1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vận dụng tư tưởng thân dân của nguyễn trãi vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở việt nam hiện nay

123 670 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 557 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Song qua tìm hiểu nội dung cáccông trình đã được nêu, chúng tôi thấy cần phải tập trung làm rõ hơn nữa mốiliên hệ trong bước phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi vào quá trìnhhoà

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Viết Quang

VINH - 2015

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành Luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều

sự động viên và giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Viết Quang, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ để tôi hoàn thành Luận văn Thạc sỹ của mình

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới quý Thầy, Cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và truyền đạt những kiến thức bổ ích cho bản thân trong suốt quá trình học tập.

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học

và Ban Chủ nhiệm khoa Giáo dục Chính trị, trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện để tôi được theo học ngành Thạc sỹ Khoa học Chính trị tại quý trường

Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, những người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu của mình!

Vinh, ngày 15 tháng 10 năm 2015

Tác giả

Phùng Ngọc Tiến

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và những kết luận khoa học của luận văn không trùng lặp với các đề tài khác, nếu sai tôi hoàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Phùng Ngọc Tiến

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

123455101111111213131314305354

54

61114115118

Chương 2: Tư tưởng thân dân với quá trình hoàn thiện hệ thống

2.1 Khái quát về hệ thống chính trị và việc vận dụng tư tưởng thân dân

Nguyễn Trãi trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam

2.2 Một số giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi vào

quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 5

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng “dân vi bang bản” (dân là gốccủa nước) luôn là một trong những tư tưởng chủ đạo về đường lối trị nướckhông chỉ của các triều đại phong kiến, mà hiện nay vẫn còn nguyên giá trị đốivới sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta Chính vìvậy, tư tưởng lấy dân làm gốc luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm khinghiên cứu về lịch sử tư tưởng Việt Nam Trong giai đoạn hiện nay, khi ViệtNam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với mục tiêu “dân giàu,nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thì việc tìm hiểu và vận dụng tưtưởng thân dân vào quá trình xây dựng đất nước cũng được quan tâm nhiều hơn

Trong quá trình tiếp cận các nguồn tài liệu liên quan tới hướng nghiên cứucủa đề tài, chúng tôi nhận thấy rằng các công trình nghiên cứu đã được công bốrất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung có thể chia các tài liệu đó thành haimảng chủ đề:

Thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tư tưởng thân dân của

Nguyễn Trãi

Trong các nghiên cứu về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi, có nhiềuchuyên khảo, bài viết đề cập đến vấn đề này như:

- Nguyễn Tài Thư (chủ biên, 1993), Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập I,

Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

- Võ Xuân Đàn (1996), Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nxb Văn hoá – Thông tin, Hà Nội.

- Nguyễn Phạm Hùng (1999), Nguyễn Trãi – về tác giả và tác phẩm, Nxb.

Giáo dục, Hà Nội

- Trần Huy Liệu (2000), Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Văn

hoá – Thông tin, Hà Nội

Chương 2: Tư tưởng thân dân với quá trình hoàn thiện hệ thống

2.1 Khái quát về hệ thống chính trị và việc vận dụng tư tưởng thân dân

Nguyễn Trãi trong quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam

2.2 Một số giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi vào

quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay

Trang 6

- Nguyễn Thị Thục Anh (1998), Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV, Tạp chí Triết học (số 6)

- Nguyễn Khánh Toàn (1980), Về tư tưởng yêu nước thân dân của Nguyễn Trãi, Tạp chí Triết học (số 3).

Trong các công trình này, các tác giả đã phân tích tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi trên nhiều bình diện khác nhau, song tựu trung lại đều tập trung ởquan điểm dân là gốc

Tác giả Trần Huy Liệu trong Nguyễn Trãi cuộc đời và sự nghiệp khi bàn

về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi cũng khẳng định “trong cuộc sống cũngnhư trong thơ văn, Nguyễn Trãi luôn hướng về phía nhân dân Ở Nguyễn Trãi,hình như lúc nào cũng có nhân dân” Theo tác giả, tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi tuy chịu ảnh hưởng từ tư tưởng thân dân Khổng – Mạnh, nhưng ởNguyễn Trãi “tư tưởng nhân dân đậm đà, sâu sắc hơn, có hệ thống hơn và nhấttrí với nhau từ đầu đến cuối hơn, nó vì nhân dân hơn là vì lợi ích của giai cấpphong kiến Đó là tư tưởng thân dân do thực tế Việt Nam hun đúc lên”

Đặc biệt Trần Huy Liệu đã nhấn mạnh quan điểm thân dân của NguyễnTrãi qua khát vọng của ông về xây dựng một xã hội lý tưởng mà ở đó: “VuaNghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn/Dường ấy ta đà phỉ thửa nguyền”

Trong công trình Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử tư tưởng Việt Nam của tác giả Võ Xuân Đàn đã trình bày một cách khái quát hoàn cảnh

xã hội và nguồn gốc hình thành toàn bộ tư tưởng của Nguyễn Trãi Khi trình bàykhái quát nội dung tư tưởng của Nguyễn Trãi, tác giả công trình này đã tập trunglàm rõ ba nội dung: tư tưởng chính trị; tư tưởng quân sự và tư tưởng đạo đức;giáo dục và mỹ học của Nguyễn Trãi Đề cập đến tư tưởng chính trị của NguyễnTrãi, tác giả đã nêu rõ nhân nghĩa là tư tưởng cốt lõi trong hệ tưởng chính trị củaNguyễn Trãi Theo tác giả “tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi không phải làmột thứ đạo lý chung chung, mà là một tư tưởng hành động phục vụ đất nước”,

Trang 7

“yêu nước, thương dân là những nội dung cơ bản của tư tưởng nhân nghĩaNguyễn Trãi”

Khi nghiên cứu về tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi, tác giả Võ XuânĐàn đã nhấn mạnh rằng, đối với Nguyễn Trãi, nhân dân là một lực lượng to lớn

có sức mạnh “chở thuyền” và “lật thuyền” Do đó, “nhân dân đối với NguyễnTrãi là niềm thương yêu, là định hướng, là nội dung chính của tư tưởng nhânnghĩa” của Nguyễn Trãi Vì vậy, sau khi đất nước giành được độc lập, NguyễnTrãi hăm hở bắt tay vào xây dựng một mô hình xã hội tốt đẹp để thực hiện đượcchính sách an dân của mình…

Điều đáng chú ý là Nhà xuất bản Giáo dục đã giới thiệu cuốn sách đồ sộ

Nguyễn Trãi – về tác giả và tác phẩm hơn một ngàn trang tập hợp các công trình

nghiên cứu về tác gia và tác phẩm của Nguyễn Trãi Cuốn sách được chia thành

ba phần: thứ nhất là về quan điểm văn học nghệ thuật của Nguyễn Trãi; thứ hai

là về tác phẩm của Nguyễn Trãi; thứ ba là các công trình phác họa chân dungNguyễn Trãi như một danh nhân văn hóa Trong cuốn sách này, tư tưởng thândân của Nguyễn Trãi luôn chiếm một vị trí quan trọng với số lượng trang viếtnhiều nhất Tuy nhiên, điều chúng tôi quan tâm nhiều nhất là cần phải làm rõtâm thế của bậc đại chân nho như Nguyễn Trãi khi nghĩ đến dân đã không vượt

ra khỏi khuôn khổ của thành lũy phong kiến, coi dân chỉ là đối tượng bị trị vàthương dân trong bối cảnh loạn lạc, lầm than

Thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về hệ thống chính trị Việt Nam

và quá trình đổi mới hệ thống chính trị Việt Nam

Liên quan đến mảng đề tài này có thể kể tên một số công trình sau:

- Nguyễn Duy Quý (chủ biên, 2008), Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- Phạm Ngọc Trâm (2011), Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 – 2011), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

Trang 8

- Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Tài liệu chuyên đề bồi dưỡng lý luận chính trị và nghiệp vụ dành cho cán bộ đoàn cơ sở, Nxb Chính trị quốc

gia, Hà Nội

- Lê Hữu Nghĩa (2013), Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị

ở nước ta hiện nay: một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Tạp chí Lý luận chính trị,

(số 1)…

Trong Hệ thống chính trị nước ta trong thời kỳ đổi mới do GS.VS Nguyễn

Duy Quý chủ biên đã tổng kết, đánh giá hiện trạng, những thành tựu và hạn chếcủa hệ thống chính trị nước ta từ năm 1986 đến 2008 Đồng thời, dự báo xuhướng vận động, phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam trong những thậpniên tới và các giải pháp hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong tình hìnhmới

Công trình Quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam (1986 – 2011) của Phạm Ngọc Trâm tập trung nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát

triển hệ thống chính trị Việt Nam từ năm 1945 đến 1986, trên cơ sở đó phântích, đánh giá những thành tựu và hạn chế của công cuộc đổi mới, hoàn thiện hệthống chính trị ở nước ta giai đoạn 1986 – 2011 dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam

Ngoài ra còn có một số công trình tập trung nghiên cứu một nhân tố trong

hệ thống chính trị Việt Nam như:

- Nguyển Trọng Yểu, Lê Hữu Nghĩa (2006), Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia,

Hà Nội

- Lê Minh Quân (chủ biên, 2009), Nhà nước trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

- Nguyễn Hữu Đổng (2009), Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trong

hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội…

Trang 9

Các công trình này đã trình bày được vị trí, vai trò của các yếu tố cấuthành hệ thống chính trị Việt Nam và đã nêu ra những yêu cầu bức thiết trongviệc hoàn thiện và phát triển các yếu tố trong trong giai đoạn phát triển mới củađất nước.

Có thể nói, những công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu rất phongphú, cần được khai thác một cách sâu rộng hơn Song qua tìm hiểu nội dung cáccông trình đã được nêu, chúng tôi thấy cần phải tập trung làm rõ hơn nữa mốiliên hệ trong bước phát triển tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi vào quá trìnhhoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam, điều mà ở các công trình khoa học đãđược công bố từ trước tới nay chưa thực sự đi sâu phân tích

Tư tưởng “dân vi bang bản” được xuất hiện từ lâu trong lịch sử triết họcphương Đông, đặc biệt là ở một số học thuyết chính trị - xã hội Trung Quốc nhưNho gia, Mặc gia Khi du nhập vào Việt Nam do sự khúc xạ văn hóa và những

lý do về mặt lịch sử, tư tưởng thân dân nhanh chóng được các triều đại phongkiến Việt Nam tiếp thu và kết hợp với các yếu tố bản địa nên đã có những biếnđổi về chất và mang nhiều nét đặc thù của văn hóa bản địa Sự khác biệt ấy của

tư tưởng thân dân được biểu hiện một cách sinh động trong tư tưởng củaNguyễn Trãi (1380 – 1442), một bậc khai quốc công thần, đồng thời là nhà tưtưởng kiệt xuất của Việt Nam dưới thời Lê sơ Ông là nhà nho chân chính, lạithấm nhuần tính dân tộc sâu sắc, do đó tư tưởng thân dân của ông đã góp phầnquan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước khỏi ách đô hộ của nhàMinh cũng như xây dựng vương triều Lê sơ Tư tưởng thân dân của ông đượcmột số bậc quân vương anh minh của các triều đại phong kiến Việt Nam cũngnhư các nhà tư tưởng tiêu biểu trong lịch sử kế thừa để xây dựng và bảo vệ đấtnước Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi luônđược họ chú trọng và bồi đắp thêm, song phải đến thời đại Hồ Chí Minh, tưtưởng thân dân mới thực sự trở thành tư tưởng dân chủ, nghĩa là quan điểm “dân

vi bang bản”, “dân vi quí” được nâng lên tầm “dân là chủ” và “dân làm chủ”

