11/1989, các loại việc thuộc thẩm quyền xét xử về dân sự của TA mới sử dụng thống nhất

thuật ngữ “VADS”

Khi BLTTDS ra đời, khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế khái niệm VADS

Điều 1 BLTTDS quy định: “BLTTDS quy định những nguyên tắc cơ bản trong TTDS; trình tự, thủ tục khởi kiện để TA giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là VADS) và trình tự, thủ tục yêu cầu để TA giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân

sự ); trình tự, thủ tục giải quyết VADS, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự ) tại TA…” Với quy định này, đối tượng được giải quyết theo thủ tục TTDS

là vụ việc dân sự, gồm VADS và việc dân sự

Như vậy, khi Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 ra đời, lần đầu tiên khái niệm VADS

được khái quát bao gồm “các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” Theo BLTTDS, VADS là những việc có vi phạm, tranh chấp,

bắt đầu từ sự mâu thuẫn giữa c c bên đương sự, trong đó có một bên yêu cầu TA buộc bên kia phải thực hiện một hoặc một số nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật nêu trên Theo quy định tại c c điều 25, 27, 29, 31 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2011 thì VADS bao gồm các tranh chấp sau đây:

Trang 13

- Những tranh chấp về dân sự như: tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam; tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về hợp đồng dân sự; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 29 của BLTTDS; tranh chấp về thừa kế tài sản; tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ b o chí theo quy định của pháp luật; tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, tranh chấp về kết quả b n đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản b n đấu

gi theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự, các tranh chấp khác về dân sự

mà pháp luật có quy định

- Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình như: ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi

ly hôn; tranh chấp về x c định cha, mẹ cho con hoặc x c định con cho cha, mẹ; tranh chấp về cấp dưỡng; các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà ph p luật có quy định

- Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại như: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đich lợi nhuận; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty

- Những tranh chấp về lao động như: Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động; tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động; các tranh chấp lao động khác mà pháp luật có quy định

Trang 14

Bên cạnh đó, kh i niệm “việc dân sự” cũng được xây dựng là các “yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (Điều 1

BLTTDS) Việc dân sự có đặc tính là các bên không có tranh chấp về quyền, nghĩa

vụ mà chỉ yêu cầu TA công nhận cho mình các quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động, công nhận hay không công nhận một sự kiện ph p lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác [39, tr.364] Tiêu chí để phân biệt giữa VADS và việc dân sự là loại việc có tranh chấp hay không có tranh chấp Tuy nhiên, yếu tố này cũng chỉ mang tính chất tương đối Ví dụ, đối với yêu cầu hủy hôn nhân trái pháp luật, dù chỉ có một bên yêu cầu, bên kia không muốn chấm dứt mối quan hệ đó, nghĩa là có tranh chấp giữa hai bên về việc có yêu cầu hủy hôn nhân hay không thì yêu cầu hủy hôn nhân trái luật vẫn được x c định là việc dân sự [14, tr.69]

Xét xử phúc thẩm là một hoạt động độc lập trong quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án Một số tác giả đã đưa ra kh i niệm “x t xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị” [12, tr.393] Theo đó, đối tượng của xét xử phúc thẩm là những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà bị kháng cáo, kháng nghị Phạm vi phúc thẩm là những phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo, kháng nghị Đây là cơ sở để x c định phạm vi các công việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS

Khái niệm CBXXPT VADS có thể được hiểu theo nhiều nghĩa kh c nhau với những nội hàm khác nhau, phụ thuộc vào cách tiếp cận vấn đề của từng đối tượng tham gia TTDS Nếu hiểu CBXXPT với tính chất là một quá trình thì CBXXPT VADS là một giai đoạn tố tụng độc lập trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA [12, tr.327] Mặt khác, nếu hiểu CBXXPT VADS với tính chất là hoạt động tố tụng thì CBXXPT VADS gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật,

Trang 15

phù hợp với địa vị tố tụng của họ làm cho hoạt động xét xử phúc thẩm VADS được đảm bảo [12, tr.328]

Trong phạm vi Luận văn này, t c giả nghiên cứu CBXXPT VADS với tính chất là hoạt động TTDS độc lập của TA trong thủ tục giải quyết các VADS tại TA cấp phúc thẩm CBXXVADS nói chung và CBXXPT VADS nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự

Theo đó, Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành những hoạt động tố tụng cần thiết như thụ lý vụ án, nghiên cứu nội dung vụ án, chuyển hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, hướng dẫn hoặc yêu cầu c c đương sự tham gia những hoạt động tố tụng cần thiết như nhận giấy triệu tập, cung cấp, bổ sung chứng cứ…để hết thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm theo quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải ra một trong các quyết định như tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm VADS, đình chỉ xét xử phúc thẩm VADS, quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm Hơn nữa, trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm nếu có đủ căn cứ pháp luật, Tòa án cấp phúc thẩm còn có thể ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Trong trường hợp có quyết định đưa vụ án dân sự ra xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm phải tiến hành các công việc để đảm bảo trình tự tố tụng theo quy định như tống đạt các giấy triệu tập, giấy báo, giấy mời tham gia phiên tòa phúc thẩm, cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; cho phép đương sự và người bảo vệ đương sự được sao chụp các tài liệu hồ sơ vụ n để chuẩn

bị lý lẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại phiên tòa phúc thẩm

Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa CBXXPT VADS tại Tòa án cấp phúc thẩm như sau:

“Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng độc lập do Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo hoặc kháng nghị”

1.1.2 Đặc điểm của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

 CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể

do Tòa án tiến hành trên cơ sở các quy định của pháp luật

Trang 16

Việc đầu tiên Tòa n cấp phúc thẩm cần phải tiến hành trong qu trình CBXXPT VADS là thụ lý vụ n dân sự Về bản chất x t xử phúc thẩm vụ n dân sự

là việc Tòa n cấp phúc thẩm x t xử lại bản n, quyết định của Tòa n cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ph p luật mà có kh ng c o, kh ng nghị; vậy nên khi tiến hành thụ

lý vụ n, Tòa n cấp phúc thẩm thông qua c c hoạt động tố tụng kiểm tra thủ tục

kh ng c o, kh ng nghị như: xem x t đối tượng để đương sự kh ng c o, viện kiểm

s t kh ng nghị; kiểm tra tính hợp ph p của kh ng c o, quyết định kh ng nghị; xem

x t giải quyết c c trường hợp kh ng c o qu hạn; vào sổ thụ lý VADS; thông b o thụ lý phúc thẩm VADS; thành lập HĐXXPT, thư ký Tòa án; giải quyết c c trường hợp từ chối tiến hành tố tụng và đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng; c c thành viên của HĐXXPT; nghiên cứu hồ sơ vụ n; chuyển hồ sơ vụ n cho viện kiểm s t nghiên cứu; giải quyết trường hợp thay đổi, bổ sung, rút kh ng c o, kh ng nghị trước khi tiến hành x t xử phúc thẩm Trong qu trình chuẩn bị x t xử, Tòa án ra quyết định đưa vụ n ra x t xử hoặc quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ x t xử phúc thẩm VADS…Trong trường hợp Tòa án quyết định đưa vụ n ra x t xử thì Tòa án tiếp tục tiến hành những hoạt động tố tụng đảm bảo cho phiên tòa phúc thẩm VADS được tiến hành

