1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BTL luật lao động 9 điểm

11 380 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 19,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tháng 72010, ông Phạm Hồng A và công ty cổ phần hàng không Airway tiến hành giao kết HĐLĐ 01 năm (772010 – 672011), công việc là phi công lái máy bay ATR72, mức lương 75 triệu đồngtháng. Sau đó, các bên tiến hành giao kết các HĐLĐ như sau: Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 08072012 đến ngày 07072013. Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 08072013 đến ngày 07072016. Hết thời hạn của hợp đồng này, công ty và anh A ký kết văn bản thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động thêm 24 tháng từ ngày 872016 đến 772018. Ngày 05012016, công ty Airway và A ký hợp đồng đào tạo. Theo đó, A được cử đi tham gia khóa đào tạo chuyển loại lái máy bay A320 trong thời gian 4 tháng từ tháng 12016 – 52016. Trong thời gian đào tạo, công ty vẫn trả lương đầy đủ cho A. A cam kết làm việc cho công ty Airway trong thời hạn 03 năm kể từ sau khi đào tạo xong, nếu A chấm dứt trước thời hạn thì A sẽ phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo là 23.950 USD. Sau khi hoàn thành khóa học, A trở lại làm việc cho công ty Airway. Tuy nhiên, ngày 2052017, A gửi văn bản thông báo chấm dứt HĐLĐ vào ngày 972017. Công ty yêu cầu A phải hoàn trả chi phí đào tạo theo đúng như đã thỏa thuận nhưng A không đồng ý vì cho rằng mình chấm dứt HĐLĐ đúng luật thì không có nghĩa vụ phải hoàn trả chi phí đào tạo. Hỏi: 1. Nhận xét về việc giao kết HĐLĐ giữa A và công ty Airway? 2. Việc chấm dứt HĐLĐ của A có hợp pháp không? Tại sao? 3. A có phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty không? Vì sao? 4. Công ty Airway có thể gửi đơn đến những chủ thể nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp?

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tháng 7/2010, ông Phạm Hồng A và công ty cổ phần hàng không Airway tiến hành giao kết HĐLĐ 01 năm (7/7/2010 – 6/7/2011), công việc là phi công lái máy bay ATR-72, mức lương 75 triệu đồng/tháng Sau đó, các bên tiến hành giao kết các HĐLĐ như sau:

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 08/07/2012 đến ngày 07/07/2013

- Hợp đồng lao động xác định thời hạn từ ngày 08/07/2013 đến ngày 07/07/2016

Hết thời hạn của hợp đồng này, công ty và anh A ký kết văn bản thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động thêm 24 tháng từ ngày 8/7/2016 đến 7/7/2018

Ngày 05/01/2016, công ty Airway và A ký hợp đồng đào tạo Theo đó, A được cử đi tham gia khóa đào tạo chuyển loại lái máy bay A320 trong thời gian 4 tháng từ tháng 1/2016 – 5/2016 Trong thời gian đào tạo, công ty vẫn trả lương đầy đủ cho A A cam kết làm việc cho công ty Airway trong thời hạn 03 năm kể

từ sau khi đào tạo xong, nếu A chấm dứt trước thời hạn thì A sẽ phải hoàn trả toàn bộ chi phí đào tạo là 23.950 USD

Sau khi hoàn thành khóa học, A trở lại làm việc cho công ty Airway Tuy nhiên, ngày 20/5/2017, A gửi văn bản thông báo chấm dứt HĐLĐ vào ngày 9/7/2017

Trang 2

Công ty yêu cầu A phải hoàn trả chi phí đào tạo theo đúng như

đã thỏa thuận nhưng A không đồng ý vì cho rằng mình chấm dứt HĐLĐ đúng luật thì không có nghĩa vụ phải hoàn trả chi phí đào tạo Hỏi:

1 Nhận xét về việc giao kết HĐLĐ giữa A và công ty Airway?

2 Việc chấm dứt HĐLĐ của A có hợp pháp không? Tại sao?

3 A có phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty không? Vì sao?

4 Công ty Airway có thể gửi đơn đến những chủ thể nào để yêu cầu giải quyết tranh chấp?

NỘI DUNG

Câu 1:

Trong trường hợp trên, A và công ty Airway đã ký kết tổng cộng

là 4 HĐLĐ, bao gồm HĐLĐ thứ nhất (7/7/2010 – 6/7/2011),HĐLĐ thứ hai (08/07/2012 – 07/07/2013), HĐLĐ thứ

ba (08/07/2013 – 07/07/2016), HĐLĐ thứ tư (08/07/2013 – 07/07/2016) hay việc A và công ty kí kết văn bản thỏa thuận gia hạn HĐLĐ thứ ba thêm 24 tháng Thời gian HĐLĐ thứ nhất được thực hiện là vào năm 2010 và năm 2011 do đó sẽ áp dụng các quy định của BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002) để xem xét tính hợp pháp của HĐLĐ này Còn từ HĐLĐ thứ hai đến HĐLĐ thứ tư sẽ áp dụng các quy định của BLLĐ hiện hành là BLLĐ 2012

Trang 3

• Xét HĐLĐ thứ nhất:

Theo khoản 1 điều 27 BLLĐ 1994 (sửa đổi, bổ sung năm 2002):

“1 Hợp đồng lao động phải được giao kết theo một trong các loại sau đây:

a) Hợp đồng lao động không xác định thời hạn

Hợp đồng lao động không xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên không xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng;

b) Hợp đồng lao động xác định thời hạn

Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng;

c) Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng

2 Khi hợp đồng lao động quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới, hợp đồng đã giao kết trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm một thời hạn, sau đó nếu người lao động

Trang 4

vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.”

Căn cứ theo quy định trên, NLĐ và NSDLĐ chỉ được kí tối đa 2 lần đối với HĐLĐ xác đinh thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng Ở đây, HĐLĐ thứ nhất được xác định là hợp đồng lao động xác định thời hạn vì hợp đồng này được A và công ty Airway xác định thời hạn 1 năm, cụ thể là từ ngày 7/7/2010 đến ngày 6/7/2011 Thời điểm chấm dứt của hợp đồng này là đủ 12 tháng và đây là lần kí HĐLĐ thứ nhất của A với công ty Airway Như vậy, HĐLĐ thứ nhất là hợp pháp

• Xét các HĐLĐ còn lại :

Khoản 1, khoản 2 điều 22 Bộ Luật lao động năm 2012 cũng có các quy định tương tự như khoản 1, khoản 2 điều 27 Bộ Luật lao động 1994 (sửa đổi, bổ sung 2002) nêu trên Theo đó, nếu sau khi HĐLĐ xác định thời hạn hết hạn mà NLĐtiếp tục làm việc trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày HĐLĐ có thời hạn thứ nhất hết hạn, thì phải ký HĐLĐ mới.HĐLĐ này có thể là HĐLĐ xác định thời hạn nhưng hai bên cũng chỉ được kí thêm 1 lần, sau đó nếu NLĐ tiếp tục làm việc thì phải ký kết HĐLĐ không xác định thời hạn.Sau 30 ngày, hai bên không ký kết HĐLĐ mới mà NLĐ vẫn tiếp tục làm việc thì HĐLĐ xác định thời hạn trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn.Do trong đề bài không nêu rõ sau khi kết thúc hợp đồng thứ nhất vào ngày 06/07/2011,

A có tiếp tục làm việc cho công ty Airway trong thời hạn 30 ngày hay không, nên có thể phát sinh 2 trường hợp sau:

Trang 5

Trường hợp 1: Sau ngày 06/07/2011, A vẫn tiếp tục làm việc cho công ty Airway trong vòng 30 ngày Khi đó, A và công ty Airway phải tiếp tục kí kết hợp đồng lao động mới trong vòng

30 ngày mà A tiếp tục làm việc sau khi kết thúc hợp đồng thứ nhất vào ngày 06/07/2011 Trong tình huống có nêu A và công

ty kí đã HĐLĐ thứ hai là HĐLĐ xác định thời hạn 1 năm bắt đầu từ ngày 8/7/2012 và chấm dứt vào ngày 7/7/2013, tức là công ty không kí HĐLĐ thứ hai trong vòng 30 ngày sau khi HĐLĐ thứ nhất kết thúc Vì vậy, HĐLĐ thứ nhất trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn và HĐLĐ thứ hai, thứ ba và thứ

tư mà A kí kết với công ty Airway là thừa cũng như không cần thiết

Trường hợp 2: Sau ngày 06/07/2011, A không tiếp tục làm việc cho công ty Airway Theo khoản 1 điều 36 BLLĐ 1994, HĐLĐ chấm dứt trong trường hợp hết hạn hợp đồng Do đó, sau khi hết hạn HĐLĐ thứ nhất bắt đầu từ ngày 7/7/2011, A không làm việc cho công ty Airway nữa thì HĐLĐ thứ nhất sẽ chấm dứt và độc lập với HĐLĐ thứ hai, thứ ba và thứ tư Vì vậy, Theo khoản 1

và khoản 2 điều 22 BLLĐ 2012, xét cụ thể các HĐ còn lại như sau:

HĐLĐ thứ hai: HĐLĐ thứ hai ở đây có thể được coi như HĐLĐ lần thứ nhất được giao kết giữa A và công ty HĐLĐ này là HĐ xác định thời hạn 1 nămtừ ngày 08/07/2012 đến ngày 07/07/2013 nên HĐLĐ này là hợp pháp

HĐLĐ thứ ba: HĐLĐ thứ ba được xác định thời hạn từ ngày 08/07/2013 đến ngày 07/07/2016, tức là trong vòng 30 ngày sau

Trang 6

khi HĐLĐ lần thứ nhất kết thúc vào ngày 07/07/2013, A và công ty Airway kí kết tiếp HĐLĐ lần thứ hai là HĐLĐ xác định thời hạn đủ 12 tháng nên HĐLĐ này là hợp pháp

HĐLĐ thứ tư: Sau HĐLĐ thứ ba, việc A và công tythỏa thuận gia hạn thêm 24 tháng nữasau khi HĐLĐ lần thứ hai hết thời hạn được coi là ký hợp đồng lao động xác định thời hạn lần thứ ba.HĐLĐ lần thứ ba này phải là HĐLĐ không xác định thời hạn

vì 2 HĐLĐ của lần thứ nhất (08/07/2012 – 07/07/2013) và HĐLĐ lần thứ hai (08/07/2013 – 07/07/2016) đã đều là HĐLĐ xác định thời hạn Như vậy, việc A và công ty Airway kí kết văn bản thỏa thuận gia hạn thêm 24 tháng nữa để A tiếp tục làm việc sau khi HĐLĐ thứ ba kết thúc vào ngày 07/07/2016 hay HĐLĐ thứ là trái pháp luật

Câu 2:Việc chấm dứt HĐLĐ của A là hợp pháp

Bởi vì:

Như đã nêu trên, theo khoản 1 và khoản 2 điều 22 BLLĐ 2012, HĐLĐ của A trong cả 2 trường hợp trên đều phải là HĐLĐ không có thời hạn, cụ thể: HĐLĐ trong trường hợp 1 là HĐLĐ không xác định thời hạn vì sau khi kí kết HĐLĐ thứ nhất A tiếp tục làm việc thì HĐLĐ A và công ty kí kết đầu tiên trở thành HĐLĐ không xác định thời hạn Trường hợp 2, HĐLĐ mà A và công ty thỏa thuận gia hạn thêm với thời hạn 24 tháng là trái pháp luật và HĐLĐ xác định thời hạn đó mặc nhiên trở thành

HĐ không xác định thời hạn với thời điểm bắt đầu có hiệu lực

Trang 7

của hợp đồng là 8/7/2016 Do đó, theo khoản 3 điều 37 BLLĐ

2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ:

“3 Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật, trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ (nghỉ việc) của NLĐ không xác định thời hạn chỉ cần đảm bảo yêu cầu về thời hạn là báo trước ít nhất 45 ngày (trừ trường hợp chấm dứt HĐLĐ của lao động nữ mang thai quy định tại Điều 156) để NSDLĐ có thể có thời gian chuẩn bị nhân lực khác, cơ sở vật chất,… thay thế NLĐ sắp nghỉ việc Việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ không xác định thời hạn không cần nêu lý do hoặc phải có lý do để nghỉ

Ở đây, ông A không thuộc trường hợp lao động nữ mang thai nên ông A được quyền chấm dứt HĐLĐ không cần nêu lý do nghỉ việc mà chỉ cần thông báo cho công ty Airway trước ít nhất

45 ngày trước ngày A chính thức nghỉ làm hay chấm dứt HĐLĐ Ngày 20/5/2017, A gửi văn bản thông báo chấm dứt HĐLĐ vào ngày 9/7/2017 A gửi thông báo này trước ngày A nghỉ việc 50 ngày, thỏa mãn điều kiện về ngày gửi thông báo mà pháp luật quy định nên viêc chấm dứt HĐLĐ của A là hợp pháp

Câu 3: A phải hoàn trả chi phí đào tạo

Bởi vì:

Trang 8

BLLĐ 2012 chỉ có một quy định tại khoản 3 điều 43 về nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật:

“Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.”

