LỜI CẢM ƠN Được sự phân công của Khoa Quản trị kinh doanh -Viện Đại học Mở Hà Nội, và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan, tác giả đã thực hiện đề tài: “ Hoàn thiện
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM-
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TÔN NỮ LAN PHƯƠNG
HÀ NỘI-2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM-
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TÔN NỮ LAN PHƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
MÃ SỐ: 60340102
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN CẢNH HOAN
HÀ NỘI-2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả Số liệu được nêu trong luận văn là trung thực và có trích nguồn Kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Học viên
Tôn Nữ Lan Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Quản trị kinh doanh -Viện Đại học Mở Hà Nội, và sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan, tác giả đã thực hiện đề tài: “ Hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam”
Để hoàn thành luận văn này, tác giả xin chân thành cám ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, rèn luyện và nghiên cứu ở Viện Đại học Mở Hà Nội
Xin chân thành cám ơn thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Cảnh Hoan đã tận tình, chu đáo hướng dẫn tác giả thực hiện luận văn này
Học viên
Tôn Nữ Lan Phương
Trang 5MỤC LỤC
MỤC LỤC 5
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 8
DANH MỤC SƠ ĐỒ 9
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG 6
1.1 Một số khái niệm 6
1.1.1 Thông tin tín dụng 6
1.1.2.Hoạt động của hệ thống thông tin tín dụng 7
1.1.3 Tổng quan về tổ chức thông tin tín dụng 10
1.2 Nội dung và chỉ tiêu đánh giá hoạt động thông tin tín dụng 12
1.2.1 Nội dung chủ yếu trong hoạt động hệ thống thông tin tín dụng 12
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoàn thiện hoạt động thông tin tín dụng 17
1.3 Sự cần thiết phải hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng 19
1.3.1 Từ các nhân tố ảnh hưởng cần xử lý 19
1.3.2 Từ yêu cầu phải hoàn thiện hoạt động hệ thống thông tin tín dụng 23
1.4 Kinh nghiệm quản lý chất lượng hoạt động của cơ quan thông tin tín dụng tại Mỹ và Nhật Bản - Bài học rút ra đối với Việt Nam 25
1.4.1 Kinh nghiệm của DUN&BRADSTREET (D&B)-Mỹ 25
1.4.2 Kinh nghiệm của Credit Information Center Corp (CIC)- Nhật bản 29
1.4.3 Một số bài học rút ra đối với Việt Nam 31
Chương 2: THỰC TRẠNG HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN TÍN DỤNG TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA VIỆT NAM – NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 34
Trang 62.1 Giới thiệu về Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam 34
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 35
2.2 Phân tích thực trạng hệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam- NHNN Việt Nam 40
2.2.1 Hoạt động thu thập và xử lý thông tin 40
2.2.2 Hoạt động lưu trữ thông tin 49
2.2.3 Hoạt động cung cấp thông tin……… ……….51
2.3 Đánh giá hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam 54
2.3.1 Đánh giá hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng thông qua các chỉ tiêu 54
2.3.2 Kết quả đạt được 57
2.3.3 Hạn chế và nguyên nhân 59
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀGIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG TTTDTẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN TÍN DỤNG QUỐC GIA- NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 63
3.1 Phương hướng và mục tiêu của Trung tâm TTTD đến năm 2020 63
3.1.1 Phương hướng tổng quát 63
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 64
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm Thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 69
Nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động thu thập và xử lý thông tin: 69
Trang 73.2.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản trị Trung tâm Thông tin tín dụng, mở rộng
phạm vi hoạt động 69
3.2.2 Tăng cường trang thiết bị và hiện đại hóa công nghệ thông tin tín dụng nhằm phục vụ cho công tác thu thập và xử lý thông tin 70
Nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động lưu trữ thông tin: 73
3.2.3 Tăng cường năng lực quản lý, phát triển nguồn nhân lực 73
Nhóm giải pháp hoàn thiện hoạt động cung cấp thông tin: 76
3.2.4 Tăng cường công tác Marketing, quảng bá sản phẩm, nâng cao văn hóa tín dụng 76
3.2.5 Nâng cao hiệu quả và chất lượng sản phẩm 76
3.2.6 Tăng cường hợp tác, hội nhập thông tin quốc tế 85
3.3 Một số khuyến nghị 86
3.3.1 Với Chính Phủ 86
3.3.2 Với Ngân hàng Nhà nước 87
KẾT LUẬN CHUNG 89
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CIC- SBV Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam(National
credit information centre of Vietnam) -Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (The State bank of Viet Nam)
NHNN VN Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
NHTW Ngân hàng Trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
TMCP Thương mại cổ phần
WB Ngân hàng thế giới
CIS Hệ thống Thông tin tín dụng (Credit Information System -
CIS) TTTD Thông tin tín dụng
PCR Cơ quan đăng ký tín dụng công (Public Credit Register) XLDL Xử lý dữ liệu
CNTT Công nghệ thông tin
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổng quát quy trình thông tin tín dụng 8
Sơ đồ 1.2: Kho dữ liệu tại D & B (Dun& Bradstreet) 26
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức của CIC Nhật Bản 29
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của CIC 37
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Số TCTD tham gia báo cáo thông tin 43 Biểu đồ 2.2: Thu thập về báo cáo tài chính 46 Biểu đồ 2.3: Biểu đồ dư nợ thu thập theo khối các TCTD 47
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế là một xu hướng nổi bật đã tạo ra mối quan hệ giữa các quốc gia, các nền kinh tế và các dân tộc trên thế giới Trong bối cảnh đó, hoạt động kinh doanh ngân hàng là hoạt động trong môi trường cạnh tranh quyết liệt nhất và chứa đựng nhiều rủi ro nhất cả về tính đa dạng và mức
độ thiệt hại.Các ngân hàng muốn tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh thì cần thiết phải có hai yếu tố cơ bản đầu vào là tiền vốn và thông tin, trong đó, thông tin tín dụng (TTTD) ngân hàng chiếm vị trí rất quan trọng, vì nó liên quan trực tiếp đến khách hàng.Ngày nay, TTTD càng trở nên cần thiết hơn khi nền kinh tế thế giới đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức trong quá trình toàn cầu hoá nền kinh tế