 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tập trung vào việc xem xét yêu cầu trong kháng cáo, kháng nghị

Trong quá trình CBXXST VADS Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các hoạt động tố tụng cần thiết để xây dựng hồ sơ vụ án, nhằm làm rõ sự thật khách quan của

vụ n Trong giai đoạn này, Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành các hoạt động như lấy lời khai, xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, yêu cầu đương sự cung cấp chứng

cứ, cho c c đương sự đối chất…Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm Tòa án xét xử theo yêu cầu của đương sự nên Tòa án cấp sơ thẩm phải xem xét giải quyết tất cả các vấn

đề mà người khởi kiện nêu trong đơn kiện, người bị kiện nêu trong đơn phản tố hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trong đơn yêu cầu độc lập Vậy nên phạm vi nghiên cứu hồ sơ trong qu trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm phải bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến vụ án

Trang 17

Với bản chất là lần xét xử thứ hai đối với những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị nên trong giai đoạn CBXXPT Tòa án cấp phúc thẩm không xây dựng lại hồ sơ vụ n mà căn cứ vào hồ sơ vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xây dựng trước đó Tuy nhiên, chỉ có phần bản án, quyết định nào có kháng cáo, kháng nghị mới được đưa ra x t xử phúc thẩm còn những phần khác không có kháng cáo, kháng nghị thì vẫn phát sinh hiệu lực và có hiệu lực thi hành Trường hợp toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì thì toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm được đưa ra x t xử lại theo thủ tục phúc thẩm

 Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Tòa án không phải tiến hành thủ tục hòa giải vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 180 BLTDS thì hòa giải là hoạt động tố tụng bắt buộc trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành hòa giải để giúp c c đương sự thỏa thuận với nhau về cách giải quyết vụ

án Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm pháp luật tố tụng dân sự nước ta lại không quy định Tòa án cấp phúc thẩm có trách nhiệm phải tiến hành hòa giải vụ án dân sự nên Tòa án cấp phúc thẩm chỉ công nhận sự thỏa thuận của c c đương sự khi c c đương

sự có yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm công nhận sự thỏa thuận của họ

Bởi lẽ tại cấp xét xử sơ thẩm Tòa án đã tiến hành hòa giải cho c c đương sự nhưng c c đương sự đã không tự thỏa thuận được về cách giải quyết vụ n Do đó, với tính chất là cấp xét xử thứ hai, Tòa án cấp phúc thẩm không tiến hành hoạt động

tố tụng hòa giải vụ án dân sự nữa

 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động

tố tụng khác

Phúc thẩm vụ án dân sự là xét xử lại các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm mà có kháng cáo, kháng nghị Do đó, CBXXPT VADS có mối liên hệ pháp lý mật thiết đến các hoạt động tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm Có thể thấy rằng việc nghiên cứu hồ sơ vụ án ở giai đoạn phúc thẩm dựa trên hồ sơ vụ án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xây dựng trước đó Trong trường hợp đưa vụ án ra xét xử thì giai đoạn CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng hết sức quan trọng bởi trong thời gian đó Tòa

án cấp phúc thẩm có thể nghiên cứu, xem xét kỹ lại những tình tiết của vụ án, làm

Trang 18

sáng tỏ được những vấn đề mà đương sự kháng cáo hoặc viện kiểm sát kháng nghị Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm được làm tốt mới đảm bảo phiên tòa phúc thẩm được đưa diễn ra, hạn chế việc hoãn phiên tòa do những yếu tố chủ quan

 Chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là hoạt động tố tụng dân sự đƣợc bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và kết thúc khi Tòa án phúc thẩm mở phiên tòa phúc thẩm

Sau khi nghiên cứu c c quy định về thời hạn CBXXPT VADS có thể thấy: Hoạt động CBXXPT VADS bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận hồ sơ vụ án, kháng cáo hoặc kháng nghị, tài liệu, chứng cứ kèm theo và vào sổ thụ lý Mặt khác, theo như quy định tại Điều 258 BLTTDS về thời hạn CBXXPT thì thời hạn CBXXPT VADS có thể được hiểu theo hai nghĩa Theo nghĩa rộng, thời hạn CBXXPT được hiểu là khoảng thời gian từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý đến khi

mở phiên tòa Cách hiểu kh c theo nghĩa hẹp thì thời hạn CBXXPT chỉ bao gồm các hoạt động từ khi thụ lý đến khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử mà không bao gồm thời hạn từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến thời điểm mở phiên tòa Theo quan điểm tác giả thì cần hiểu thời hạn CBXXPT VADS được tính từ thời điểm Tòa án thụ lý vụ n đến điểm mở phiên tòa

1.1.3 Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

- Giúp Tòa án cấp phúc thẩm thu thập, xác minh, bổ sung thêm những chứng

cứ, tài liệu để có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vụ án Trên thực tế, vì những lý

do khách quan nên không phải lúc nào Tòa án cấp sơ thẩm cũng thu thập được đầy

đủ những tài liệu, chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết vụ án dân sự cho nên đôi khi vẫn còn sai sót trong bản án, quyết định sơ thẩm Trong quá trình CBXXPT VADS, thông thường Tòa án cấp phúc thẩm sẽ tiến hành đ nh gi c c chứng cứ, tài liệu đã có trong hồ sơ do tòa cấp sơ thẩm đã xây dựng Trong trường hợp thiếu chứng cứ, tài liệu để giải quyết vụ án thì Tòa án cấp phúc thẩm sẽ yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung hoặc tiến hành thu thập chứng cứ bổ sung theo yêu cầu của đương

sự để trên cơ sở đó x c định lại quan hệ pháp luật đang tranh chấp giữa c c đương

sự, tư c ch đương sự và làm rõ nội dung kháng cáo, kháng nghị từ đó khắc phục

Trang 19

được những sai lầm, thiếu sót có thể có trong bản án, quyết định sơ thẩm nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự

- Tạo điều kiện cho đương sự thực hiện bổ sung tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp Khi người kháng cáo thực

hiện quyền kháng cáo có thể chưa cung cấp đầy đủ ngay được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Do vậy, pháp luật tố tụng dân

sự quy định cho c c đương sự trong khoảng thời gian CBXXPT VADS để đương sự thu thập chứng cứ, tài liệu bổ sung, chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ

và hợp pháp

- Giúp Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các thủ tục tố tụng cần thiết để mở phiên tòa phúc thẩm Giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đảm bảo cho Tòa án

những điều kiện tốt nhất để mở được phiên tòa phúc thẩm thông qua các hoạt động

tố tụng như phân công Hội đồng xét xử, gửi hồ sơ cho viện kiểm sát nghiên cứu, triệu tập đương sự, gửi giấy b o cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Những người tham gia phiên tòa được Tòa án gửi thông báo lịch xét xử trong thời hạn luật định để họ có thể bố trí thời gian đến tham gia phiên tòa