Trang 10

Lịch sử của dân tộc ta đã chỉ ra rằng, nhân dân luôn là chủ thể sáng tạo ramọi thành quả to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước Trong giai đoạnđổi mới và phát triển đất nước hiện nay, việc hoàn thiện hệ thống chính trị ViệtNam để xây dựng nước ta thực sự là một nước xã hội chủ nghĩa của nhân dân,

do nhân dân và vì nhân dân nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, côngbằng, văn minh” luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ta chú trọng Độc lậpcho dân tộc, dân chủ và hạnh phúc cho nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là độnglực thúc đẩy đất nước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa Do đó, việc tìmhiểu và kế thừa những yếu tố tích cực trong tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãiđối với việc hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam có ý nghĩa lý luận và thựctiễn cấp bách

Với những lý do nêu trên, chúng tôi chọn vấn đề “Vận dụng tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận Thạc sĩ của mình

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận văn nhằm làm rõ những nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dâncủa Nguyễn Trãi, qua đó đề xuất quan điểm và giải pháp vận dụng tư tưởng thândân vào hoàn thiện hệ thống chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm

Trang 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu tưởng thân dân nói chung, tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi nói riêng và ảnh hưởng của tư tưởng đó đối với hệ thống chính trịViệt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn trong tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi ở thế kỷ thứ XV và những ảnh hưởng của tư tưởng đó đến việcđảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với Đảng Cộng sản ViệtNam, Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Mặt trận Tổ quốc ViệtNam từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới (1986) cho đến nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Đề tài vận dụng tư tưởng “dân vi bang bản” của Nho giáo, tư tưởng HồChí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí và vai trò củanhân dân trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã sử dụng các phương phápnghiên cứu chủ yếu là: phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp phân tíchtổng hợp, phương pháp lịch sử - logíc, phương pháp so sánh, đối chiếu, v.v… đểlàm rõ tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và ảnh hưởng của nó đối với quátrình hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Nam

5 Đóng góp về mặt khoa học của đề tài

Thông qua nguồn tài liệu thu thập được, luận văn tập trung phân tích đểlàm rõ các nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi và bướcđầu luận giải giá trị của tư tưởng đó vào hoàn thiện hệ thống chính trị Việt Namhiện nay

Trang 12

Từ kết quả đạt được, luận văn góp phần làm rõ tư tưởng “dân vi bangbản” (dân là gốc nước) trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, trên cơ sở đó thấy đượcgiá trị lịch sử của tư tưởng dân là gốc nước đối với sự nghiệp xây dựng và hoànthiện hệ thống chính trị Việt Nam vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ,công bằng, văn minh”

Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việcnghiên cứu, giảng dạy lịch sử tư tưởng – chính trị Việt Nam

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, luận vănđược kết cấu thành 2 chương với 5 tiết

- Chương 1: Tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

- Chương 2: Tư tưởng thân dân với quá trình hoàn thiện hệ thống chính trị

ở Việt Nam hiện nay

Trang 13

B NỘI DUNG Chương 1

TƯ TƯỞNG THÂN DÂN CỦA NGUYỄN TRÃI

1.1 Lý luận chung về tư tưởng thân dân

Trong lịch sử tư tưởng phương Đông, tư tưởng thân dân xuất hiện từ rấtsớm Không phải đến Khổng Tử tư tưởng thân dân mới được bàn tới, mà vấn đề

đã được đặt ra từ thời Nghiêu – Thuấn cách đó hàng nghìn năm lịch sử Nhưngchỉ đến khi Khổng Tử sáng lập ra học thuyết Nho giáo vào thời Xuân Thu -Chiến Quốc thì từ đó tư tưởng thân dân mới thực sự trở thành một hệ thống vàđược các thế hệ học trò của ông bổ sung đầy đủ thêm

Trong học thuyết Nho giáo, đặc biệt là trong Nho giáo nguyên thủy, kháiniệm dân được đề cập tới rất nhiều dưới những tên gọi khác nhau Đó có thể là

“tiểu nhân”, là “bá tính”, “thiên hạ”, hay “nhân dân” như cách gọi của Mạnh Tử.Nhưng cho dù được gọi bằng những tên gì đi nữa thì các nhà sáng lập Nho giáoluôn nhìn thấy ở nhân dân một vai trò rất lớn đối với sự tồn tại và phát triển của

xã hội Trên cơ sở của việc chỉ ra vai trò, sức mạnh của nhân dân, các nhà tưtưởng đã đưa ra tư tưởng “dân vi bang bản” và đòi hỏi những người cai trị phảithực hiện đường lối thân dân

Thân dân là từ ngữ của kẻ cầm quyền, của người cai trị Cho nên nói đến

tư tưởng thân dân là nói đến thái độ, cách cư xử của người cầm quyền đối vớidân; đó là sự thương yêu, gần gũi, tiếp cận dân, là sự đùm bọc, chăm lo tới đờisống của dân Nó không chỉ đơn thuần là tình cảm, là thái độ của người cầmquyền đối với dân mà nó còn được biểu hiện ra thông qua hành động, việc làmcủa chính quyền nhằm mưu cầu cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân Quan hệ đó tốthay xấu là tùy thuộc vào thái độ, cách cư xử sự của người cầm quyền

Trang 14

Trong sách Đại học của Nho giáo, “thân dân” cũng là một nội dung đểdạy người ta phép tu tề, học cách làm quan: “Đại học chi đạo, tại minh minhđức, tại thân dân, tại chỉ ư chí thiện” [13, tr.6] Khi bàn về khái niệm “thân dân”Phan Bội Châu cho rằng từ Tống Nho trở về sau nhiều người đổi chữ “thân”thành chữ “tân” tức là “tân dân” – làm cho dân đổi mới Nhưng các nhà nho đờinay thì dùng chữ “thân dân” đúng hơn [11, tr.293] Quả thực, nếu chúng ta sửdụng khái niệm “tân dân” thì sẽ làm cho nó có phần hiện đại hóa tư tưởng củaNho giáo Khổng - Mạnh Tuy nhiên, ranh giới để phân định hai khái niệm nàycũng không phải là tuyệt đối bởi chúng có mối quan hệ tương tác với nhau.Chẳng hạn, giáo hóa dân là một trong những nội dung của tư tưởng thân dân,nhưng chính giáo hóa dân cũng sẽ làm cho dân đi tới thay đổi theo hướng tíchcực Cũng về khái niệm thân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thân dân

tức là phục vụ nhân dân, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết” [52, tr.377] Như

vậy, việc phân biệt hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối mà thôi Cho nêntrong phần trình bày tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi dưới đây, chúng tôi sẽ

sử dụng khái niệm “thân dân” để bám sát tinh thần của Nho giáo hơn

1.2 Những tiền đề hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi 1.2.1 Tiền đề chính trị - xã hội

1.2.1.1 Khái quát thân thế, sự nghiệp của Nguyễn Trãi

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu là Ức Trai, con Thái học sinh NguyễnPhi Khanh và bà Trần Thị Thái, cháu ngoại của quan Tư đồ Trần Nguyên Đán

Tổ tiên của Nguyễn Trãi ở xã Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, trấn Kinh Bắc (nay

là xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương), sau chuyển về làng Ngọc Ổi,huyện Thượng Phúc, Hà Đông (nay thuộc xã Nhị Khê, huyện Thượng Tín, HàNội)

Thân phụ Nguyễn Trãi tuy đỗ bảng nhãn vào năm 1374 nhưng do Thượnghoàng Trần Nghệ Tông cho là con nhà thường dân mà lại lấy con gái họ tôn thấtnên không bổ ông ra làm quan Chính vì vậy, ông không ra làm quan cho nhà

Trang 15

Trần mà trở về quê ở làng Nhị Khê mở trường dạy học Trong thời gian NguyễnPhi Khanh (lúc này là Nguyễn Ứng Long) dạy học ở Nhị Khê, Nguyễn Trãisống cùng mẹ tại tư dinh của ông ngoại Trần Nguyên Đán.

Năm 1385, Trần Nguyên Đán cáo quan về sống tại động Thanh Hư trênnúi Côn Sơn Lúc này Nguyễn Trãi mới lên năm tuổi cũng theo mẹ và ông ngoại

về sống tại Côn Sơn Ít lâu sau, bà Trần Thị Thái mất và đến năm 1390 TrầnNguyên Đán cũng qua đời Lúc này Nguyễn Trãi trở về làng Nhị Khê sống cùngcha

Khi Hồ Quý Ly lật đổ nhà Trần, Nguyễn Ứng Long đã đổi tên là NguyễnPhi Khanh và ra nhận chức Đại lý tự khanh Thị lang tòa Trung thư, Hàn lâmviện học sĩ, kiêm lĩnh chức Tư nghiệp Quốc tử giám Cũng trong năm này,Nguyễn Trãi tham gia vào khoa thi đầu tiên của nhà Hồ và đỗ Thái học sinh(1400) Sau khi thi đỗ, Nguyễn Trãi được Hồ Quý Ly mời ra giữ chức Ngự sửđài chánh chưởng

Giữa lúc cha con Nguyễn Trãi đang giúp Hồ Quý Ly thực hiện các cảicách về kinh tế, chính trị và văn hóa nhằm đưa xã hội Việt Nam thoát khỏikhủng hoảng thì cuối năm 1406 nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lượcnước ta Sau sáu tháng chống cự, cuộc kháng chiến của triều Hồ bị thất bại hoàntoàn Cha con Hồ Quý Ly và các triều thần bị bắt đưa về Trung Quốc, trong số

đó có Nguyễn Phi Khanh

Nghe tin cha bị giặc bắt và áp giải về Trung Quốc, Nguyễn Trãi cùng emtrai là Nguyễn Phi Hùng tìm đến nơi giam giữ tù binh của quân Minh để tìmcha Sau đó cả hai anh em Nguyễn Trãi theo đoàn xe tù lên ải Nam Quan đểsang Bắc quốc hầu hạ cha trong lúc bị cầm tù Tại đây, Nguyễn Phi Khanh đãbảo với Nguyễn Trãi rằng: “Con là người có học, có tài, nên tìm cách rửa nhụccho nước, trả thù cho cha Như thế mới là đại hiếu Lọ là cứ phải theo cha khóclóc như đàn bà mới là hiếu hay sao?” [86, tr.13]

Trang 16

Nghe lời dạy của cha, Nguyễn Trãi đã gạt nước mắt từ biệt cha ở ải NamQuan để quay về tìm đường rửa nhục nước, báo thù nhà theo lời giáo huấn củacha Trên đường trở về Nguyễn Trãi bị quân Minh bắt và đem giam lỏng ở thànhĐông Quan Mặc dù bị đe dọa, mua chuộc, ông quyết không chịu ra làm quancho nhà Minh.