Từ sự cần thiết đó, các tổ chức tài chính quốc tế đã nỗ lực nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm và tìm các biện pháp thúc đẩy phát triển hoạt động TTTD trên toàn cầu với hy vọng tạo thêm những lá chắn hữu hiệu hơn với nguy cơ khủng hoảng kinh tế trong tương lai Cùng với những nỗ lực chung của cộng đồng tài chính quốc tế, Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (CIC-SBV) đã có nhiều cố gắng trong việc đẩy mạnh hoạt động TTTDvới mục tiêu nhằm hạn chế rủi ro tín dụng, đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng góp phần phát triển kinh
tế đất nước
Do hoạt động TTTD ở VN còn mới mẻ, nên dù đã có những đóng góp nhất định trong lĩnh vực TTTD nhưng CIC-SBV vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động cung cấp TTTD nói riêng Để góp phần đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng; tăng cường quản lý nhà nước; hỗ trợ hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng góp phần phát triển kinh tế - xã hội; đáp ứng yêu cầu vốn cho nền kinh tế trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, tác giả lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ với
Trang 11mong muốn áp dụng những kiến thức tiếp thu được trong chương trình học đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của CIC-SBV nơi tác giả đang công tác
2 Tổng quan nghiên cứu
Vấn đề về tín dụng đã được nhiều tác giả nghiên cứu, theo các cách tiếp cận khác nhau và trên các phạm vi khác nhau Trong đó, có thể kể đến một số nghiên cứu điển hình sau:
- Luận án: “Nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống thông tin tín dụng Ngân hàng Việt Nam” của Tác giả Nguyễn Hữu Đương - năm 2005- Trường Đại học kinh tế Quốc dân
- Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện Xếp hạng tín dụng nội bộ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay" của Thạc sỹ Nguyễn Thị Tú Quyên- năm 2015- Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
- Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp nâng cao chất lượng xếp hạng tín dụng doanh nghiệp tại Trung tâm thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” của Thạc
sỹ Trần Chi Hương- năm 2010- Học viện Ngân hàng
- Luận văn: “Giải pháp nâng cao chất lượng đánh giá xếp loại tín dụng doanh nghiệp tại các NHTM ở Việt Nam” của Thạc sỹ Lê Anh Tuấn- năm 2006- Trường Đại học kinh tế Quốc dân
- Luận văn thạc sỹ: “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Trung tâm thông tin tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam” của Thạc sỹ Nguyễn Thu Hằng- năm 2006- Học Viện Ngân hàng
Các Luận văn nói trên chỉ mới dừng lại ở mô hình hoạt động của "Trung tâm thông tin Tín dụng" thuộc NHNN tại thời điểm nghiên cứu và trong phạm vi hẹp, do
mô hình chưa được chuyển đổi và nâng cấp thành "Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia" như hiện nay Chính vì vậy, Luận văn này sẽ góp phần giải quyết và hoàn thiện thêm các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra ở tầm Quốc gia mà các luận văn và bài viết nói trên chưa giải quyết trọn vẹn
Trang 123 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia VN– Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong thời gian tới trên cơ sở phân tích lý luận và phân tích đánh giá thực trạng tại CIC
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đó, luận văn xác định những nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Luận giải cơ sở lý luận về hoạt động TTTD, các nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động TTTD
- Đánh giá thực trạng hoạt động TTTD tại CIC_SBV.Phân tích hạn chế, nguyên nhân và đánh giá kết quả đạt được của CIC-SBV trong thời gian qua
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm hoàn thiện hệ thống hoạt động TTTD tại CIC-SBV
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hệ thống TTTD bao gồm nhiều chủ thể tham gia như Tổ chức đăng ký tín dụng công (PCR), tổ chức thông tin tín dụng tư, các ngân hàng thương mại Tác giả luận văn chỉ giới hạn đối tượng và phạm vi nghiên cứu như sau:
- Đối tượng nghiên cứu:Hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại
Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: xem xét thực trạng và tìm các giải pháp hoàn thiện hoạt động TTTD tại CIC-SBV Giải pháp hoàn thiện được xét trên góc độ hiệu quả hoạt động TTTD đối với CIC và hiệu quả hạn chế rủi ro tín dụng đối với các ngân hàng thương mại trên phạm vi toàn quốc
+ Về không gian: Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 13+ Về thời gian: Số liệu được thu thập, xử lý và phân tích trong giai đoạn 2015; giải pháp được đề xuất cho những năm tiếp theo
2005-5 Phương pháp nghiên cứu
+ Các phương pháp cụ thể: Phương pháp điều tra thống kê; Phương pháp phân tích và tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp diễn dịch; Phương pháp quy
nạp; Phương pháp logic biện chứng
+ Nguồn số liệu của luận văn: luận văn chủ yếu sử dụng số liệu được thu thập từTrung tâm thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 2010-2015
Quá trình nghiên cứu luận văn được thực hiện như sau:
Bước 1: Nghiên cứu tài liệu nhằm xác định khung lý thuyết về hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng
Bước 2: Thu thập tài liệu, số liệu và tiến hành phân tích thực trạng về hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam Bước 3: Trên cơ sở kết luận phân tích thực trạng, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiệnhệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam trong thời gian tới giai đoạn 2016-2020
6 Những đóng góp của luận văn
- Khái quát một số vấn đề lý luận, phân tích thực trạng về hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam
- Trên cơ sở học tập kinh nghiệm để đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam trong thời gian tới, góp phần tích cực vào việc ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng hiện nay, đồng thời đưa hoạt động ngân hàng theo hướng hiện đại hoá, hội nhập với hoạt động ngân hàng khu vực và quốc tế
7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn: Ngoài phần mở đầu, danh mục các chữ viết tắt, danh mục các bảng biểu sơ đồ, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Trang 14Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động thông tin tín dụng
Chương 2: Thực trạng về hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng-Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
Trang 15Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC THỰC TIỄN
VỀ HOÀN THIỆN HỆ THỐNG HOẠT ĐỘNG THÔNG
TIN TÍN DỤNG 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Thông tin tín dụng