1.2 Yêu cầu của chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự

Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII

đã chỉ rõ nhiệm vụ trọng tâm trong hoạt động xét xử của Tòa n: “Thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, đổi mới thủ tục gi m đốc thẩm để đảm bảo việc xét xử vừa đúng đắn, vừa nhanh chóng” như vậy mới đảm bảo c c cơ quan tư ph p là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa theo tinh thần của Nghị Quyết 49-NQ/TW ngày 02 th ng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị Ngay từ khi nhà nước ta vừa giành được độc lập, ngày 24/1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch thẩm ph n, trong đó đã ghi nhận nguyên tắc “Tòa n thực hiện hai cấp xét xử” Đến nay, nguyên tắc này vẫn còn

nguyên giá trị

Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24 th ng 05 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010,

Trang 20

định hướng đến năm 2020 có nêu: “Trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân, bảo đảm toà án xét xử độc lập, đúng ph p luật, kịp thời và nghiêm minh; phân định thẩm quyền xét xử của toà n sơ thẩm và toà án phúc thẩm phù hợp với nguyên tắc hai cấp xét xử”

Hiến ph p năm 2013 được ban hành tiếp tục khẳng định, cụ thể hóa chiến lược của Nghị quyết số 48/NQ-TW tại khoản 6 Điều 103: “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” Việc Tòa án xét xử theo hai cấp có ý nghĩa quan trọng, vừa bảo đảm cho Tòa án xét xử đúng vụ án dân sự vừa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án Vì thế, thực hiện chế độ xét xử theo hai cấp được pháp luật quy định là một nguyên tắc của luật TTDS Theo đó, Điều 17 BLTTDS quy định như sau: “1 Toà n thực hiện chế độ hai cấp xét xử Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật 2 Bản

án, quyết định của Toà n đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục gi m đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này”

Việc quy định một vụ án dân sự có thể được xét xử ở hai cấp là một đảm bảo pháp lý cần thiết cho việc xét xử của Tòa n được chính x c và đúng đắn Bởi lẽ, qua các cấp xét xử kh c nhau như vậy những vấn đề thuộc về nội dung vụ án sẽ một lần nữa được xem x t, phân tích và đ nh gi kỹ càng, đầy đủ hơn Trên cơ sở đó, các phán quyết của Tòa n đưa ra sẽ bảo đảm độ chính x c cao hơn Việc quy định

và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự tạo cơ sở pháp lý quan trọng để các chủ thể có quyền và lợi ích pháp lý liên quan thể hiện th i độ không đồng tình với việc xét xử của Tòa án bằng việc kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa n theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để vụ n được xét xử lại tại cấp phúc thẩm

Trang 21

Việc quy định một vụ án dân sự có thể được xét xử ở hai cấp xét xử cũng như quy định về việc sơ thẩm có thể bị sửa, bị hủy án, quyết định ở cấp phúc thẩm sẽ kịp thời sửa chữa những sai lầm hoặc các vi phạm pháp luật mà cấp sơ thẩm đã mắc phải, góp phần nâng cao trách nhiệm của Hội đồng xét xử sơ thẩm, giúp họ có thái

độ thận trọng và trách nhiệm hơn trước khi đưa ra những phán quyết của mình Thông qua Hội đồng xét xử phúc thẩm, Tòa án phúc thẩm kịp thời chỉ ra những sai lầm, thiếu sót mà Tòa án cấp sơ thẩm đã mắc phải, tự mình sửa chữa hoặc đề nghị Tòa n sơ thẩm sửa chữa sai lầm của mình Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Tòa

án cấp trên có điều kiện để tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và hướng dẫn kịp thời Tòa

án cấp dưới thực hiện thống nhất pháp luật nhằm nâng cao chất lượng xét xử

Ngoài ra, việc quy định và thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự góp phần rất nhiều vào việc bảo đảm công bằng xã hội, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân vào hoạt động xét xử của Tòa án, nâng cao uy tín của c c cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và Tòa án nói riêng

Thực tiễn cho thấy, để ý nghĩa của nguyên tắc Thực hiện chế độ hai cấp xét xử được đảm bảo thì giai đoạn từ thụ lý đến khi chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân

sự là cực kỳ quan trọng Bởi vì, thông qua hoạt động chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ

án dân sự, Tòa án mới có thời gian cũng như những điều kiện cần thiết để chuẩn bị cho việc xét xử phúc thẩm được tốt nhất Chỉ khi các công việc được tiến hành kỹ lưỡng thì các quyết định gồm: Tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ n; Đình chỉ xét

xử phúc thẩm vụ n; Đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, mới thật sư chính x c, hoạt động xét xử phúc thẩm mới được tiến hành thuận lợi, các phán quyết của Tòa án mới dễ dàng thi hành trên thực tiễn, tr nh trường hợp bị kháng nghị theo thủ tục

gi m đốc thẩm, tái thẩm

Xây dựng c c quy định về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự còn đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Theo đó, chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tạo điều kiện về thời gian để c c đương sự

có thể bổ sung những chứng cứ cần thiết để chứng minh cho yêu cầu, phản đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Bên cạnh đó, c c quy định về chuẩn bị xét

xử phúc thẩm vụ án dân sự sẽ góp phần đảm bảo quyền tự định đoạt của đương sự

Trang 22

vì chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự tạo điều kiện về mặt ph p lý để các đương sự đưa ra c c yêu cầu, phản đối yêu cầu, thay đổi, bổ sung yêu cầu, rút yêu cầu và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án

Khoảng thời gian của giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự được quy định tại Điều 258 Bộ luật Tố tụng dân sự và được hướng dẫn tại Điều 13 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 th ng 12 năm 2012 hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần III Bộ luật Tố tụng dân sự Đây là khoảng thời gian đủ để cho Tòa án tiếp tục thu thập chứng cứ phục vụ cho hoạt động xét xử cũng như c c đương sự cung cấp thêm chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình Điều này càng khẳng định đây là giai đoạn quan trọng có tính chất quyết định, bởi chỉ cần xuất hiện một chứng cứ có lợi, hay bất lợi thì cục diện vụ án sẽ thay đổi, có thể đảo ngược hoàn toàn so với bản n sơ thẩm Cũng trong khoảng thời gian này, các đương sự, có thể có sự hỗ trợ của các luật sư, sự phối hợp đối với Tòa án, hoàn toàn

có khả năng phân tích thiệt hơn để tiến hành hòa giải, tránh các mâu thuẫn không

đ ng có, đảm bảo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết thỏa thuận và nguyên tắc hòa giải trong hoạt động dân sự

1.3 Lƣợc sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự từ năm 1945 đến nay

Từ năm 1945 đến nay, hệ thống pháp luật TTDS Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Căn cứ vào sự phát triển của pháp luật TTDS ở các thời kỳ có thể chia sự phát triển c c quy định về CBXXPT VADS thành c c giai đoạn sau:

1.3.1 Từ năm 1945 đến năm 1960

Ngày 13/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh thành lập các TA quân

sự - cơ quan x t xử của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Để kịp thời điều chỉnh các quan hệ pháp luật nảy sinh trong xã hội, đồng thời do hoàn cảnh lịch sử lúc đó chưa có điều kiện để soạn thảo văn bản pháp luật nói chung và văn bản pháp luật TTDS nói riêng Ngày 10/10/1945, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 47/SL theo đó, tại Điều 11 quy định cho phép tạm giữ các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam Bộ nếu những luật lệ này không trái với những thay đối ấn định trong Sắc lệnh