Vào khoảng năm 1416 hoặc khoảng năm 1420, Nguyễn Trãi tìm đến với

chủ quân Lam Sơn và dâng Bình Ngô sách Theo Ngô Thế Vinh (nửa đầu thế kỉ

thứ 19), viết trong tựa sách Ức Trai di tập thì phương châm cơ bản nêu trong Bình Ngô sách “không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh

vào lòng người” [86, tr.14] Tư tưởng chiến lược này chính là một trong nhữngnhân tố quyết định thắng lợi của nghĩa quân Lam Sơn

Trong thời gian kháng chiến, Nguyễn Trãi một mặt giúp Lê Lợi trù hoạchviệc quân cơ, mặt khác ông đại diện cho Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn viết thưcho các tướng nhà Minh để mắng nhiếc hoặc khiêu khích, dụ hàng chúng Trướcnhững lời lẽ đanh thép nhưng luôn trừ cho kẻ thù một con đường thoát củaNguyễn Trãi, hàng loạt các tướng giặc đã đem quân ra hàng như tướng LưuThanh trấn thủ thành Tam Giang, các tướng ở thành Nghệ An, Diễn Châu,Thuận Hóa, Tây Đô

Với tài năng và bản lĩnh của mình, Nguyễn Trãi đã cùng với Lê Lợi vànghĩa quân Lam Sơn liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng, làm chothế và lực của quân Minh ngày càng suy kiệt Đến ngày 12 tháng 12 năm ĐinhMùi (tức ngày 29 tháng 12 năm 1427) cuộc kháng chiến của nhân dân ta chốngquân Minh xâm lược đi đến thắng lợi hoàn toàn khi Vương Thông đem toàn bộquân rút về nước

Những năm tham gia trong phong trào của nghĩa quân Lam Sơn là nhữngnăm mà tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi được hoàn thiện và thực thi tronghiện thực hoàn chỉnh nhất Suốt mười năm “nằm gai nếm mật” với nhân dân đãgiúp Nguyễn Trãi có cái nhìn thấu đáo về những nỗi khổ nhục của một người

Trang 17

dân mất nước và cũng trong khó khăn đó sức mạnh của nhân dân cũng được bộc

lộ Điều này đã giúp Nguyễn Trãi đưa ra đường lối chiến tranh nhân dân lấynhân nghĩa làm nền tảng Vì thế mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càngdành được những thắng lợi quan trọng, và cũng chính sự phát triển của cuộckhởi nghĩa đã tạo điều kiện để Nguyễn Trãi hoàn thiện tư tưởng của mình về vaitrò và sức mạnh của nhân dân

Sau khi đất nước giành được độc lập, Nguyễn Trãi được Lê Lợi ban choquốc tính và được phong tước Quan Phục hầu Dưới thời Lê Thái Tổ, NguyễnTrãi giữ chức Lại bộ thượng thư kiêm Nhập nội hành khiển trông coi Viện khumật, đến đời Lê Thái Tông là Gián nghị đại phu kiêm Tri tam quán sự, chức Hànlâm viện thừa chỉ kiêm Quốc Tử giám

Với những cương vị mà mình đảm trách, Nguyễn Trãi đã tham gia đềxuất, bàn luận và soạn thảo những vấn đề nhằm mục tiêu quốc thái, dân an Tuynhiên, khi những hoài bão của ông còn đang giang dở thì ông bị chính triều đình

mà ông đã dốc toàn tâm, toàn ý để dành và giữ lấy khép cho tội âm mưu giết vuaThái Tông, ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất (tức ngày 19 tháng 9 năm 1442),Nguyễn Trãi và gia tộc phải rơi đầu trong vụ án Lệ Chi viên

Đến năm Quang Thuận thứ 5, tức năm 1464 vua Lê Thánh Tông đã xuốngchiếu rửa oan cho ông Nguyễn Trãi được vua Thánh Tông truy phong chức Đặctiến kim tử Vinh lộc đại phu tước Tán trù bá Con cháu ông được tìm lại và bổdụng, riêng người con duy nhất của ông thoát khỏi án tru di là Nguyễn Anh Vũđược bổ làm quan Tri huyện

Chính cuộc đời đầy bi hùng của Nguyễn Trãi đã tạo cho ông một cái nhìnhoàn toàn khác về nhân dân Những năm tháng sống cùng cha ở làng Nhị Khê,mười lăm năm lưu lạc phải ẩn mình trong nhân dân để tránh sự kiểm soát củaquân Minh, gần mười năm “nằm gai, nếm mật” với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đãgiúp Nguyễn Trãi có cái nhìn thấu đáo về những nỗi khổ nhục của một ngườidân mất nước và cũng trong khó khăn đó sức mạnh của nhân dân cũng được bộc

Trang 18

lộ Điều này đã giúp Nguyễn Trãi đưa ra đường lối chiến tranh nhân dân lấynhân nghĩa làm nền tảng Vì thế mà cuộc kháng chiến của nhân dân ta ngày càngdành được những thắng lợi quan trọng, và cũng chính sự phát triển của cuộckhởi nghĩa đã tạo điều kiện để Nguyễn Trãi hoàn thiện tư tưởng của mình về vaitrò và sức mạnh của nhân dân.

1.2.1.2 Tình hình đất nước cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV và sự xác lập nền độc lập – tự chủ của vương triều Lê

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đại nhà Trần là một triều đạihiển hách với ba lần đại phá quân Nguyên Mông cũng như bình phục đượcChiêm Thành Tuy nhiên, từ nửa sau thế kỷ XIV nhà Trần bước vào giai đoạnkhủng hoảng với những biến động sâu sắc Kinh tế thái ấp điền trang đã trở nênlạc hậu và là lực cản đối với sự phát triển của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ.Trong khi đó nền kinh tế địa chủ với quan hệ địa chủ tá điền ngày càng đượccủng cố phát triển và chiếm ưu thế trong xã hội

Mâu thuẫn này đặt ra yêu cầu cho lịch sử lúc này là phải thủ tiêu chế độthái ấp điền trang, giải phóng nông nô nô tì khỏi sự bóc lột của tầng lớp quý tộcnhà Trần và từng bước xác lập quan hệ kinh tế - xã hội mới của nền kinh tế địachủ nhằm mở đường cho chế độ phong kiến Việt Nam phát triển lên một giaiđoạn mới

Cơ sở nhất định của xã hội thời Trần là chế độ nô tì và chế độ thái ấp điềntrang Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ, số lượng nô tìcũng như số lượng thái ấp điền trang tăng lên rất nhiều Tự mãn trước thành quả

đã đạt được, tầng lớp quý tộc và đại quý tộc ngày càng ăn chơi suy đồi và tăngcường vơ vét, bóc lột nhân dân Đặc biệt sau khi Thượng Hoàng Minh Tông mất(1357), tính chất xa hoa, trụy lạc của vua quan nhà Trần càng bộc lộ một cách

cao độ Theo tác giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược thì sau khi

“Thượng Hoàng mất rồi, bọn cựu thần như ông Trương Hán Siêu, ông NguyễnTrung Ngạn mất cả, từ đó việc chính trị bỏ trể nãi Bọn gian thần mỗi ngày một

Trang 19

đắc chí” Người đứng đầu đất nước là vua Trần Dụ Tông lại ham “rượu chè chơibời, xây cung điện, đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những nhà giàu vào trongđiện để đánh bạc Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng và bắt cácquan thi nhau uống rượu” [38, tr.180 - 181] Trước sự sa đọa và sự vơ vét bóclột của tầng lớp đại quý tộc, tầng lớp nông nô, nô tì ngày càng mất hứng thú sảnxuất Nền sản xuất trì trệ, đời sống nông nô, nô tì bị bần cùng hóa Thêm vào đó,trong nước liên tiếp mất mùa, đói kém liên tiếp xảy ra buộc vua Dụ Tông phải

“xuống chiếu khuyên các nhà giàu ở các lộ bỏ thóc ra chẩn cấp cho dân nghèo”[14, tr.642] Trong bối cảnh đời sống ngày càng cùng quẫn, hàng loạt các cuộckhởi nghĩa của nông dân đã nổ ra liên tiếp dưới sự lãnh đạo của của các thủ lĩnhnhư Ngô Bệ, Trần Tế, Nguyễn Sư Ôn Bên ngoài, nhà Minh và Chiêm Thànhbắt đầu gây chiến tranh xung đột với nước ta càng làm cho cuộc khủng hoảngthêm sâu sắc, đe doạ sự tồn tại của vương triều nhà Trần

Trước tình hình như trên, Hồ Quý Ly với cương vị là Phụ chính Thái sư

đã tiến hành các biện pháp cải cách kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm đưa đấtnước thoát khỏi cuộc khủng hoảng Về kinh tế, ông đưa ra chính sách cải cánhtiền tệ bằng cách thu hồi tiền đồng và ban hành tiền giấy bắt dân phải tiêu; ôngcòn quy định về sở hữu ruộng đất, theo đó “trừ những bậc đại vương, công chúa

ra, thì những người thứ dân không được có hơn 10 mẫu, ai có thừa ra thì phảiđưa nộp quan” Về chính trị, Quý Ly tiến hành định lại phẩm phục của triềuthần, đặt lại quan chức và đổi tên các lộ, trấn Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cáchchế độ khoa cử, dời đô từ Thăng Long về Thanh Hóa [38, tr.192 - 193]

Năm Kiến Tân thứ hai (1400), Hồ Quý Ly phế Thiếu Đế Trần Án, tựxưng là hoàng đế, đổi quốc hiệu là Đại Ngu, đặt niên hiệu là “Thánh Nguyên”lập ra triều Hồ

Mặc dù đã mạnh dạn đưa ra một loạt các cải cách, song Hồ Quý Ly vẫnkhông đưa xã hội Việt Nam thoát khỏi tình trạng khủng hoảng cuối thế kỷ XIV.Mâu thuẫn xã hội ngày càng tăng cao

Trang 20

Lợi dụng tình hình này, năm 1406, lấy cớ nhà Hồ cướp ngôi của nhà Trần,nhà Minh đem quân vượt biên giới tiến vào xâm lược nước ta Sau 6 thángchống cự với giặc, tháng 5 năm 1407 cuộc kháng chiến của nhà Hồ bị thất bạihoàn toàn Từ đó, nước ta rơi vào ách đô hộ tàn bạo của phong kiến nhà Minhtrong suốt 20 năm (1407 - 1427).

Sau khi thôn tính nước ta, nhà Minh đã thiết lập sự cai trị của mình bằngcách biến nước ta thành một quận thuộc Đại Minh, thi hành chính sách cai trịnặng nề và tàn khốc ở nước ta Để thuận lợi cho quá trình cai trị, nhà Minh đãtiến hành đồng hóa Việt Nam Theo Trần Trọng Kim, để khiến người An Namđồng hóa với người Tàu, nhà Minh đã “lập ra đền miếu, bắt người mình cúng tếtheo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt theongười Tàu cả Còn cái gì di tích của nước mình như là sách vở, thì thu thập đem

về Tàu hết sạch Lại đặt ra thuế lệ, bổ thêm sưu dịch để lấy tiền của, làm cho dân

ta bấy giờ phải chịu nhiều điều khổ nhục” [38, tr.217 - 218] Bàn về tội ác củagiặc, Nguyễn Trãi đã phải thốt lên “thui dân đen trên lò bạo ngược, hãm con đỏdưới hố tai ương Dối trời lừa người, kế gian đủ muôn nghìn khóe Cậy binh gâyhấn, ác chứa gần hai chục năm” [86, tr.77]

Dưới sự áp bức bóc lột nặng nề của nhà Minh, nhân dân ta ngay từ đầukhi họ Hồ mất nước vào tay giặc đã đứng lên đấu tranh phản kháng lại sự đô hộcủa quân xâm lược

Giữa năm 1407, nhân dân huyện Đông Lân và Trà Thanh thuộc DiễnChâu nổi lên đốt phá nhà ngục, giết bọn quan lại; tại miền Thất Nguyên (LạngSơn) nhân dân thiểu số cũng nổi lên đánh quân Minh; khởi nghĩa của PhạmChấn ở Đông Triều

Năm 1408 có khởi nghĩa của Chu Sư Nhạn, Trần Nguyên Khoáng ở TháiNguyên; Hà Thế Trật, Hà Khả Chính, Hà Nhân Tráng ở Tam Đại (Phú Thọ);Trần Nguyên Tôn, Nguyễn Nhật Tân ở Ninh Giang (Hải Dương); v.v

Trang 21

Trong các phong trào đấu tranh của nhân dân ta sau khi nhà Minh thiết lậpách đô hộ, đáng chú ý là cuộc khởi nghĩa của Trần Ngỗi và Trần Quý Khoáng.Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu hút hàng vạn nhân dân tham gia và đã giànhđược những thắng lợi nhất định Trước thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, quânMinh đã phải huy động lực lượng quân đội để đàn áp phong trào một cách dãman Đến năm 1414 cuộc khởi nghĩa thất bại hoàn toàn.