Thông tin tín dụng là một trong những loại thông tin kinh tế ngân hàng có chức năng riêng phục vụ cho nhiệm vụ quản lý của NHNN và phục vụ cho hoạt động kinh doanh tín dụng của NHTM Với tư cách đó, thông tin tín dụng trước hết phải mang những đặc điểm, yêu cầu chủ yếu của thông tin nói chung và thông tin kinh tế ngân hàng nói riêng Vậy thông tin tín dụng là gì? hệ thống thông tin tín dụng là gì? những vấn đề cơ bản nhất của hoạt động TTTD diễn ra như thế nào? Đó
là những nội dung chính Luận văn sẽ đề cập nghiên cứu trong phần này
Hoạt động TTTD đã có lịch sử hàng trăm năm, có thể nói nó là người bạn đồng hành với hoạt động tín dụng Hoạt động TTTD vẫn diễn ra hàng ngày, rất bình lặng, ít người biết đến Nó thường chỉ được nổi lên, được chú ý nhiều hơn mỗi khi nền kinh tế có vấn đề biến động hoặc khủng hoảng Vì thế, sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997, thì hoạt động TTTD lại trở thành vấn đề bức xúc, nỗi quan tâm thường trực của các nhà ngân hàng Đó là lý do tại sao thời gian qua WB, IFC, IMF, ADB, JBIC rất quan tâm, dành nhiều nỗ lực nghiên cứu và thúc đẩy phát triển hoạt động TTTD trên toàn cầu, với hy vọng sẽ tạo thêm những tấm lá chắn với nguy cơ khủng hoảng kinh tế trong tương lai
Theo nghiên cứu của WB (Ngân hàng Thế giới), hiện nay có trên 120 nước và nên kinh tế có hoạt động TTTD Trên thế giới, các cơ quan TTTD có nhiều tên gọi khác nhau như: trung tâm thông tin tín dụng (Credit Information Center), cơ quan đăng ký tín dụng (credit register), văn phòng tín dụng (credit buerau), báo cáo tín dụng (credit report), chia sẻ thông tin tín dụng (share credit information) Trong cách gọi tên nghiệp vụ này cũng vậy, hầu hết gọi là TTTD, nhưng cũng có nơi gọi
Trang 16thông tin phòng ngừa rủi ro (như NHTW Pháp, Ngân hàng Dự trữ Úc ) hoặc có nơi gọi là ngành báo cáo tín dụng, thậm chí có cả hiệp hội báo cáo tín dụng
Tuy thế, về bản chất của nghiệp vụ này trên toàn cầu là tương đối giống nhau,
nó là hoạt động hợp tác chia sẻ thông tin giữa những người cho vay với nhau để cùng hạn chế rủi ro tín dụng Để thuận tiện trong việc nghiên cứu, cũng như để thống nhất với cách gọi của WB và một số tổ chức tài chính quốc tế, Luận văn sẽ
sử dụng thuật ngữ Thông tin tín dụng để thống nhất tên gọi chung cho nghiệp vụ này
Vậy thông tin tín dụng là gì? một khó khăn chung cho việc nghiên cứu là đến nay trên thế giới chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra một định nghĩa đầy đủ về TTTD Theo NHNN Việt nam (Quyết định số 51) có đưa ra khái niệm:
“Thông tin tín dụng là những thông tin về khách hàng có quan hệ tín dụng với
tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng và các thông tin khác liên quan đến khách hàng trong quan hệ tín dụng với các tổ chức tín dụng, tổ chức khác
1.1.2 Hoạt động của hệ thống thông tin tín dụng
Hệ thống Thông tin tín dụng (Credit Information System - CIS) là một hệ thống thông tin bao gồm tập hợp những con người, các thiết bị phần cứng, cơ sở dữ
Trang 17liệu và phần mềm máy tính, thực hiện việc thu thập, lưu trữ, xử lý và cung cấp thông tin tín dụng phục vụ cho hoạt động ngân hàng và các tổ chức có liên quan
(Nguồn: do tác giả luận văn tổng hợp, xây dựng từ các nguồn tài liệu tham
Cũng như mô hình hệ thống thông tin cơ bản, Hệ thống Thông tin tín dụng bao gồm 4 bộ phận chính:
chính, phi tài chính, phi tài chính của khách hàng vay và các thông tin kinh tế, thị trường có liên quan đến hoạt động tín dụng từ các nguồn trong nội bộ hệ thống ngân hàng hoặc từ các nguồn ngoài ngành
tiêu thức khác nhau như theo ngân hàng, theo khách hàng, theo ngành nghề, theo thành phần kinh tế, theo vùng miền đồng thời thực hiện phân tích xếp loại đánh giá khách hàng vay Đây chính là quá trình sản xuất chế biến thông tin để đưa ra các sản phẩm thông tin tuỳ theo yêu cầu khác nhau của người sử dụng trên cơ sở các thông tin nguyên gốc (data) mà hệ thống đã thu thập được
Nguồn tin
Thu thập
thông tin Phân tích, xử lý
Cung cấp thông tin Người sử dụng
Lưu trữ
dữ liệu
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổng quát quy trình thông tin tín dụng
Trang 18- Bộ phận lưu trữ: có chức năng như một ngân hàng dữ liệu về khách hàng vay của từng ngân hàng hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng Việc lưu trữ phải đảm bảo an toàn, chính xác và dễ dàng thuận tiện cho việc tra cứu sử dụng thông tin
nó phải được áp dụng kỹ thuật tin học hiện đại như mạng máy tính, internet để đưa sản phẩm thông tin đến tay người sử dụng đảm bảo an toàn, nhanh chóng, chính xác
Hệ thống thông tin tín dụng, ngoài 4 bộ phận trên, nó còn liên kết với nhiều bộ phận, đơn vị hoặc hệ thống thông tin khác trong việc thu thập thông tin đầu vào cũng như xử lý và phân phối thông tin ra
Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập thông tin, thì không thể có một hệ thống thông tin nào đứng độc lập riêng lẻ mà phải có sự kết nối với không chỉ trong nước mà với cả khu vực và toàn cầu để tận dụng khai thác tài nguyên thông tin và phân phối thông tin một cách nhanh chóng, hữu hiệu nhất
Hệ thống này gồm nhiều hệ thống con liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi hệ thống con được thiết kế từ dưới lên trên thành một hệ thống tập trung xung quanh các chức năng chung và các môdun Các môdun này thực hiện các chức năng chung của các hệ thống con khác nhau và cung cấp các kết nối, tiện ích giữa các hệ thống con CIS có các đặc trưng hoạt động như: điều khiển chung toàn bộ các hệ thống tín dụng, giới hạn dịch vụ, tăng hiệu năng và chất lượng sản phẩm, giảm không thu thập thông tin dư thừa, tăng yêu cầu dịch vụ khách hàng, tăng lợi nhuận, thực hiện những thay đổi thích hợp của hệ thống
Như vậy, xét về logic, nếu nói “hệ thống TTTD” thì chỉ là nói về một hệ thống cơ sở của một cơ quan TTTD Trong khi đó mỗi quốc gia đều có một hệ thống TTTD riêng, được cấu thành bởi các hệ thống TTTD cơ sở này Cụ thể là sự liên kết, ràng buộc của các cơ quan TTTD công và tư nhân theo quy định của pháp luật tại mỗi nước đã hình thành nên hệ thống TTTD quốc gia của chính nước đó
Trang 19Khái niệm Hệ thống TTTD quốc gia
Theo tác giả thì Hệ thống TTTD quốc gia là một phạm trù rất rộng, bởi vì hoạt động TTTD diễn ra trên một phạm vi rộng Có rất nhiều tổ chức tham gia chia sẻ thông tin với hệ thống này, ngoài các ngân hàng còn có các tổ chức tài chính phi ngân hàng như các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hỗ trợ phát triển, quỹ hỗ trợ xuất khẩu đây là những tổ chức nằm ngoài hệ thống ngân hàng, đối với Việt Nam
nó không chịu sự chi phối của Luật Các Tổ Chức Tín Dụng Mặt khác, về phía các
cơ quan TTTD cũng có nhiều loại hình đa dạng bao gồm cơ quan TTTD công do NHTW thành lập và các cơ quan TTTD tư, hoặc công ty cổ phần do các ngân hàng góp vốn thành lập
Khái niệm Hệ thống TTTD ngân hàng
