1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

14 262 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 136,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và tr

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của công tác xét xử Hiện nay chuẩn bị xét xử sơ thẩm được quy định đầy đủ

và có hệ thống hơn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 và được hướng dẫn trong các Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Trên thực tế, việc thực hiện tốt các quy định của pháp luật hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm đã góp phần thiết thực vào việc nâng cao hiệu quả của xét xử sơ thẩm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của nhà nước Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, bài viết

dưới đây sẽ tìm hiểu các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn

bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và qua đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao

hiệu quả của công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

NỘI DUNG 2

I Những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 2

1 Khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 2

2 Đặc điểm của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự……… 2

3 Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự……….….3

4 Cơ sở của việc tiến hành giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự… 3

II Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 3

1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 3

2 Các công việc chuẩn bị xét xử 4

III Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả của công tác chuẩn bị xét xử 8

1 Những ưu điểm của pháp luật hiện hành quy định về công tác chuẩn bị xét xử……… 8

2 Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm 10

KẾT LUẬN 12

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 13

Trang 3

NỘI DUNG

I Những vấn đề lý luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1 Khái niệm về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Khi các tranh chấp dân sự xảy ra, các chủ thể có quyền tự thỏa thuận với nhau để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết các tranh chấp, có nhiều trường hợp các chủ thể không thể tự thỏa thuận với nhau và yêu cầu Tòa án giải quyết

Từ khi thụ lý vụ án dân sự, Tòa án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự Nếu như hòa giải không thành, Tòa án phải củng cố, hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra xét xử ở tại phiên tòa Các hoạt động này của Tòa án được gọi là chuẩn bị xét xử

Như vậy, ta có thể đưa ra khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như sau:

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là tạo mọi điều kiện cần thiết (theo quy định của pháp luật) cho việc xét xử một vụ án lần đầu tại một toà án có thẩm quyền.

Hiện nay trong khoa học pháp lý, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm

“chuẩn bị xét xử sơ thẩm” Nhưng hiểu CBXXST với tính chất là một hoạt động tố tụng

theo khái niệm thì CBXXST gồm những công việc cụ thể do những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng tiến hành trên cơ sở quy định của pháp luật, phù hợp với địa vị

tố tụng của họ để phục vụ trực tiếp cho thủ tục xét xử sơ thẩm Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Tòa án bao gồm: phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân sự ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa

2 Đặc điểm của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

- Được bắt đầu từ khi toà án thụ lý VADS và kết thúc khi toà án mở phiên toà xét

xử sơ thẩm vụ án dân sự

- Là hoạt động tố tụng bao gồm những công việc cụ thể do toà án tiến hành nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm VADS

- Hoà giải là hoạt động tố tụng bắt buộc của toà án trong giai đoạn này được quy

định tại Điều 10 và Điều 180 BLTTDS Khi tiến hành hoà giải giữa các đương sự, toà án giữ vị trí đặc biệt quan trọng Với tư cách là cơ quan xét xử của nhà nước, toà án phải chủ động trong việc hoà giải để giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau Tuy nhiên, không phải bất kỳ VADS nào toà án cũng phải tiến hành hoà giải, các vụ án thuộc trường hợp những VADS không được hoà giải (Điều 181 BLTTDS) và những VADS không tiến hành hoà giải được (Điều 182 BLTTDS) thì toà án không tiến hành hoà giải

- Có mối liên hệ mật thiết với các hoạt động tố tụng khác: trong quá trình chuẩn bị

xét xử toà án sẽ nghiên cứu hồ sơ và tiến hành các công việc cần thiết Việc chuẩn bị xét

xử có liên quan mật thiết đến phiên toà sơ thẩm và hoạt động tố tụng của toà án sau này Nếu việc chuẩn bị xét xử mà tốt thì phiên toà sơ thẩm diễn ra mới được thuận lợi, hạn chế

Trang 4

tình trạng hoãn phiên toà do các yếu tố chủ quan cũng như hạn chế tình trạng xét lại bản

án quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án Bên cạnh đó, chuẩn bị xét xử một cách đầy

đủ cũng giúp cho toà án cấp phúc thẩm giải quyết các kháng cáo, kháng nghị nhanh chóng, thuận lợi

