Khu công nghiệp Khái niệm về khu công nghiệp trên thế giới: Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp,khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trong
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa (CNH – HĐH) là một trong những mục tiêuhàng đầu của nước ta trong xu thế hội nhập toàn cầu Phát triển công nghiệp sẽ đemlại sự tăng trưởng cho nền kinh tế quốc gia, trong đó khu kinh tế đặc biệt, khu chếxuất (KCX), khu công nghiệp (KCN) giữ vai trò vô cùng quan trọng
Khu công nghiệp góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tạo thuậnlợi trong thu hút đầu tư trong và ngoài nước, tiếp nhận công nghệ tiên tiến, thúc đẩytăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp, đồngthời sẽ là cầu nối hội nhập nền kinh tế trong nước với các nền kinh tế quốc tế Ngày
24 tháng 04 năm 1997, Chính Phủ ban hành Nghị định số 36/CP về Quy chế khuchế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, tạo ra cơ sở pháp lý cho việc xâydựng và vận hành khu công nghiệp tập trung trên phạm vi cả nước Sau một thờigian áp dụng và hoàn thiện, ngày 14 tháng 3 năm 2008 Chính Phủ ban hành Nghịđịnh số 29/CP của Thủ Tướng Chính phủ Qui định về khu công nghiệp, khu chếxuất, khu kinh tế thay thế cho nghị định 36/CP, đây là bước tiến trong công tác quản
lý nhà nước đối với các KCN trên cả nước
Hòa cùng sự phát triển các khu công nghiệp trên khắp cả nước, các khu côngnghiệp tại tỉnh Bình Dương ra đời đã trở thành địa điểm hấp dẫn thu hút đầu tưtrong và ngoài nước cùng với các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai và Thành Phố
Hồ Chí Minh Bình Dương, Đồng Nai và Thành Phố Hồ Chí Minh tạo thành tamgiác kinh tế trọng điểm phía nam, mang lại gia tăng cho GDP quốc gia, góp phầnthực hiện mục tiêu đưa nước ta từ một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiếnlên một nước công nghiệp hiện đại, tiên tiến
2 Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Bình Dương là một trong những tỉnh đứng đầu nước ta về phát triểncông nghiệp cùng với Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng cộng 28 khu
Trang 2công nghiệp đang hoạt động, có tổng diện tích qui hoạch được duyệt là 7.187,09 ha,trong đó có khu công nghiệp Mỹ Phước.
Với một tỉnh có số lượng khu công nghiệp nhiều và qui mô lớn như trên, việcquản lý hiệu quả hoạt động từng khu công nghiệp là vô cùng cấp thiết, trong đó đốitượng là các doanh nghiệp (DN) đang hoạt động trong khu công nghiệp Nếu côngtác quản lý các doanh nghiệp đang hoạt động trong khu công nghiệp không đượcchú trọng đúng mức thì sẽ dẫn đến hoạt động của các doanh nghiệp trong khu côngnghiệp gặp trở ngại, môi trường khu công nghiệp bị ô nhiễm, an ninh khu vựckhông được đảm bảo, thất thu thuế…Điều đó sẽ ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu
tư tại khu công nghiệp Ngược lại, công tác quản lý các doanh nghiệp đang hoạtđộng trong khu công nghiệp hiệu quả, sẽ đem lại sự phát triển mạnh mẽ cho KCN,góp phần phát triển kinh tế tại địa phương và cho cả quốc gia
Khu công nghiệp Mỹ Phước (gồm Mỹ Phước 1, Mỹ Phước 2, Mỹ Phước 3,Bàu Bàng, Thới Hòa) là khu công nghiệp có qui mô lớn nhất tỉnh Bình Dương, cótổng diện tích khoảng 6.200 ha (trong đó đất công nghiệp 3.000 ha, đô thị và dịch
vụ 3.200 ha) và là khu công nghiệp điển hình của tỉnh Bình Dương Với quan điểm
lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng mô hình xây dựng mô hình Khu công nghiệp phức hợp, trong đó không chỉ thu hút các hoạt động sản xuất công nghiệp mà còn
có các hoạt động dịch vụ, thương mại, đô thị và dân cư nhằm đảm bảo một sự pháttriển bền vững Kết quả nghiên cứu tại khu công nghiệp này giúp nâng cao đượccông tác quản lý khu công nghiệp, gia tăng thu hút đầu tư, mang lại sự thuận lợitrong hoạt động sản xuất cho các doanh nghiệp trong KCN và góp phần phát triểnkinh tế- xã hội Đồng thời có thể vận dụng được cho các khu công nghiệp kháctrong tỉnh Bình Dương và cho các khu công nghiệp trên cả nước
Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hoàn thiện môi trường hoạt động của các doanh nghiệp tại khu công nghiệp Mỹ Phước tỉnh Bình Dương đến năm 2020” làm đề tài luận văn thạc sỹ, ngành Quản trị kinh doanh
Trang 33 Mục tiêu của đề tài
Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường hoạt động của các doanhnghiệp đầu tư tại KCN Mỹ Phước tỉnh Bình Dương đến năm 2020
4 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu cần giải quyết các vấn đề sau:
- Thứ nhất, hệ thống hóa các cơ sở lý luận về KCN, hoạt động của doanh
nghiệp đầu tư trong KCN và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệpđầu tư trong KCN
- Thứ hai, tìm hiểu, nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng tình hình
hoạt động của các doanh nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của các doanhnghiệp đầu tư tại KCN Mỹ Phước, tỉnh Bình Dương trong thời gian qua
- Thứ ba, đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện môi trường hoạt động các doanh
nghiệp tại KCN Mỹ Phước, tỉnh Bình Dương đến năm 2020 Đồng thời đưa ra cáckiến nghị đối với Nhà Nước và tỉnh Bình Dương
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các doanh nghiệp hoạt động tại KCN Mỹ Phướctỉnh Bình Dương
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về mặt không gian: được giới hạn trong KCN Mỹ Phước tỉnh Bình Dương.+ Về mặt thời gian: nghiên cứu môi trường hoạt động của các doanh nghiệptại KCN Mỹ Phước tỉnh Bình Dương từ năm 2009 đến năm 2012, các giải pháp đềxuất được áp dụng từ nay đến năm 2020
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận:
Trang 4Vận dụng các chủ trương, chính sách của Chính Phủ về phát triển côngnghiệp, các lý thuyết về quản trị học, học thuyết về kinh tế truyền thống và hiện đạivào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam nói chung và khu công nghiệp Mỹ Phước tỉnhBình Dương nói riêng.
Nghiên cứu một số khu công nghiệp trong nước và trong tỉnh Bình Dương đểrút ra những bài học kinh nghiệm, đề ra các giải pháp áp dụng phù hợp vào KCN
Mỹ Phước
Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thống kê; phương pháp đối chiếu so sánh, xử lý số liệu
và đánh giá kết quả; phương pháp chuyên gia
● Nguồn số liệu sơ cấp:
- Đối tượng khảo sát: 80 doanh nghiệp đang hoạt động tại KCN Mỹ Phướctỉnh Bình Dương
- Phương pháp khảo sát: Tác giả gởi Bảng khảo sát trực tiếp cho trưởng, phóphòng hoặc Ban Giám đốc của các doanh nghiệp; hoặc gởi cho tiếp tân của cácdoanh nghiệp và nhờ chuyển đến các vị trí trên, sau đó nhận lại kết quả khảo sáttrong 2 tuần Sau khi có đầy đủ số liệu sẽ được xử lý bằng phần mềm Excel 2007(xem phụ lục 3)
● Nguồn số liệu thứ cấp:
- Các giáo trình, sách liên quan đến đề tài
- Các bộ luật của Quốc Hội; nghị định, thông tư, các báo cáo của Chính Phủ
và các Bộ - Ngành
- Các bài báo, tạp chí, số liệu của cơ quan thống kê, internet…
- Tài liệu, báo cáo năm của Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh BìnhDương và Ban quản lý khu công nghiệp Mỹ Phước
Trang 5CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ TRONG KCN
1 1 Doanh nghiệp trong khu công nghiệp
1.1.1 Khái niệm khu công nghiệp
1.1.1.1 Khu công nghiệp
Khái niệm về khu công nghiệp trên thế giới:
Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp,khu chế xuất (được gọi chung là khu công nghiệp), trong đó có thể nêu ra một sốđịnh nghĩa cơ bản sau:
Định nghĩa KCN của Hội nghị địa lý Thế Giới lần thứ 19 tại Thụy Điển, năm 2000:
“Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là sản xuất côngnghiệp đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ; kể cả các hoạt động sản xuất côngnghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở”
Định nghĩa khu chế xuất của Ngân hàng Thế giới (World Bank):
“Khu chế xuất là khu có hàng rào trong khu công nghiệp, chuyên sản xuấthàng xuất khẩu trong đó các doanh nghiệp được tạo điều kiện thương mại và hoạtđộng trong môi trường thông thoáng”
Định nghĩa khu chế xuất của Cơ quan nghiên cứu phát triển Công nghiệp Liên Hiệp Quốc (UNIDO):
“Khu chế xuất là khu vực tương đối nhỏ phân cách về mặt địa lý trong mộtquốc gia, nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp xuất khẩu bằng
Trang 6cách cung cấp cho những ngành này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuậnlợi”.