Thất bại của cuộc khởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Khoáng cũng như cáccuộc khởi nghĩa trước đó một phần do lực lượng của ta còn yếu, phong trào diễn

ra một cách tự phát và thiếu tính tổ chức Duy chỉ có cuộc khởi nghĩa của TrầnNgỗi và Trần Quy Khoáng là có sự tổ chức và đã tập hợp được một lực lượngđông đảo nhân dân tham gia, nhưng bản thân những người lãnh đạo của phongtrào lại mất đoàn kết với nhau cho nên cũng không tránh khỏi thất bại Việc thấtbại của cuộc khởi nghĩa này cũng chứng tỏ rằng tầng lớp quý tộc nhà Trần đãhết vai trò lịch sử của mình

Tuy các cuộc khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược của nhân dân ta đều

đi đến thất bại, song cũng chính các phong trào này lại càng hun đúc thêm lòngyêu nước và căm thù giặc của nhân dân ta Chính vì vậy, khi Lê Lợi dựng cờkhởi nghĩa thì Lam Sơm trở thành nơi tụ nghĩa của anh hùng hào kiệt khắp mọimiền đất nước

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn lúc đầu gặp rất nhiều khó khăn do thiếu thốn

về mọi mặt, “đất chẳng qua một thành, quân chẳng qua một lữ ( ), cơm ănchẳng nề hai bữa, áo mặc chẳng nề đông hè, quân lính chỉ độ vài nghìn, khí giớithì như không trơn” Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi và Nguyễn Trãinghĩa quân đã vượt qua mọi khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác TừLam Sơn, phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra khắp cả nước và biến thànhmột cuộc khởi nghĩa toàn dân tộc chống lại ách đô hộ của quân Minh Quả là

“gặp khốn mà thông, càng đánh càng thắng, đến đâu cũng bẻ gãy đập tan” kẻ thù[86, tr.138]

Trang 22

Sau mười năm “nếm mật nằm gai”, “quên ăn vì giận” chịu nhiều cực khổvới một “chí ở phục thù, thức ngủ chẳng quên”, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đãgiành thắng lợi hoàn toàn, đã “rửa nổi sỉ nhục ngàn thu” và “mở nền thái bìnhmuôn thưở” cho dân tộc [86, tr.78 - 82]

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống quân Minh xâm lược, nhà nướcquân chủ tập quyền Lê sơ được xác lập dưới sự cai quản của Lê Thái Tổ - LêLợi Những con người đã từng vào sinh ra tử trong phong trào khởi nghĩa LamSơn nay lại sát cánh cùng Lê Lợi bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước sauchiến tranh Một loạt các cải cách được thực thi để đưa đất nước thoát khỏi cuộckhủng hoảng cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV cũng như những tổn thất mà kẻ thù

đã gây ra trong suốt mười năm xâm lược Một mặt, chính quyền Lê sơ tiếp tụccác cải cách mà nhà Hồ đã thực thi trước đó trong chính sách ruộng đất nhằmhạn chế sự tồn tại và phát triển của chế độ thái ấp điền trang, thay vào đó làchính sách lộc điền và quân điền Mặt khác, nhà Lê sơ cũng tiến hành tổ chức lại

bộ máy chính quyền ở các cấp để củng cố sức mạnh của chính quyền Trungương; chế độ khoa cử cũng được đổi mới nhằm tuyển chọn và bổ sung lực lượngquan lại cho triều đình

Những cải cách về kinh tế - chính trị xã hội của triều đình Lê sơ đã nhanhchóng phát huy tác dụng và đưa chế độ phong kiến ở Việt Nam phát triển đếngiai đoạn cực thịnh Nền sản xuất phát triển đã tạo điều kiện cho việc cải thiệnđời sống của nhân dân Trong dân gian thời kỳ này có truyền tụng câu ca “Đờivua Thái Tổ, Thái Tông Thóc lúa đầy đồng, gà chẳng thèm ăn”, đã phần nàophản ánh hiện thực của đất nước lúc bấy giờ

Những tưởng sau khi đất nước giành được độc lập những bậc khai quốccông thần như Nguyễn Trãi sẽ có điều kiện để thực hiện ước mơ, hoài bão củamình để xây dựng một xã hội thịnh trị thái bình Nhưng thực tế, sau kháng chiếnmột bộ phận công thần bắt đầu có tư tưởng thỏa mãn với những gì mà mình đãgiành được Lối sống hưởng thụ, tư lợi chỉ biết vun vén cho bản thân mình mà

Trang 23

quên đi nhân dân – những người đã luôn sát cánh cùng họ trong cuộc khángchiến chống quân Minh – ngày càng có xu hướng phát triển Ngay cả “độngchủ” Lê Lợi cũng bắt đầu nghi kị những công thần đã vào sinh ra tử với mình đểdẫn tới cái chết của đệ nhất công thần Trần Nguyên Hãn và thái úy Phạm VănXảo, bản thân Nguyễn Trãi trong thời gian này cũng bị triều đình Lê sơ hạ ngục.

Trước những biến động của thời cuộc, Nguyễn Trãi đã từng cáo quan lui

về quy ẩn ở Côn Sơn nhưng tấm lòng vì nước vì dân của ông vẫn đêm ngày cháybỏng Chính vì vậy khi được Lê Thái Tông vời ra làm Gián Nghị đại phu kiêmTri tam quán sự tuy đã “sáu chục tuổi thân tàn” nhưng Nguyễn Trãi vẫn tiếpcống hiến tài năng của mình cho nước cho dân

Hiện thực sinh động và đầy biến động của xã hội Việt Nam cuối thế kỷXIV, đầu thế kỷ XV đã ảnh hưởng sâu sắc tới quan niệm của các nhà tư tưởngđương thời trong đó có Nguyễn Trãi Là người trực tiếp tham gia cuộc khởinghĩa với tư cách là quân sư của Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã có thời gian sống vàchiến đấu với nhân dân Điều này giúp ông thấu hiểu hơn ai hết nỗi cơ cực củangười dân dưới ách đô hộ tàn bạo của kẻ thù và cũng thông qua cuộc khángchiến, Nguyễn Trãi cũng nhận ra sức mạnh vô địch của nhân trong sự nghiệpgiải phóng đất nước Tất cả những trải nghiệm đó là tiền đề, là cơ sở để hoànthiện tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

1.2.2 Tiền đề lý luận

1.2.2.1 Tư tưởng thân dân trong Nho giáo Khổng - Mạnh

Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một học thuyết chính trị - xã hội

do Khổng Tử (551 – 479 trCN) sáng lập ở Trung Quốc thời Xuân Thu - ChiếnQuốc Sau khi Khổng Tử mất, Nho giáo đã được các học trò của ông kế thừa vàphát triển theo những khuynh hướng khác nhau

Lúc đầu, khi “Lão giáo và Mặc giáo còn đang thế lực, Nho giáo chưachiếm được độc quyền ở trong xã hội Tàu Đến cuối thế kỷ thứ hai trước Tâylịch kỷ nguyên, vua Vũ Đế nhà Hán nghe lời thỉnh cấu của Đổng Trọng Thư,

Trang 24

mới bắt các học giả phải chuyên trị lục nghệ và bãi truất bách gia Từ đó về sauNho giáo thành ra quốc giáo và những người nho học mới chiếm được địa vị tôntrọng ở triều đường Kế đến đời Đông Hán vào quãng thế kỷ thứ nhất sau Tâylịch kỷ nguyên, Nho giáo mới là cực thịnh” [40, tr.33].

Sau khi trở thành quốc giáo ở Trung Hoa, cùng với sự bành trướng củachế độ phong kiến phương Bắc, Nho giáo được truyền bá rộng rãi trong cácnước Đông Á như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam

Về cơ bản Nho giáo du nhập vào Việt Nam theo hai con đường chính: từcác thế lực xâm lăng phương Bắc và từ quá trình tiếp biến văn hóa của nước ta.Khi vào Việt Nam, Nho giáo là công cụ cai trị của ngoại xâm phương Bắc đốivới nhân dân ta Nhưng khi đất nước ta giành được độc lập sau một nghìn nămBắc thuộc, Nho giáo lại được chính các triều đại phong kiến Việt Nam tiếp nhận

và biến nó thành công cụ cai trị của vương triều mình

Sinh ra và lớn lên trong bối cảnh Nho giáo đã xác lập được chỗ đứng củamình trong đời sống chính trị Việt Nam, hơn nữa lại xuất thân từ một gia đìnhNho học, bản thân Nguyễn Trãi cũng là một nhà nho, đã thi đỗ Thái học sinhdưới thời nhà Hồ và trở thành một trí thức Nho học đương thời, nên NguyễnTrãi không thể không chịu ảnh hưởng của Nho giáo Ông cũng đã từng tự răngmình “nhà ngặt ta bền đạo Khổng Nhan” [86, tr.449] Chính vì vậy, tư tưởngthân dân của Nguyễn Trãi cũng dựa trên cơ sở lý luận của học thuyết Nho giáo,đặc biệt là Nho giáo Khổng - Mạnh

Trong hệ thống lý luận của mình, chữ “dân” được Khổng Tử và Mạnh Tửquan niệm ở các cấp độ khác nhau “Dân” ở đây có thể là những kẻ “tiểu nhân”đối lập với những người “quân tử” Theo nghĩa này, “dân” là những người nô lệ,

bị trị Họ là những người chịu sự sai khiến của những kẻ cầm quyền ChínhKhổng Tử đã khẳng định “Quân tử chi đức phong, tiểu nhơn chi đức thảo Thảothượng chi phong tất yển” (đức vị của người quân tử tỷ như gió; địa vị của kểtiểu nhân tỷ như cỏ Gió thổi qua thì cỏ rạp xuống) [13, tr.190 - 191] Tương tự,

Trang 25

Mạnh Tử gọi “dân” là những người “lao lực” để đối lập với những người “laotâm” Theo Mạnh Tử “Hoặc lao tâm, hoặc lao lực Lao tâm giả trị nhơn; lao lựcgiả trị ư nhơn Trị ư nhơn giả tự nhơn; trị nhơn giả tự ư nhơn” (Có người làmviệc bằng tâm trí; có kẻ làm việc bằng tay chân Người làm việc bằng tâm trí thìcai trị dân chúng; còn kẻ làm việc bằng tay chân thì chịu quyền điều khiển Kẻchịu sự điều khiển có phận sự cung cấp cho người bề trên; nhà cai trị dân chúngđược dân chúng phụng dưỡng) [13, tr.166 - 167].