Trang 23

Ngày 24/01/1946 Sắc lệnh số 13/SL về tổ chức cán bộ và các ngạch Thẩm phán do Chính phủ lâm thời ban hành đã có c c quy định về người tiến hành tố tụng, nghị án, tuyên án và cách thức tổ chức một phiên tòa được ban hành Đây là một trong những văn bản pháp luật đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quy định về tổ chức, thủ tục giải quyết vụ án của TA

Ngày 09/11/1946, Hiến ph p năm 1946 được Quốc hội thông qua đã định ra những nguyên tắc cơ bản nhất của việc xét xử và tiến hành phiên tòa Từ năm 1946 đến năm 1960, Nhà nước ta đã ban hành một loạt c c văn bản mới trong đó có rất nhiều văn bản liên quan đến hoạt động tố tụng CBXXPT VADS Về người có quyền kh ng c o được quy định tại Điều 24 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, Mục D Thông tư số 52/P4 ngày 18/6/1950 của Bộ Tư ph p và Thông tư số 22/HCTP ngày 18/2/1957 của Bộ Tư ph p Về việc thực hiện quyền khiếu nại được quy định tại Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946, được bổ sung tại Điều 1 Sắc lệnh

số 51/SL ngày 17/4/1946 và Thông tư số 03 của TANDTC quy định về việc chống

n sơ thẩm vắng mặt về ly hôn Tại Điều 13 Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định về phạm vi xét xử phúc thẩm Ngoài ra, pháp luật thời kỳ này còn có nhiều văn bản quy định việc kháng cáo quá hạn, nội dung đơn kh ng c o, bổ sung thay đổi và rút kháng cáo, thẩm quyền kháng nghị, nội dung quyết định kháng nghị, những hậu quả của việc rút kháng cáo, kháng nghị, thủ tục nộp đơn kh ng c o…Theo quy định tại Thông tư số 1828/VHC ngày 18/10/1955 của Bộ Tư ph p về quyền chống án và

thời hạn chống án thì “đối với án khuyết tịch (xử vắng mặt), thì bị can (về hình), bị cáo (về hộ) đều có quyền kháng án khuyết tịch trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt án khuyết tịch để Tòa án đã xét xử sơ thẩm xét xử lại cho…”

Nhìn chung, trong khoảng thời gian từ năm 1945 đến năm 1960 c c chế định

về thủ tục CBXXPT VADS bước đầu đã được ghi nhận tuy nhiên trong giai đoạn này do cả nước đang khẩn trương thực hiện cuộc kháng chiến chống Pháp nên các Tòa án chỉ tập trung xét xử các vụ án hình sự Theo quy định tại Thông tư số 12-NV-CT ngày 19/12/1946 của Bộ Tư ph p về tổ chức tư ph p trong tình hình đặc biệt thì “c c việc hộ hoặc thương mại sẽ bị đình chỉ, trừ những việc cấp tốc sẽ do

Trang 24

hội thẩm chuyên môn của Tòa án quân sự xét xử bằng mệnh lệnh” nên ph p luật tố tụng dân sự nói chung, pháp luật về CBXXPT VADS nói riêng còn sơ sài

1.3.2 Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1989

Hiến ph p năm 1959 được Quốc hội thông qua ngày 31/12/1959 Trên cơ sở Hiến ph p năm 1959 thì hai văn bản pháp luật tố tụng quan trọng được ban hành là Luật tổ chức Tòa n nhân dân (LTCTAND) năm 1960 và Luật tổ chức Viện Kiểm

s t nhân dân (LTCVKSND) năm 1960 đ nh dấu bước biến chuyển to lớn trong nền

tư ph p nước ta Trên cơ sở những văn bản pháp luật này, TANDTC, VKSNDTC

đã ban hành c c văn bản hướng dẫn về thủ tục giải quyết các tranh chấp về dân sự

và hôn nhân - gia đình nói chung cũng như các công việc trong giai đoạn CBXXPT nói riêng, cụ thể:

Công văn số 507/TC ngày 02/4/1963 của TANDTC quy định về loại việc dân sự mà Tòa án cần phải thông báo cho VKS biết khi có sự chống án

Công văn số 905/NCLP ngày 22/7/1965 của TANDTC quy định trong trường hợp cần thiết Tòa án cấp phúc thẩm có thể tiến hành điều tra bổ sung trước khi xét xử phúc thẩm

Công văn số 03/NCLP ngày 03/3/1966 của TANDTC về trình tự giải quyết việc ly hôn có hướng dẫn: nếu qua thẩm tra hồ sơ, x t có điểm chưa s ng tỏ về một vấn đề nào đó thì Tòa án cấp phúc thẩm phải đề ra biện pháp bổ sung trước khi xét

xử kể cả việc giao Tòa án điều tra bổ sung nếu xét thấy cần thiết

Ngoài ra, trong Báo cáo tổng kết ngành Tòa án năm 1971 của TANDTC hướng dẫn trước khi xét xử phúc thẩm nếu c c bên đương sự tỏ ý muốn thỏa thuận với nhau để chấm dứt tranh chấp bằng hòa giải thì Tòa án cấp phúc phúc thẩm “nếu xét thấy thỏa thuận của đương sự phù hợp với luật pháp, chính sách thì tòa phúc thẩm sẽ ra bản án phúc thẩm chấp nhận việc thỏa thuận đó và chấm dứt việc kiện tụng chứ không dùng hình thức biên bản hòa giải thành” Tại công văn số

125/NCPL ngày 12/7/1979 của TANDTC quy định: “trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa xét xử phúc thẩm nếu có việc rút kháng cáo hoặc rút kháng nghị thì đều do một hội đồng gồm ba thẩm phán xét có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận” và theo Bản hướng dẫn gửi kèm công văn số 442/NCPL ngày 04/6/1979 của

Trang 25

TANDTC thì: “Nếu bản án sơ thẩm có sai lầm thì sẽ bác rút kháng cáo của đương

sự hoặc rút kháng nghị của viện kiểm sát để xét xử phúc thẩm ngay với bản án sơ thẩm đó” Có thể thấy rằng quy định tại Bản hướng dẫn kèm theo Công văn số

442/NCPL tiến bộ hơn quy định tại Công văn số 125/NCPL bởi vì khi đương sự tự nguyện rút kháng cáo, viện kiểm sát rút kháng nghị thì trong phạm vi quyền hạn của mình, Tòa án cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận việc rút kháng cáo, kháng nghị đó chứ không vì xét thấy bản án cấp sơ thẩm có sai lầm mà Tòa án cấp phúc thẩm lại bác việc rút kháng cáo, kháng nghị vì như vậy vô hình chung đã vi phạm nguyên tắc tôn trọng quyền tự do định đoạt của đương sự Thay vào đó, nếu xét thấy bản n sơ thẩm có sai lầm, Tòa án cấp phúc thẩm có quyền kháng nghị theo trình tự gi m đốc thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự đồng thời vẫn bảo đảm được pháp chế xã hội chủ nghĩa