Tóm lại, trên Thế giới hiện nay tồn tại song song 07 loại hình khu côngnghiệp như sau:
- Loại hình 1: Cảng tự do (Free Port)
Cảng Tự do được thiết lập từ những năm thế kỷ thứ 18 đến thế kỷ thứ 19, docác chế độ thực dân tìm những con đường để phát triển thương mại, ở đó được lưutrữ hàng hóa miễn thuế với sự giảm thiểu thủ tục thuế quan
- Loại hình 2: Khu chế xuất (Export Processing Zone)
Khu chế xuất được hình thành vào khoảng từ năm 1960, đầu tiên tại Shannon(Ireland) Có thể hiểu khu chế xuất là công viên công nghiệp khoảng từ 40-80 ha,bao bọc bởi một hàng rào ngăn cách, kiểm soát bởi cơ quan thuế quan hoặc Banquản lý khu chế xuất Khu vực mà Nhà nước cần khuyến khích dành cho những ưuđãi đặc biệt để họ vào xây dựng cơ sở vật chất, nhà máy xí nghiệp chuyên sản xuấthàng cho xuất khẩu Hàng sản xuất ở đây phần lớn được xuất khẩu ra nước ngoài,một phần tiêu thụ nội địa
- Loại hình 3: Khu công nghiệp tập trung (Industrial Park)
Đây là khu vực tập trung những nhà đầu tư vào các ngành công nghiệp màNhà nước cần khuyến khích, ưu đãi Tại đây, Chính phủ nước sở tại sẽ dành cho cácnhà đầu tư những ưu đãi cao về thuế, về các biện pháp đối xử phi thuế quan, vềquyền chuyển lợi nhuận ra nước ngoài…Trong khu công nghiệp có thể có hoặckhông có doanh nghiệp khu chế xuất
- Loại hình 4: Đặc khu kinh tế (Special Economic Zone)
Đặc khu có hàng rào hoặc biên giới ngăn cách rõ ràng với đại lục, mọi vấn
đề kinh tế, thương mại, đầu tư, dịch vụ…đều do chính quyền đặc khu quyết định.Phần lớn hàng hóa sản xuất tại các đặc khu kinh tế dùng để xuất khẩu
- Loại hình 5: Khu bảo thuế
Trang 7Khu bảo thuế nằm trong hàng rào cứng bao bọc Nhà đầu tư nước ngoài đượcphép đưa vào Khu bảo thuế mọi nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, công nghệ phục
vụ cho sản xuất hàng hóa tại Khu bảo thuế mà không phải đóng thuế
Hàng sản xuất ra sẽ xuất khẩu ra nước ngoài thì chịu sự điều tiết của chínhsách xuất khẩu của đặc khu Mỗi đặc khu có một quy định khách nhau, tùy theotrình độ phát triển kinh tế của đặc khu mình, nhưng nói chung là chế độ ưu đãi cao
về thuế và các chính sách phi thuế Bởi vậy nhà đầu tư nước ngoài rất nhiệt tình đầu
tư và sản xuất tại Khu bảo thuế Chế độ ưu đãi ngày một giảm dần theo trình độphát triển của đặc khu
Có thể nói Khu bảo thuế là hình thức mở rộng phạm vi của kho ngoại quan(Bonded Ware House) Với kho ngoại quan, hàng hóa nước ngoài được đưa vào lưukho, không chịu thuế nhưng chịu sự kiểm soát của hải quan, khi nào đưa hàng hóa
đó vào nội địa thì mới phải làm thủ tục hải quan, nộp thuế theo luật định
- Loại hình 6: Khu công nghệ cao (Science and Industrial Development Zone)
Điểm khác biệt ở loại hình này là người ta huy động vào khu này các trườngĐại học công nghiệp, các trung tâm nghiên cứu để thực hiện việc nghiên cứu ứngdụng các sản phẩm mới Các đề tài nghiên cứu được ứng dụng ngay vào cuộc sốngbởi các nhà máy xí nghiệp của họ đặt ngay trong khu vực này
Ưu thế của Khu Khoa học – Công nghệ này là kỹ thuật cao, độc đáo, sảnphẩm có giá trị gia tăng cao, có thị trường xuất khẩu rộng rãi ở nhiều nước trên thếgiới
- Loại hình 7: Khu vực mậu dịch tự do (Free Trade Area)
Khu mậu dịch tự do là khu vực mà ở đó các hoạt động thương mại được tự
do với 3 nội dung cơ bản:
- Thuế quan xuất nhập khẩu được bãi bỏ;
- Các biện pháp phi thuế được bãi bỏ;
Trang 8- Các hoạt động thương mại được đối xử bình đẳng.
Khái niệm về khu công nghiệp ở Việt Nam:
- Ngày 24 tháng 04 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 36/CP vềQuy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trong đó có nêu:
"Khu công nghiệp" là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệpchuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất côngnghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặcThủ tướng Chính phủ quyết định thành lập, trong khu công nghiệp có thể có doanhnghiệp chế xuất
"Khu chế xuất" là khu công nghiệp tập trung các doanh nghiệp chế xuấtchuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu
và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; doChính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập [4]
- Ngày 29 tháng 11 năm 2005 Luật Đầu tư được Quốc hội thông qua đã hiệuchỉnh lại khái niệm về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ cao nhưsau:
“Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp, và thực hiệncác dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lậptheo quy định của Chính Phủ” [14]
- Hiện nay, Nghị định số 29/CP, ngày 14 tháng 3 năm 2008 của Thủ TướngChính phủ qui định về khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, đinh nghĩa:
Khu công nghiệp là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các
dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này
Khu chế xuất là khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện
dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác
Trang 9định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu côngnghiệp quy định tại Nghị định này.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừtrường hợp quy định cụ thể [12]
Tóm lại, định nghĩa khu công nghiệp, khu chế xuất có những đặc điểm chungnhư sau:
- Là khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp;
- Có ranh giới địa lý xác định;
- Do Chính Phủ hoặc Thủ Tướng chính phủ quyết định thành lập;
- Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất.
1.1.1.2 Vai trò của KCN
Trong công cuộc Công nghiệp hóa - hiện đại hóa, KCN giữ vị trí vô cùngquan trọng trong việc phát triển kinh tế của từng địa phương, vùng miền và chotừng Quốc gia, cụ thể KCN có 6 vai trò chính sau đây:
● Thứ nhất, Phát triển công nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Khu công nghiệp được coi là nơi thực hiện chính sách kinh tế mới tốt nhất,đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại, và là đầu tàu trong sự phát triển nềnkinh tế quốc dân
Khu công nghiệp là trọng điểm kinh tế của địa phương, đóng góp nguốn thulớn cho ngân sách, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho người lao động,thu hút nguồn lao động sẵn có ở địa phương Việc xây dựng các khu công nghiệp cóthể làm thay đổi cả diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện cho dân cư được tiếpcận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt địa phương.Các khu công nghiệp được xây dựng sẽ hình thành nên các khu dân cư, khu đô thịmới, kéo theo những dịch vụ mới đáp ứng nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng
Trang 10Phát triển khu công nghiệp sẽ là đầu tàu tăng trưởng, thúc đẩy các ngànhnghề khác phát triển Đồng thời, với sự hiện diện của các khu công nghiệp với nhiều
ưu đãi buộc các doanh nghiệp phân bố rải rác trên địa bàn sẽ phải tính toán đến hiệuquả kinh tế mà chuyển vào các khu công nghiệp Việc quy tụ các doanh nghiệp vàocác khu công nghiệp sẽ hạn chế sự lãng phí quỹ đất, giúp cho địa phương có thể tậptrung nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng trong các khu công nghiệp, thu hút vốnđầu tư; các nhà đầu tư cũng giảm bớt chi phí tìm nơi đầu tư, tránh các thủ tục hànhchính rườm rà trong việc cấp phép đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh
● Thứ hai, Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Công nghiệp hóa –
Hiện đại hóa
Khu công nghiệp hình thành và phát triển sẽ góp phần làm dịch chuyển cơcấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng của ngành côngnghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp của cả nước và của địa phương nơi cócác khu công nghiệp
Các khu công nghiệp phát triển sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hànghóa trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ và kim ngạch xuất khẩu,tăng nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp nhằm tái mở rộng sản xuất, đổi mới trangthiết bị, tích lũy thêm kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh,làm cho các doanh nghiệp ngày càng làm ăn có hiệu quả
Khu công nghiệp được hình thành và phát triển đem lại lợi ích cho nướcnhận đầu tư và nhà đầu tư bởi mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài là giảm chi phí,tăng lợi nhuận
● Thứ ba, Tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của
khoa học và công nghệ, giải quyết việc bảo vệ môi trường đảm bảo phát triển bền vững
Các khu công nghiệp là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quảnhất những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sảnxuất, kinh doanh và dịch vụ với một địa bàn tương đối rộng, được quy hoạch theo
Trang 11một kế hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của nền kinh tế; với hệ thống cơ sở hạtầng kỹ thuật tương đối hiện đại, đồng bộ; cùng với những ưu đãi mà Nhà nướcdành cho các Khu công nghiệp trong nhập khẩu vật tư, thiết bị, về nguồn vốn vay,