Theo tác giả thì Hệ thống TTTD ngân hàng là phần cốt lõi, phần quan trọng nhất và chiếm tỷ lệ chia sẻ thông tin cao nhất trong hệ thống TTTD quốc gia, bởi vì
sự tham gia của các tổ chức tài chính phi ngân hàng nói chung là chiếm tỷ lệ rất nhỏ, đặc biệt là ở những nước đang phát triển
Có thể coi Hệ thống TTTD ngân hàng của một quốc gia là hệ thống TTTD thực hiện chia sẻ và cung cấp TTTD giữa các ngân hàng trong quốc gia đó
1.1.3 Tổng quan về tổ chức thông tin tín dụng
Trong thông tin kinh tế ngân hàng bao gồm rất nhiều loại như: Thông tin báo cáo thống kê kinh tế, nghiệp vụ ngân hàng; thông tin chính sách; thông tin về cơ cấu
và tổ chức; thông tin chỉ đạo điều hành và thông tin tín dụng (TTTD)[8], [9]
trung tâm TTTD (Credit Information Center) hoặc cơ quan đăng ký tín dụng công (Public Credit Register) Thường được dùng ký hiệu viết tắt là PCR, thuộc sở hữu nhà nước, được thành lập bởi NHTW hoặc Ủy ban thanh tra ngân hàng
Trang 20Về mục tiêu hoạt động: PCR hoạt động trước hết vì mục tiêu an toàn và ổn định hệ thống tài chính của mỗi nước, PCR không kinh doanh, không nhằm mục tiêu lợi nhuận
PCR có chức năng thu thập TTTD về người vay và cung cấp thông tin trở lại cho người cho vay Đây là một nguồn thông tin được sử dụng bởi người cho vay để
hỗ trợ họ xem xét lịch sử tín dụng của những người vay tiềm năng hay hiện thời
-Hỗ trợ người cho vay nắm rõ về đặc tính của hồ sơ tín dụng và dự báo chính xác hơn khả năng trả nợ của người vay Điều này cho phép người cho vay chọn đối tác, đặt giá cho các khoản cho vay của họ tốt hơn, dễ dàng tư vấn lựa chọn khách hàng
-Giảm "thuê mua thông tin" mà các ngân hàng có thể tìm kiếm từ các khách hàng của họ Khi một ngân hàng có hiểu biết đầy đủ về một người vay, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đã cắt giảm được một phần chi phí cho vay chẳng hạn như: giảm chi phí thẩm định, giảm lãi suất.v.v và điều đó thích hợp cho cạnh tranh tìm kiếm thuê mua thông tin Thông tin dùng chung với nhiều ngân hàng
sẽ giảm chi phí công nghệ và thuê mua, bởi mỗi người cho vay đặt một giá cạnh tranh Tỷ lệ lãi suất thấp còn tăng lợi nhuận ròng của người vay
- Tính khách quan, vô tư của PCR như là một "cơ quan ngôn luận" để cảnh báo người vay, đòi hỏi người vay phải cung cấp thông tin tín dụng trung thực Cơ
Trang 21chế này cũng thúc đẩy mạnh hơn trả nợ, giảm rủi ro đạo đức, tranh chấp tài sản thế chấp
-Thông qua việc giám sát PCR, đồng thời chia sẻ thông tin giúp cho người sử dụng biết hoặc cung cấp thông tin cho người cho vay toàn bộ các khoản tín dụng của những người vay và theo đó loại trừ những khoản tín dụng không hiệu quả, quản lý tài sản bất hợp pháp
về các khoản cho vay cho PCR theo định kỳ, nếu TCTD nào không báo cáo hoặc báo cáo không nghiêm túc thì sẽ bị phạt và không được khai thác thông tin Tham gia báo cáo, khai thác thông tin với PCR vừa có tính bắt buộc, là nghĩa vụ và là quyền lợi của các TCTD, trước hết vì chính lợi ích của mình và vì lợi ích ổn định, phát triển hệ thống ngân hàng
quốc gia, không có hiệu lực để hoạt động ra ngoài phạm vi quốc gia
thanh tra, giám sát và các TCTD sử dụng thông tin để phòng ngừa rủi ro
Đến nay, theo thống kê của WB, PCR được thành lập ở 57 nước, thường thì mỗi nước chỉ có một PCR Đặc biệt ở Châu Âu, 7 trong số 15 nước hàng đầu của EU là
Áo, Bỉ, Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha và Thổ Nhĩ Kỳ đã có cơ quan đăng ký tín dụng công Ở Châu Á cũng nhiều nước có cơ quan TTTD công như Trung Quốc, Malaysia, Băng la đét, Việt Nam
1.2 Nội dung và chỉ tiêu đánh giá hoạt động thông tin tín dụng
1.2.1. Nội dung chủ yếu trong hoạt động hệ thống thông tin tín dụng
Hoạt động thu thập và xử lý thông tin
Những vấn đề cơ bản có liên quan trực tiếp đến hoạt động thu thập thông tin bao gồm: nguồn thu thập, cơ sở pháp lý của việc thu thập tin, phương pháp thu thập, trách nhiệm cùa người cung cấp tin, phí thu thập thông tin
Trang 22* Nguồn thu thập, cơ sở pháp lý của việc thu thập tin
Nguyên liệu đầu vào của TTTD có ở rất nhiều nơi, nằm rải rác ở các cơ quan, đơn vị khác nhau Để có thể thu thập, tổng hợp được nguyên liệu đó thì phải
tổ chức điều tra hoặc xây dựng mạng lưới thu thập Nhưng nếu cơ quan TTTD tự điều tra, thu thập thì sẽ rất khó khăn do phải tổ chức bộ máy cồng kềnh, tốn kém
Do vậy, họ thường thu thập thông tin từ các NHTM, cơ quan của Chính phủ và các
cơ quan khác
Cơ quan TTTD có thể thu thập thông tin một cách hợp pháp từ các nguồn sau:
Từ cơ quan Nhà nước: Cơ quan thành lập DN, cơ quan cấp giấy phép kinh doanh, cơ quan Thuế, Tòa Án, Kiểm toán, Công an…việc thu thập được thực hiện theo Luật thông tin
Từ các NHTM nơi khách hàng mở tài khoản theo luật ngân hàng hoặc luật thông tin
Từ các tổ chức tài chính phi ngân hàng
Từ Doanh nghiệp vay vốn
Từ các phương tiện thông tin đại chúng: internet, sách, báo, tạp chí, các
ấn phẩm thông tin….đây là các nguồn tin công khai
Từ các cơ quan thông tin trong và ngoài nước, theo thỏa thuận hoặc theo hợp đồng trao đổi thông tin phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế
* Phương pháp thu thập thông tin
Đối với nguồn thông tin thường xuyên: Cơ quan TTTD có thể ký kết thỏa
thuận hoặc hợp đồng thu thậpvới một số nguồn có thể cung cấp thông tin thường xuyên như: cơ quan thành lập DN, NHTM, các cơ quan thông tin đại chúng…
Đối với nguồn thông tin không thường xuyên: Do khó có thể ký được hợp
đồng cung cấp thường kỳ đối với các DN, tòa án, cơ quan thuế, an ninh, kiểm toán,
cơ quan thông tin nước ngoài, nên cơ quan TTTD chỉ có thể thỏa thuận hoặc hợp đồng cam kết sẵn sàng cung cấp thông tin cho cơ quan TTTD khi có yêu cầu Trong các trường hợp này có thể tổ chức thu tin qua mạng máy tính hoặc các hình thức
Trang 23văn bản, fax, điện thoại hoặc các nhân viên thu tin phải đến tận nơi thu tin
* Trách nhiệm của người cung cấp thông tin và phí thu thập thông tin
Trên cơ sở pháp lý của việc thu thập thông tin, người cung cấp tin phải có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cơ quan TTTD theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Thông tin cung cấp phải đảm bảo trung thực, chính xác, kịp thời Người cung cấp tin phải chịu trách nhiệm về các thông tin của mình, được hưởng phí thu thập thông tin theo thỏa thuận trên cơ sở quy định của pháp luật
Hoạt động lưu trữ thông tin
Bộ phận lưu trữ có chức năng như một ngân hàng dữ liệu về khách hàng vay của từng ngân hàng hoặc toàn bộ hệ thống ngân hàng Việc lưu trữ phải đảm bảo an toàn, chính xác và dễ dàng thuận tiện cho việc tra cứu sử dụng thông tin Tại cơ quan TTTD tất cả các thông tin, dữ liệu thu thập được, sau khi đã xử lý, phân tích đều phải lưu trữ, bảo quản và bảo mật theo chế độ quy định, kể cả với dữ liệu gốc