Tóm lại, các quy định về CBXXPT VADS trong pháp luật TTDS ở giai đoạn này mặc dù còn sơ sài nhưng cũng đã có những tiến bộ nhất định, tuy nhiên chủ yếu vẫn là c c văn bản pháp luật do TANDTC ban hành chứ chưa được quy định trong một văn bản tố tụng dân sự có hiệu lực cao nên hiệu quả thực hiện còn hạn chế [18, tr.16]

1.3.3 Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004

Cùng với sự chuyển mình về kinh tế, xã hội của đất nước, trên tinh thần Nghị quyết của Đại hội Đảng VI là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật, bảo

vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Trước yêu cầu của tình hình thực tế, ngày 22/11/1989 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (PLTTGQCVADS) đã được Hội đồng nhà nước thông qua và bắt đầu có hiệu lực từ 01/01/1990 Tiếp đó nhà nước ta tiếp tục ban hành các pháp lệnh như: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các

vụ án kinh tế (PLTTGQCVAKT) ngày 16/3/1994, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (PLTTGQCTCLĐ) ngày 11/4/1996 Đây là những văn bản pháp luật TTDS có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết các VADS trong thời

kỳ này, đ nh dấu bước tiến mới trong quá trình phát triển pháp luật TTDS nói chung và pháp luật về CBXXPT VADS nói riêng Theo ba pháp lệnh này, CBXXPT VADS được tập hợp một cách tập trung hơn bao gồm c c quy định về

Trang 26

điều kiện kháng cáo, kháng nghị; thời hạn xét xử phúc thẩm; quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, hòa giải…

Cả ba pháp lệnh này đều giành riêng một chương để quy định thủ tục phúc thẩm: thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự được quy định tại Chương XI PLTTGQCVADS; thủ tục phúc thẩm vụ án kinh tế được quy định tại Chương X PLTTGQCVAKT; thủ tục phúc thẩm các tranh chấp lao động được quy định tại Chương X PLTTGQCTCLĐ

Ngoài ra, nhà nước ra đã ban hành c c văn bản hướng dẫn thi hành các pháp lệnh trên như: Thông tư liên ngành số 09/TTLN ngày 01/10/1990 của TANDTC, VKSNDTC và Bộ Tư ph p hướng dẫn thi hành một số quy định của PLTTGQCVADS; Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành PLTTGQCVADS; Công văn số 310/NCPL ngày 24/12/1990 của TANDTC giải thích một số vấn đề về tố tụng dân sự đã đ nh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Tuy nhiên, c c quy định về pháp luật tố tụng dân sự nói chung và CBXXPT VADS nói riêng “vẫn còn tản mạn như

c c giai đoạn trước Đặc biệt, với sự ra đời của PLTTGQCVAKT, PLTTGQCTCLĐ đã dẫn đến c c quy định về tố tụng dân sự bị xé lẻ, thiếu tập trung, chồng chéo và mâu thuẫn.” [39, tr.25]

1.3.4 Giai đoạn từ 2004 đến nay

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các yêu cầu, tranh chấp về dân sự trong giai đoạn này ngày càng tăng nhanh cả về số lượng và mức độ phức tạp, nhiều tranh chấp mới phát sinh mà quy định pháp luật chưa kịp điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tế Các Pháp lệnh mới chỉ quy định những nguyên tắc chung, những trình tự, thủ tục cơ bản của TTDS, còn thiếu nhiều quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật TTDS cũng như thiếu c c quy định cụ thể về trình

tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự tại TAND Mặt khác, nhiều quy định của các Pháp lệnh này không còn phù hợp, thiếu đồng bộ với c c văn bản quy phạm pháp luật kh c như BLDS năm 1995, BLLĐ năm 1994… Do đó, một yêu cầu tất yếu đặt ra là cần có một văn bản ph p lý cao hơn và thống nhất hơn

Trang 27

Trước tình hình này, ngày 15/6/2004, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 5 đã thông qua BLTTDS, và bắt đầu có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2005 Trong BLTTDS năm 2004, CBXXPT VADS được quy định tại Chương XVI từ Điều 257 đến Điều 262 Nhằm cụ thể hóa các quy định trong bộ luật, TANDTC đã ban hành một loạt c c văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành trong giai đoạn này như: Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày

27/4/2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định về “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời”; Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ngày 17/9/2005 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 05/2006/NQ-HĐTP ngày 04 th ng 8 năm 2006 của HĐTP TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ 3 “Thủ tục giải quyết

số 04/2012/NQ-HĐTP ngày 03 th ng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn thi hành một số quy định về “chứng minh và chứng cứ”; Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03 th ng 12 năm 2012 của HĐTP TANDTC Hướng dẫn

thi hành một số quy định trong Phần thứ 3 “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm”…

Trang 28

Nhìn chung với việc sửa đổi bổ sung này các quy định về TTDS nói chung

và CBXXPT VADS nói riêng đã có nhiều thay đổi theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch Đương sự đóng vai trò chủ động trong việc tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án

Trang 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua việc nghiên cứu một số vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ

án dân sự có thể rút ra một số kết luận sau:

1 Phúc thẩm VADS là cấp xét xử thứ hai để giải quyết một VADS tại TA

Để đảm bảo hoạt động xét xử phúc thẩm được tiến hành thuận lợi, trước khi tiến hành xét xử phúc thẩm TA phải tiến hành việc CBXXPT VADS CBXXPT VADS

là hoạt động tố tụng do TA cấp phúc thẩm tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử lại bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị

2 CBXXPT VADS có đặc điểm như: CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng

dân sự được bắt đầu từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý và kết thúc khi Tòa án phúc thẩm mở phiên tòa phúc thẩm; CBXXPT VADS là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do Tòa án tiến hành trên cơ sở c c quy định của pháp luật; CBXXPT VADS sự tập trung vào việc giải quyết yêu cầu của kháng cáo, kháng nghị; trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm vụ án dân sự, Tòa án không phải tiến hành hòa giải vụ án dân sự; CBXXPT VADS có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác

3 Với mục đích chuẩn bị c c điều kiện cần thiết cho việc xét xử phúc thẩm

VADS, CBXXPT có ý nghĩa lớn trong việc giúp TA cấp phúc thẩm có đủ chứng cứ,

tài liệu, nhận thức đúng và kh ch quan về tình tiết của vụ án từ đó giải quyết vụ án chính x c, đúng ph p luật, tạo điều kiện cho c c bên đương sự cung cấp bổ sung chứng cứ để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp hoặc phản bác yêu cầu của phía bên kia Bên cạnh đó, CBXXPT VADS giúp TA tiến hành các công việc cần thiết để chuẩn bị cho phiên tòa phúc thẩm

4 CBXXPT đã được quy định trong c c văn bản pháp luật từ sau khi Cách

mạng Tháng Tám thành công Trong suốt thời kỳ từ năm 1945 đến năm 2004, mặc

dù c c quy định pháp luật về CBXXPT đã ngày càng được bổ sung, sửa đổi góp phần không nhỏ trong quá trình giải quyết c c VADS Đặc biệt, khi BLTTDS 2004

ra đời và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2011, c c quy định

về CBXXPT VADS đã được hoàn thiện tương đối đầy đủ làm cơ sở cho việc giải quyết các VADS có hiệu quả Đây cũng là cơ sở thực tiễn cho việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về CBXXPT VADS