về lãi suất… tạo điều kiện thuận lợi cho các khu công nghiệp có thể tiếp nhận côngnghệ tiên tiến, hiện đại trên Thế giới, tận dụng được lợi thế của các nước đi sau đểrút ngắn dần khoảng cách về khoa học công nghệ với các nước khác Việc tiếp nhậnkhoa học công nghệ đã tạo ưu thế nổi trội của các khu công nghiệp mà các khu vựckinh tế khác ít hoặc không có cơ hội Điểm khác biệt chủ yếu của khu công nghiệpvới vùng ngoài khu công nghiệp là khu công nghiệp có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đượcxây dựng và yêu cầu các doanh nghiệp khu công nghiệp trong sản xuất phải bảo vệmôi trường đảm bảo phát triển bền vững
Phát triển các Khu công nghiệp tập trung là phương thức tốt nhằm tập trung
nguồn lực vào một “Vùng lãnh thổ” tạo ra cơ hội giúp cho các doanh nghiệp giảm
thiểu các chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa
và dịch vụ trên thị trường
● Thứ tư, Tạo việc làm và thu nhập cho người lao động
Tình trạng khan hiếm nguồn lao động và giá nhân công cao ở các nước tưbản phát triển đã đặt các nước này trước sự lựa chọn giải pháp đầu tư vào khu côngnghiệp của các nước đang phát triển nhằm sử dụng lao động dư thừa và giá nhâncông rẻ ở các quốc gia này
Mở mang khu công nghiệp để tạo nhiều hơn chỗ làm việc là một trong nhữngmục tiêu quan trọng của các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, khu côngnghiệp là nơi thực hiện chiến lược toàn dụng lao động trong các quốc gia, đặc biệt
là các quốc gia đang phát triển
Các khu công nghiệp vừa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và họctập kinh nghiệm quản lý vừa là môi trường đào tạo huấn luyện ra những người quản
lý có trình độ cao, có bản lĩnh, kinh nghiệm và những công nhân có tay nghề cao, có
ý thức, tác phong công nghiệp do được tiếp cận với những dây chuyền công nghệ
Trang 12tiên tiến với kỹ thuật cao, buộc các nhà quản lý và người lao động phải tự rèn luyện
và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn
● Thứ năm, Tăng cường thu hút đầu tư, phát triển ngành nghề và vùng lãnh
thổ
Với những ưu đãi lớn về giá thuê đất, về chính sách tài chính linh động vàcác thủ tục hành chính giản đơn sẽ là lợi thế để các chủ đầu tư giảm thiểu chi phíđầu tư, chi phí sản xuất kinh doanh và các chi phí hành chính Các chủ đầu tư khôngmất nhiều thời gian đi khảo cứu địa bàn, tiết kiệm thời gian để giải phóng mặt bằng,xin giấy phép xây dựng… điều này đôi khi có thể làm mất đi cơ hội đầu tư do thờigian nghiên cứu khảo sát thị trường bị kéo dài
Khu công nghiệp được thành lập, hoạt động và quản lý tốt, thu hút đượcnhiều nhà đầu tư và vốn đầu tư tạo những khoản thu rất lớn từ việc chuyển nhượngquyền sử dụng đất, cho thuê nhà xưởng, các khoản từ thu thuế…
Xây dựng khu công nghiệp sẽ tạo điều kiện dẫn dắt công nghiệp phụ trợ, cácdịch vụ cần thiết từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nguyên liệuđến dịch vụ lao động trong khu công nghiệp, đồng thời việc thu hút lao động tạonên khu dân cư tập trung hình thành các đô thị, thành phố công nghiệp, giúp phân
bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của địa phương
Xây dựng các khu công nghiệp tập trung còn là một biện pháp hữu hiệu nângcao hiệu quả vốn đầu tư Đối với các nước đang phát triển, do thiếu vốn, chưa chophép cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng Vì vậy, việc xây dựng
và phát triển các khu công nghiệp là một giải pháp tốt nhằm tập trung nguồn lựcvốn rất hạn hẹp vào một số khu vực trọng điểm có nhiều lợi thế hơn các khu vựckhác trên địa bàn lãnh thổ
● Thứ sáu, Khu công nghiệp hình thành và phát triển sẽ là cầu nối hội nhập
nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế
Trang 13Sự hình thành các khu công nghiệp có tác dụng làm thúc đẩy sự phát triểnkinh tế trong nước, phát huy tác dụng lan tỏa dẫn dắt của khu công nghiệp Khucông nghiệp còn là nơi sản xuất hàng hóa xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới, làcửa ngõ khai thông nền kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quátrình tham gia vào phân công lao động quốc tế, hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
Thông qua việc thành lập khu công nghiệp, nước chủ nhà muốn đẩy mạnhhoạt động ngoại thương Với những ưu đãi vượt trội, cơ chế quản lý thông thoán, vịtrí xây dựng thuận lợi cho vận chuyển, lưu thông hàng hóa, sẽ giảm chi phí sảnxuất, tạo điều kiện cho việc sản xuất và xuất khẩu hàng hóa
Đánh giá vai trò của khu công nghiệp, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nói:
“Phát triển Khu công nghiệp là một giải pháp quan trọng nhằm tạo thuận lợi cho
đầu tư kinh doanh, tiết kiệm nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm an ninh quốc phòng”.
[13]
1.1.2 Doanh nghiệp trong KCN
- Theo Luật doanh nghiệp sửa đổi bổ sung năm 2009, định nghĩa:
Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch
ổn định, được thành lập hoặc đăng ký kinh doanh theo qui định của pháp luật nhằmmục đích thực hiện các hoạt đông kinh doanh [11]
- Theo Điều 2, Luật doanh nghiệp tư nhân, định nghĩa:
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh thành lập nhằm mục đích thực hiệnmột, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất để tiêu thụsản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường, với mục tiêu cuối cùng là sinh lợi
- Theo Nghị định số 36/CP về Quy chế khu chế xuất, khu công nghiệp, khucông nghệ cao:
"Doanh nghiệp KCN" là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trongKCN, gồm doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ
Trang 14"Doanh nghiệp chế xuất" là doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng xuất khẩu,thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩuđược thành lập và hoạt động theo Quy chế này [4].
Có nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp cóđặt trưng riêng có khả năng đem lại cho chủ sở hữu những lợi thế và những hạn chếkhác nhau Theo Luật doanh nghiệp năm 2009, có 3 loại hình doanh nghiệp hoạtđộng tại Việt Nam
Doanh nghiệp nhà nước:
Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do nhà nước đầu tư vốn thành lập
và tổ chức quản lý các hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thựchiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do nhà nước giao
Doanh nghiệp tư nhân:
Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịutrách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp
Công ty:
Công ty là doanh nghiệp gồm các thành viên góp vốn được hưởng lợi nhuận
và chịu trách nhiệm về các khoản nợ các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệptrong phạm vi vốn góp hoặc trong số vốn đã cam kết tham gia vào doanh nghiệphoặc chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
Có 3 loại công ty như sau:
+ Công ty trách nhiệm hữu hạn: gồm Công ty trách nhiệm hữu hạn một thànhviên và Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
+ Công ty cổ phần
+ Công ty hợp danh [11]
1.1.3 Quyền hạn và nhiệm vụ của doanh nghiệp trong KCN
Theo Nghị định 36/CP năm 1997 về ban hành Qui chế khu công nghiệp, khu
Trang 15chế xuất, khu công nghệ cao, qui định:
Doanh nghiệp KCN có đủ cơ sở pháp lý hoạt động trong KCN sau khi được
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấyphép đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì giấy phếp đầu tư có giátrị là giấy đăng ký kinh doanh theo quy định tại Điều 60 Luật Đầu tư nước ngoài tạiViệt Nam
Đối với các nhà đầu tư trong nước khi đầu tư vào KCN phải có quyết địnhthành lập doanh nghiệp theo quy định hiện hành đối với mỗi loại hình doanhnghiệp
Thời hạn hoạt động của doanh nghiệp KCN không quá 50 năm và khôngvượt quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầng KCN, được tính từ ngàydoanh nghiệp được cấp có thẩm quyền ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấpgiấy phép đầu tư vào KCN Trường hợp đặc biệt thời hạn hoạt động của doanhnghiệp KCN có thể vượt quá thời hạn hoạt động của Công ty phát triển hạ tầngKCN, nhưng phải được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trên cơ sở đề nghị của Uỷban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan ra quyết định chấp thuận đầu tư hoặc cấp giấyphép đầu tư
● Quyền hạn của doanh nghiệp trong KCN:
+ Thuê lại đất trong KCN theo quy định hiện hành đối với mỗi loại hìnhdoanh nghiệp để xây dựng nhà xưởng và các công trình kiến trúc phục vụ sản xuất -kinh doanh Thời hạn thuê đất trong KCN phù hợp với thời hạn hoạt động của cácdoanh nghiệp KCN ghi trong quyết định chấp thuận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư
+ Sử dụng có trả tiền các công trình kết cấu hạ tầng, các tiện nghi tiện íchcông cộng, các dịch vụ trong KCN
Trang 16+ Tổ chức sản xuất kinh doanh, thực hiện các dịch vụ phù hợp với quyết địnhchấp thuận đầu tư hoặc giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, hợpđồng, điều lệ doanh nghiệp.