Tuy nhiên, như đã nêu tại câu 2, việc A đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ở đây là đúng pháp luật nên không áp dụng điều luật này được

Theo Khoản 2 điều 61 Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 về nghĩa

vụ làm việc có thời hạn của người học thì: “Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo.” Đồng thời, tại điều 62 BLLĐ 2012 có quy định các nội dung chủ yếu phải có trong hợp đồng đào tạo nghề, trong đó có thời hạn NLĐ cam kết phải làm việc cho NSDLĐ sau đào tạo và trách nhiệm hoản trả chi phí đào tạo

Như vậy, mặc dù A đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật nhưng lại vi phạm điều khoản cam kết về thời hạn trong hợp đồng đào tạo mà A kí kết với công ty Airway vào ngày 05/01/2016 Theo cam kết, sau khi đào tạo xong khoá đào tạo chuyên lái máy bay A320 với thời hạn 4 tháng (1/2016 -5/2016), A phải ở lại làm việc cho công ty 3 năm, nhưng đến ngày chấm dứt Hợp đồng lao động, A mới làm việc được 1 năm

Trang 9

2 tháng (5/2016 đến 9/7/2017) Do đó, A vẫn phải hoàn trả chi phí đào tạo cho công ty Airway

Đối với mức hoàn trả: Mức hoàn trả chi phí đào tạo giữa A và công ty Airway theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đào tạo nghề và dựa trên các chi phí đào tạo thực tế Khoản 3 Điều

62 Bộ luật Lao động 2012 quy định “Chi phí đào tạo bao gồm các khoản chi có chứng từ hợp lệ về chi phí trả cho người dạy, tài liệu học tập, trường, lớp, máy, thiết bị, vật liệu thực hành, các chi phí khác hỗ trợ cho người học và tiền lương, tiền đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người học trong thời gian đi học Trường hợp người lao động được gửi đi đào tạo ở nước ngoài thì chi phí đào tạo còn bao gồm chi phí đi lại, chi phí sinh hoạt trong thời gian ở nước ngoài” Mức hoàn trả mà A phải trả theo thoả thuận là 23.950USD

Câu 4: Công ty Airway có thể gửi đơn đến Hòa giải viên lao động và Tòa án nhân dân để yêu cầu giải quyết tranh chấp Bởi vì:

Tranh chấp giữa công ty Airway và ông A thuộc loại tranh chấp lao động cá nhân vì các lý do sau:

• Chủ thể tranh chấp: NLĐ và NSDLĐ là ông A và công ty Airway

Trang 10

• Nội danh tranh chấp: Nghĩa vụ hoàn trả chi phí đào tạo nghề của ông A theo cam kết tại hợp đồng đào tạo nghề nếu ông

A không chịu hoàn trả chi phí đó

• Tính chất: Đơn lẻ

• Cơ sở phát sinh: HĐLĐ và hợp đồng đào tạo giữa A và công ty Airway

Do đó, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này là cơ quan được quy định theo khoản 1 điều 200 BLLĐ

2012 đó là hòa giải viên lao động và tòa án nhân dân

Về hòa giải viên lao động: Theo khoản 1 điều 201 BLLĐ 2012, tranh chấp lao động cá nhân phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động trước khi yêu cầu tòa án giải quyết, trừ một số trường hợp không bắt buộc hòa giải Trong đó, có trường hợp về bồi thường thiệt hại giữa NLĐ và NSDLĐ khi chấm dứt HĐLĐ Như vậy, tranh chấp giữa công ty Airway và ông A không bắt buộc phải thông qua thủ tục hòa giải của hòa giải viên lao động

Về tòa án nhân dân: Theo khoản 1 Điều 201 BLLĐ nêu trên, tranh chấp giữa công ty Airway và ông A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi có đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp của ông A hoặc Công ty Airway

Cấp tòa án có thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa công ty Airway và ông A thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện Cụ thể, theo quy định tại điểm c khoản 1 điều 35

Trang 11

Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Toà án nhân dân cấp huyện

có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp

về lao động, trong đó có tranh chấp “Về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;”

Tòa án có thẩm quyền gải quyết theo lãnh thổ: Tòa án cấp huyện nơi ông A cư trú, làm việc Công ty Airway và ông A cũng có thể thỏa thuận với nhau yêu cầu Tòa án nơi có trụ sở của Công

ty Airway giải quyết

KẾT LUẬN

Trên đây là những ý kiến, quan điểm của cá nhân em về phương hướng giải quyết các câu hỏi trong tình huống trên Bài làm còn nhiều thiếu sót mong nhận được những nhận xét, góp ý của các thầy cô để em có thể hoàn thiện hơn trong nhận thức và áp dụng thực tiễn Em xin chân thành cảm ơn!

Ngày đăng: 01/04/2018, 16:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w