và với chương trình phần mềm Riêng với file dữ liệu phải lưu trữ bằng file nén có
mã hoá ở ba vật mang tin và phải ở hai địa chỉ khác nhau để bảo đảm an toàn, an ninh và tránh rủi ro Việc lưu trữ thông tin có ý nghĩa rất quan trọng:
xem xét phân tích khách hàng vay theo quá trình, thông qua lịch sử để dự đoán khả năng phát triển trong tương lai Mặt khác thông qua các số liệu tích luỹ lịch sử để đưa ra được các số liệu thống kê về các chỉ số tài chính bình quân theo ngành, theo quy mô doanh nghiệp Đây là các chỉ số rất quan trọng không thể thiếu đối với việc XLTD và cho điểm tín dụng phục vụ cho các cơ quan TTTD và các NHTM (khi sử dụng phương pháp đánh giá nội bộ)
lời tin bằng máy tính Hiện nay, thông qua nối mạng trực tuyến, người hỏi tin có thể trực tiếp tra cứu trên mạng để nhận được các bản trả lời tin tự động, không có sự can thiệp của người trả lời tin Đây là một xu thế mới nhằm nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng thông tin, nhưng nó chỉ có thể thực hiện được khi có một cơ sở dữ liệu
Trang 24đáp ứng sẵn sàng
Hoạt động cung cấp thông tin
Cung cấp thông tin là khâu cuối cùng trong quy trình của hoạt động TTTD, nó phải được áp dụng kỹ thuật tin học hiện đại như mạng máy tính, internet để đưa sản phẩm thông tin đến tay người sử dụng đảm bảo an toàn, nhanh chóng, chính xác
* Các sản phẩm thông tin cung cấp cho người sử dụng: Các sản phẩm đầu ra của TTTD là kết quả của quá trình thu thập, phân tích, tổng hợp thông tin, có vai trò
cự kỳ quan trọng quyết định đến chất lượng hiệu quả hoạt động và sự tồn tại phát triển của hoạt động TTTD Yêu cầu với các sản phẩm đầu ra là phải phong phú, đảm bảo chất lượng nội dung và kịp thời Về nội dung, sản phẩm đầu ra phải có các nội dung sau:
Thông tin về DN: Hồ sơ pháp lý, tình hình tài chính, khả năng thanh toán, quan hệ tín dụng, tài sản đảm bảo…
Thông tin về thể nhân: Hồ sơ pháp lý, quan hệ tín dụng, tài sản thế chấp…
Thông tin kinh tế thị trường, kinh tế vĩ mô trong và ngoài nước có liên quan đến hoạt động ngân hàng
Thông tin về DN nước ngoài
Danh sách xếp loại DN có quan hệ tín dụng
Xếp loại chất lượng tín dụng đối với những khoản vay lớn, danh sách các khoản vay có vấn đề cần phải cảnh báo sớm
Đánh giá chất lượng tín dụng của từng NHTM và toàn hệ thống ngân hàng
Phân tích hoạt động tín dụng theo các ngành kinh tế, thành phần kinh tế
và lãnh thổ,
…
* Hình thức cung cấp thông tin cho người sử dụng: phải đa dạng, có thể bằng văn bản, bằng các ấn phẩm thông tin, nối mạng internet, các dịch vụ Viễn
Trang 25thông…
* Về thời hạn cung cấp thông tin: Do đặc thù của TTTD, ngoài thông tin định kỳ, phải đáp ứng kịp thời những yêu cầu đột xuất của người sử dụng tin Đối với dịch vụ báo cáo thông tin thì hầu hết các nước đều thực hiện trả lời tin trong ngày hoặc tức thời, với dịch vụ xếp loại tín dụng thì trả lời tin trong vài ngày
* Tổ chức mạng lưới cung cấp thông tin: Việc xây dựng mạng lưới cung cấp thông tin cho người sử dụng là hết sức quan trọng Đây chính là việc tiêu thụ hay bán thông tin đến tay người sử dụng, vì vậy cần phải triển khai tốt để tổ chức cung cấp thông tin phù hợp, cụ thể:
Đối với các khách hàng thường xuyên: Phải nối mạng máy tính để truyền tin nhanh chóng, kịp thời, chính xác
Đối với các khách hàng không thường xuyên: Có thể cung cấp bằng văn bản, fax…
Bố trí nhiều điểm cung cấp tin ở các khu vực trong cả nước để tạo thuận lợi trong việc phân phối tin đến người sử dụng, thông qua các trung gian cung cấp thông tin để vừa bán buôn vừa bán lẻ thông tin
Chú trọng tận dụng các khả năng giao tiếp nhanh chóng, thuận tiện, giá thành thấp và độ an toàn cao của internet
* Giá trị pháp lý của thông tin cung cấp ra: Cơ quan TTTD phải chịu trách
nhiệm về nội dung thông tin do mình cung cấp, tức là thông tin phải trung thực, đúng đắn, khách quan, không thiên vị hay vụ lợi Đòi hỏi về giá trị pháp lý của thông tin là tất nhiên, vì nếu cơ quan TTTD không chịu trách nhiệm về nội dung thông tin của mình thì không thể bán cho ai được Cơ sở đảm bảo là người cung cấp thông tin đầu vào phải chịu trách nhiệm về thông tin mà mình đã cung cấp cho cơ quan TTTD Cơ quan TTTD phải kiểm tra trước, xử lý thông tin phải đảm bảo chính xác Tuy nhiên, cơ quan TTTD không chịu trách nhiệm về hậu quả kinh doanh khi sử dụng tin, vì thông tin là khách quan, còn quyền quyết định trong kinh
Trang 26doanh thuộc về người sử dụng tin Người sử dụng tin nếu biết kết hợp thông tin với hành động đúng đắn thì sẽ tạo ra sức mạnh to lớn, còn nếu có thông tin mà hành động sai lầm thì sẽ dẫn đến thất bại
1.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng hoàn thiện hoạt động thông tin tín dụng
Để đánh giá mức độ hoàn thiện của hoạt động tín dụng, Theo tác giả luận văn phân tích thì hiện tại có thể đưa ra 12 tiêu chí đã được nhiều tổ chức sử dụng để đánh giá chất lượng hoạt động TTTD như sau:
1 Chỉ số thông tin
tín dụng
Chỉ số được xây dựng trên cơ
sở 6 nhân tố then chốt đo lường phạm vi, khả năng tiếp cận và chất lượng TTTD
Chỉ số có giá trị từ 0 đến 6, giá trị càng cao thể hiện hoạt động thông tin tín dụng càng hoàn thiện
Có giá trị từ 0 đến 1.000/1.000 Nếu có PCRS thì hệ số này càng cao càng tốt
3 Hệ số thu thập
HSKH vay/1.000
người trưởng
thành, đối với cơ
quan Thông tin tín
dụng tư
Thể hiện sự phát triển của cơ quan TTTD tư, độ bao quát thông tin tại mỗi nước và thể hiện trình độ văn hoá tín dụng
Có giá trị từ 0 đến 1.000/1.000 Hệ số này càng cao càng tốt
Trang 278 Quy mô khoản vay
được thu thập
Thể hiện khoản vay từ một mức nào đó thì người cho vay phải báo cáo với cơ quan TTTD
Càng nhỏ càng tốt Tối đa là 1% GDP/người
9 Thời gian cập nhật
tin
Thể hiện tính cập nhật của Thông tin tín dụng
Thường là 1 tháng/lần, nhưng thời gian cập nhật càng ngắn càng tốt
10 Thời gian trả lời
tin
Thể hiện sự hoàn hảo, độ sẵn sàng của thông tin
Thường là trả lời trong ngày
Truy cập trực tiếp để thu thập và trả lời tin
là tốt nhất
Trang 2812 Khả năng phục hồi
thông tin khi có sự
cố
Thể hiện tính dự phòng đảm bảo thông tin liên tục trong mọi sự cố Tính bằng số giờ hệ thống mạng bị trục trặc trong
Mô hình tổ chức, bộ máy của cơ quan TTTD phải phù hợp với loại hình dịch
vụ TTTD thực hiện, phải tinh giản, gọn nhẹ, cơ cấu hiện đại
Cơ quan TTTD với một bộ máy cồng kềnh sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động TTTD, kìm hãm sự phát triển của hoạt động TTTD, gây khó khăn trong việc đưa ra các quyết định về sản phẩm mới, về quy trình nghiệp vụ Từ đó ảnh hưởng đến tính nhanh nhậy và kịp thời của thông tin