+ Xuất nhập khẩu trực tiếp theo quy định của pháp luật
+ Thuê các tiện ích công cộng, các phương tiện sản xuất kinh doanh và dịch
vụ ngoài KCN
+ Trong thời hạn được phép sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp KCN cóquyền chuyển nhượng phần vốn của mình theo đúng quy định của pháp luật hiệnhành Việc chuyển nhượng vốn chỉ có hiệu lực sau khi được cơ quan ra quyết địnhchấp thuận đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư chuẩn y hợp đồng chuyển nhượng vốn
● Nhiệm vụ của doanh nghiệp trong KCN:
+ Tuân thủ pháp luật, Điều lệ quản lý KCN, quyết định chấp thuận đầu tư
hoặc giấy phép đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
+ Đăng ký với Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh: Số lượng, khối lượngsản phẩm xuất khẩu và tiêu thụ tại thị trường trong nước (đối với doanh nghiệpKCN); số lượng phế phẩm, phế liệu còn giá trị thương mại từ doanh nghiệp chếxuất bán vào thị trường trong nước và hàng hoá từ thị trường trong nước được muachuyển vào doanh nghiệp chế xuất (đối với doanh nghiệp chế xuất) Đối với doanhnghiệp khu công nghệ cao, ngoài việc đăng ký các nội dung nêu trên tùy theo loạihình doanh nghiệp, còn phải đăng ký việc chuyển giao công nghệ cao
+ Thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước
+ Mở tài khoản ngoại tệ và tài khoản đồng Việt Nam tại Ngân hàng đượcphép hoạt động tại Việt Nam Được mở tài khoản tại các Ngân hàng nước ngoài đểtiếp nhận vốn vay nếu bên cho vay nước ngoài yêu cầu phải mở tài khoản vốn vaytại Ngân hàng nước ngoài và được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chấp thuận
+ Thực hiện chế độ kế toán, thống kê, bảo hiểm theo quy định của pháp luật
Trang 17+ Tuân thủ các quy định về an ninh, trật tự, bảo đảm an toàn lao động, vệsinh công nghiệp, bảo vệ môi sinh, môi trường và phòng chống cháy, nổ.
+ Thực hiện báo cáo định kỳ và hàng năm về Ban quản lý khu công nghiệpcấp tỉnh [4]
1.2 Hoạt động của doanh nghiệp trong KCN
1.2.1 Ngành nghề kinh doanh
Cơ cấu ngành nghề trong công nghiệp được phát triển trên cơ sở tiềm năng
và lợi thế phát triển của từng chuyên ngành về vốn, nhân lực, công nghệ, nguyên vậtliệu và trình độ quản lý, nhằm tạo ra sản phẩm với chi phí đầu vào hợp lý, có khảnăng cạnh tranh, mang lại lợi nhuận và tích lũy cao cho chuyên ngành nói riêng vàtoàn bộ công nghiệp nói chung
Tại Việt Nam, quá trình phát triển công nghiệp đã hình thành các chuyênngành sau:
- Ngành chế biến nông – lâm - thủy sản và đồ uống;
Trang 18cao như: cơ khí chế tạo, ô tô và xe máy, đóng tàu, hóa dầu… sẽ đem lại lợi thế cạnhtranh nhất định trên thị trường và gia tăng lợi nhuận Ngược lại những ngành nghềthủ công, tỉ lệ chất xám ít như: chế biến thủy sản, chế biến gỗ, dệt may, da giày…mặt dù dùng nhiều nhân lực nhưng đem lại lợi nhuận thấp Vì vậy, việc chọn lựangành nghề cần đầu tư vào KCN vừa phù hợp với điều kiện địa phương vừa đảmbảo yếu tố công nghệ, vừa đem lại lợi nhuận cao là hướng đi bền vững và phát triểncho từng KCN.
1.2.2 Sản phẩm - Thị trường
Cơ cấu sản phẩm công nghiệp là tổng thể các sản phẩm vật chất kỹ thuật, cácloại hình hoạt động phục vụ sản xuất công nghiệp Cơ cấu sản phẩm công nghiệpbao gồm:
- Sản phẩm tư liệu công nghiệp;
- Sản phẩm tiêu dùng công nghiệp
Sản phẩm tư liệu công nghiệp là sản phẩm tư liệu sản xuất do ngành côngnghiệp cung ứng Ví dụ: các loại máy móc công cụ, máy động lực (máy nổ dieze,máy phát điện), máy truyền dẫn (băng tải, dây chuyền), vật tư cơ bản (sắt, thép, ximăng…) Sản phẩm tư liệu công nghiệp có vai trò quan trọng, làm nền tảng cơ sở
để phát triển các lĩnh vực công nghiệp nói riêng, cũng như phát triển các lĩnh vựckinh tế khác nói chung Trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa ở ViệtNam, phát triển sản xuất sản phẩm tư liệu công nghiệp có ý nghĩa quan trọng hàngđầu, nhằm bảo đảm cơ sở bền vững để phát triển một nền công nghiệp tự chủ củaViệt Nam
Sản phẩm tiêu dùng công nghiệp là sản phẩm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùngtrong các lĩnh vực thuộc công nghiệp, các lĩnh vực thuộc ngành kinh tế khác trong
cơ cấu kinh tế, cũng như các lĩnh vực tiêu dùng trong đời sống kinh tế - xã hội củanhân dân (nhu cầu ăn, mặc, ở, giải trí…) Trong phát triển kinh tế - xã hội nhu cầutiêu dùng trong sản xuất và đời sống ngày càng đa dạng và nâng cao, đòi hỏi các sản
Trang 19phẩm công nghiệp tiêu dùng ngày càng phong phú, đa dạng hóa, chất lượng cao, giá
cả hợp lý, nhằm thỏa mãn không ngừng nhu cầu tiêu dùng của đời sống kinh tế - xãhội, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa tiêu dùng Việt Nam, giảm dần tỷtrọng nhập khẩu hàng hóa tiêu dùng công nghiệp, sao cho sản phẩm công nghiệptiêu dùng Việt Nam làm chủ thị trường trong nước trong quá trình Công nghiệp hóa
- Hiện đại hóa và đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế [13]
Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệnhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất địnhtheo thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sảnphẩm, dịch vụ Thực chất, thị trường là tổng thể các khách hàng tiềm năng cùng cómột yêu cầu cụ thể nhưng chưa được đáp ứng và có khả năng tham gia trao đổi đểthỏa mãn nhu cầu đó
Thị trường được chia thành 3 loại: thị trường hàng hóa – dịch vụ, thị trườnglao động, thị trường tiền tệ [2]
1.2.3 Công nghệ sản xuất
Công nghệ được hiểu là các phương pháp, phương tiện và bí quyết côngnghệ, nhằm làm ra một sản phẩm công nghiệp nhất định Theo tổ chức phát triểncông nghiệp của liên hợp quốc UNIDO (United nations industry developmentorganization), công nghiệp có 4 thành phần cơ bản:
- Thành phần 1: Trang thiết bị, bao gồm thiết bị máy móc, khí cụ, nhà xưởng
- Thành phần 2: Kỹ năng và tay nghề, liên quan tới kinh nghiệm nghề nghiệpcủa từng người hoặc từng nhóm người
- Thành phần 3: Thông tin liên quan tới các bí quyết, các quy trình, cácphương pháp, các dữ liệu, các bản thiết kế…
- Thành phần 4: Tổ chức thể hiện trong việc bố trí, sắp xếp, điều phối, quản
lý thị trường…
Trang 20Bốn thành phần trên của công nghệ liên quan mật thiết với nhau, tạo ra sứcmạnh tổng hợp của công nghệ trong pháp triển công nghiệp Trong bối cảnh pháttriển, đổi mới công nghệ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệhiện đại, một sản phẩm có thể được chế tạo ra bởi phương pháp công nghệ khácnhau với hiệu quả khác nhau.