3 Ý nghĩa của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn thứ hai của quá trình tố tụng dân

sự Đây là giai đoạn tố tụng dân sự quan trọng, trong đó, Toà án xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, từ đó xác định được đầy đủ nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền và nghĩa vụ liên quan Khi đã xác định được các đương sự trong vụ án, Toà án có thể yêu cầu họ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặc bác lại yêu cầu của đương sự khác…Nếu cần phải bổ sung chứng cứ thì Toà án sẽ thu thập theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự để hoàn thiện hồ sơ vụ án

 Việc thu thập, xác minh chứng cứ đầy đủ sẽ đảm bảo tính khách quan, chính xác, bảo vệ đúng quyền và lợi ích hợp pháp của người bị vi phạm Nếu xác định thiếu đương sự trong vụ án sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời việc thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án sẽ thiếu toàn diện, thiếu chính xác

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, Tòa án sẽ tiến hành nghiên cứu, xem xét hồ sơ vụ án Từ đó, Tòa án sẽ kiểm tra thật kỹ lưỡng tất cả các vấn đề liên quan tới vụ án để chuẩn bị tốt cho phiên tòa sơ thẩm, đồng thời dự liệu một số khó khăn gặp phải trong quá trình tiến hành giải quyết vụ án Không chỉ có vậy, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, các đương sự có thể chuẩn bị cả về mặt tâm lý cũng như kiến thức pháp luật để sẵn sàng cho phiên tòa sơ thẩm được tiến hành sau đó

=> Có thể nói, giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là giai đoạn rất quan trọng, tuy không đưa ra những phán quyết như giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm nhưng nó làm tiền đề, cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc xét xử và ra các phán quyết của toà án được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật

4 Cơ sở của việc tiến hành giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được tiến hành dựa trên ý nghĩa quan trọng của giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự Đồng thời, các công việc cần thực hiện khi tiến hành giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự như phân công thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án dân

sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử, còn được thực hiện dựa trên những nguyên tắc bảo đảm quyền tham gia tố tụng của đương sự Ví dụ như khi lập hồ sơ vụ án, cần đảm bảo nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự ; Tòa án chỉ có thể giải quyết một cách chính xác và công bằng khi có đầy đủ các chứng cứ và các tình tiết của vụ án dân sự đã được làm sáng tỏ Ngoài ra, việc tiến hành giai đoạn chuẩn bị

Trang 5

xét xử sơ thẩm còn dựa trên cơ sở đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa ; đồng thời đảm bảo sự bình đẳng giữa các bên đương sự

II Quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

1 Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự

Thời hạn chuẩn bị xét xử được tính từ ngày Tòa án vào số thụ lý vụ án đến ngày Toà án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử Tùy theo tính chất của từng loại vụ án

mà thời hạn chuẩn bị xét xử được quy định khác nhau Quy định này là sự kế thừa các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 179 BLTTDS 2004, thì tuỳ từng loại vụ án mà thời hạn

chuẩn bị xét xử được quy định khác nhau, cụ thể như sau:

- Đối với các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình (được quy định tại Điều 25 và

Điều 27 BLTTDS) là 4 tháng, kể từ ngày thụ lý Vì những vụ án này thường có tính

chất phức tạp nên nhà làm luật quy định thời hạn chuẩn bị xét xử tương đối dài

- Đối với những vụ án kinh doanh, thương mại và lao động (được quy định tại

Điều 29 và 31 BLTTDS) là 2 tháng, kể từ ngày thụ lý vụ án BLTTDS 2004 quy định

như vậy là vì những vụ án trên phát sinh từ các quan hệ rất nhạy cảm, đòi hỏi phải giải quyết kịp thời

- Đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án

TA có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử nhưng không quá 2 tháng đối với

vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 BLTTDS và 1 tháng đối với vụ án kinh doanh, thương mại và lao động quy định tại Điều 29 và Điều

31 BLTTDS

Theo Nghị quyết 02/2006/NQ-HĐTP thì:

“Những vụ án có tính chất phức tạp” là những vụ án có nhiều đương sự, có liên

quan đến nhiều lĩnh vực; vụ án có nhiều tài liệu, có các chứng cứ mâu thuẫn với nhau cần có thêm thời gian để nghiên cứu tổng hợp các tài liệu có trong hồ sơ vụ án hoặc tham khảo ý kiến của các cơ quan chuyên môn hoặc cần phải giám định kỹ thuật phức tạp; những vụ án mà đương sự là người nước ngoài đang ở nước ngoài hoặc người Việt Nam đang cư trú, học tập, làm việc ở nước ngoài, tài sản ở nước ngoài cần phải có thời gian uỷ thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự, ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài…Tuy nhiên, đối với trường hợp cần phải chờ ý kiến của các cơ quan chuyên môn, cần phải chờ kết quả giám định kỹ thuật phức tạp hoặc cần phải chờ kết quả uỷ thác tư pháp mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử (kể cả thời gian gia hạn), thì