“Dân” còn được hiểu là thần dân trăm họ, là “bá tính”, là “thiên hạ” đểđối lập với vua Trong nghĩa này, Mạnh Tử cũng đã sử dụng tới khái niệm “nhândân” khi ông viết “chư hầu chi tam bảo: thổ địa, nhơn dân, chính sự Bảo châungọc giả, ương tất cập thân” (nghĩa là một vị vua chư hầu nên quý trọng ba việc:Thổ địa, nhân dân và chính sự Nếu chê ba điều ấy mà quý trọng châu ngọc, ắtthân mình phải vướng lấy tai ương) [13, tr.270 - 271]

Khi đã xác định được “dân” bao gồm những ai, Nho giáo đi đến nhậnđịnh vai trò của dân Dân trong quan điểm của Khổng – Mạnh có vai trò hết sứcquan trọng Họ chính là những người làm ra nguồn của cải vật chất nuôi sống vàduy trì sự tồn tại của xã hội Không chỉ sản xuất ra lương thực, thực phẩm cho

xã hội, dân còn là gốc của nước Theo Nho giáo, không có dân thì không cónước và mỗi khi không có nước thì địa vị của vua cũng không được bảo đảm.Chính vì vậy khi được hỏi về cách cai trị, Khổng Tử đã trả lời nhà cầm quyềncần có ba điều là “túc thực, túc binh, dân tín” (tức là lương thực cho đủ nuôidân, binh lực chi đủ bảo vệ dân và lòng tin của dân đối với mình) Trong ba điều

đó theo Khổng Tử, có thể bỏ “túc thực” và “túc binh” nhưng tuyệt đối khôngđược bỏ “dân tín”, bởi nếu mất lòng tin của dân thì cũng có nghĩa là mất chínhquyền [13, tr.184 - 185] Mạnh Tử cũng đã khuyến cáo “một vị vua chư hầu nênquý trọng ba việc: “Thổ địa, nhân dân và chính sự” Nếu chê ba điều ấy mà quýtrọng châu ngọc, ắt thân mình phải vướng lấy tai ương” Cũng đề cập tới quanđiểm dân là gốc nước, Tuân Tử cũng khẳng định “quân giả là thuyền, thứ dân là

Trang 26

nước Nước chở thuyền, nhưng nước lại đánh đắm thuyền” (Quân giả chu dã,thứ dân giả thủy dã, thủy tắc tải chu, thủy tắc phúc chu) [40, tr.309].

Từ việc chỉ ra vai trò của dân, Nho giáo chủ trương khuyên nhà cầmquyềm phải biết trọng dân, quan tâm chăm sóc tới đời sống của nhân dân vàgiáo hóa cho dân (tư tưởng “dưỡng dân” và “giáo dân”)

Khi bàn về tư tưởng trọng dân, Mạnh Tử có một quan điểm rất nổi tiếng

“dân vi quý, xã tắc thứ chi; quân vi khinh” Điều này có nghĩa là trong nước, dân

là quý trọng hơn hết; kế đó là xã tắc; còn ngôi vua là nhẹ hơn hết trong ba điều

ấy [13, tr.262 - 263] Cho nên nếu ai được lòng dân thì người đó sẽ được ngôivua

Chăm lo tới đời sống của nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong quanđiểm của Nho giáo Khổng - Mạnh Bởi theo các ông muốn “giáo chi” thì phảithực hiện được “phú chi”, muốn nhân dân có “hằng tâm” trước hết phải thựchiện “hằng sản” Chính vì thế trong ba điều cần thiết đối với một người cầmquyền thì theo Khổng Tử “túc thực” là yếu tố đầu tiên phải có Ông cũng chorằng “Bá tánh túc, quân thục dữ bất túc? Bá tánh bất túc, quân thục dữ túc?” [13,tr.186], nghĩa là một khi dân được no ấm thì lo gì người cai trị không được no

ấm, nhược bằng để cho dân chúng đói rét thì người cai trị biết giàu có với ai?

Cũng bàn về vấn đề làm cho dân giàu, Mạnh Tử viết “nếu mỗi ngườinông phu được cấp cho năm mẫu đất để ở, bèn trông dâu chung quanh nhà, thìngười năm chục tuổi được lụa mà mặc Nếu ai nấy chẳng làm hại sự sinh sảncủa thú vật nhà như heo, gà, chó giống cái và đực, thì người bảy mươi tuổi cóthịt mà ăn Nếu chính phủ chẳng đoạt mất thì giờ cấy gặt của những gia đìnhlàm ruộng trăm mẫu, thì những nhân khẩu trong nhà ấy chẳng đến nổi đói khổ”.Chỉ có như vậy thì trong nước “người bảy mươi tuổi có lụa mà mặc, có thịt mà

ăn, và dân đen khỏi đói, khỏi lạnh, thế nào nền cai trị cũng được thịnh vượng’[13, tr.15]

Trang 27

Như vậy, trong quan niệm của những nhà sáng lập Nho giáo thì nhà cầmquyền muốn được thiên hạ thì trước hết phải được lòng dân, để được lòng dânthì trước hết phải làm cho dân được no ấm, phải làm sao để dân có “hằng sản”.Nhưng “dưỡng dân” thôi thì không đủ, nhà cầm quyền còn phải biết “giáo dân”.Bởi “bão thực, noãn y, dật cư nhi vô giáo, tắc cận ư cầm thú”, nghĩa là chớ như

đã được ăn no, mặc ấm, ở yên mà chẳng được giáo dục, thì gần như với loàichim và loài thú rối đó [13, tr.168 - 169]

Đường lối giáo dục của Nho giáo là một trong những nhiệm vụ cơ bảncủa đường lối đức trị của Khổng - Mạnh Khi bàn về vấn đề “giáo hóa dân”,Khổng Tử chủ trương xây dựng một nền giáo dục mang tính bình dân bởi ôngcho rằng “hữu giáo vô loài”, người quân tử không thể chọn người thiện, kẻ lành

để giáo hóa mà bỏ rơi những kẻ ác, người chậm [13, tr.254 - 255] Đây là một tưtưởng rất tiến bộ trong thời kỳ bấy giờ Mục tiêu của quá trình giáo hóa là nhằmhướng con người tìm đến những việc thiện, bởi theo Mạnh Tử “cần phải giáohóa cho dân biết làm thiện (trong khi ấy mình làm thiện), tự nhiên thiên hạ mớichịu phục tùng mình” [13, tr.47, 49], hơn nữa giáo dục cũng sẽ làm cho mọingười đối xử với nhau đúng danh phận và “giáo hóa cho dân chúng biết ăn ởtheo nhân luân: giữa cha và con có tình nhân ái, giữa vua và tôi có mối danhnghĩa, giữa chồng và vợ có sự phân biệt, giữa anh và em có chỗ thứ tự, giữa bầu

và bạn có niềm tin thật” [13, tr.169] Chính giáo dục sẽ giúp cho con người điềuchỉnh những hành vi của mình theo điều “nhân” và cũng thông qua giáo dục màmọi người có thể điều chỉnh các mối quan hệ xã hội một cách có khuôn phép,trật tự hơn

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định rằng thân dân là một tư tưởngxuyên suốt trong Nho giáo nguyên thủy Các tư tưởng này đã tác động khôngnhỏ tới các nhà nho học sau này Tuy nhiên, tư tưởng “dân vi bang bản” trongNho giáo Khổng - Mạnh cũng không vượt ra ngoài hạn chế lịch sử của nó Bởicho dù đề cao vai trò của dân, trọng dân, làm cho dân có “hằng tâm”, “hằng sản”

Trang 28

và “giáo hóa” dân, song mục đích cuối cùng của tư tưởng này là nhằm duy trìtrật tự xã hội đường thời và bảo đảm cho sự vững bền ngôi vị của nhà cầmquyền Cho nên, về thực chất tư tưởng “dân là gốc nước” trong Nho giáo Khổng

- Mạnh chỉ là phương tiện để giai cấp thống trị đạt được mục đích chính trị củamình mà thôi

1.2.2.2 Quan điểm về dân trong lịch sử tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIV

Khi bàn về những tiền đề lý luận cho sự hình thành tư tưởng thân dân củaNguyễn Trãi, bên cạnh sự ảnh hưởng trực tiếp của quan điểm “dân vi bang bản”của Nho giáo, thì những quan niệm về dân của các nhà tư tưởng Việt Nam màtrực tiếp là tư tưởng về dân thời Lý – Trần cũng là một yếu tố tác động tới quátrình hình thành tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi

Đối với một nước đất không rộng, người không đông vừa thoát ra khỏiách đô hộ hơn một nghìn năm của kẻ thù phương Bắc như Việt Nam thì việcđược lòng dân là một điều rất quan trọng Nó chính là chìa khóa để tập hợp sứcmạnh của toàn dân tộc vào sự nghiệp giữ nước và dựng nước Nhận thức sâu sắcđiều đó, những người đứng đầu triều đình nhà Lý luôn coi trọng đến “ý dân”,

“lòng dân” Vì vậy, ngay khi lên ngôi Lý Công Uẩn đã xá thuế ba năm, nghiêmtrị những kẻ thu lạm thuế và định rõ mức thuế, lao dịch Cũng vì thuận theo

“mệnh trời” và “ý dân” mà sau khi lên ngôi ông đã quyết định dời đô từ Hoa Lư

về Đại La Trong Chiếu dời đô, Lý Công Uẩn giải thích rằng quyết định của ông

“là vì mưu chọn chỗ ở chính giữa làm kế cho con cháu ức muôn đời, trên kínhmệnh trời, dưới theo lòng dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi” Chính vì biết gắnquyền lợi của dòng họ với ý nguyện của nhân dân cho nên khi được hỏi về quyếtđịnh của mình, các triều thần đều cho rằng “Bệ hạ vì thiên hạ mà lập kế dài lâu,

để trên cho cơ nghiệp to lớn được thịnh vượng, dưới cho nhân dân được giàucủa, nhiều người, việc lợi như thế, ai dám không theo”[14, tr.259]

Trang 29

Còn theo Lý Thường Kiệt, một bậc đại thần của vương triều Lý, để đạtđược sự ổn định của xã hội thì người cầm quyền phải biết chăm lo tới dân, biếtnuôi dân bởi “Trời sinh ra dân, vua hiền ắt hòa mục Đạo làm chủ dân cốt ở nuôidân” [31, tr.45] Khi tiến hành cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược,ông cũng nhấn mạnh “Đạo làm chủ dân, cốt ở nuôi dân” nên “ta nay ra quân cốt

để cứu vớt muôn dân khỏi nơi chìm đắm ( ), phải quét sạch hôi tanh để đếnthuở ca ngày Nghiêu hưởng tháng Thuấn thanh bình” [33, tr.50]

Đến nhà Trần, chính quyền trung ương vẫn tiếp tục ổn định triều chínhthông qua quá trình khuyến khích nhân dân lao động sản xuất trong lĩnh vựcnông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, văn học nghệ thuật Trong giai đoạn này tưtưởng “dân là gốc nước” tiếp tục được phát triển và đỉnh cao chính là tư tưởng

“khoan thư sức dân” của Trần Quốc Tuấn

Năm 1300, trước lúc Hưng Đạo Vương sắp mất, vua Trần Anh Tông ngựgiá tới thăm và hỏi rằng “chẳng may chết, giặc phương Bắc lại lại xâm lấn thì kếsách làm sao?” Trả lời câu hỏi này Trần Hưng Đạo đã nêu ra những nhận địnhmang tính tổng kết và vạch ra quy luật của chiến tranh giữ nước của dân tộc là

“giặc cậy trận dài, ta cậy binh ngắn, lấy ngắn chế dài là việc thường của binhpháp ( ) Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu gốc bền rễ, đó là thượng sách

để giữ nước” [14, tr.548 - 549]