Theo khuyến cáo của Liên Hợp Quốc, các nước đang phát triển nên lựa chọn
“công nghệ thích hợp” Công nghệ thích hợp được hiểu không phải công nghệ đắttiền nhất, nhưng phải là công nghệ tiên tiến, cho khả năng sản phẩm có khả năngcạnh tranh trên thị trường dự tính Công nghệ thích hợp được du nhập bằng hoạtđộng “chuyển giao công nghệ” Công nghệ chuyển giao vào Việt Nam theo quyđịnh của Nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 02/02/2005 của Chính phủ phải là:
- Công nghệ tạo ra sản phẩm mới và cần thiết tại Việt Nam hoặc để sản xuấthàng xuất khẩu;
- Công nghệ nâng cao tính năng kỹ thuật, chất lượng sản phẩm vào việc sảnxuất;
- Công nghệ nhằm tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu, khai thác và sử dụng cóhiệu quả tài nguyên thiên nhiên;
- Nghiêm cấm việc chuyển giao công nghệ có ảnh hưởng xấu đến môi trườngsinh thái, an toàn lao động [3]
Việc xem xét các dự án đầu tư nước ngoài cần chú ý đến vấn đề sử dụngcông nghệ mới tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh của hàng hóa của các doanhnghiệp khu công nghiệp Áp dụng công nghệ mới tạo điều kiện cho các doanh nhiệpViệt Nam tiếp cận, học tập, sử dụng công nghệ mới để nâng cao chất lượng sảnphẩm với giá thành cạnh tranh khi chúng ta đã gia nhập WTO là một trong nhữngyêu cầu khi thu hút đầu tư nước ngoài
Trong tình hình sự phát triển công nghệ đang diễn ra rất nhanh chóng, việclựa chọn công nghệ được xét trên mức độ ảnh hưởng đến môi trường, đến giá thành
Trang 21sản phẩm và cả đến việc đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng cho yêu cầu của côngnghệ, đó là những vấn đề mà nhà quản lý vĩ mô và vi mô phải cân nhắc, tính toán,
ra quyết định Quyết định đó mang tính sống còn đối với doanh nghiệp và cho cảnền kinh tế quốc gia
1.2.4 Vốn đầu tư
Theo Luật đầu tư năm 2005 được Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm2005:
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình
để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo qui định của Luật này vàcác qui định khác của pháp luật có liên quan
Có hai hình thức đầu tư:
+ Đầu tư trực tiếp: là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và thamgia quản lý hoạt động đầu tư
+ Đầu tư gián tiếp: là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu,trái phiếu, các giấy tờ có giá khác, quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các địnhchế tài chính trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạtđộng đầu tư
Vốn đầu tư là tiền và các tài sản hợp pháp khác để thực hiện các hoạt độngđầu tư theo hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp [14]
Vốn đầu tư được phân thành các loại cơ bản sau:
- Phân loại theo hình thái và nguồn đầu tư, gồm có 2 loại: vốn hữu hình vàvốn vô hình
- Phân loại theo thời gian sử dụng, vốn được chia thành 3 loại: vốn ngắnhạn, vốn trung hạn và vốn dài hạn
- Phân loại theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư, gồm có 2 loại: vốn đầu tưtrực tiếp và vốn đầu tư gián tiếp
Trang 22Đối với doanh nghiệp, vốn là yếu tố vô cùng quan trọng để hoạt động và pháttriển, như: thuê đất, xây dựng nhà xưởng; mua sắm trang thiết bị, máy móc phục vụsản xuất, mua nguyên vật liệu đầu vào Ngoài ra vốn đầu tư còn dùng để đổi mới
và phát triển công nghệ, mở rộng qui mô để phát triển sản xuất
Nguồn vốn đầu tư nói lên qui mô của doanh nghiệp, thông thường một doanhnghiệp đầu tư dự án lớn thì có vốn lớn và ngược lại Việc quản lý và kinh doanhhiệu quả nguồn vốn của doanh nghiệp sẽ giúp doanh nghiệp phát triển, ngược lại sẽảnh hưởng xấu đến quá trình kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.5 Doanh thu - Lợi nhuận - Thuế
Doanh thu của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền thu được do tiêu thụ sảnphẩm, cung cấp dịch vụ, hoạt động tài chính và các hoạt động khác của doanhnghiệp
Lợi nhuận của doanh nghiệp là phần tài sản mà nhà đầu tư nhận thêm nhờđầu tư sau khi đã trừ đi các chi phí liên quan đến đầu tư đó, bao gồm cả chi phí cơhội; là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí [2]
Tối đa hóa lợi nhuận là mục tiêu chính của các doanh nghiệp Lợi nhuận caogiúp doanh nghiệp phát triển, mở rộng đầu tư, đem lại nhiều công việc làm hơn cho
xã hội, đồng thời góp phần làm gia tăng thêm ngân sách của quốc gia nhờ vào việccác doanh nghiệp đóng thuế thu nhập doanh nghiệp Vì vậy việc kiểm soát tốtdoanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp trong KCN là yêu cầu bắt buộc trong côngtác quản lý KCN
1.2.6 Nguồn nhân lực
Con người là yếu tố quyết định trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội
Lê-nin đã từng nói: “Xét đến cùng, năng suất lao động là tiêu chuẩn cơ bản để đánh
giá lực lượng sản xuất của một chế độ xã hội” Yếu tố quyết định tạo ra năng suất
lao động xã hội đó là con người Trong phát triển KCN- một mô hình kinh tế, mộtcông cụ trong sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa, để đảm bảo KCN phát
Trang 23triển bền vững cũng không thể tách rời quy luật chung đó là đào tạo nguồn nhânlực.
Chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu phát triển của các KCN làmục tiêu mà các cơ sở đào tạo cần hướng tới Tính chất lao động trong khu côngnghiệp là lao động đa ngành, đa lĩnh vực nên việc đào tạo ngành chuyên sâu và đadạng là cần thiết, đồng thời phải đáp ứng và tương thích trước sự tiến bộ của khoahọc - kỹ thuật và nhu cầu đa dạng của người sử dụng lao động là nhà đầu tư [3]
Từ thực tế hoạt động của các KCN trong và ngoài nước cho thấy nhu cầu laođộng làm việc tại các KCN là rất lớn Tùy theo tính chất ngành nghề và số lượng dự
án thu hút đầu tư vào KCN, bình quân mỗi KCN với diện tích từ 300-500 ha khi đãlấp đầy toàn bộ diện tích sẽ cần số lượng từ 15.000 – 25.000 người làm việc trongcác nhà máy, xí nghiệp, điều đó cho thấy sự cần thiết về số lượng lao động cho cácKCN Sự khan hiếm về lao động địa phương để cung ứng cho các KCN đóng trênđịa bàn sẽ tác động đến quyết định của các nhà đầu tư
Ở các nước phát triển, cứ 1 cử nhân tốt nghiệp Đại học, cao đẳng có 4 kỹthuật viên tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp và 10 công nhân kỹ thuật, cơ cấu laođộng 1-4-10 Còn ở nước ta, cơ cấu lao động tương ứng là 1-1,16-0,95 Nhiềuchuyên gia nhận xét, Việt Nam đang thiếu thợ giỏi, cơ cấu và chất lượng lao độngViệt Nam còn lạc hậu (yếu về trình độ, kỷ luật và tác phong lao động) gây bất lợicho thu hút đầu tư nói chung và vào KCN nói riêng
Để có nguồn lao động có khả năng đáp ứng được yêu cầu cho các KCN cầnphải phát triển hệ thống đào tạo có khả năng cung cấp cho các KCN một đội ngũ laođộng đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thíchứng với công nghệ mới Trong đó vai trò của các trường dạy nghề rất quan trọng vớiviệc cung ứng nguồn lao động đã qua đào tạo, có tay nghề cho các KCN Ngoài ra,công tác ưu đãi và hỗ trợ cho lực lượng lao động nhập cư như: chính sách chiêu mộnhân tài, nhà ở xã hội, ký túc xá cho công nhân, vui chơi giải trí… là vô cùng cần
Trang 24thiết, vì đây là nguồn nhân lực bổ sung đáng kể khi nguồn lao động địa phươngchưa đáp ứng được.
1.2.7 An toàn, vệ sinh lao động
Trong ngành công nghiệp, hoạt động sản xuất rất đa dạng với nhiều thiết bị,máy móc, dây chuyền công nghệ phức tạp… lại phải sử dụng rất nhiều nhân lực nêntai nạn lao động luôn là mối hiểm họa chờ sẵn với từng công nhân, kỹ sư của nhàmáy, xí nghiệp Đây là việc hệ trọng liên quan đến tính mạng con người, để giảmthiểu những mối hiểm họa này, công tác quản lý an toàn lao động là cực kỳ quantrọng, phải chú trọng hàng ngày và luôn là vấn đề được ưu tiên trước nhất
Có nhiều hình thức thực hiện công tác an toàn vệ sinh lao động tại các doanhnghiệp như: kiểm định đăng ký máy móc, thiết bị, vật tư; trang bị bảo hộ lao độngcho người lao động, thiết lập qui trình quản lý các chất dể cháy nổ, kiểm tra chấtlượng bữa ăn của các suất ăn công nghiệp Điều này cần được các cấp chính quyền
và doanh nghiệp quan tâm và tạo điều kiện để người lao động có môi trường làmviệc tốt, sức khỏe ổn định
1.2.8 An ninh trật tự và Phòng chống cháy nổ
- Công tác quản an ninh trật tự là yếu tố quan trọng tạo ra sự ổn định cho môitrường đầu tư trong trong KCN Nếu công tác an ninh trật được tổ chức tốt sẽ giúpcho doanh nghiệp hoạt động trong KCN thuận lợi trong hoạt động sản xuất, ngườilao động yên tâm làm việc, góp phần đem lại môi trường lao động an toàn trongKCN
Các KCN phải tổ chức lực lượng bảo vệ riêng, chuyên nghiệp, nhằm ứng phókịp thời Ngoài ra cần liên kết với lực lượng an ninh tại địa phương để tăng cườnglực lượng khi cần thiết
- Công tác Phòng cháy chữa cháy (PCCC) phải đặc biệt coi trọng, vì nếu đểxảy ra cháy nổ thì hậu quả thật khó lường, sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản
và cả con người
Trang 25Theo Luật PCCC số: 27/2001/QH10 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng
6 năm 2001, Điều 21 có qui định:
Tại đặc khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất và khu công nghệ caophải thành lập đội phòng cháy và chữa cháy chuyên trách; phải có phương án phòngcháy và chữa cháy cho toàn khu
Tổ chức, cá nhân có cơ sở hoạt động trong đặc khu kinh tế, khu công nghiệp,khu chế xuất và khu công nghệ cao phải có phương án bảo đảm an toàn về phòngcháy và chữa cháy; phải thành lập đội phòng cháy và chữa cháy [15]
Công tác quản lý và thực hiện về phòng cháy và chữa cháy trong KCN cầnphải:
+ Xây dựng kế hoạch về phòng cháy và chữa cháy cho KCN
+ Ban hành, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm phápluật về phòng cháy và chữa cháy
+ Tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức về phòng cháy và chữacháy
+ Tổ chức đào tạo, xây dựng lực lượng, trang bị và quản lý phương tiệnphòng cháy và chữa cháy
+ Thẩm định công trình xây dựng về phòng cháy và chữa cháy; kiểm định
và chứng nhận an toàn phương tiện; xác nhận điều kiện an toàn về phòng cháy vàchữa cháy
+ Ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ về phòng cháy và chữa cháy
1.2.9 Bảo vệ môi trường
Môi trường sinh thái tự nhiên là một tập hợp các điều kiện địa lý tự nhiên củamột vùng lãnh thổ, có tác động trực tiếp đến mức sống của dân cư và các chỉ tiêu
Trang 26kinh tế trong vùng lãnh thổ đó Do đó, nếu phát triển công nghiệp mà không chútrọng đến bảo vệ môi trường thì môi trường tự nhiên bị đe dọa, phá hủy sự cân bằngsinh thái và để lại những hậu quả tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển bền vữngcủa kinh tế xã hội.