Thẩm phán căn cứ vào khoản 4 Điều 189 của BLTTDS ra quyết định tạm đình chỉ giải

quyết vụ án dân sự

Trang 6

“Trở ngại khách quan” là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động như:

thiên tai, địch họa, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu… làm cho Toà án không thể giải quyết được vụ án trong thời hạn quy định

“Lý do chính đáng” quy định tại khoản 3 Điều 179 của BLTTDS được hiểu là các

sự kiện xảy ra một cách khách quan, không lường trước được như: cần phải có sự thay đổi, phân công lại người tiến hành tố tụng có tên trong quyết định đưa vụ án ra xét xử

mà người có thẩm quyền chưa cử được người khác thay thế; vụ án có tính chất phức tạp

đã được xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Toà án khác nhau, nên không còn đủ Thẩm phán

để tiến hành xét xử vụ án đó mà phải chuyển vụ án cho Toà án cấp trên xét xử hoặc phải chờ biệt phái Thẩm phán từ Toà án khác đến… nên cản trở Toà án tiến hành phiên toà trong thời hạn quy định

Trong thời hạn chuẩn bị xét xử tuỳ từng trường hợp, Toà án ra một trong các quyết định sau đây: công nhận sự thoả thuận của các đương sự; tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử Trong thời hạn 1 tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án phải mở phiên tòa để xét xử vụ án, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là 2 tháng

2 Các công việc chuẩn bị xét xử

Từ khi thu lý vụ án dân sự, Toà án chính thức xác nhận thẩm quyền và trách nhiệm của mình trong việc giải quyết vụ án dân sự Nếu hòa giải không thành, Toà án phải củng cố hoàn thiện hồ sơ vụ án để đưa vụ án ra xét xử ở tại phiên tòa Các hoạt động này của Toà án được gọi là chuẩn bị xét xử Các công việc chuẩn bị xét xử chủ yếu của Toà án bao gồm: phân công Thẩm phán giải quyết vụ án; thông báo việc thụ lý vụ án; lập hồ sơ vụ án; quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa hoặc quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ

án, quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

a Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án

Vì Thẩm phán có vai trò đặc biệt quan trọng, cho nên, trong giai đoạn chuẩn bị xét

xử, Thẩm phán có thẩm quyền đã thụ lý vụ án phải phân công một Thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án Việc phân công này là cơ sở để Thẩm phán toàn tâm toàn ý với vụ án

đã được giao, để Thẩm phán thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại

Điều 41 BLTTDS, đảm bảo giải quyết vụ án nhanh chóng, khách quan, đúng pháp luật Theo quy định tại Điều 172 BLTTDS thì: “Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ

ngày thụ lý vụ án, Chánh án Toà án phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án.Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Toà án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu”.

Trang 7

b Thông báo việc thụ lý vụ án

Sau khi đã tiến hành các công việc thụ lý, TA phải thông báo bằng văn bản cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ

án để họ biết được vụ án đã được thụ lý TA cũng phải thông báo cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc TS đã thụ lý vụ án để Viện kiểm sát thực hiện chức năng kiểm sát của

mình đối với việc giải quyết vụ án Theo quy định của Điều 174 BLTTDS, trong thời

hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, TA phải gửi thông báo cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết vụ án dân sự Văn bản thông báo phải có các nội dung sau: Ngày, tháng, năm làm văn bản thông báo; Tên, địa chỉ Toà án đã thụ

lý vụ án; Tên, địa chỉ của người khởi kiện; Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết; Danh sách tài liệu, chứng cứ người khởi kiện nộp kèm theo đơn khởi kiện; Thời hạn người được thông báo phải có ý kiến bằng văn bản nộp cho Toà án đối với yêu cầu của người khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu có; Hậu quả pháp lý của việc người được thông báo không nộp cho Toà án văn bản về ý kiến của mình đối với yêu cầu

Người được thông báo có trách nhiệm nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình

về yêu cầu của nguyên đơn hay người khởi kiện cùng các tài liệu, chứng cứ kèm theo trong thời hạn nhất định, đó là thời gian 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo Trong trường hợp cần gia hạn thì người được thông báo phải có đơn xin gia hạn gửi cho Toà án nêu rõ lý do; nếu việc xin gia hạn là có căn cứ thì Toà án phải gia hạn nhưng không quá 15 ngày nữa Người được thông báo có quyền thể hiện quan điểm của mình

về yêu cầu của người khởi kiện trước Toà án là đồng ý hay bác bỏ yêu cầu này; có quyền yêu cầu Toà án cho xem, sao chụp đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện

Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu

của người khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, theo Điều 176 BLTTDS bị đơn

có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn Đây là trường hợp bị đơn kiện lại đối với nguyên đơn, vì vậy Toà án có thể xem xét để giải quyết trong cùng một vụ án để sớm kết thúc việc giải quyết tranh chấp Tuy vậy, theo Điều luật này thì yêu cầu phản tố của nguyên đơn chỉ được Toà án chấp nhận trong các trường hợp sau đây:

 Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn;

 Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn;

Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác

và nhanh hơn

Trang 8

Quy định tại Điều 176 BLTTDS nói trên được hướng dẫn tại Khoản 11 Mục II NQ 02/2006 như sau:

- Được coi là yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, nếu yêu cầu đó độc lập, không cùng về yêu cầu mà nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết Trường hợp bị đơn có yêu cầu cùng về yêu cầu của nguyên đơn (như yêu cầu Toà án không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn hoặc chỉ chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn), thì đây

là ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn

- Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp

bị đơn có nghĩa vụ đối với nguyên đơn và nguyên đơn cũng có nghĩa vụ đối với bị đơn;

do đó, bị đơn có yêu cầu Toà án giải quyết để bù trừ nghĩa vụ mà họ phải thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn

- Yêu cầu phản tố của bị đơn dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn

bộ yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp bị đơn có yêu cầu phản tố lại đối với nguyên đơn và nếu yêu cầu đó được chấp nhận, thì loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn

bộ yêu cầu của nguyên đơn vì không có căn cứ

- Có sự liên quan giữa yêu cầu phản tố của bị đơn và yêu cầu của nguyên đơn là trường hợp hai yêu cầu này có mối quan hệ với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án, thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh chóng hơn

Theo Điều 177 BLTTDS, trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

nếu có yêu cầu độc lập thì họ cũng phải làm đơn gửi cho TA và phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp như việc khởi kiện của nguyên đơn Tuy vậy, họ chỉ có quyền yêu cầu độc lập khi có đủ các điều kiện sau đây:

 Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;

 Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;

 Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn

Việc TA xem xét, giải quyết yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các tranh chấp dân sự được nhanh chóng triệt

để, tránh được việc TA phải mở phiên tòa riêng để giải quyết yêu cầu đó trong một vụ

án khác

c Lập hồ sơ vụ án dân sự

Để lập hồ sơ vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, TA xác định các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án yêu cầu các đương sự, cá nhân, cơ quan,

tổ chức khởi kiện cung cấp Khi nhận được các chứng cứ, tài liệu do các đương sự, cá nhân, cơ quan, tô chức cung cấp, TA phải đưa chúng vào hồ sơ vụ án Thủ tục giao

nhận các chứng cứ tài liệu phải được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 84

Trang 9

BLTTDS Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải được sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận tiện cho việc nghiên cứu, sử dụng và phải có danh mục ghi lại các tài liệu trong

hồ sơ vụ án

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tuy vậy, trong những trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ để cung cấp cho TA và có yêu cầu thì TA có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ

án dân sự được đúng đắn Việc thu thập chứng cứ của TA được thực hiện theo quy định tại các điều, từ Điều 85 đến 94 BLTTDS

d Quyết định đưa vụ án ra xét xử

Khi việc hòa giải vụ án không đạt được kết quả và không có căn cứ để tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án thì Toà án phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thẩm quyền ra quyết định này Quyết định này

phải có các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 195 BLTTDS và phải gửi cho các

đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định Trong trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đối với những vụ án do TA thu thập chứng cứ mà đương sự

có khiếu nại thì TA phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho TA

Căn cứ vào quyết định đưa vụ án ra xét xử, TA làm giấy triệu tập những người tham gia tố tụng đến tham gia phiên tòa Trường hợp nhận được yêu cầu thay đổi những người tiến hành tố tụng hoặc người tham gia tố tụng trước khi mở phiên tòa thì tùy từng trường hợp Chánh án TA hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát sẽ xem xét ra quyết định

III Một số nhận xét và kiến nghị hoàn thiện pháp luật hiện hành nhằm nâng cao hiệu quả của công tác chuẩn bị xét xử