Khi đưa ra kết luận này, Trần Hưng Đạo đã nhận thấy vai trò to lớn củanhân dân trong sự nghiệp giữ nước, muốn giữ nước trước hết phải giữ được lòngdân, để giữ được lòng dân và duy trì sự ổn định của vương triều thì không cócách nào tốt hơn là phải nới lỏng chế độ thuế khóa, lao dịch cũng như phảinương nhẹ hình phạt thì lúc đó mới thu phục được lòng dân

Trần Quốc Tuấn cũng khẳng định vai trò của quần chúng nhân dân đốivới sự phát triển tài năng của các vị anh hùng Theo ông, những vị anh hùng kiệtxuất sở dĩ làm nên nghiệp lớn là nhờ ở sự giúp đỡ và ủng hộ của quần chúngnhân dân, nếu thiếu sự giúp đỡ ấy thì người anh hùng sẽ không thể làm nên

Trang 30

nghiệp lớn Bởi theo Hưng Đạo Vương: “Chim hồng hộc bay được cao là nhờ ởsáu cái lông cánh, nếu không có sáu cái lông cánh ấy thì cũng như chim thườngthôi” [14, tr.503 - 504] Tư tưởng trọng dân của Trần Hưng Đạo còn thể hiện ởviệc ông luôn biết trọng dụng và tiến cử người tài cho triều đình như Yết Kiêu,

Dã Tượng, Phạm Ngũ Lão, Trương Hán Siêu

Như vậy, muốn giữ nước phải giữ được lòng dân là một bài học quý báu

để các vương triều duy trì được sự tồn tại của mình Bài học đó đã được chứngminh khi nhà Hồ phất cờ khởi nghĩa chống quân Minh xâm lược Trong lịch sửđấu tranh giữ nước của dân tộc ta, ít có cuộc khởi nghĩa nào lại thất bại nhanhchóng như cuộc khởi nghĩa của nhà Hồ Câu trả lời cho thất bại đó có thể góigọn trong câu nói của Hồ Nguyên Trừng: “Thần không sợ giặc, chỉ sợ lòng dânkhông theo”

Mặc dù tư tưởng “dân là gốc” đã được các nhà tư tưởng Việt Nam trướcthời Nguyễn Trãi đề cập tới Tuy nhiên, đó mới chỉ là những tư tưởng rời rạc,chưa mang tính hệ thống và còn nặng về cái nhìn của người bề trên nên cònnhiều hạn chế Những hạn chế đó đã được khắc phục trong hệ tư tưởng củaNguyễn Trãi sau này

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng tư tưởng thân dâncủa Nguyễn Trãi là sự kết hợp của các yếu tố: thực tiễn xã hội Việt Nam cuốithế kỷ XIV, dầu thế kỷ XV; những nét tích cực trong tư tưởng thân dân của Nhogiáo nguyên thủy, của các nhà tư tưởng Việt Nam trước thời của ông và nhữngtruyền thống quý báu của gia đình cũng như thiên tài của Nguyễn Trãi

1.3 Những nội dung cơ bản trong tư tưởng thân dân Nguyễn Trãi 1.3.1 Đề cao vai trò và sức mạnh của nhân dân

Cuộc đời của Nguyễn Trãi gắn liền với những biến động: gia đình lưu tán,dân tộc thì rên siết dưới gót giày xâm lược của kẻ thù, khi đất nước được giảiphóng thì ông – với tư cách là một vị khai quốc công thần – lại bị Lê Thái Tổnghi kị, bị tống giam rồi được thả nhưng lại không trọng dụng đến nỗi ông phải

Trang 31

cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn Gần trọn cả cuộc đời ông gắn bó với nhân dân,sống cùng nhân dân Chính vì thế mà ở Nguyễn Trãi nhân dân luôn có một ví trírất quan trọng, quan trọng đến mức trân trọng Cũng vì thế khi nhắc đến nhândân Nguyễn Trãi luôn dành những tình cảm và ngôn từ thân thiết, gần gũi

Tuy là một trí thức nho học đương thời chịu ảnh hưởng rất lớn từ Nhogiáo, bản thân ông cũng luôn tâm niệm “lòng hãy cho bền đạo Khổng môn” [86,

tr 433], nhưng khi bàn đến khái niệm “dân” Nguyễn Trãi không sử dụng nhữngthuật ngữ mà các nhà kinh điển của nho học đã dùng như “tiểu nhân”, “hạ ngu”,

“hạ dân”,v.v , mà “dân” trong quan niệm của Nguyễn Trãi chính là những conngười bình dị đang sống xung quanh ta, đang ngày đêm cần mẫn lao động khôngbiết ngơi nghỉ Họ là những người đang “vun đất ải lảnh mông tơi, liêm cần tiết

cả tua hằng nắm” [86, tr.398], là “phơ phơ đầu bạc ông câu cá, lẻo lẻo duềnhxanh con mắt mèo” [86, tr.429] Họ không chỉ là những người nông dân mộtnắng hai sương, tảo tần nơi lũy tre làng, “dân” với Nguyễn Trãi còn là tất cảnhững giai tầng trong xã hội, là sĩ – nông – công – thương Tuy mỗi người “cócao cùng thấp” song tất thảy “đều hết làm tôi thánh thượng hoàng” [86, tr.438].Cuộc sống của những người dân mặc dù phải tất bật với những lo toan thườngnhật, song với họ “phú quý chẳng tham thanh tựa nước” [86, tr.402], tất cả rồicũng chỉ thoáng qua như hạt sương trên ngọn cỏ cho nên họ chỉ cần “phong lưumòn mỏi ba đường cúc, ngày tháng tiêu ma một bát chè” thế là đủ [86, tr.420]

Khi đất nước thanh bình những con người giản dị ấy chỉ biết vui với thúruộng vườn, nhưng khi đất nước lâm nguy thì những con người tưởng như vôdanh ấy lại chính là lực lượng làm nên sức mạnh vô địch để giúp triều đình đánhđuổi quân thù, mở nền thái bình cho đất nước Tuy chỉ là “tứ phương manh lệ”nhưng khi họ tề tựu lại dưới ngòn cờ chính nghĩa thì những “manh lệ” ấy lại hợpthành một sức mạnh to lớn, đập tan mọi kẻ thù hung tợn Là người cùng Lê Lợilãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, hơn ai hết Nguyễn Trãi rất hiểu điều đó, vớiông cho dù có “lớp lớp rào lim ngăn sóng biển”, hoặc “khóa sông xích sắt” đi

Trang 32

chăng nữa nhưng nếu nhân dân không theo cũng vậy thôi, thế mới biết “lậtthuyền mới rõ dân như nước” [86, tr.281]

Trong quan niệm của Nguyễn Trãi nhân dân còn là những người bị bóclột nặng nề nhất trong xã hội nhất là khi triều đình phong kiến lâm vào khủnghoảng hay khi đất nước bị xâm lăng

Sống trong giai đoạn nhà Trần đang trên đà suy vong nên Nguyễn Trãi đãchứng kiến và cảm thông với hoàn cảnh lầm than của dân chúng Trong bối cảnh

xã hội mà triều đình thì “cậy mình giầu, mặc dân khốn khổ, chỉ ham vui chơi,đắm đuối tửu sắc”, chỉ biết “đánh bạc vây cờ, chọi gà, thả chim; nào là cá vàngnuôi chậu, chim rừng nhốt lồng”, mặc cho dân phải sống trong cảnh lầm thankhốn khó Vì thế khi mà chính giáo suy đồi, kỷ cương rối loạn [86, tr.196 - 197].Nguyễn Trãi cũng như nhân dân đều mong muốn một chính thể mới tốt đẹp hơn,gần dân hơn Điều này cũng lý giải tại sao khi nhà Hồ tiếm quyền của nhà Trần,Nguyễn Trãi đã cùng cha là Nguyễn Phi Khanh đã ra làm quan cho chính quyềnmới nhằm mong muôn cống hiến sức mình để đưa đất nước thoát khỏi khủnghoảng, nhân dân thoát khỏi cảnh cơ hàn Nhưng khi lên nắm quyền, vương triều

Hồ một lần nữa lại đi vào vết xe đổ mà nhà Trần đã mắc phải trước đó Cha con

Hồ Quý Ly chỉ biết “lấy gian trí để hiếp lòng dân Lệnh bảo sao ban bố mà mọingười oán nỗi thương sinh; việc di dân thi hành mà mọi người kêu bề thất sở.Gia dĩ thuế mà phiền, dao dịch nặng, pháp luật ngặt, hình phạt nghiêm Chỉ vụích kỷ phì gia; chẳng nghĩ khổ dân hại nước” [86, tr.196 - 197] Những việc làmcủa chính quyền nhà Hồ không những giúp nhân dân thoát khỏi cảnh bần cùng,

mà lại càng làm nhân dân “oán nỗi thương sinh”, “kêu bề thất sở” hơn

Khi nhà Minh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược và chiếm được chínhquyền từ tay nhà Hồ, chúng đã thi hành một chế độ cai trị tàn khốc, ra sức bóclột sức của đối với nhân dân ta: “chuyên chém giết để ra oai; coi mạng ngườinhư cỏ rác Trói bắt vợ con của dân ta; cuốc đào lăng mộ của nước ta Cấm cámuối để dân khốn thức ăn; đòi gấm lụa để dân thiếu đồ mặc Ngọc vàng vơ vét

Trang 33

hết; tê tượng cung cấp luôn Chính thì hà khắc, hình thì thảm thương, dân khôngsống nổi” [86, tr.197 - 198].

Là người đã từng sống trong cảnh nước mất, nhà tan, phải chịu sự giamcầm của kẻ thù trong thành Đông Quan với cảnh “no nước uống thiếu cơm ăn”[86, tr.395], Nguyễn Trãi thấu hiểu nỗi đau của người dân mất nước Cho nên,

“dân” trong hoàn cảnh này theo Nguyễn Trãi chính là “dân đen” đang bị thui

“trên lò bạo ngược”; là “con đỏ” đang bị hãm “dưới hố tai ương”, họ là nhữngngười đang từng ngày phải “mò ngọc trai thì mặc giao long, giòng dây quẳngbiển”, phải “đào hầm bẫy hươu đen”, “chăng lưới bắt chim trả” Tất cả đangphải quằn quại trước sự tàn bạo của những tên xâm lược “hút máu mủ sinhlinh”, “miệng răng nhờn béo” [86, tr.77 - 78]

Rõ ràng khi lên án, tố cáo tội ác của quân xâm lược đối với nhân dân,Nguyễn Trãi không đứng trên lập trường của một người “chăn dân” để rủ lòngthương hại đến dân, mà ông đứng trên lập trường của một người dân mất nước,mất tự do để nói lên nổi lòng của nhân dân Đây là một sự khác biệt giữaNguyễn Trãi và các nhà nho trước và cùng thời với ông Ngay cả Khổng Tử vàMạnh Tử khi nói về dân họ cũng đứng ở lập trường của người “quân tử”, củanhững người “lao tâm” để nói về những kẻ “tiểu nhân”, những người “lao lực”với ánh mắt của một kẻ bề trên

Từ việc xác định “dân” là bao gồm tất cả những con người đang hằngngày “vun đất ải luống mồng tơi”; là những “con đỏ”, “dân đen”; là “tứ phươngmanh lệ” Nguyễn Trãi đi đến việc đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân

Trong quan điểm của Nguyễn Trãi, vai trò của nhân dân trước hết thể hiện

ở chỗ dân là những người trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống xãhội Với ông, mọi thành quả mà xã hội có được đều nhờ quá trình lao động sángtạo của nhân dân Tuy chỉ là những con người bình dị, suốt ngày chỉ quen vớicuốc cày, vun xới nhưng tất cả những “qui mô lớn lao lộng lẫy, đều là sức lao

Trang 34

khổ của quân dân” mà có [86, tr.196] Do đó Nguyễn Trãi luôn tự căn dặn mìnhrằng “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày” [86, tr.445].