Bảo vệ môi trường được coi là 1 trong 3 vấn đề toàn cầu mà thế giới đặt biệtquan tâm cùng với vấn đề bảo vệ con người (dân số - lương thực - sức khỏe) và bảo
vệ hòa bình Bảo vệ môi trường là một tập hợp các biện pháp nhằm gìn giữ, sử dụnghoặc phục hồi một cách hợp lý sinh giới (vi sinh vật, thực vật, động vật) và môi sinh(đất đai, nguồn nước, khí hậu…) Nghiên cứu, thử nghiệm, sử dụng tài nguyên thiênnhiên hợp lý, áp dụng công nghệ sạch… nhằm tạo ra một không gian tối ưu chocuộc sống của con người
Bảo vệ môi trường KCN là vấn đề cực kỳ quan trọng trước mắt và lâu dài màcác KCN cần phải giải quyết Cần có các biện pháp xử lý chất thải công nghiệp, sửdụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, dùng trang thiết bị và công nghệ bảo vệ môitrường; kiểm tra tình trạng và nguồn gây ô nhiễm môi trường, đặc biệt do công nghệgây ra…
Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam quy định các cơ quan tổ chức nhànước, các doanh nghiệp, các hợp tác xã, các đơn vị vũ trang và công dân đều cónghĩa vụ thực hiện chính sách bảo vệ, cải tạo, tái sinh các tài nguyên thiên nhiên,bảo vệ và cải tạo môi trường sống
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trong KCN
1.3.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
1.3.1.1 Vị trí địa lý
Vùng lãnh thổ có diện tích rộng, nhưng địa hình chia cắt, nhiều đồi núi, sôngsuối sẽ ảnh hưởng lớn đến giao lưu kinh tế, hạn chế thu hút đầu tư; ngược lại, nếulãnh thổ có vị trí thuận lợi sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn Chẳng hạn, gần đầu mối
Trang 27giao lưu kinh tế, gần các hệ thống giao thông, nằm trong vùng kinh tế trọng điểmcủa quốc gia, gần các trung tâm kinh tế lớn
Thực tế cho thấy, địa phương nào có những điều kiện như cảng biển, đườngquốc lộ 1A, đường sắt xuyên Việt đi qua, nằm trong trung tâm kinh tế lớn hoặc gần
kề đều thu hút được nhiều dự án đầu tư Các doanh nghiệp hoạt động trong KCNthuộc vùng có vị trí địa lý thuận lợi sẽ được hưởng lợi từ hệ thống giao thông thuậntiện, hạ tầng hiện đại, cũng như các lợi thế của vùng
1.3.1.2 Địa hình
Tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư,
và là một trong những yếu tố cần thiết để tiến hành hoạt động sản xuất vì nó cungcấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp KCN nằm trong vùng sẵn có nguyênliệu cho sản xuất các nhà đầu tư sẽ giảm bớt được chi phí vận tải, tránh được giánđoạn sản xuất trong trường hợp khó khăn về giao thông
Ngoài ra, điều kiện địa chất của nền đất trong KCN cũng rất quan trọng vìảnh hưởng đến chi phí đầu tư mà các doanh nghiệp phải bỏ ra cho công tác xâydựng hạ tầng, xây dựng nhà xưởng phục vụ sản xuất Nếu vị trí KCN nằm tại vùng
có nền đất yếu thì chi phí xây dựng hạ tầng, xây dựng nhà xưởng sẽ tăng trung bìnhkhoảng 30% so với những nơi có nền đất tốt, vì phải phát sinh chi phí cho công tácgia cố nền, móng của công trình, điều đó sẽ tác động không nhỏ đến quyết định đầu
tư của các nhà đầu tư
1.3.1.3 Khí hậu
Khí hậu thuận lợi cho cây trồng, vật nuôi cũng như đất đai đảm bảo cho việcxây dựng những vùng chuyên canh sản xuất nông nghiệp sẽ tạo điều kiện cho pháttriển công nghiệp chế biến những sản phẩm nông nghiệp KCN nằm trong khu vựcnày sẽ thu hút các nhà đầu tư vào công nghiệp chế biến như sữa, đường, thịt hộp,hoa quả…Trái lại, khí hậu khắc nghiệt, nắng lắm mưa nhiều, bão lụt thường xuyên
sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất nông nghiệp cũng như sản xuất côngnghiệp, hạn chế thu hút đầu tư
Trang 28Tóm lại, các yếu tố vị trí địa lý, điều kiện tư nhiên, khí hậu tác động trực tiếpđến quyết định đầu tư cũng như quá trình hoạt động sản xuất của doanh nghiệp tạiKCN, đây có thể là điểm mạnh hoặc điểm yếu của từng địa phương, vùng miền màmỗi KCN cần xác định rõ để phát huy hoặc khắc phục, để lựa chọn những ngànhnghề phù hợp cho phát triển công nghiệp theo hướng bền vững và đạt hiệu quả kinh
tế cao nhất
1.3.2 Chính sách ưu đãi đầu tư trong KCN
Theo điều 27 và điều 28, Luật đầu tư năm 2005 được Quốc hội ban hànhngày 29 tháng 11 năm 2005: Các lĩnh vực được ưu đãi đầu tư về thuế trong Khucông nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế, gồm có:
+ Sản xuất vật liệu mới, năng lượng mới; sản xuất sản phẩm công nghệ cao,công nghệ sinh học, công nghệ thông tin; cơ khí chế tạo
+ Nuôi trồng, chế biến nông, lâm, thuỷ sản; làm muối; sản xuất giống nhântạo, giống cây trồng và giống vật nuôi mới
+ Sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại; bảo vệ môi trường sinh thái;nghiên cứu, phát triển và ươm tạo công nghệ cao
Trang 29Để thu hút đầu tư và tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đang hoạtđộng đầu tư tại KCN, mỗi địa phương cần có những chính sách, văn bản cụ thể, chitiết đối với hoạt động đầu tư trên địa phương của mình, đặc biệt là chính sách ưu đãiđầu tư.
1.3.2.1 Chính sách ưu đãi về giá thuê đất
Chính sách ưu đãi về giá thuê đất nhằm chia sẽ chi phí đầu tư ban đầu vớicác nhà đầu tư đồng thời góp phần thu hút đầu tư vào KCN Có nhiều chính sách ưuđãi về đất được Chính Phủ ban hành như:
- Miễn tiền thuê đất tại KCN trong thời gian xây dựng cơ bản
- Giảm tiền thuê đất trong thời gian đầu doanh nghiệp hoạt động sản xuất
- Giảm tiền thuê đất theo qui mô vốn đầu tư và số lao động
- Giảm tiền thuê đất đối với các dự án đầu tư đầu tiên
1.3.2.2 Chính sách ưu đãi về tài chính- thuế
Chính sách ưu đãi về thuế đối với doanh nghiệp trong KCN là những quiđịnh về miển giảm các loại thuế nhằm mục đích thu hút đầu tư vào KCN Có nhữngchính sách như:
- Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian đầu của dự án đốivới những vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn
- Miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với doanh nghiệp thành lậpmới trong các dự án thuộc các lĩnh vực ưu tiên như: công nghệ cao, nghiên cứukhoa học và phát triển công nghệ, sản xuất sản phẩm phần mềm…
Ví dụ: Theo quy định tại điểm 1 điều 19 Thông tư số 123/2012/TT-BTC ngày 27/7/2012 của Bộ Tài Chính:
Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn mười lăm năm (15 năm) áp dụng đốivới:
Trang 30- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định số124/2008/NĐ-CP ngày 11/12/2008 của Chính phủ
- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại khu kinh tế, khu công nghệcao được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ;
- Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực:
+ Công nghệ cao theo quy định của pháp luật; nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ;
+ Đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước;cầu, đường bộ, đường sắt; cảng hàng không, cảng biển, cảng sông; sân bay, nhà ga
và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do Thủ tướng Chính phủ quyếtđịnh;
+ Sản xuất sản phẩm phần mềm
1.3.2.3 Chính sách về hỗ trợ người lao động
Người lao động là nguồn lực quan trọng trong sản xuất công nghiệp nhưngthường thiếu các nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần, việc hỗ trợ để giảm đikhó khăn cho người lao động là cần thiết, có các hình thức như: xây dựng nhà ở xãhội cho công nhân, xây dựng khu vui chơi giả trí, hỗ trợ chi phí đào tạo nguồn nhânlực phục vụ cho sản xuất…
Ngoài cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cần xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội khu côngnghiệp Cơ sở hạ tầng xã hội khu công nghiệp là điều kiện cần thiết để hình thànhcác đô thị hiện đại trong vùng có khu công nghiệp Khu dân cư, trường học, bệnhviện, trung tâm thương mại, trung tâm thể dục thể thao, cơ sở phục vụ văn nghệ giảitrí…, tất cả các yếu tố trên tạo thành cơ sở hạ tầng xã hội khu công nghiệp
Đa số các KCN ở Việt Nam nay mới chỉ xây dựng hạ tầng kỹ thuật phục vụcho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chưa quan tâm đến việc xâydựng các cơ sở hạ tầng xã hội Nguyên nhân của tình trạng này là do nhận thứcKCN chỉ là nơi dùng để xây dựng các nhà máy công nghiệp, chưa thấy KCN là một
Trang 31thực thể kinh tế xã hội hoàn chỉnh, bên cạnh hoặc trong vùng có KCN cần hìnhthành thành phố công nghiệp hiên đại như kinh nghiệm của một số nước.