Bộ máy tổ chức quá đơn giản cũng không đáp ứng được yêu cầu phát triển hoạt động TTTD Khi nhiều bộ phận nghiệp vụ phát triển mạnh, đủ điều kiện nâng cấp thành các phòng ban nhưng do các cơ chế, chính sách không cho phép phê duyệt, như vậy, các nghiệp vụ sẽ không được kích thích phát triển theo đúng tiềm lực của mình
Hiện nay, thông tin ngày càng cực kỳ nhiều về dung lượng và đa dạng về chủng loại, nếu thực hiện bằng thủ công thì sẽ cực kỳ tốn kém về lao động, của cải, thời gian mà vẫn không đảm bảo được nội dung, chất lượng, độ chính xác và an toàn của thông tin Vì thế việc áp dụng kỹ thuật tin học đối với hoạt động TTTD là
Trang 29một lẽ tất nhiên Ưu điểm của kỹ thuật tin học ngày nay không chỉ ở chỗ xử lý thông tin nhanh nhẹn, chính xác, kịp thời, tốc độ cao mà nó còn có thể kết nối truyền tải thông tin từ nơi này đến nơi khác, ít bị trở ngại của khoảng cách và thời gian
Hơn nữa, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thì quy mô khách hàng của các ngân hàng ngày càng tăng lên Điều đó đòi hỏi cơ quan TTTD phải thực hiện chức năng của mình dựa trên những giải pháp công nghệ hiện đại nhất với sự hỗ trợ đắc lực của công nghệ tin học và truyền thông Sẽ không thể lưu trữ, xử lý và bảo quản một hệ thống cơ sở dữ liệu to lớn đến như vậy nếu không có những giải pháp công nghệ thích hợp Tương tự như vậy, để tăng cường tốc độ và tính hiệu quả của việc thu thập thông tin, cả thông tin ban đầu và thông tin cập nhật định kỳ thì TTTD phải
áp dụng những phương pháp truyền thông hiện đại và phương pháp thu thập thông tin tự động, trực tuyến trên cơ sở công nghệ tin học Trong công đoạn xử lý thông tin, XLTD, chấm điểm tín dụng trên cơ sở phân tích, đối chiếu, so sánh một khối lượng lớn chỉ tiêu trong kho thông tin thì công nghệ tin học lại càng không thể thiếu Nhu cầu tiếp cận khai thác sử dụng kho thông tin của TTTD cũng có yêu cầu tức thời, chính xác, an toàn càng nhấn mạnh thêm nhu cầu cần phải có những giải pháp công nghệ tin học và truyền thông tiên tiến nhất
Giả sử rằng nếu không có công nghệ tin học, để thu thập, lưu trữ, xử lý được hàng triệu hồ sơ khách hàng phải cần công sức của hàng trăm lao động, phải có kho cực lớn để lưu trữ văn bản Đặc biệt là phải cập nhật thông tin dư nợ hàng ngày cho hàng triệu khách hàng, tạo lập hàng nghìn bản trả lời tin một ngày, truyền tin đi và
về là một khối lượng file rất lớn Một điều đáng nói hơn là nếu thu thập, xử lý, trả lời thông tin bằng thủ công thì độ chính xác không thể cao, không thể nhanh nhạy kịp thời Như vậy, có thể nói tin học đã giúp các công ty TTTD tăng năng suất lao động lên hàng nghìn lần, đảm bảo thông tin nhanh nhạy, chính xác, kịp thời và giảm chi phí để hạ giá thành thông tin, cũng tức là hạ chi phí thông tin đầu vào cho hoạt động tín dụng
Trang 30Công nghệ tin học đối với hoạt động TTTD cần phải chú trọng cả phần mềm
và phần cứng Phần mềm cho TTTD phải là những phần mềm có khả năng tạo dựng
và duy trì một cơ sở dữ liệu đáng tin cậy, bảo đảm được tính nguyên vẹn của thông tin với những đặc điểm thích hợp cho việc xác minh và bảo mật, đồng thời phải có khả năng nhận dạng các đối tượng bằng việc sử dụng các thuật toán và công cụ tìm kiếm Nó phải hỗ trợ cho việc truy cập, tìm kiếm thông tin nhanh chóng, dễ dàng Đặc biệt đối với những nước đang chuyển sang nền kinh tế thị trường thì phần mềm này phải có khả năng mở để có thể kịp thời chỉnh sửa, thay thế, bổ sung khi có sự thay đổi của chế độ, chính sách Đối với phần cứng cũng cần được quan tâm để đảm bảo nếu có sự cố nghiêm trọng thì dễ dàng có giải pháp thay thế để đưa mạng TTTD hoạt động trở lại bình thường, nhanh chóng Đặc biệt chú trọng hệ thống máy chủ,
hệ thống máy dự phòng đạt tiêu chuẩn theo yêu cầu quy chuẩn Việc kết nối thông tin ra mạng internet cũng như đường kết nối thông tin với các đơn vị trong nội bộ ngân hàng và các TCTD phải có băng thông lớn, tần số cao, tránh bị tắc nghẽn
về pháp luật, về quy trình nghiệp vụ giúp cho hoạt động xử lý, phân tích thông tin đảm bảo chính xác hơn, chất lượng hơn; các sản phẩm đầu ra được nhanh chóng, kịp thời hơn đáp ứng bản TTTD cho các TCTD trong quá trình thẩm định khách
Trang 31hàng, từ đó, giúp cho các DN tiếp cận được nguồn vốn nhanh hơn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Yếu tố nhân lực cũng là yếu tố để cho Ban lãnh đạo xem xét và cân đối giữa con người và công việc, đảm bảo không thừa không thiếu nhân lực vì sự bất hợp lý
đó sẽ ảnh hưởng lớn tới chính nguồn thu nhập cơ quan TTTD
Bên cạnh đó, sản phẩm TTTD cùng với nguồn thông tin khác từ hệ thống thông tin báo cáo; qua các công cụ quản lý (quản lý các ngân hàng, thanh tra, quản
lý ngoại hối) góp phần tạo nguồn thông tin quan trọng phục vụ cho công tác quản lý điều hành của NHTW Thông qua các báo cáo TTTD, NHTWnắm bắt phân tích được tình hình tín dụng đối với nền kinh tế, đánh giá và dự báo xu hướng tăng trưởng và phát triển tín dụng Đồng thời đánh giá được chất lượng khách hàng, chất lượng khoản vay phục vụ cho công tác phân tích, đánh giá tạo nguồn thông tin đã
xử lý phục vụ cho công tác điều hành chính sách tiền tệ của NHTW; trên cơ sở nguồn thông tin thu thập từ các TCTD, qua phân tích, xử lý cung cấp cho các TCTD
Trang 32trong hệ thống, góp phần hạn chế và ngăn ngừa rủi ro tín dụng trong toàn hệ thống; sản phẩm TTTD kết hợp các nguồn thông tin báo cáo thống kê là nguồn thông tin quan trọng để NHTW có thể nắm bắt, phân tích đánh giá diễn biến của tình hình tín dụng đối với nền kinh tế theo ngành kinh tế, theo thành phần kinh tế cũng như chất lượng tín dụng theo ngành, theo thành phần kinh tế Trên cơ sở đó NHTW có các giải pháp về chính sách tín dụng hiệu quả góp phần thúc đẩy các ngành, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, thúc đẩy kinh tế đất nước tăng trưởng
1.3.2 Từ yêu cầu phải hoàn thiện hoạt động hệ thống thông tin tín dụng
Kinh doanh TTTD thực sự là kinh doanh mang lại lợi nhuận cao trước hết cho chính công ty đó và sau đó mang lại lợi ích cho các ngân hàng, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển Thu nhập của các công ty TTTD tư nhân được sinh ra từ nhiều phía Từ năm 1841 đến năm 1970 nguồn thu nhập chính là từ bán báo cáo thông tin Các nhà đầu tư và những người khác sử dụng báo cáo đó phải trả phí Từ năm 1970 đã có sự thay đổi, thêm một phần thu nhập từ các DN hoạt động tốt chủ động đưa thông tin của mình để quảng cáo, xây dựng thương hiệu, nâng cao uy tín