Đây là cái nhìn hết sức mới mẻ và nhân văn của Nguyễn Trãi Trong Nhogiáo truyền thống, trong lịch sử dân tộc có thể ai cũng biết nhân dân là ngườilàm ra mọi của cải để nuôi sống xã hội, song có mấy người thấy được mình phảibiết ơn và “đền ơn” những con người bình dị, thậm chí là thấp hèn ấy? Câu trảlời là không Bởi vì, trong quan niệm của Nho giáo nhân dân chỉ là những kẻ

“tiểu nhân”, những người “lao lực” Đã là kẻ “tiểu nhân”, là người “lao lực” thìphải có nghĩa vụ phụng dưỡng những bậc “quân tử”, những người “lao tâm”.Điều này là hiển nhiên bởi số mệnh đã quy định như thế Cho nên thật dễ hiểukhi Khổng Tử đã nói “Quân tử chi đức phong, tiểu nhơn chi đức thảo Thảothượng chi phong tất yển” [13, tr.190 - 191]; Mạnh Tử cũng khẳng đinh: “Laotâm giả trị nhơn; lao lực giả trị ư nhơn Trị ư nhơn giả tự nhơn; trị nhơn giả tự ưnhơn” [13, tr.166 - 167] Chúng ta cũng bắt gặp tư tưởng này ở Trần Khánh Dư,một danh tướng thời Trần, khi ông từng nói “Tướng là chim ưng, quân dân làcon vịt, đem con vịt mà nuôi chim ưng thì có gì là lạ” [14, tr.541]

Ở Nguyễn Trãi lại khác, gần trọn cuộc đời của mình ông sống cùng nhândân và trong nhân dân nên ông rất hiểu và cảm thông nỗi vất vả của nhân dân

Để có được những “qui mô lớn lao lộng lẫy” đó, nhân dân đã phải đổ bao nhiêu

mồ hôi và nước mắt thậm chí là cả máu của mình Cho nên, Nguyễn Trãi luônnhắc nhở những người làm quan như mình rằng phải luôn nhớ và “đền ơn kẻ cấycày” Còn đối với nhà vua, Nguyễn Trãi cũng khuyên nhủ rằng để đền ơn dânnhà vua cần yêu dân như con, làm sao “để cho các nơi làng mạc không có tiếngoán giận than sầu” [15, tr.159]

Quan trọng hơn, tư tưởng đền ơn dân lại được Nguyễn Trãi đưa ra saukhi triều đình Lê sơ được thiết lập Điều đó có nghĩa, tất cả những gì mà ông nóitới là hoàn toàn xuất phát từ tấm lòng của ông, từ thái độ quý và trọng dân củaông, chứ không phải là những lời hoa mỹ để “mị dân” Bởi có nhiều người trước

Trang 35

khi khởi sự thường dùng những mỹ từ để đánh vào lòng người, nhưng khi giànhđược thắng lợi, có quyền lực trong tay thì lại quay trở lại phản bội với lợi íchcủa những người đã tạo nên thành công của mình.

Nhân dân không chỉ là những người sáng tạo ra những giá trị vật chất vàtinh thần cho xã hội, mà hơn hết họ chính là những người tạo nên sức mạnh tổnghợp để giúp Lê Lợi giàng thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minhxâm lược Khi tổng kết cuộc chiến tranh giữ nước trong suốt hai mươi năm,Nguyễn Trãi đã chỉ ra rằng cuộc khởi nghĩa Lam Sơn là cuộc khởi nghĩa củanhân dân Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa cũng là thắng lợi của nhân dân, của “tứphương manh lệ”

Trong bản bố cáo với thiên hạ về việc đánh đuổi giặc Minh ra khỏi bờ cõi,Nguyễn Trãi đã thừa nhận sự nghiệp cách mạng thắng lợi là nhờ “dân chúng bốnphương” tụ hội về dưới ngọn cờ của Lê Lợi, cùng “một dạ cha con” “dựng gậylàm cờ” mà làm nên chiến thắng Cho nên thắng lợi của cuộc khởi nghĩa LamSơn không đơn thuần là thắng lợi của mưu trí và thiên tài của người cầm quân,

mà thắng lợi đó còn là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp từ nhân dân Đó là điều

mà hai mươi năm trước Hồ Quý Ly không làm được trong cuộc kháng chiếnchống quân Minh xâm lược để bảo vệ vương quyền vừa mới được xác lập Chonên, vấn đề đặt ra đối với người cầm quân như Lê Lợi và Nguyễn Trãi là làmsao tập hợp được nhân dân theo về dưới ngọn cờ khởi nghĩa của mình? Nhữngtrăn trở ấy của vị “động chủ” Lam Sơn đã được Nguyễn Trãi tháo gỡ khi ông

dâng Bình Ngô sách Điểm đặc biệt của Bình Ngô sách là “hiến mưu chước lớn,

không nói đến việc đánh thành mà lại khéo nói đến việc đánh vào lòng người”,

vì thế mà “cuối cùng nhân dân và đất nước của mười lăm đạo nước ta đều đem

về cho ta” [86, tr.14]

Chính do cách nhìn và đánh giá về nhân dân như vậy mà Nguyễn Trãicùng với Lê Lợi đã động viên và tổ chức được lực lượng nhân dân đứng lênkháng chiến, chính sách “đánh vào lòng người” của Nguyễn Trãi đã giúp nghĩa

Trang 36

quân từng bước vượt qua những khó khăn gian khổ để đi đến thắng lợi cuốicùng.

Chính Nguyễn Trãi cũng thừa nhận rằng khi dân chúng tập hợp về dướingọn cờ của Lê Lợi là lúc mà “thế giặc đương hăng”, trong khi đó ở phía ta thì

“nhân tài lác đác như lá mùa thu, tuấn kiệt lưa thưa như sao buổi sớm Bôn tẩutrước sau đành đã thiếu người, vạch kế bày mưu lại càng thiếu kẻ”; lương không

đủ ăn, “quân không một lữ” [86, tr.77 - 79] Nhưng do xác định được vai trò vàsức mạnh của nhân dân nên khởi nghĩa Lam Sơn đã huy động được sức mạnh tolớn của nhân dân, từ chỗ “trước kia quân bất quá vài trăm người, mà nay thìbinh phụ tử ở Thanh Hóa không dưới hai vạn, quân có tiếng tinh tráng dũng cảm

ở Diễn Châu, Tân Bình, Thuận Hóa cũng không dưới vài vạn, cùng quân đồngtâm đồng lực ở các lộ Giao Châu, không dưới mười vạn người” [86, tr.138].Chính điều này đã tạo ra sức mạnh to lớn để nghĩa quân chiến thắng được quânxâm lược nhà Minh

Nhân dân không chỉ là lực lượng tham gia đông đảo nhất trong cuộc khởinghĩa, mà nhân dân còn là hậu phương cung cấp sức người sức của cuộc chiếntranh giữ nước Trong lúc cuộc khởi nghĩa đang gặp khó khăn về lực lượng,nhân dân đều “tranh nhau đến cửa quân, nguyện hăng hái ra sức để mưu báođền”; khi nghĩa quân tới Đông Đô “trong ba ngày đầu, nhân dân kinh lộ và cácphủ, châu, huyện cùng các tù trưởng ở biên trấn đều tấp nập đến cửa quân,nguyện ra sức liều chết đánh thành giặc ở các nơi” [86, tr.59, 63] Lúc nghĩaquân cần đến lương thảo thì nhân dân “tranh nhau đem trâu, rượu, lương thực đểkhao quân sĩ” [86, tr.61]

Nguyễn Trãi không chỉ thấy được vai trò của nhân dân trong cuộc khángchiến giữ nước, mà còn nhận thức được vai trò quyết định của nhân dân trong sựthịnh vong của một vương triều Với ông, “lật thuyền mới rõ dân như nước” [86,tr.281], và “mến người có nhân là dân, mà chở thuyền lật thuyền cũng là dân”[86, tr.203]

Trang 37

Nguyễn Trãi không phải là người đầu tiên sử dụng cặp phạm trù “quânchu” – “dân thủy” để nói về vai trò và sức mạnh của nhân dân, trước ông Tuân

Tử đã từng nói “Quân giả chu dã, thứ dân giả thủy dã, thủy tắc tải chu, thủy tắcphúc chu” Nhưng nếu các nhà tư tưởng của Nho giáo đưa ra quan điểm này đểkhuyên răn nhà cầm quyền muốn giữ được vương quyền thì không được để mấtlòng dân Bởi vì “đạo đắc chúng, tắc đắc quốc; thất chúng, tắc thất quốc”, nghĩa

là nhà cầm quyền nếu được lòng dân chúng ắt được đất nước, nếu để mất lòngdân chúng thì sớm muộn cũng mất nước mà thôi [13, tr.26 - 29] Với NguyễnTrãi, khái niệm “dân là nước” được ông nhắc tới không chỉ để cảnh tỉnh nhàcầm quyền, mà hơn hết cả là nhằm khuyên nhủ người cầm quyền phải biết tôntrọng nhân dân, phải luôn nhớ rằng nhờ có sức mạnh đó mà mình mới có được

cơ nghiệp Cũng chính vì thế mà Nguyễn Trãi khuyên người nắm quyền phảibiết “ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày”, phải gần dân và theo dân

Thái độ gần dân và theo dân mà Nguyễn Trãi đề xướng đã được Lê Lơi sửdụng rất thành công trong thời kỳ kháng chiến chống quân Minh xâm lược.Theo đó, “phàm sĩ dân và quân nhân đến cửa quân, vua đều nhún lời hậu lễ màđãi, đều tùy tài cao thấp cất đặt làm các chức ( ) Bởi thế ai nấy đều cảm kíchnguyện hết sức liều chết, cho nên đến đâu là lập được công ngay” [86, tr.202 -203] Sau khi giành được chính quyền, Nguyễn Trãi tiếp tục thực hiện chủtrương gần dân của mình trong việc khuyên bảo thái tử Nguyên Long (vua Thái

Tông sau này), trong Chiếu về việc làm bài “hậu tự huấn” để răn thái tử

Nguyễn Trãi đã viết “Nay con nhớ công lao của ta, nối cơ nghiệp của ta, phạmnhững phép giữ nước cầm quân, những phương giữ mình trị nước, thi hành nên

cố sức, chăm chỉ chớ ham vui Hòa thuận tôn thân, nhớ giữ một lòng hữu ái;thương yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân ( ) Nếu con cậy mìnhsáng suốt, dùng người yêu riêng, quan của ta thì ruồng bỏ, chính của ta thì đổithay, gia pháp thì không tuân, chí thân thì phế khí xa người trung thực, gần bọnxiểm du, chỉ điều khoái trí thì làm, chỉ trò ngoạn mục thì chuốc, chẳng theo đức

Trang 38

cần kiệm, chẳng nghĩ công gian nan, thì như cổ nhân đã nói: “cha đã sắp đặt làm nhà mà con chẳng chịu đắp nền dựng cột; cha đã siêng chăm cày ruộng mà con không chịu gieo giống gặt mùa” sao thành được chí ta, nối được nghiệp ta,

mà truyền nối về sau mãi mãi” [86, tr.202 - 203]