Thực hiện tốt quy hoạch khu dân cư bao gồm nhà ở cho các chuyên gia, nhà
ở cho người lao động có thu nhập thấp và các dịch vụ phục vụ tốt cho đời sống conngười chính là điều kiện thu hút các dự án có vốn đầu tư cao, công nghệ cao
1.3.3 Thủ tục hành chánh - Thực hiện cơ chế “Một cửa, tại chỗ”
Cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” được ra đời và vận hành đầu tiên tại Việt
Nam cùng với việc ra đời và phát triển khu công nghiệp Tân Thuận và Ban quản lýcác khu chế xuất TP.HCM (nay là Ban quản lý các khu chế xuất và khu công nghiệpTP.HCM) Ngày 31/01/1993, Thủ tướng đã làm việc với Ban quản lý khu chế xuấtTP.HCM, có đại diện các Bộ, Ngành Trung ương tham gia để giải quyết một số vấn
đề tồn tại của các khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung Sau đó có văn bản số 22/
TB ngày 04/02/1993 của văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thủ tướngChính phủ bao gồm 8 điểm, trong đó riêng điểm thứ 7 dành riêng nói về nội dung
việc thực hiện cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” đối với các khu chế xuất Đây là
một văn bản vô cùng quan trọng, đánh dấu quyết tâm của Chính phủ trong việc đổimới cơ chế quản lý cho phù hợp với mô hình khu chế xuất, làm cơ sở cho sự phốihợp đồng bộ của các Bộ, Ngành liên quan trong công tác xây dựng và quản lý khuchế xuất và sau này được thể chế hóa áp dụng cho các khu công nghiệp
Việc thực hiện cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” được thực hiện theo nhiệm
vụ và quyền hạn của Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh, được quy định trongquy chế khu công nghiệp; thông qua cơ chế ủy quyền của các Bộ, Ngành Trungương và UBND Tỉnh, Thành phố cho Ban quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh thựchiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực đầu tư, xây dựng,thương mại, lao động…; Một số nội dung quản lý Nhà nước thuộc lĩnh vực quản lýchuyên ngành như: hải quan, công an, thuế vụ… được thực hiện theo phương thứccác cơ quan này đặt đại diện đủ thẩm quyền của mình để giải quyết trực tiếp côngviệc tại các khu công nghiệp
Trang 32Cơ chế quản lý “Một cửa, tại chỗ” đến nay đã được mở rộng ra cho tất cả
các Ban quản lý các KCN cấp tỉnh của cả nước Thực hiện cơ chế này, Ban quản lýcác KCN cấp tỉnh đã được trao quyền quyết định nhiều hơn trong việc thực thiquyền quản lý của Nhà nước, giải quyết nhanh hơn, bớt quan liêu hơn, giảm bớt sự
đi lại, chi phí cho việc thực hiện các thủ tục hành chánh, giảm bớt phiền hà cho cácnhà đầu tư, góp phần không nhỏ thúc đẩy phát triển khu công nghiệp, được cácdoanh nghiệp khu công nghiệp thừa nhận tính tích cực của công tác quản lý Nhànước Đây là cơ chế đúng, phù hợp với mô hình KCN [13]
Thủ tục hành chánh ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian, chi phí và cơ hội củadoanh nghiệp đầu tư trong KCN Thủ tục hành chánh thuận lợi, nhanh chóng sẽ haophí ít thời gian, giảm chi phí sản xuất, tăng cơ hội cho doanh nghiệp Ngược lại, nếuthủ tục hành chánh rườm rà sẽ hao tốn nhiều thời gian, tăng chi phí sản xuất, giảm
cơ hội của doanh nghiệp, làm ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư của KCN Vìvậy, cần thiết phải đơn giản hóa đến mức tối thiểu có thể các thủ tục hành chánh vềcấp phép đầu tư, cấp phép xây dựng, hoàn công công trình, thuê kho bải, thủ tụcxuất nhập khẩu…đồng thời loại bỏ các qui định không cần thiết cản trở đến họatđộng của doanh nghiệp Đơn giản được thủ tục hành chánh sẽ đem lại cho KCN mộtmôi trường đầu tư lành mạnh và thuận lợi
1.3.4 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong KCN
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong KCN là hệ thống giao thông vận tải, hệ thốngliên lạc viễn thông, hệ thống cung cấp năng lượng như điện, nước…Xây dựng cơ sở
hạ tầng kỹ thuật hiện đại là điều kiện để thu hút đầu tư
Nhà đầu tư chọn địa điểm đầu tư trong KCN sẽ tiết kiệm được nhiều chi phíhơn ngoài KCN; vì đầu tư ngoài KCN thì chi phí mua đất xây dựng nhà máy cao,nhà đầu tư phải tự xây dựng hệ thống đường dây tải điện, đường giao thông vận tải.Hơn nữa, đầu tư trong KCN sẽ được cung cấp các dịch vụ khác như: cấp mã sốthuế, hải quan, khắc dấu doanh nghiệp… rút ngắn thời gian để dự án đầu tư sớm đivào hoạt động
Trang 33Cơ sở hạ tầng hiện đại sẽ rất thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động trongKCN, đó là điều đầu tiên các nhà qui hoạch luôn phải nghĩ tới, nó là bộ mặt củaKCN và góp phần vào việc phát triển bền vững của KCN Hệ thông giao thông antoàn và tiện lợi sẽ góp phần giảm thiểu chi phí vận tải cho doanh nghiệp, giúp doanhnghiệp tiết kiệm thời gian và thuận lợi trong lưu thông với các doanh nghiệp khác.Điện, nước, kho tàng, bến bãi, hệ thống xử lý chất thải, thông tin liên lạc, phòngcháy chữa cháy tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong sản xuất, kinh doanh Ngoài ra,
hạ tầng xã hội như bệnh viện, chợ, siêu thị, nhà ở cho công nhân và chuyên gia, khuvui chơi giải trí…được xây dựng cũng sẽ mang lại nhiều lợi ích về mặt xã hội chohoạt động của doanh nghiệp và cả người lao động
1.3.5 Qui hoạch phân khu chức năng trong KCN
Trong công tác qui hoạch KCN cùng với việc qui hoạch cơ sở hạ tầng kỹthuật, hạ tầng xã hội còn có qui hoạch phân khu chức năng Phân khu chức năngtrong KCN là chia KCN ra nhiều khu vực, mỗi khu vực có một chức năng riêng vàphải phù hợp với qui hoạch tổng thể của KCN Trong công tác qui hoạch phân khuchức năng phải chú ý đến các mối liên kết ngành nghề trong KCN, liên kết giữa cácKCN và các vùng miền
Việc phân khu chức năng phải căn cứ vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
cụ thể của từng KCN, từng vùng miền Phải gần nguồn nguyên liệu, nhiên liệu vànăng lượng, để khai thác tốt nhất các điều kiện tự nhiên của địa phương để pháttriển KCN theo hướng bền vững về tài nguyên, môi trường và xã hội Những doanhnghiệp có sản phẩm sản xuất tương tự được qui hoạch vào cùng một phân khu như:nhóm sản phẩm may mặc, da giày, túi xách, dệt…; nhóm sản phẩm bánh kẹo, nướcgiải khát, bia, sữa, cà phê…; nhóm sản phẩm cơ khí, thép, luyện kim, phụ tùng ô tô,công nghiệp phụ trợ…
Phân khu chức năng trong KCN sẽ tạo được sự liên kết giữa các doanh nghiệp hoạtđộng trong KCN, thuận lợi trong sản xuất, trong vận chuyển nội bộ, cung cấpnguyên vật liệu, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất Phân khu chức năng trong
Trang 34KCN sẽ thuận lợi trong công tác xử lý chất thải, công tác quản lý an toàn phòngchống cháy nổ và vệ sinh môi trường.