để thu hút vốn đầu tư từ những người cho vay Tuy nhiên thu nhập chính vẫn là từ các ngân hàng Ngân hàng trả cho công ty TTTD các loại phí thường niên, phí mua tin từng lần như là một hình thức chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, mà ngân hàng và cơ quan TTTD đã thoả thuận để đi chuyên sâu, chuyên môn hoá từng mảng công việc trong hoạt động tín dụng Vì thế chi phí mua thông tin của các ngân hàng được coi như một phần quan trọng trong cấu thành giá thành tín dụng Do chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, mà nói chung trên thế giới thì lợi nhuận của hoạt động tín dụng thường rất cao, nên việc kinh doanh TTTD ngân hàng diễn ra rất mạnh mẽ ở các nước Tuy nhiên ở VN, trong giá thành tín dụng thì chi phí thông tin mới chiếm một phần rất nhỏ
Trang 33Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động TTTD có thể ảnh hưởng tốt hoặc không tốt đến hiệu quả hoạt động TTTD Một hệ thống văn bản pháp lý đồng bộ, đầy đủ thống nhất và ổn định sẽ nâng cao ý thức và trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào hệ thống TTTD Các TCTD sẽ phải chấp hành nghiêm túc hơn chế độ báo cáo TTTD về cơ quan TTTD Có chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các TCTD không thực hiện đúng quy định và các văn bản hướng dẫn Nâng cao ý thức của các chủ thể tham gia vào hệ thống TTTD giúp cho hoạt động TTTD sẽ được thực hiện tốt và theo một quy chuẩn Ngược lại, các văn bản pháp lý chưa hoàn thiện, các quy định chồng chéo có thể gây khó khăn cho hoạt động TTTD hoặc các quy định thiếu chặt chẽ có thể tạo ra kẽ hở để các chủ thể tham gia luồn lách, trốn nghĩa vụ báo cáo TTTD
Trong thời kỳ bước vào nền kinh tế tri thức, tham gia vào siêu xa lộ thông tin trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế ngày nay thì một nhân tố không kém phần quan trọng đối với sự phát triển của các lĩnh vực kinh tế nói chung và cũng như đối với lĩnh vực TTTD ngân hàng nói riêng, đó là hợp tác quốc tế, liên kết quốc tế về thông tin Chính việc nối mạng quốc tế và trong nước theo xu thế “siêu xa lộ thông tin” đã góp phần rất lớn trong việc tập hợp, khai thác sử dụng tài nguyên về lao động, vốn và trí thức của nhân loại cho sự phát triển nền kinh tế thế giới trong thập
kỷ vừa qua Thực tế đối với hoạt động TTTD ngân hàng cũng vậy, thời gian qua thông qua chính sách mở cửa của Việt Nam đã nhận được rất nhiều sự trợ giúp thông qua viện trợ, đầu tư, hợp tác quốc tế của các tổ chức tài chính quốc tế như
WB, IFC, IMF, ADB, JBIC, và NHTW của nhiều nước như Nhật, Pháp, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, Singapore,… cùng nhiều NHTM lớn trên thế giới, nhiều công ty TTTD lớn trên thế giới nên hoạt động TTTD của CIC đã có những bước phát triển nhảy vọt Vì thế, trong các giải pháp để hoàn thiện hoạt động TTTD, cần tiếp tục coi đây là một nhân tố rất quan trọng để góp phần cho hoạt động TTTD của CIC tiếp tục phát triển đạt trình độ ngang tầm khu vực, dần hội nhập và liên kết chung được với mạng lưới TTTD toàn cầu
Trang 341.4 Kinh nghiệm quản lý chất lượng hoạt động của cơ quan thông tin tín
dụng tại Mỹ và Nhật Bản - Bài học rút ra đối với Việt Nam
1.4.1 Kinh nghiệm của DUN&BRADSTREET (D&B)-Mỹ
D&B được thành lập từ năm 1841 tại Mỹ, là một trong những công ty có tên tuổi được tín nhiệm trong giới kinh doanh TTTD toàn cầu Với kho dữ liệu khổng
lồ lên tới 100 triệu công ty, luôn cập nhật hơn 1,5 triệu lần/ngày trên 214 quốc gia
và số nhân viên trên 4.700 người, doanh thu đạt được của D&B là 1,4 tỉ USD/năm.Hoạt động của D&B tuân theo tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9001:2000
Nguồn thu thập dữ liệu:
D&B thu thập dữ liệu từ một số nguồn sau:
(1)Uỷ ban đầu tư và chứng khoán (2)Văn phòng thương mại tại các bang (3)Toà án các bang và liên bang (4)Văn phòng đăng ký đất đai tại các bang (5)Kho dữ liệu về dư nợ toàn cầu (6)Danh bạ điện thoại (7)Một số cơ quan thuộc chính phủ (8)Doanh nghiệp, cá nhân (9)Các báo cáo công khai (10) Phòng dich vụ thông tin về vỡ nợ và phá sản (11) Các tổ chức cấp tín dụng
Thông lệ về thu thập thông tin trên website:
Bất kỳ ai truy cập vào website của D&B đều không buộc phải tiết lộ các thông tin cá nhân Tổ chức này thu thập thông tin về người truy cập trực tiếp thông qua nhật ký web, địa chỉ IP và tên miền mà người truy cập truy cập vào website D&B thường sử dụng những thông tin này, tổng hợp lại để quản lý và cải thiện website của mình.Một số dữ liệu có thể cho phép phác hoạ ra một cá nhân nào đó nhưng D&B thường không tìm kiếm nhận diện cá nhân trừ khi nó tin tưởng rằng có ai đó đang sử dụng trang web một cách không phù hợp
Chất lượng thông tin
Chất lượng thông tin là cốt lõi của bất cứ một công ty TTTD thành công nào.Hoạt động của D&B đảm bảo rằng thông tin được cập nhật và tích luỹ giá trị cho khách hàng và bản thân Công ty Để nâng cao chất lượng thông tin, D&B sử
Trang 35dụng những phương pháp mở rộng, bao gồm việc liên hệ trực tiếp với doanh nghiệp, xem xét chất lượng từ khi thu thập đến kết thúc giai đoạn xử lý thông tin
và tích cực sửa chữa những sai sót có thể xảy ra Nói chung D&B cho phép các cá nhân và doanh nghiệp xem những thông tin mà công ty nắm giữ về họ trong một khoảng thời gian phù hợp sau khi họ yêu cầu Trong một số trường hợp D&B sẽ từ chối cho phép một cá nhân hoặc doanh nghiệp truy cập thông tin.Những trường hợp như vậy D&B sẽ cung cấp cho cá nhân, doanh nghiệp đó lý do về sự từ chối của mình
Quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được gọi là DUNSRIGHT™ Quá trình này bao gồm sự đảm bảo chất lượng cộng 4 bộ điều khiển (driver) chất lượng (Sơ đồ 1.2)
Sơ đồ 1.2:Kho dữ liệu tại D & B (Dun& Bradstreet)
(Nguồn: DUN&BRADSTREET (D&B)-Mỹ)
D& B
Chất lượng thông tin
3
Chỉ số
dự báo
4
Trang 36Bảo mật thông tin
D&B rất chú trọng đến việc đảm bảo an toàn cho những thông tin thu thập được Theo đó công ty áp dụng các thủ tục hành chính, ký hợp đồng hợp pháp nhằm đảm bảo cho thông tin được bảo vệ chống lại những truy cập và tiết lộ thông tin bất hợp pháp Đội ngũ nhân viên D&B được đào tạo về sự nắm giữ thông tin, nhấn mạnh đến việc bảo vệ lợi ích riêng tư của cá nhân, doanh nghiệp Một số đặc điểm trong thông tin mà D&B nắm giữ về các cá nhân và doanh nghiệp có thể được xoá bỏ sau một thời gian nhất định mà không còn cần thiết nữa (ví dụ thông tin xét xử được xoá sau 5 năm, thông tin phá sản được xoá sau 7 năm)
Chiến lược con người
Tại D&B có một nền văn hoá vững mạnh điều chỉnh mọi hoạt động của công ty D&B nhận thức rất rõ rằng chiến lược con người có gắn kết chặt chẽ với chiến lược kinh doanh và các mục tiêu của công ty, và nó được thể hiện qua 6 nguyên tắc mang tính căn bản sau:
- Thực hành nguyên tắc ứng xử đạo đức:
Khi bạn gia nhập D&B bạn thấy rằng mình đang tham gia một tổ chức
mà việc kiểm soát hoạt động được thực hiện 6 tháng một lần để chắc chắn rằng bạn
và người quản lý có thể đặt ra mục tiêu, cùng nhau thực hiện để đạt được những mục tiêu đó và nhận phần thưởng cho những kết quả tốt nhất
