Quy trình đo đạc bằng máy toàn đạc, hướng dẫn giảng giải, cách đứng máy , tính toán đo cạnh đo góc, vẽ chi tiết, đo cao đo chiều dài, lưới khống chế cao độ, sai số trung phương, các bài toàn tính tọa độ độ cao
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
CHƯƠNG 4 : ĐO CHIỀU DÀI
Trang 2-*** -KHÁI NIỆM ĐO CHIỀU DÀI
Đo chiều dài là một trong những công tác cơ bản của trắc địa Chiều dài được xác định trong trắc địa là chiều dài của đoạn thẳng ở trong mặt phẳng nằm ngang
Tùy theo yêu cầu chính xác và điều kiện địa hình cụ thể mà chọn phương pháp và dụng cụ đo thích hợp
Trang 3- Đo chiều dài bằng bước chân
- Đo chiều dài bằng thước dây, thước thép
- Đo chiều dài bằng dây đo thị cự (máy thủy bình và kinh vĩ)
- Đo chiều dài bằng sóng vô tuyến và sóng ánh sáng (máy đo xa, máy TĐĐT)
Trang 6Muốn đo chiều dài của một đoạn thẳng bất kỳ trên mặt đất ta phải đo chiều dài giữa hai đầu của đoạn thẳng ấy để qui chiều dài này thành chiều dài nằm trong mặt phẳng nằm ngang
Ví dụ
Phải đo chiều dài của đoạn AB, trong đo đạc chiều dài của AB không phải là đoạn thẳng nối liền hai điểm A và B mà là hình chiếu A'B' của AB xuống mặt phẳng nằm ngang
Trang 8TIÊU NHẮM &
DÓNG ĐƯỜNG THẲNG
Trang 9TIÊU NHẮM
Để từ xa ngắm tới cọc mốc được dể dàng, cần dựng một sào tiêu thẳng đứng ngay trên tâm mốc : đó là một sào dài bằng
gỗ, có chiều dài 2÷ 3m, một đầu vót nhọn được bọc bằng đót thép; thân sào sơn hai màu trắng, đỏ theo từng khoảng 50cm
Để giữ cho sào tiêu đứng thẳng trên thân mốc cần chằng dây hoặc chống bằng chân
ba gỗ
Trang 11ĐO CHIỀU DÀI BẰNG PHƯƠNG PHÁP TRỰC TIẾP
Trang 13Phương pháp đo chiều dài bằng thước
Biên chế nhóm đo gồm 3 người: 2 người căng thước một người ghi sổ; các dụng cụ cần thiết là thước thép, sào tiêu, bộ que sắt
và sổ ghi
Trang 14Trên khu đất bằng
Trước hết, dựng 2 sào tiêu ở hai đầu đường thẳng cần đo A và B; dùng phương pháp dóng đường thẳng để xác định ra vài điểm trung gian thẳng hàng với A và B và dựng sào tiêu trên các điểm đó
Trình tự thao tác như sau: một người cầm đầu thước có vạch 0m - gọi là người đi "sau", đặt "0" tại tâm cọc A và giữ đầu thước bằng một que sắt cắm trên tâm cọc A; một người căng đầu kia của thước - gọi là người đi "trước" - cầm 10 que sắt
(giả sử dùng bộ 11 que).
Trang 15Người "sau" ngắm các tiêu và điều khiển người "trước" xê dịch đầu thước sao cho toàn thân thước nằm trên đường thẳng AB
và ra hiệu lệnh "căng thước" Khi nghe hiệu lệnh này, người "trước" căng thước bằng một lực vừa phải và cắm 1 que sắt tại vạch 20m và trả lời "xong"
Trang 16Người "sau" nhổ que sắt tại A, người
"trước để lại 1 que cắm xuống đất, cả hai
cùng nâng thước tiến về B Khi người "sau" tới chổ que sắt mà người trước cắm lại thì
hô dừng và lại đặt vạch "0" của thước vào vị trí que sắt, điều khiển người "trước" xê dịch đầu thước cho thước thẳng hàng trên AB rồi thao tác lặp lại như lần đặt thước thứ nhất
Trang 17Cứ làm như vậy cho tới khi người trước" hết bộ que sắt, tức là người "sau" có trong tay 10 que thì đoạn đã đo tương ứng lần đặt thước (10 lần x 20m = 200m): lúc đó người
"sau" đưa 10 que cho người "trước" tiếp tục
đo, và người ghi sổ căn cứ vào số lần trao
que để đánh dấu vào sổ
Trang 18Khi đoạn cuối cùng ngắn hơn chiều dài thì phải căn cứ vào tâm cọc B làm chuẩn để đọc số trên thước
Giả sử sau khi đo xong đoạn thẳng AB, trong sổ ghi được 1 lần trao que, số que sắt còn trong tay người "trước" là 5 que và đoạn lẻ cuối cùng đọc được là 12,23m thì chiều dài đoạn AB sẽ là:
20m x 10lần + 20m x 5 + 12,23m = 312,23m
Trang 19Để kiểm tra và nâng cao kết quả đo, phải tiến hành đo 2 lần "đo đi" và "đo về" theo hai chiều ngược nhau (từ A tới B và từ B về A)
Trang 20Trên khu đất dốc
Trang 22Những sai số thường gặp phải khi đo chiều dài bằng thước thép
Trang 23HẾT