Như vậy, dân trong quan niệm của Nguyễn Trãi là những người có vai trò

vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của xã hội Chính nhân dân là ngườisáng tạo ra mọi giá trị vật chất và tinh thần để nuôi sống và làm đẹp xã hội; nhândân cũng chính là lực lượng cơ bản nhất của mọi cuộc cách mạng để đưa xã hộivận động đi lên và và nhân dân cũng chính là hệ quy chiếu để những người cầmquyền điều chỉnh chính sách cai trị của mình Đây là một đóng góp của NguyễnTrãi so với những nhà tư tưởng trước và cùng thời với ông Và như cố giáo sưTrần Văn Giàu đã nói “nếu nhà làm sử không nhầm thì đây là lần đầu tiên mà

“manh lệ bốn phương” được công khai thừa nhận là lực lượng kháng chiến cơbản, đặc biệt trong những năm tháng gian nguy nhất của cuộc kháng chiến Và

từ độ ấy mãi cho đến Nguyễn Đình Chiểu thì “dân xóm lân dân” mới được catụng trong Văn tế nghĩa sỹ Cần Giuộc như những anh hùng vô danh mà tuyệtdiệu; “dân xóm lân dân” của Nguyễn Đình Chiểu cũng như “manh lệ bốnphương” của Nguyễn Trãi, đều là lớp người khốn khổ nhất đương thời” [63,tr.273]

1.3.2 Tư tưởng gắn trực tiếp nhân nghĩa với an dân

Nhân nghĩa là một vấn đề trung tâm của Nho giáo Nói đến nhân nghĩa làchúng ta nói đến mối quan hệ đạo đức giữa con người với con người trong xãhội

Khi bàn về vấn đề “nhân” tùy vào hoàn cảnh, thời điểm mà Khổng Tử cónhững lý giải khác nhau về chữ “nhân” Khi trả lời Nhan Uyên, Khổng Tử chorằng “khắc kỷ, phục lễ, vi nhân” [13, tr.180], nhưng khi trả lời Phàn Trì thì ônglại cho rằng “Cư xử cung, chấp sự kinh, dữ nhơn trung Tuy chi Di địch, bất giảkhí giả” (nghĩa là khi ở nhà, mình giữ gìn dung mạo cho khiêm cung, khi ra làm

Trang 39

việc, mình phải thi hành một cách kính cẩn; khi giao thiệp với người mình phảigiữ dạ trung thành Dẫu có đi đến các đoàn rợ phương Đông và phương Bắc,mình cũng chẳng bỏ ba hạnh cung, kính và trung ấy; như vậy là người có đứcnhân) [13, tr.206 - 207].

Đến Mạnh Tử thì “nhân” được bàn đến trong mối quan hệ với “nghĩa”.Theo Mạnh Tử “Vị hữu nhân nhi di kỳ thân giả giã Vị hữu nghĩa nhi hậu kỳquân giả giã” (chưa hề có người quý điều nhân mà lại bỏ bê cha mẹ bà conmình Chưa hề có người trọng điều nghĩa mà lại coi việc vua việc nước nhẹ hơnviệc riêng tư của mình) [13, tr.8 - 9]

Tuy được giải thích dưới nhiều cách khác nhau, song nhân nghĩa trong

học thuyết Khổng - Mạnh đều nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội, hay nói cáchkhác nhân nghĩa là phương tiện để nhà cầm quyền sử dụng nhằm duy trì kỷcương xã hội và sự tồn tại của vương triều mình

Nhưng khi Nho giáo du nhập vào Việt Nam thì cùng với nó phạm trù

nhân nghĩa cũng được người Việt tiếp nhận qua lăng kính của văn hóa Việt Khi

vào nước ta, nhân nghĩa không còn là công cụ để bảo vệ ngôi vị của bậc vươnggiả nữa, mà nó đã trở thành một quy chuẩn đạo đức trong mối quan hệ cộngđồng giữa người với người

Nguyễn Trãi là một nhà nho, chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng của Nhogiáo, bản thân ông cũng tâm niệm rằng “lòng hãy cho bền đạo khổng môn” Chonên “tôi cũng lấy đạo nhân nghĩa, hết lòng kính thờ triều đình” [86, tr.109].Nhưng bản thân Nguyễn Trãi lại là một người dân Việt, thấm nhuần tư tưởngđạo đức Việt, nên nhân nghĩa của ông cũng mang đậm tinh thần nhân nghĩa củavăn hóa Việt Vì vậy, điểm khác biệt trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

so với Nho giáo Khổng - Mạnh là ở chỗ: nhân nghĩa trước hết là để “yên dân”

Trong các văn thư gửi cho tướng giặc và dụ hàng các thành, Nguyễn Trãi

đề cập rất nhiều tới vấn đề này Theo đó khi gửi thư cho Liễu Thăng, NguyễnTrãi cho rằng “Quân của Vương giả chỉ có dẹp yên mà không đánh chém Việc

Trang 40

làm nhân nghĩa cốt để yên dân” [86, tr.160]; trong thư dụ hàng tướng sĩ ở thànhBình Than ông lại viết “đại đức thích cho người ta sống, thần vũ không hay giếtngười, đem quân nhân nghĩa đi đánh dẹp cốt để yên dân” [86, tr.153]; tiếp đókhi gửi thư dụ hàng thành Xương Giang, Nguyễn Trãi đã lý giải tại sao nghĩaquân Lam Sơn lại giành được thắng lợi: “kể ra, thích cho người ta sống mà ghétviệc giết người, là một người tướng có nhân nghĩa; xét biến thời cơ mà biếtlượng sức mình là người tướng có trí thức Ta kính vâng mệnh trời, lấy đại nghĩachuyên việc đánh dẹp Nghĩ đến tổ tông bị nguy đổ, thương nỗi nhân dân phảilầm than, đánh thành lấy đất không giết một người Cho nên đánh đông dẹp tây,không nơi nào không phục” [86, tr.155]; trong biểu tiến cống, tâu trình tạ tội gửicho vua Minh, Nguyễn Trãi tiếp tục nhấn mạnh “Đánh kẻ có tội cứu vớt nhândân, là thánh nhân làm việc đại nghĩa, dấy nước đã diệt, nối dòng đã tuyệt làvương giả có lòng chí nhân” [86, tr.187].

Có thể thấy rằng đường lối cứu nước bằng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đề

ra ngay từ khi dâng Bình Ngô sách cho Lê Lợi là đường lối hoàn toàn khác sovới nhân nghĩa của Nho giáo truyền thống Nhân nghĩa phải thực sự gắn vớinhân dân, phải vì nhân dân và cho nhân dân Điều đó cũng được Nguyễn Trãikhẳng định:

“Quyền mưu vốn là để trừ gian ácNhân nghĩa thì giữ gìn cho thế nước yên ổn” [86, tr.291].Trong lời mở đầu của Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi nhấn mạnh:

“Việc nhân nghĩa cốt để yên dân,Quân cứu nước trước cần trừ bạo” [86, tr.77]

Như vậy đường lối cứu nước bằng nhân nghĩa mà Nguyễn Trãi đề xuấttrong cuộc chiến tranh giữ nước chính là sự kết hợp giữa nhân nghĩa với an dân.Cuộc sống của nhân dân, hạnh phúc của nhân dân chính là cơ sở để thực thinhân nghĩa Đó cũng là lí do và mục đích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Điều

Ngày đăng: 22/01/2016, 13:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lê Lộc Anh (2004), “Nhân” trong Luận ngữ của Khổng Tử”, Tạp chí Triết học, (Số 11) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân” trong Luận ngữ của Khổng Tử”, "Tạp chíTriết học
Tác giả: Lê Lộc Anh
Năm: 2004
[2]. Nguyễn Thị Thục Anh (1998), “Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV”, Tạp chí Triết học, (Số 6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân nghĩa của NguyễnTrãi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ở thế kỷ XV”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thị Thục Anh
Năm: 1998
[3]. Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chức năng giám sát và phản biệnxã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia – Sựthật
Năm: 2012
[4]. Trần Quang Ánh (1996), Quan niệm về dân và tư tưởng thân dân trong “Luận ngữ” và “Mạnh tử”, Luận văn Thạc sỹ triết học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm về dân và tư tưởng thân dântrong “Luận ngữ” và “Mạnh tử”
Tác giả: Trần Quang Ánh
Năm: 1996
[5]. Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI (Dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở), Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết Hộinghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI(Dùng cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2013
[6]. Trương Khuê Bích (1982), “Hồ Chủ tịch và chủ nghĩa nhân đạo”, Tạp chí Triết học, (Số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chủ tịch và chủ nghĩa nhân đạo”,"Tạp chí Triết học
Tác giả: Trương Khuê Bích
Năm: 1982
[7]. Hoàng Thị Bình (2001), “Nhân, Nhân nghĩa, Nhân chính trong “Luận ngữ” và “Mạnh tử”“, Tạp chí Triết học, (Số 8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân, Nhân nghĩa, Nhân chính trong “Luậnngữ” và “Mạnh tử”“, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng Thị Bình
Năm: 2001
[8]. Nguyễn Đức Bình, Trần Ngọc Hiên (đồng chủ biên, 1999), Đổi mới và tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mớivà tăng cường hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới
Nhà XB: Nxb. Chính trịquốc gia
[9]. Nguyễn Văn Bình (1998), “Nhân cánh nhà Nho trong con người Nguyễn Trãi”, Tạp chí Triết học, (Số 4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân cánh nhà Nho trong con ngườiNguyễn Trãi”, "Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 1998
[10]. Bộ Nội vụ (2013), Tài liệu Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyên viên (Ban hành kèm theo Quyết định số 900/QĐ - BNV ngày 06 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Chương trình bồi dưỡng ngạch chuyênviên (Ban hành kèm theo Quyết định số 900/QĐ - BNV ngày 06 tháng 8 năm2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)
Tác giả: Bộ Nội vụ
Năm: 2013
[11]. Phan Bội Châu (1990), Toàn tập, tập IX, Nxb. Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập IX
Tác giả: Phan Bội Châu
Nhà XB: Nxb. Thuận Hóa
Năm: 1990
[12]. Nguyễn Trọng Chuẩn (2006), Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam, tập 1, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam,tập 1
Tác giả: Nguyễn Trọng Chuẩn
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2006
[13]. Dịch giả Đoàn Trung Còn (2006), Tứ thư (Trọn bộ 4 tập), Nxb.Thuận Hóa, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tứ thư (Trọn bộ 4 tập)
Tác giả: Dịch giả Đoàn Trung Còn
Nhà XB: Nxb.Thuận Hóa
Năm: 2006
[14]. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 1
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
[15]. Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
[16]. Quang Đạm (1980), “Chủ nghĩa yêu nước Nguyễn Trãi”, Tạp chí Triết học, (Số 3) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa yêu nước Nguyễn Trãi”, "Tạp chíTriết học
Tác giả: Quang Đạm
Năm: 1980
[17]. Quang Đạm (1994), Nho giáo xưa và nay, Nxb. Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo xưa và nay
Tác giả: Quang Đạm
Nhà XB: Nxb. Văn hoá
Năm: 1994
[18]. Dân chủ và thiết chế dân chủ ở Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ và thiết chế dân chủ ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Quân đội nhân dân
[19]. Võ Xuân Đàn (1996), “Tư tưởng nhân ái Nguyễn Trãi trong sự hình thành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Xã hội, (Số 28) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng nhân ái Nguyễn Trãi trong sự hìnhthành tư tưởng nhân văn Hồ Chí Minh”, "Tạp chí Khoa học Xã hội
Tác giả: Võ Xuân Đàn
Năm: 1996
[20]. Võ Xuân Đàn (1996), Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Nguyễn Trãi trong tiến trình lịch sửViệt Nam
Tác giả: Võ Xuân Đàn
Nhà XB: Nxb. Văn hóa thông tin
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w