- Tôn trọng, đánh giá cao các đóng góp cho công ty và khuyến khích cống hiến:
Để đánh giá các hoạt động, D&B tặng thưởng cho các nhân viên đạt được những giá trị cao trong hoạt động và ứng xử của họ Các cơ hội phát triển sự nghiệp được tạo ra cho những nhân viên không ngừng cống hiến ở mức cao
- Đi đầu về ý tưởng
D&B là công ty tiên phong trong việc chuyển đổi hình thức lập báo cáo
từ hệ thống báo cáo tiêu cực sang hệ thống báo cáo tích cực Điều này đã tạo ra rất nhiều giá trị cho cả khách hàng và công ty
Trang 37- Trợ giúp khách hàng
Năm 2002 D&B đã thực hiện một cuộc khảo sát rộng rãi ra bên ngoài nhằm tìm hiểu những gì làm thoả mãn khách hàng của D&B, cho họ sức mạnh để tin tưởng hơn và đưa ra quyết định kinh doanh một cách nhanh chóng hơn.Mục đích của công ty là nhằm tiếp tục xác định được tiêu chuẩn và nâng cao chất lượng sản phẩm , đổi mới, cải thiện mức độ phục vụ khách hàng và đạt được sự tăng trưởng về lợi nhuận Phù hợp với cam kết này D&B tiến hành mỗi năm 2 cuộc khảo sát về độ thoả mãn của khách hàng thông qua website Kết quả đem lại cho công ty sự hiểu biết vô giá về mức độ hài lòng của khách hàng Sự thấu hiểu này cho phép đội ngũ quản lý của D&B phát tiển các kế hoạch hành động nhằm tiếp tục gia tăng giá trị cho quá trình kinh doanh của khách hàng
D&B cam kết luôn thực hiện những nguyên tắc này để đem lại lợi ích cho
cả khách hàng và công ty
Đào tạo và phát triển sự nghiệp
Trong cam kết của mình D&B nhấn mạnh đến sự gắn kết giữa phát triển đội ngũ lãnh đạo trong tương lai với việc học tập và nghiên cứu Công ty có các chương trình như: Chương trình giới thiệu tổng quát về D&B, lập kế hoạch đào tạo
kỹ năng chuyên, đào tạo thêm các kiến thức mở rộng
Đội ngũ quản lý cam kết đem lại cho D&B sự thành công và trở thành một
tổ chức thực sự cho công việc, có nhiều cơ hội để phát triển
Văn hoá doanh nghiệp trong D&B tập trung chủ yếu vào việc khuyến khích nội bộ công ty Điều này đem đến cho nhân viên cơ hội tiến bộ ở nhiều vị trí công việc khác nhau, giúp họ ổn định và thăng tiến trong sự nghiệp Theo kinh nghiệm nghề nghiệp của nhiều cán bộ làm việc tại D&B, hai yếu tố: văn hoá tập trung vào hiệu quả và môi trường làm việc đoàn kết gắn bó là những nguyên tắc luôn được quan tâm trong công ty này
Trang 381.4.2 Kinh nghiệm của Credit Information Center Corp (CIC)- Nhật bản
Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của Nhật bản được thành lập từ tháng 9/1984 Đến nay, doanh thu hàng năm đạt khoảng 8 tỷ Yên, Trung tâm hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp TTTD tiêu dùng, tín dụng thương mại cho các thành viên và những đối tượng khách hàng khác
Sơ đồ 1.3: Mô hình tổ chức của CIC Nhật Bản
Nguồn: Credit Information Center Corp (CIC)- Nhật bản
Ban kiểm soát
P Tổng
P tuân thủ luật
P KH KD
P QH đại
lý
P QH khách hàng
P hệ thống thông tin
Hành chính
QL mua hàng
Kế toán
VP tư vấn
Quản trị
hệ thống
Quản trị dữ liệu trung tâm
Ban Giám đốc
13 Chi nhánh
ĐH Cổ đông
Trang 39Thu thập thông tin
Các thông tin CIC thu thập bao gồm:
- Thông tin tín dụng tiêu dùng:
+ Dữ liệu về tín dụng: loại nợ, khối lượng tín dụng, dư nợ,
+ Thông tin về đơn xin vay mới
+ Thông tin về số lượt hỏi tin tín dụng về khách hàng
+ Các thông tin tham khảo: thông tin về các vụ xét xử của toà án, thông tin
do khách hàng tự công bố và các thông tin khác
- Thông tin về doanh nghiệp: Thông tin tín dụng, danh bạ, Công báo, các báo cáo công khai, Báo cáo về tài khoản
Vấn đề tuân thủ luật bảo vệ thông tin cá nhân trong hoạt động của CIC
Để tuân thủ đầy đủ luật bảo vệ thông tin cá nhân, một kế hoạch thực hiện nghiêm túc việc bảo vệ thông tin cá nhân đã được thiết lập nhằm giúp mọi nhân viên nắm chắc các hoạt động bao gồm thu thập, sử dụng, cung cấp, và công bố các thông tin cá nhân Công ty cũng tăng cường cảnh báo nhân viên về vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân qua các chương trình đạo tạo, công tác kiểm soát nội bộ và những phương pháp khác giúp họ hiểu và nhận thức được chương trình tuân thủ luật pháp này Các biện pháp đảm bảo an ninh đối với việc nắm giữ thông tin cá nhân cũng được xem xét và nỗ lực thực hiện nhằm cải thiện mức độ an toàn Cụ thể là tăng cường các quá trình truyền dữ liệu bằng phương pháp từ tính hoặc thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, giảm bớt số lượng thông tin xử lý bằng văn bản
Mối quan hệ với các thành viên
CIC luôn cố gắng thu thập được những thông tin đầy đủ và chính xác, mở rộng dịch vụ quản lý tài khoản bằng cách xúc tiến những biện pháp sau:
- Đảm bảo yêu cầu đầy đủ và toàn vẹn của dữ liệu tín dụng: Để thực hiện yêu cầu này, CIC thường xuyên xúc tiến các hoạt động, hệ thống hoá các file dữ
Trang 40liệu tín dụng thu thập được, quản lý và tiến hành các hoạt động khác nhằm nâng cao chất lượng thông tin
- Thắt chặt qui định đối với các thành viên: Các điều khoản qui định cho thành viên của CIC được đưa vào và chi tiết hoá để xác nhận rằng các tổ chức có quan hệ thành viên đều sẵn sàng tuân thủ các qui định về việc nắm giữ thông tin cá nhân như đã được qui định trong luật bảo vệ thông tin cá nhân và các hướng dẫn có liên quan Đồng thời, trước khi những thành viên mới có thể tham gia vào công ty,
họ cần phải tiến hành đào tạo cho nhân viên về vấn đề bảo vệ thông tin đối với những thông tin tín dụng cá nhân và có các biện pháp cải thiện tính an toàn của những thông tin thu thập được
Mối quan hệ với khách hàng:
Đối với các hoạt động liên quan đến khách hàng, CIC tiến hành các biện pháp tăng cường kiểm soát an ninh như thông qua các hoạt động tư vấn và kiểm soát việc cung cấp thông tin như sau:
- Xây dựng hệ thống tư vấn thông tin : CIC luôn tuân thủ luật bảo vệ thông tin cá nhân và sẵn sàng xem xét các yêu cầu phàn nàn từ phía khách hàng Các tài liệu công bố thông tin đều được chỉnh sửa và phát cho các thành viên, các trung tâm tư vấn khách hàng và các tổ chức khác nhằm giúp khách hàng hiểu rõ vấn đề công bố thông tin
- Đào tạo nhân viên cung cấp tin: Nâng cao kỹ năng của các nhân viên cung cấp thông tin, nhân viên tư vấn giúp họ nắm được ngày càng nhiều thông tin, cung cấp cho khách hàng những thông tin có chất lượng đồng thời luôn tôn trọng những quy định của luật pháp trong lĩnh vực này
1.4.3 Một số bài học rút ra đối với Việt Nam
Việc hình thành hệ thống thông tin tín dụng ngân hàng Việt Nam là một bước
đi tất yếu phù hợp với tiến trình phát triển của hoạt động tiền tệ tín dụng trong nền kinh tế thị trường Với nòng cốt hệ thống là CIC của NHNN, CIC được WB xem xét đánh giá là một tổ chức đăng ký tín dụng công hoạt động hiệu quả, hữu hiệu ở