Trang 30

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ 2.1 Thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm

Để công việc CBXX giải quyết vụ việc dân sự hay CBXXPT VADS thì thời hạn để giải quyết là vô cùng quan trọng nhằm bảo đảm quỹ thời gian cần thiết để có thể thực hiện những công việc nhất định Việc quy định thời hạn CBXXPT VADS nhằm đảm bảo cho TA tiến hành các công việc cần thiết giải quyết vụ án trong khoảng thời gian nhanh chóng, tránh sự ỷ lại của đương sự ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án dân sự

Theo quy định tại khoản 1 Điều 258 BLTDS, trong thời hạn hai tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, tùy từng trường hợp, Tòa án cấp phúc thẩm ra một trong các quyết định sau đây:

“Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của c c cơ quan chuyên môn hoặc cần phải gi m định kỹ thuật phức tạp; những vụ n mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ th c tư ph p cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở

Trang 31

nước ngoài, cho Toà n nước ngoài,… Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của c c cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả gi m định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ th c tư ph p mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì Thẩm ph n căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự

“Trở ngại kh ch quan” là những trở ngại do hoàn cảnh kh ch quan t c động như: thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu,…làm cho Toà n không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định

Đối với những vụ n đơn giản, các tình tiết, sự kiện có liên quan đã được làm

rõ, đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền tố tụng của mình thì Thẩm ph n được phân công giải quyết vụ án có thể sớm ra các quyết định tương ứng để rút ngắn quá trình giải quyết vụ n Đối với những vụ án TA phải ra quyết định tạm đình chỉ thì thời hạn CBXX tạm ngừng vào ngày ra quyết định tạm đình chỉ vụ án Thời hạn CBXX được bắt đầu lại kể từ ngày TA tiếp tục giải quyết vụ án khi lý do tạm đình chỉ không còn nữa

Theo quy định tại khoản 2 Điều 258 BLTTDS quy định: “Trong thời hạn một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA phải mở phiên tòa phúc thẩm; trong trường hợp có lý do chính đ ng thì thời hạn này là hai th ng”

Để hướng dẫn quy định trên, theo khoản 3 Điều 14 Nghị quyết số

05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của HĐTP TANDTC thì: “Lý do chính đáng”

quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTDS được hiểu là các sự kiện xảy ra một

c ch kh ch quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm ph n để tiến hành xét xử vụ n đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp

trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà n kh c đến,… nên cản trở

Toà án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định

Quy định của BLTTDS về gia hạn thời hạn CBXXPT và c c quy định về lý

do được gia hạn thời hạn CBXXPT trong Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP có ý

Trang 32

nghĩa rất lớn cho Tòa án cấp phúc thẩm trong việc chuẩn bị xét xử phúc thẩm, tránh được trường hợp vi phạm pháp luật về thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm nhất là trong tình hình kinh tế thị trường hiện nay, số lượng các vụ án dân sự ngày càng nhiều, tính chất của tranh chấp ngày càng gay gắt, phức tạp…đòi hỏi nhiều thời gian để nghiên cứu hồ sơ, phối hợp với c c cơ quan, tổ chức trong việc thu thập, xác minh chứng cứ

Theo Điều 179 BLTTDS thì thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được quy định dài hơn thời hạn của CBXXPT VADS Có thể thấy rằng quy định thời hạn CBXXST dài hơn so với thời hạn CBXXPT VADS là hoàn toàn hợp lý bởi xét xử sơ thẩm là cấp xét xử đầu tiên đòi hỏi cần nhiều thời gian hơn để nghiên cứu toàn bộ hồ sơ Còn phúc thẩm là cấp xét xử thứ hai chỉ xét xử lại những phần bản

án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị chứ không phải xét xử lại toàn bộ vụ n, trường hợp toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm

bị kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cũng đã có cơ sở là hồ sơ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xây dựng trước đó

2.2 Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam quy định nguyên tắc hai cấp xét xử đã “thể hiện tính dân chủ trong hoạt động tố tụng, bảo đảm cho c c đương sự bảo vệ quyền của mình khi bị xâm phạm” [6, tr.242] Theo đó, đương sự có quyền kháng cáo, viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật Tòa án cấp phúc thẩm, xem xét chấp nhận đơn kh ng c o, quyết định kháng nghị và vào sổ thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự Từ đó tạo cơ sở ph p lý để Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành các hoạt động tố tụng khác nhằm giải quyết vụ án dân sự

Thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự là công việc đầu tiên mà Tòa án cấp phúc thẩm cần tiến hành thực hiện trong hoạt động phúc thẩm vụ án dân sự Hoạt động thụ lý phúc thẩm vụ án dân sự gồm những công việc cụ thể như: nhận đơn, hồ sơ vụ

án, tài liệu, chứng cứ kèm theo; kiểm tra tính hợp pháp của kháng cáo, kháng nghị (khoản 1 Điều 257 BLTTDS); vào sổ thụ lý phúc thẩm

Cũng giống như trong giai đoạn CBXXPT, thụ lý VADS ở giai đoạn CBXXST VADS cũng là hoạt động tố tụng đầu tiên, tạo tiền đề và cơ sở để tiến hành

Trang 33

các hoạt động tố tụng khác Với bản chất là cấp xét xử đầu tiên, tòa án cấp sơ thẩm cần xem xét giải quyết tất cả các yêu cầu của c c đương sự do đó trong trường hợp có nhiều bị đơn có yêu cầu phản tố hoặc có nhiều người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

có yêu cầu độc lập, thì ngày thụ lý vụ n được x c định là ngày Toà án nhận được đơn về yêu cầu phản tố hoặc đơn về yêu cầu độc lập cuối cùng, nếu họ đều thuộc trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí, án phí; hoặc là ngày người nộp cuối cùng cho Toà án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí, nếu họ thuộc trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí (khoản 2 Điều 13 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP) Do đó, thời điểm thụ lý để tính thời hạn CBXXST có thể bị kéo dài, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của đương sự Với bản chất là cấp xét xử thứ hai - xét xử lại theo yêu cầu nên khi nhận được hồ sơ vụ án kèm kháng cáo hoặc kháng nghị mà tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên tòa án cấp phúc thẩm tiến phải tiến hành thụ lý ngay như vậy mới đảm bảo xét xử vừa nhanh chóng, vừa đúng đắn

2.2.1 Nhận hồ sơ vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 245 và Điều 252 BLTTDS thì thời hạn kháng cáo của đương sự đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng c o được tình từ ngày bản n được giao cho họ hoặc được niêm yết Thời hạn kh ng c o đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể

từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên n Trường hợp viện kiểm sát không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án Thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp

sơ thẩm là bảy ngày, của viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là mười ngày kể từ ngày viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định

Theo quy định tại Điều 4 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/20012 của HĐTP TANDTC thì thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản n sơ thẩm là ngày tiếp theo của “ngày được x c định” (ngày tuyên