Tóm lại, một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tưtrong KCN được trình bày tóm tắt như hình 1.1 sau đây:
Trang 35
Hình 1.1: Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trong KCN
Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trong KCN
Vị trí địa lý và
điều kiện tự
nhiên
Chính sách ưu đãi đầu tư trong KCN
Thủ tục hành chánh- Thực hiện
cơ chế “Một cửa, tại chỗ”
Cơ sỡ hạ tầng kỹ thuật trong KCN Qui hoạch phân khu chức năng
Trang 36TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Có nhiều khái niệm khác nhau về Khu công nghiệp, tùy thuộc vào mỗi quốcgia, nhưng việc thành lập KCN đều cùng có mục tiêu chung là: Phát triển côngnghiệp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theohướng Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa; chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trườngđảm bảo phát triển bền vững, tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, tăngcường thu hút đầu tư và hội nhập nền kinh tế trong nước với nền kinh tế quốc tế
Để quản lý KCN hiệu quả với đối tượng là các doanh nghiệp hoạt động trongKCN, cần thiết phải hoạch định ra các vấn đề cần nghiên cứu Nghiên cứu về:ngành nghề, sản phẩm, công nghệ, vốn đầu tư, doanh thu, nguồn nhân lực…sẽ là cơ
sở để hoàn thiện môi trường hoạt động của doanh nghiệp trong KCN Đồng thờinghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trongKCN như: Chính sách ưu đãi đầu tư, thủ tục hành chánh, cơ sở hạ tầng, phân khuchức năng trong KCN…sẽ nhận ra các ảnh hưởng tiêu cực, tích cực, giúp công tácquản lý hoạt động doanh nghiệp hoàn thiện hơn
Cơ sở lý luận về môi trường hoạt động của doanh nghiệp đầu tư trong KCN
sẽ định hướng ra các vấn đề cần thiết phải nghiên cứu và là nền tảng cho việcnghiên cứu thực trạng tại một KCN cụ thể sau này
Trang 37CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ TRONG KCN MỸ PHƯỚC
THỜI GIAN QUA
2.1 Giới thiệu về KCN Mỹ Phước
2.1.1 Lịch sử hình thành KCN Mỹ Phước
Trong tiến trình Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa của đất nước, tỉnh BìnhDương thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng phát triển công nghiệp, nhiềuKCN đã ra đời trong đó có KCN Mỹ Phước
Khu công nghiệp Mỹ Phước có tổng diện tích đất 6.200 ha (trong đó đấtcông nghiệp 3.000 ha, đô thị và dịch vụ 3.200 ha) với Chủ đầu tư là Tổng công tyĐầu tư và Phát triển công nghiệp – TNHH Một thành viên (Becamex IDC) Đượckhởi công xây dựng vào ngày 12 tháng 6 năm 2002, tới nay đã qua 5 Giai đoạn thicông gồm: Giai đoạn 1- Mỹ Phước 1, Giai đoạn 2- Mỹ Phước 2, Giai đoạn 3- MỹPhước 3, Giai đoạn 4- Bàu Bàng, Giai đoạn 5- Thới Hòa Trong đó, Giai đoạn 1diện tích 400 ha, khởi công năm 2002; Giai đoạn 2 diện tích 800 ha, khởi công năm2005; Giai đoạn 3 diện tích 2.200 ha, khởi công năm 2006; Giai đoạn 4 diện tích
800 ha, khởi công năm 2007 và Giai đoạn 5 diện tích 2.000 ha, khởi công năm
2008 Với quan điểm lần đầu tiên tại Việt Nam áp dụng mô hình xây dựng mới:
Khu công nghiệp phức hợp không chỉ thu hút các hoạt động sản xuất công nghiệp
mà còn có các hoạt động dịch vụ, thương mại, đô thị và dân cư Đây là khu côngnghiệp kiểu mẫu, được xây dựng theo hướng chú trọng đến bảo vệ môi trường, tạo
ra công viên công nghiệp xanh, sạch theo mô hình Thành phố công nghiệp, nhằm hướng đến sự phát triển lâu dài, bền vững và tương lai sẽ biến khu vực phía bắc tỉnh
Bình Dương thành một Thành phố công nghiệp
Trang 38Các Giai đoạn của KCN Mỹ Phước được thành lập dựa trên cơ sở các quyếtđịnh sau đây:
● Giai đoạn 1 (KCN Mỹ Phước 1):
- Quyết định thành lập: số 452/TTg, ngày 14/6/2002 của Thủ tướng Chính phủv/v thành lập và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuậtKCN Mỹ Phước, tỉnh Bình Dương
- Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu công nghiệp: số 972/QĐ-BXDngày 17/7/2002 của Bộ Xây dựng v/v phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN Mỹ Phước,tỉnh Bình Dương; số 3557/QĐ-UBND ngày 17/8/2007 của UBND tỉnh Bình Dươngv/v điều chỉnh qui hoạch chi tiết KCN Mỹ Phước
● Giai đoạn 2 (KCN Mỹ Phước 2):
- Quyết định thành lập: số 59/TTg-CN ngày 14/01/2005 của Thủ tướng Chínhphủ v/v cho phép thành lập đầu tư và thành lập KCN Mỹ Phước 2, tỉnh BìnhDương; số 222/QĐ-CT ngày 20/01/2005 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương v/vthành lập và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN
● Giai đoạn 3 (KCN Mỹ Phước 3):
- Quyết định thành lập: số 1316/TTg-CN ngày 28/8/2006 do Thủ tướng Chínhphủ v/v cho phép thành lập KCN Mỹ Phước 3, tỉnh Bình Dương; số 3920/QĐ-UBND ngày 31/8/2006 của Chủ tịch UBND v/v thành lập và phê duyệt dự án đầu
tư và xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN Mỹ Phước 3, tỉnh Bình Dương
- Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu công nghiệp: số 1308/QĐ-BXDngày 18/9/2006 của Bộ Xây Dựng v/v phê duyệt quy hoạch chi tiết KCN Mỹ Phước
3, tỉnh Bình Dương
Trang 39● Giai đoạn 4 (KCN Bàu Bàng):
- Quyết định thành lập: số 566/TTg-CN ngày 10/5/2007 của Thủ tướng Chínhphủ v/v chủ trương thành lập KCN Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
- Giấy chứng nhận đầu tư: số 46221000302 ngày 23/10/2007 do Ban Quản lýcác KCN Bình Dương cấp
- Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu công nghiệp: số UBND ngày 28/9/2007 của UBND tỉnh Bình Dương
4280/QĐ-● Giai đoạn 5 (KCN Thới Hòa):
- Quyết định thành lập: số 1717/CP-CN ngày 17/11/2004 của Thủ tướng Chínhphủ v/v Chủ trương xây dựng các KCN tại tỉnh Bình Dương
- Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết khu công nghiệp: số KTQH ngày 27/10/2005 của Bộ Xây Dựng v/v thỏa thuận quy hoạch chi tiết KCNThới Hòa, tỉnh Bình Dương; số 4600/UBND-KTTH ngày 12/10/2007 về việc điềuchỉnh quy hoạch chi tiết Khu công nghiệp Thới Hoà, huyện Bến Cát
2203/BXD-Về vị trí, KCN Mỹ Phước nằm ở phía Bắc tỉnh Bình Dương, là tỉnh thuộc
“Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam” cùng với TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng
Tàu KCN Mỹ Phước được xây dựng tại địa điểm: Huyện Bến Cát, Tỉnh BìnhDương Có vị trí địa lý cách TP Hồ Chí Minh 45 Km và Thành phố Thủ Dầu Một
14 Km về phía Bắc; cách Tân Cảng 32 km, cụm cảng Sài Gòn, VICT, ICD PhướcLong 42 Km và cách sân bay Tân Sân Nhất 42 Km [20]
2.1.2 Vai trò của KCN Mỹ Phước
● Thứ nhất, Phát triển công nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế huyện Bến
Cát và tỉnh Bình Dương.
Với chủ trương của UBND tỉnh Bình Dương là đưa công nghiệp về cáchuyện phía Bắc tỉnh Bình Dương và chú trọng đầu tư phát triển đồng bộ hạ tầng làmnền tảng đột phá Từ một vùng đất gò đồi hoang hóa, sau hơn 10 năm xây dựng vàphát triển, bộ mặt công nghiệp và đô thị Mỹ Phước đã hoàn toàn thay đổi, nơi đây
đã trở thành trung tâm công nghiệp của huyện Bến Cát và tỉnh Bình Dương, góp
Trang 40phần quan trọng vào việc thu hút đầu tư, đưa Bến Cát trở thành một trong những địa
phương có công nghiệp phát triển mạnh, tổng giá trị sản xuất đạt 50.000 tỷ đồng/năm, trong đó giá trị công nghiệp đạt 43.000 tỉ đồng/năm, chiếm đến 86,2%
tổng giá trị sản xuất
● Thứ hai, Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Bến Cát và tỉnh Bình
Dương theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Trước đây kinh tế huyện Bến Cát chủ yếu là nông nghiệp, từ khi KCN MỹPhước được hình thành vào năm 2002 và phát triển đến nay, đã làm tăng tỷ trọng
của ngành công nghiệp và dịch vụ của huyện Bến Cát lên đến 86,2% và làm giảm
tỷ trọng nông nghiệp chỉ còn 13,8% Sự thành công về mô hình KCN Mỹ Phước đã
làm chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế của huyện Bến Cát, từ một huyện cónền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với qui mô nhỏ lẻ nay đã chuyển sang một huyện
có tỉ trọng công nghiệp cao, công nghệ sản xuất hiện đại, dịch vụ phát triển…điềunày góp phần đáng kể vào mục tiêu phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa củatỉnh Bình Dương và cho quốc gia
● Thứ ba, Tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của
khoa học và công nghệ, giải quyết việc bảo vệ môi trường đảm bảo phát triển bền vững
Với hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật tương đối hiện đại, đồng bộ, cùng vớinhững ưu đãi mà Nhà nước và tỉnh Bình Dương dành cho KCN Mỹ Phước trongnhập khẩu vật tư, thiết bị, về nguồn vốn vay, về lãi suất, về giá đất … đã tạo điềukiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tiếp cận công nghệ tiên tiến, hiện đại trên Thếgiới như: công nghệ sản xuất ô tô, cơ khí chính xác, điện tử, công nghệ thông tin…rút ngắn dần khoảng cách về khoa học công nghệ nước ta với các nước tiên tiến KCN Mỹ Phước phát triển mạnh đã làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăngnguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp tái cơ cấu mở rộng sảnxuất, đổi mới trang thiết bị, tích lũy thêm kinh nghiệm trong quản lý, điều hành sảnxuất kinh doanh, làm cho các doanh nghiệp kinh doanh ngày càng có hiệu quả