1 Những ưu điểm của pháp luật hiện hành quy định về công tác chuẩn bị xét xử

Thông qua những nghiên cứu đã được trình bày ở trên, có thể BLTTDS 2004 được ban hành đã đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, trong

đó, liên quan đến công tác chuẩn bị xét xử sơ thẩm đã có sự cụ thể và rõ ràng hơn rất nhiều so với các văn bản trước đó Điều này đã giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, những người tiến hành tố tụng, các bên đương sự hiểu và áp dụng pháp luật một cách thống nhất và chính xác Có thể kể đến một số ưu điểm nổi bật như sau:

Thứ nhất, về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm Căn cứ vào những trình bày ở trên

về thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, có thể thấy rằng, quy định về vấn đề này của pháp luật là khá hợp lý Pháp luật đã đặt ra quy định này trên cơ sở nội dung yêu cầu của đương sự là đơn giản hay phức tạp và thời gian trung bình để Tòa án tiến hành các công

Trang 10

việc nhằm đưa vụ án dân sự ra xét xử Với thời hạn như vậy là cần thiết để nghiên cứu một cách kỹ lưỡng hồ sơ, yêu cầu của các đương sự, các chứng cứ, tài liệu liên quan, nhưng đồng thời cũng không quá dài làm vụ án bị trì trệ, những vụ án mang tính chất nhạy cảm như hôn nhân và gia đình có thể được giải quyết một cách kịp thời, đáp ứng yêu cầu của các đương sự, tránh việc gây ra những thiệt hại về quyền và lợi ích cho họ do thời hạn chuẩn bị xét xử quá lâu

Thứ hai, tại giai đoạn vào sổ thụ lý vụ án, pháp luật có quy định khi người khởi kiện

nộp cho TA biên lai nộp tiền tạm ứng án phí thì việc thụ lý vụ án của TA sẽ được thực hiện bằng hành động ghi một số nội dung cơ bản vào sổ thụ lý và viết bìa hồ sơ Đối với mỗi loại tranh chấp có một sổ thụ lý riêng Về cơ bản các sổ thụ lý đều có nội dung giống nhau như: số thụ lý, ngày/tháng/năm thụ lý, họ tên, năm sinh, địa chỉ, có yếu tố nước ngoài đối với nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đối với trường hợp đương sự là cơ quan, tổ chức thì ghi rõ họ tên, chức vụ của người đại diện, quan hệ pháp luật có tranh chấp…Việc pháp luật quy định một cách cụ thể cách thức ghi vào sổ thụ lý như vậy đã giúp các thẩm phán và các cán bộ TA dễ dàng áp dụng và thống nhất

Thứ ba, pháp luật hiện hành đã có quy định khá rõ ràng, phù hợp với xu thế chung

của thế giới về vấn đề thông báo việc thụ lý vụ án dân sự quy định tại Điều 174, BLTTDS cho bị đơn, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và VKS cùng cấp Việc thông báo này đã giúp cho các đương sự nắm bắt được quá trình giải quyết vụ án và

có các biện pháp để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích của mình VKS là cơ quan kiểm sát việc tuân theo pháp luật, do đó, nếu được thông báo đầy đủ quá trình giải quyết vụ án dân

sự ngay từ giai đoạn đầu tiên thụ lý vụ án dân sự thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VKS thực hiện tốt chức năng của mình, đảm bảo quá trình giải quyết VADS diễn ra theo đúng quy định của pháp luật

Thứ tư, hòa giải là một thủ tục bắt buộc trong tố tụng dân sự Mục đích của việc

pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án phải hòa giải vụ án dân sự trước khi Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đã thể hiện quan điểm rõ ràng của Nhà nước về việc đa dạng hình thức giải quyết tranh chấp dân sự Bằng các quy định được đưa ra trong Luật

và hướng dẫn thi hành kỹ lưỡng trong Nghị quyết, pháp luật tố tụng dân sự đã giúp các bên đương sự nhận thức rõ được tầm quan trọng của hòa giải trong vụ tranh chấp của

họ, giúp tiết kiệm thời gian, tiền của các bên và Nhà nước, giúp đương sự hàn gắn các rạn nứt giữa họ mà không mất đi hòa khí sau tranh chấp Điều này cũng tạp thuận lợi cho việc góp phần củng cố khối đoàn kết toàn dân và tạo thuận lợi cho việc giải quyết

vụ án dân sự và thi hành án dân sự

Ngày đăng: 25/03/2019, 11:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w