Trang 34

n đối với trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa sơ thẩm, viện kiểm sát có tham gia phiên tòa sơ thẩm; ngày bản n sơ thẩm được giao hoặc niêm yết khi đương sự không có mặt tại phiên tòa sơ thẩm; ngày bản n sơ thẩm được giao cho viện kiểm sát cùng cấp khi viện kiểm sát cùng cấp không tham gia phiên tòa) Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ n được ban hành tại phiên tòa sơ thẩm và Hội đồng xét xử giao ngay quyết định này cùng ngày cho đương sự có mặt tại phiên tòa; đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa (nếu có) thì thời điểm bắt đầu thời hạn kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của ngày ban hành quyết định

đó Trường hợp quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ n được ban hành trước khi mở phiên toà sơ thẩm hoặc tại phiên toà sơ thẩm mà đương sự vắng mặt, thì ngày được x c định đối với đương sự là ngày quyết định đó được giao hoặc được niêm yết; đối với Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên trực tiếp là ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định đó

Thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị là ngày cuối cùng của thời hạn Trong trường hợp ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kháng cáo kháng nghị kết thúc vào hai mươi tư giờ của ngày làm việc đầu tiên tiếp theo ngày nghỉ đó

Từ những phân tích trên có thể thấy rằng quy định trong Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/20012 của HĐTP TANDTC tiến bộ hơn rất nhiều

so với c c quy định trước đây vì đã quy định thống nhất thời điểm bắt đầu kháng cáo, kháng nghị là ngày tiếp theo của “ngày được x c định” chứ không còn tách riêng thời hạn kháng cáo, kháng nghị

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ quy định tại Điều 246 và Điều 255 BLTTDS có trách nhiệm kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị sau đó hướng dẫn đương sự nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định tại Điều 248 BLTTDS Chỉ khi kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, kháng nghị và đương sự đã nộp tạm ứng án phí theo quy định thì Tòa án cấp sơ thẩm mới chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp phúc thẩm

Trên thực tế, có những vụ n chưa hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm đã chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm Tuy nhiên cũng có

Trang 35

những trường hợp hồ sơ đã qu thời hạn kháng cáo, kháng nghị mới được Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên để Tòa án cấp phúc thẩm xem xét Việc này dẫn đến hậu quả xét xử phúc thẩm chậm, ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự

Sau khi nhận được hồ sơ Tòa án cấp phúc thẩm phải kiểm tra xem hồ sơ có

đủ các tài liệu theo quy định hay không như: đơn khởi kiện, đơn kh ng c o hoặc quyết định kháng nghị, bản án hoặc quyết định sơ thẩm, biên bản nghị án, biên bản phiên tòa; biên bản tống đạt bản án, quyết định cho c c đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm; thông báo kháng cáo, kháng nghị để c c đương sự khác có quyền nộp ý kiến phản hồi về việc kháng cáo, kháng nghị; biên lai thu tiền tạm ứng án phí Trong trường hợp thiếu một trong các tài liệu quan trọng kể trên, Tòa án cấp phúc thẩm trả lại hồ sơ để Tòa án cấp sơ thẩm bổ sung Nếu hồ sơ đã đầy đủ, Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành nhận hồ sơ và tiếp tục triển khai các thủ tục tiếp theo để mở phiên tòa phúc thẩm

2.2.2 Kiểm tra kháng cáo, kháng nghị

Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ c c quy định của pháp luật đối chiếu với hồ sơ

mà Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên từ đó x c định có thụ lý phúc thẩm được hay không, cụ thể phải làm rõ c c điều kiện sau:

 Kiểm tra đối tƣợng của kháng cáo, kháng nghị

Theo quy định tại Điều 242 BLTTDS thì đối tượng được xem xét theo thủ tục phúc thẩm là các bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà có kháng cáo, kháng nghị Mặt kh c theo quy định tại Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP thì quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết sơ thẩm cũng được coi là đối tượng để c c đương sự kháng cáo, viện kiểm sát kháng nghị yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm Việc pháp luật tố tụng dân sự không quy định quyết định áp dụng BPKCTT là đối tượng của kháng cáo, kháng nghị là rất khoa học bởi “nó không phải là quyết định cuối cùng về giải quyết vụ việc dân sự Nó chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định Sau khi

ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nếu lý do của việc áp dụng không còn nữa thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định này ngay trong quá trình chuẩn

bị xét xử, hoặc khi Tòa án ra quyết định cuối cùng sẽ phải có phán quyết về biện

Trang 36

pháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án áp dụng” [38 Tr3] Như vậy, Tòa án cấp phúc thẩm cần kiểm tra xem việc kháng cáo, kháng nghị có đúng đối tượng như đã phân tích ở trên không để thụ lý xét xử phúc thẩm

 Kiểm tra điều kiện về đơn kháng cáo

Điều 244 BLTTDS đã quy định rất rõ về nội dung đơn kh ng c o, do đó khi nhận được đơn kh ng c o trong hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm chuyển lên, Tòa án cấp phúc thẩm cần phải kiểm tra xem nội dung đơn có đúng quy định không

+ Thứ nhất: ngày, tháng, năm kháng cáo

Theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP thì ngày kh ng c o được tính như sau: trong trường hợp người kháng cáo trực tiếp nộp đơn kh ng c o tại Toà án cấp sơ thẩm, thì ngày kh ng c o được x c định là ngày nộp đơn kh ng

c o; đối với trường hợp người kháng cáo gửi đơn kh ng c o đến Toà án cấp sơ thẩm qua bưu điện thì ngày kh ng c o được x c định là ngày có dấu bưu điện nơi gửi đơn Trường hợp không có hoặc không x c định được ngày, th ng, năm theo dấu bưu điện nơi gửi trên phong bì, thì ngày kh ng c o được x c định là ngày Toà

án nhận được đơn Trong trường hợp người kháng cáo trực tiếp nộp đơn kh ng c o tại Tòa án cấp phúc thẩm hoặc gửi đơn kh ng c o đến Tòa án cấp phúc thẩm thông qua đường bưu điện thì Tòa án cấp phúc thẩm cũng phải vào sổ nhận đơn kh ng cáo

để theo dõi; ghi ngày, th ng, năm nhận đơn kh ng c o theo hướng dẫn tại điểm b

khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 06/2012/NQ-HĐTP Đồng thời, Tòa án cấp phúc thẩm

phải chuyển ngay đơn kh ng c o và c c tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có) cho Tòa án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kh ng c o để Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các thủ tục cần thiết lập hồ sơ kh ng c o

Pháp luật đã quy định tương đối đầy đủ và rất cụ thể việc x c định ngày kháng cáo từ đó giúp Tòa án cấp phúc thẩm kiểm tra việc kháng cáo trong hạn hay quá hạn luật định từ đó có c ch xử lý kháng cáo phù hợp

+ Thứ hai: Tên, địa chỉ của người kháng cáo

Theo quy định tại Điều 243 BLTTDS thì người kháng cáo bao gồm đương

sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện Pháp luật tố tụng dân

sự đã quy định rất rõ ràng khái niệm đương sự tại Điều 56 BLTTDS và Điều 2 Nghị

Trang 37

quyết số 06/2012/NQ-HĐTP; người đại diện của đương sự quy định tại điều 73 BLTTDS; cơ quan, tổ chức khởi kiện tại khoản 1 và khoản 2 Điều 162 BLTDS Như vậy khi các chủ thể theo quy định tại Điều 243 thực hiện quyền kháng cáo có nghĩa vụ cung cấp rõ họ tên, địa chỉ để trong qu trình điều tra Tòa án có thể cần

x c minh điều tra xem có thuộc đối tượng được quyền kháng cáo hay không

+ Thứ ba: nội dung đơn kháng cáo

Tòa án kiểm tra nội dung đơn kh ng c o nhằm x c định xem đương sự kháng cáo phần nào của bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp lý;

lý do của việc kháng cáo, yêu cầu của việc kh ng c o Đồng thời tổng hợp những nội dung kháng cáo chưa rõ ràng, chưa đầy đủ để yêu cầu người kháng cáo sửa chữa, bổ sung nhằm bảo đảm cho đương sự thực hiện hiệu quả quyền tự bảo vệ của mình

+ Thứ tư: chữ ký hoặc điểm chỉ của người kháng cáo

Việc kiểm tra chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm kháng cáo nhằm mục đích

x c định người làm đơn kh ng c o có quyền kh ng c o theo quy định không, kháng cáo có hợp lệ không

+ Thứ năm: các chứng cứ, tài liệu gửi kèm đơn kháng cáo

Để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình là hợp ph p là có căn cứ đương sự có thể gửi kèm theo đơn kh ng c o c c tài liệu, chứng cứ Tòa án xem xét các tài liệu chứng cứ mà đương sự bổ sung kèm theo đơn kh ng c o vào hồ sơ vụ án

 Kiểm tra quyết định kháng nghị của viện kiểm sát

Nếu như trước đây, PLGQCVADS không quy định việc kháng nghị phải gửi bằng văn bản, nội dung của kháng nghị, việc gửi kháng nghị và các tài liệu, chứng

cư bổ sung cho Tòa án cấp sơ thẩm thì pháp luật tố tụng hiện nay, mà cụ thể là tại Điều 251 BLTTDS đã quy định về nội dung quyết định kháng nghị Do đó, trong quá trình thụ lý, Tòa án cấp phúc thẩm kiểm tra quyết định kháng nghị của đại diện viện kiểm sát phải đảm bảo những nội dung sau: ngày, th ng, năm ra quyết định; số của quyết định; tên của viện kiểm sát ra quyết định; nội dung, lý do kháng nghị; họ tên người ký quyết định Nếu quyết định kháng nghị không có đầy đủ các nội dung trên thì Tòa án cấp phúc thẩm có quyền yêu cầu sửa chữa, bổ sung

Trang 38

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 264 BLTTDS thì viện kiểm sát bắt buộc phải tham gia phiên tòa phúc thẩm nên Tòa án có thời hạn 10 ngày kể từ ngày tuyên

n để gửi bản án cho viện kiểm sát cùng cấp (khoản 2 Điều 241 BLTTDS) mặt khác Điều 252 BLTTDS đã quy định rất cụ thể về thời hạn kháng nghị của viện kiểm sát Tuy nhiên, vì những lý do kh ch quan cũng như chủ quan nên Tòa án thường chuyển bản án cho viện kiểm sát vào ngày cuối cùng của thời hạn này Như vậy, thực chất thời gian kháng nghị của viện kiểm s t theo quy định tại điều 252 BLTTDS đã bị mất đi 10 ngày Từ những phân tích trên có thể thấy rằng việc pháp luật tố tụng dân sự không quy định về kháng nghị quá hạn gây bất lợi cho hoạt động kháng nghị của viện kiểm s t Do đó, pháp luật cần quy định về kháng nghị quá hạn của viện kiểm sát nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của viện kiểm sát trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của c c đương sự

 Kiểm tra về việc thông báo kháng cáo, kháng nghị của của Tòa án cấp

sơ thẩm

Theo quy định tại Điều 249 và 253 BLTTDS thì ngay sau khi chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo; Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị Việc pháp luật quy định phải có thông báo kháng cáo, kháng nghị để cho những người được thông báo biết về việc kháng cáo của c c đương sự khác hoặc kháng nghị của viện kiểm sát để họ chủ động hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như có quyền gửi những văn bản nêu ý kiến của mình về nội dung kháng cáo, kháng nghị cho Tòa án cấp phúc thẩm nhằm làm sáng tỏ vụ án Vì vậy, trong quá trình thụ lý, Tòa án cấp phúc thẩm phải kiểm tra trong hồ sơ vụ án có thông báo kháng cáo, kháng nghị hay chưa, nếu không có thông báo này thì trả lại hồ sơ để Tòa án cấp sơ thẩm bổ sung Trường hợp đương sự nộp văn bản nêu ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp phúc thẩm phải đưa vào trong hồ sơ vụ n để xem xét trong quá trình xét xử phúc thẩm

Trang 39

 Trường hợp kháng cáo quá hạn

Theo quy định tại Điều 247 BLTTDS thì kháng cáo quá hạn là kháng cáo quá thời hạn quy định tại Điều 245 BLTTDS Ngoài ra, trường hợp kh ng c o được làm trong thời hạn luật định những việc nộp tiền tạm ứng án phí chậm thì vẫn bị coi

là kháng cáo quá hạn Trường hợp kháng cáo quá hạn, Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu người kháng cáo trình bầy rõ lý do và xuất trình tài liệu, chứng cử về việc nộp đơn kháng cáo hoặc tiền tạm ứng án phí chậm, sau đó đưa bản tường trình cùng tài liệu chứng cứ kèm theo vào hồ sơ rồi chuyển cho Tòa án cấp phúc thẩm xem xét quyết định có chấp nhận kháng cáo quá hạn hay không

Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP thì sau khi Tòa án cấp phúc thẩm nhận được đơn kh ng c o, bản tường trình lý do kháng cáo quá hạn, tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án cấp sơ thẩm gửi lên, trong thời hạn mười ngày phải thành lập hội đồng gồm ba thẩm ph n để xem xét kháng cáo quá hạn Trong trường hợp cần thiết hội đồng xem x t đơn kh ng c o qu hạn có quyền triệu tập người kháng cáo quá hạn đến phiên họp trình bày bổ sung về lý do kháng cáo quá hạn hoặc yêu cầu họ cung cấp tài liệu, giấy tờ bổ sung chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn của mình là có lý do chính đ ng Đại diện viện kiểm sát cùng cấp tham gia phiên họp xét lý do kháng cáo quá hạn đối với c c trường hợp viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa phúc thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 264 BLTTDS

Theo khoản 1 Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP quy định “lý do chính

đ ng” là “trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại kh ch quan kh c (như: do thiên tai,

lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện…) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định” [11, tr.8]

Hội đồng xét kháng cáo quá hạn có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo quá hạn và phải ghi rõ lý do của việc chấp nhận hoặc không chấp nhận vào quyết định Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi quyết định về việc chấp nhận hay không chấp nhận kháng cáo quá hạn cho người kháng cáo quá hạn và Tòa án cấp sơ thẩm Trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo quá hạn thì Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo về việc kháng cáo và gửi hồ sơ về Tòa án cấp phúc thẩm

Ngày đăng: 24/03/2018, 22:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN