1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Chuyên đề: Pháp luật về thừa kế

286 589 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 286
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sửa đổi qui định về việc thừa kế của những người chết cùng một thời điểm Luật cũ không công nhận quyền được thừa kế thế vị của cháu hoặc chắt, khi conhoặc cháu chết cùng thời điểm với ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

CAO HỌC LUẬT DÂN SỰ

Yêu cầu của giảng viên đối với học viên

1 Trước khi lên lớp: Học viên phải nghiên cứu đề cương và

đọc các tài liệu theo chỉ dẫn của đề cương

2 Khi nghiên cứu và học tập trên lớp: Học viên phải có các

văn bản được liệt kê tại trang 8 - 9 của Bộ tài liệu

TP HỒ CHÍ MINH - 2014

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN 1 CÁC CHỦ ĐỀ NGHIÊN CỨU & TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Các chủ đề nghiên cứu 1

Danh mục tài liệu tham khảo 7

PHẦN 2 CÁC CHUYÊN ĐỀ THAM KHẢO 11

Chuyên đề 01 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2005 VỀ THỪA KẾ 11

TS Lê Minh Hùng Chuyên đề 02 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ 17

TS Phạm Văn Tuyết Chuyên đề 03 LƯỢC SỬ PHÁP LUẬT THỪA KẾ VIỆT NAM TỪ THẾ KỶ THỨ XV ĐẾN NAY 30

TS Phùng Trung Tập Chuyên đề 04 MẤY ĐẶC TRƯNG TRONG PHÁP LUẬT THỪA KẾ THỜI PHONG KIẾN VÀ THỜI THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP 61

TS Phạm Kim Anh Chuyên đề 05 DI SẢN THỪA KẾ 76

TS Trần Thị Huệ Chuyên đề 06 NGƯỜI KHÔNG CÓ QUYỀN HƯỞNG DI SẢN 126

TS Nguyễn Minh Tuấn

Trang 3

Chuyên đề 07

DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ, CHỒNG THEO QUI ĐỊNH CỦA BLDS 2005 – THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ 156

TS Lê Minh HùngChuyên đề 08

NGƯỜI THỪA KẾ THEO QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM 186

TS Nguyễn Minh TuấnChuyên đề 09

BÀN THÊM VỀ THỜI ĐIỂM CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC CHUNG CỦA VỢ-CHỒNG 199

TS Lê Minh Hùng

Chuyên đề 10 XÁC ĐỊNH QUAN HỆ THỪA KẾ GIỮA NHỮNG NGƯỜI THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT 211

TS Phạm Văn TuyếtChuyên đề 11

THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN 231

TS Trần Thị HuệChuyên đề 12

MỘT VÀI VẤN ĐỀ TRONG THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN TRANH CHẤP THỪA KẾ THEO DI CHÚC VÀ THEO PHÁP LUẬT, NHỮNG KHÓ KHĂN VƯỚNG MẮC TRONG VIỆC ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VÀ KIẾN NGHỊ 252

Tưởng duy Lượng

Chuyên đề 13

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ: NHỮNG BẤT CẬP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN 250

Lê Minh Hùng

Trang 5

PHẦN 1 CÁC CH Đ MÔN PHÁP LU T V DI S N TH A K Ủ ĐỀ MÔN PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ Ề MÔN PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ ẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ Ề MÔN PHÁP LUẬT VỀ DI SẢN THỪA KẾ ẢN THỪA KẾ ỪA KẾ Ế

Chủ đề 1

DI SẢN

1.1 Khái niệm, đặc điểm của di sản

1.2 Phân loại di sản

1.2.1 Di sản là tài sản riêng của người để lại thừa kế

1.2.2 Di sản là một phần tài sản của người để lại di sản trong khối tài sản chung vớingười khác

1.2.3 Di sản là các quyền tài sản

1.2.4 Di sản là các quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu trí tuệ

1.2.5 Di sản là nhà ở, quyền sử dụng đất

Vấn đề thừa kế nhà ở: hạn chế người nước ngoài , thời hiệu

1.2.6 Các di sản là tài sản khác do người chết để lại

1.3 Những lợi ích không phải là di sản

1.3.1 Nghĩa vụ của người để lại di sản

Nghĩa vụ phát sinh từ di sản? cách giải quyết? (phạm vi của nghĩa vụ - hiệu lựctương đối của hợp đồng?

Khi nào nghĩa vụ chấm dứt?

Thời hiệu khởi kiện đòi nợ?

1.3.2 Các lợi ích khác không phải là di sản

1.4 Một số bất cập trong pháp luật và trong thực tiễn xét xử về việc xác định di sản

Chủ đề 2

THỜI ĐIỂM MỞ THỪA KẾ

2.1 Khái niệm thời điểm mở thừa kế, qui định của pháp luật hiện hành về thời điểm mở thừa kế

Trang 6

2.1.1 Khái niệm thời điểm mở thừa kế

2.1.2 Thực trạng pháp luật về thời điểm mở thừa kế

2.2 Ý nghĩa pháp lý của thời điểm mở thừa kế

2.2.1 Thời điểm mở thừa kế và thời điểm chuyển quyền sở hữu tài sản trong thừa kế2.2.2 Các ý nghĩa pháp lý khác

2.3 Một số vấn đề pháp lý về thời điểm mở thừa kế trong thực tiễn áp dụng

3.2 Điều kiện để trở thành người thừa kế hợp pháp

3.2.1 Có quyền thừa kế đối với di sản do người chết để lại

3.2.2 Các điều kiện cụ thể khác

3.3 Các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế

3.3.1 Người thừa kế không tồn tại vào thời điểm mở thừa kế

3.3.2 Người thừa kế từ chối nhận di sản

3.3.3 Người thừa kế bị “tước quyền thừa kế”

3.3.4 Người thừa kế bị truất quyền hưởng di sản

3.4 Một số điểm bất cập phát sinh trong thực tiễn áp dụng pháp luật về điều kiện để được hưởng di sản

3.4.1 Vấn đề xác định người thành thai vào thời điểm mở thừa kế

3.4.2 Một số vấn đề pháp lý về việc từ chối và nhường quyền hưởng di sản

3.4.3 Người bị “tước quyền” và những nội dung cần sửa đổi, bổ sung hoặc cần được

cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn áp dụng

Trang 7

Chủ đề 4

THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THỪA KẾ

4.1 Các loại thời hiệu về thừa kế

4.1.1 Thời hiệu khởi kiện đòi chia di sản thừa kế

4.1.2 Thời hiệu khởi kiện đòi nợ

4.2 Thực trạng pháp luật về thời hiệu khởi kiện đòi quyền thừa kế

4.2.1 Thời hiệu khởi kiện đòi quyền thừa kế đối với các loại tài sản thường

4.2.2 Thời hiệu khởi kiện thừa kế có đối tượng là nhà ở

4.2.3 Thời hiệu khởi kiện đòi quyền thừa kế theo hướng dẫn của TAND Tối cao tạiNghị quyết 02/2004

4.3 Một số vấn đề cần lưu ý trong thực tiễn xét xử

4.3.1 Thời điểm bắt đầu tính thời hiện khởi kiện và thời điểm chấm dứt thời hiệukhởi kiện đòi quyền thừa kế

4.3.2 Khi một bên chết trước đã hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế

4.3.3 Khi thời hiệu khởi kiện đã hết mà di sản thừa kế được xác định là tài sảnchung của các đồng thừa kế

4.3.4 Khi thời hiệu khởi kiện các loại tài sản đã hết thời hiệu mà thời hiệu khởi kiệnthừa kế phần di sản là nhà ở vẫn còn thời hiệu

4.3.5 Gián đoạn thời hiệu và bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện thừa kế

5.2.1 Các nội dung cơ bản và các nội dung khác của di chúc

5.2.2 Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội

Trang 8

5.3 Sự tự nguyện của người lập di chúc

6.1.2 Điều kiện để lập di chúc chung

6.2 Qui định của pháp luật hiện hành về di chúc chung và một số bất cập trong qui định của pháp luật và thực tiễn áp dụng

6.2.1 Thời điểm có hiệu lực

6.2.2 Sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc chung

6.2.3 Hình thức của di chúc chung

6.2.4 Thời điểm phát sinh hiệu lực của di chúc chung

6.2.5 Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

6.2.6 Thừa kế không phụ thuộc nội dung của di chúc chung

Trang 9

6.2.7.Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung

6.2.8 Căn cứ chấm dứt di chúc chung

Chủ đề 7

CÁC TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC CHIA

THỪA KẾ THEO DI CHÚC

7.1 Di sản bắt buộc và cách phân chia

7.1.1 Khái niệm, điều kiện

7.1.2 Cách phân chia thừa kế không phụ thuộc nội dung di chúc

MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

8.1 Khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế

8.1.1 Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý của diện thừa kế và hàng thừa kế

8.1.2 Phân định các hàng thừa kế và ý nghĩa

8.2 Các hàng thừa kế

8.2.1 Hàng thừa kế thứ nhất

8.2.2 Hàng thừa kế thứ hai

8.2.3 Hàng thừa kế thứ ba

8.2.4 Các trường hợp đặc biệt: vợ/chồng đang tiến hành thủ tục ly hôn nhưng chưa

có quyết định, bản án ly hôn đã có hiệu lực pháp luật

8.2.5 Việc thừa kế của con nuôi của người để lại di sản, con riêng của vợ/chồng củangười để lại di sản

8.3 Thừa kế thế vị và thừa kế chuyển tiếp

Trang 10

8.3.1 Thừa kế thế vị

8.3.2 Thừa kế chuyển tiếp

Chủ đề 9THANH TOÁN NỢ DO NGƯỜI CHẾT ĐỂ LẠI VÀ PHÂN CHIA DI

SẢN9.1 Thanh toán nợ di sản

9.2.2 Cơ sở pháp lý của việc phân chia di sản

9.2.3 Phương thức phân chia

9.3 Hạn chế phân chia di sản

9.3.1 Các trường hợp hạn chế phân chia di sản

9.3.2 Bảo vệ quyền của người thừa kế trong trường hợp di sản bị hạn chế phân chia9.3.3 Chấm dứt việc hạn chế phân chia

9.3.4 Một số bất cập liên quan đến việc hạn chế phân chia di sản

9.3.4.1 Ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện

9.3.4.2 Những vấn đề khác

Trang 11

DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO

A CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT

1 Bộ luật Dân sự năm 2005

2 Bộ luật Dân sự năm 1995

3 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990

4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một sốđiều của Luật Hôn nhân và gia đình

dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất cho cả nước

6 Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 của Ủy ban thường vụ quốc hội (khóa 10)ngày 24// 1998 về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1 tháng 7năm 1991

7 Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng thẩm phán –TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế

8 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày của Hội đồng thẩm phán – TAND tối caohướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhângia đình

9 Thông tư số 60/TATC ngày 22-2-1978 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫngiải quyết các việc tranh chấp về hôn nhân và gia đình của cán bộ, bộ đội có vợ,

có chồng trong Nam, tập kết ra Bắc lấy vợ, lấy chồng khác

10.Thông tư 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của TAND tối cao về thừa kế.

11 Thông tư liên tịch 01/2001/TT-LT- TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày03/01/2000 hướng dẫn thi hành NQ 35/2000/QH10

12 Thông tư liên tịch số 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/01/1999 củaTANDTC – VKSNDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Nghị quyết vềgiao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 của UBTVQH

13 Công văn số 91/TANDTC-KHXX ngày 28 tháng 6 năm 2011 của TAND tối caov/v Áp dụng Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27 tháng 7 năm

2006 của Ủy ban thường vụ quốc hội

14 Công văn số 178/2002/KHXX ngày 5 tháng 12 năm 2002 của TAND tối cao v/vgiải quyết tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

Trang 12

15 Công văn số 78/KHXX ngày 19 tháng 7 năm 1997 về việc chia thừa kế mởtrước ngày 1-7-1991 trong đó có di sản là nhà ở.

B CÁC SÁCH CHUYÊN KHẢO, BÀI BÁO VÀ TÀI LIỆU KHÁC

16 Phạm Kim Anh (Chủ nhiệm), Pháp luật thừa kế Việt Nam từ thế kỷ 15 đến nay,

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ - trường Đại học Luật TP HCM, năm 2006

17 Chế Mỹ Phương Đài, Bàn thêm về thừa kế thế vị, Đặc san Khoa học pháp lý, Số

24 Trần Thị Huệ, Điều kiện thừa kế quyền sử dụng đất trong Bộ Luật Dân Sự, Tạp

chí Luật học, Số Chuyên đề về Bộ Luật Dân Sự, 1996

25 Trần Thị Huệ, Thừa kế thế vị có đặt ra theo quy định tại Điều 646 và Điều 680

Bộ Luật Dân Sự không ?, Tạp chí Luật học , Số 4/ 1997, tr 35.

26 Lê Minh Hùng, Hoàn thiện chế định quyền thừa kế theo qui định của pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn thạc sỹ Luật học, trường Đại học Luật, thành phố

Trang 13

30 Lê Minh Hùng, Một số bất cập trong việc thừa nhận quyền lập di chúc chung của vợ chồng, Tạp chí Khoa học pháp lý, số 35, tháng 08/2006, tr 28 – 37.

31 Lê Minh Hùng, Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng theo qui

định của BLDS 2005, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20, tháng 10/2009.

32 Lê Minh Hùng, Quyền từ chối nhận di sản theo qui định của BLDS 2005, Tạp

35 Thái Công Khanh, Mấy ý kiến về Bộ luật Dân sự, TAND, Số 3/ 1999, tr 4.

36 Thái Công Khanh, Bàn về quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng , Tạp chí

TAND, Số 02/2002, tr 6

37 Hoàng Thế Liên (Cb), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005 - tập III, Phần thứ tư: Thừa kế; Phần thứ năm: Qui định về chuyển quyền sử dụng đất; Phần thứ sáu: quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; Phần thứ bảy: Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, Nxb CTQG, Hà Nội, năm 2010.

38 Hoàng Thế Liên (Cb), Bình luận khoa học một số vấn đề cơ bản của Bộ luật Dân

Trang 14

45 Tưởng Bằng Lượng, Một vài ý kiến về việc sửa đổi, bổ sung các quy định về quyền thừa kế trong Bộ luật Dân sự, TAND, Số 03/ 2002, tr 4.

46 Tưởng Bằng Lượng, Những vướng mắc khi giải quyết các vụ tranh chấp di sản dùng vào việc thờ cúng, TAND, Số 4/ 2002, tr 11.

47 Tưởng Duy Lượng, Một số vấn đề trong thực tiễn xét xử các tranh chấp về thừa

50 Đinh Trọng Tài, Thừa kế hay cho ở nhờ, TAND, Số 5/ 2000, tr 30.

51 Phùng Trung Tập, Luật Thừa kế Việt Nam, Nxb Hà Nội, năm 2008.

52 Phùng Trung Tập, Mối liên hệ giữa di sản thừa kế và di tặng, TAND, số 6/2003.

53 Phùng Trung Tập, Về việc cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng di sản theo hàng của ông, bà nội ngoại, các cụ nội ngoại, TAND, số 24 – 12/2005.

54 Phùng Trung Tập, Thừa kế theo pháp luật của công dân Việt Nam từ năm 1945 đến nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, H 2002.

55 Phùng Trung Tập, Việc giải quyết di sản thừa kế trong trường hợp thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Luật học, Số

59 Trần Văn Tuân, Một số ý kiến về quyền lập di chúc, TAND, Số 8/ 2000, tr 22.

60 Nguyễn Minh Tuấn, Di sản thừa kế và thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với di sản thừa kế, Tạp chí Luật học số 11, năm 2007, tr 67.

61 Nguyễn Minh Tuấn, Một số vấn đề về di sản dùng vào việc thờ cúng, Luật học,

số Chuyên đề BLDS, 1996, trang 65 – 68

Trang 15

62 Đinh Trung Tụng (chủ biên), Bình luận những nội dung mới của BLDS năm

2005, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2005.

63 Nguyễn Quang Tuyến, Một số suy nghĩ về thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật hiện hành, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 02/2003, tr.47.

64 Phạm Văn Tuyết, Thừa kế - Quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng, Nxb

Chính trị Quốc gia năm 2007

65 Phạm Văn Tuyết, Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc, T/c Luật học, Số

3/ 1997, tr 33…

Trang 16

PHẦN 2 CÁC CHUYÊN ĐỀ THAM KHẢO

Phần này có tất cả 14 Điều luật, nhưng có 7 điểm mới sau đây:

1.1 Thứ nhất, sửa đổi qui định về di sản

Điều 634 BLDS 2005 bỏ qui định tại khoản 2 của Điều luật tương ứng và chỉ

qui định thành 1 khoản về di sản như sau: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác”.

1.2 Sửa đổi qui định về người thừa kế

Điều 635 BLDS chỉ gộp lại thành một Điều khoản duy nhất mà không chiathành 2 khoản như Luật cũ Sự sửa đổi này mang tính chất kỹ thuật, không làm ảnhhưởng đến nội dung của điều luật

1.3 Bổ sung qui định về thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

BLDS 2005 có một sự bổ sung cụm từ “trừ trường hợp có thỏa thuận khác”

vào cuối dòng của khoản 1 và cuối dòng của khoản 3 Qui định này cho phép nhữngngười thừa kế tự do thỏa thuận cách thức thực hiện nghĩa vụ và phạm vi chịu nghĩa

vụ do người chết để lại Sự bổ sung này có ý nghĩa rất lớn, thể hiện sự tiến bộ và cởi

mở trong việc sửa đổi luật lần này, tiến tới phù hợp hơn với xu thế chung của phápluật dân sự trên thế giới

1.4 Sửa đổi qui định về việc thừa kế của những người chết cùng một thời điểm

Luật cũ không công nhận quyền được thừa kế thế vị của cháu hoặc chắt, khi conhoặc cháu chết cùng thời điểm với người để lại di sản Điều này không phù hợp vớinguyên tắc xác định hàng thừa kế và tập tục của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Điều 641 BLDS 2005 thừa nhận quyền thừa kế thế vị của con, cháu trực hệ khingười thừa kế là con, cháu chết trước người để lại di sản

Trang 17

1.5 Bổ sung qui định về quyền từ chối nhận di sản thừa kế

Khoản 3 Điều 642 BLDS 2005 qui định bổ sung cụm từ : "Sau sáu tháng kể

từ này mở thừa kế nếu không có từ chối nhận di sản thì được coi là đồng ý nhận thừa kế” Bổ sung này nhằm khẳng định rõ hơn tính chất mặc nhiên hay “tự động”

của quyền thừa kế

1.6 Bổ sung qui định về di sản không có người thừa kế thuộc về nhà nước

Bộ luật mới có điều chỉnh và qui định rõ hơn trách nhiệm của cơ quan nhànước khi tiếp nhận di sản không người thừa kế là phải thực hiện nghĩa vụ của ngườichết Xác định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan Nhà nước hữu quan khi nhận di sảnkhông người thừa kế, thì cần phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho những người chủ nợcủa người chết, cũng như phải thực hiện nghĩa vụ khác đối với những người có

quyền và lợi ích liên quan chứ không được "quên" như trước đây nữa Đây là một sự

hiệu chỉnh theo hướng tích cực, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của chủ nợ vànhững người có quyền và lợi ích liên quan đến di sản và người để lại di sản

1.7 Bổ sung qui định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ do người chết để lại

Điều 648 BLDS 1995 chỉ qui định một loại thừa kế khởi kiện về thừa kế là 10năm, kể từ thời điểm mở thừa kế Bộ luật Dân sự 2005 đã bổ sung thêm thời hiệukhởi kiện đòi nợ do người chết để lại là 3 năm, kể từ ngày mở thừa kế

2 THỪA KẾ THEO DI CHÚC

Thừa kế theo di chúc được qui định tại chương XXIII gồm 28 Điều luật (từĐiều 646-Điều 673), trong đó có 7 Điều luật có sửa đổi, bổ sung Bao gồm:

2.1 Sửa đổi qui định về quyền của người lập di chúc

Qui định về các quyền của người lập di chúc tại Điều 648 BLDS 2005, cơ bảnvẫn giữa nội dung gần giống như Điều 651 BLDS 1995 và có sửa đổi tại khoản 4

Theo đó, khoản 4 Điều 648 BLDS 2005 bỏ cụm từ “trong phạm vi di sản” đã từng

được ghi trong khoản 4 Điều 651 BLDS 1995

2.2 Sửa đổi qui định về hình thức di chúc bằng văn bản

Khoản 3 Điều 650 BLDS 2005 bỏ cụm từ “có chứng thực của Ủy ban nhân xã, phường, thị trấn”, và nội dung của điều luật được thiết kế thành khoản 4 của Điều

luật mới, sau khi đưa khoản 4 Điều luật cũ lên thành khoản 3 trong Điều luật mới

Trang 18

Sửa đổi này chỉ mang tính chất kỹ thuật mà khônglàm thay đổi nội dung cơ bản củaĐiều luật.

2.3 Sửa đổi và bổ sung qui định về di chúc miệng

Điều 651 BLDS 2005 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung so với qui định tương ứngtại Điều 654 BLDS 1995 Chuyển đoạn cuối khoản 1 về thành khỏan 5 Điều 652BLDS 2005; đồng thời thêm hai từ “mặc nhiên” vào khoản 2 để xác định rõ, di chúc

sẽ đương nhiên vô hiệu sau 6 tháng kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chícuối cùng mà họ vẫn còn sống, minh mẫn, sáng suốt

2.4 Bổ sung qui định về điều kiện để công nhận di chúc hợp pháp

Khoản 3 Điều 652 BLDS 2005 lược bỏ và viết gọn lại một đoạn trong khoản

3 Điều 656 BLDS 1995 Theo đó, đoạn “có chứng nhận của Công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uy ban nhân dân xã, phường, thị trấn” được viết lại “có công chứng hoặc chứng thực” Sửa đổi này chỉ mang tính kỹ thuật và làm cho Điều luật

phù hợp với qui định tại Điều 650 (BLDS 2005)

2.5 Sửa đổi qui định về di chúc công chứng hoặc chứng thực

Điều 657 BLDS 2005 sửa đổi Điều 660 cho gọn hơn và phù hợp với tinh thầncủa Điều 650 BLDS 2005 như đã phân tích trên

2.6 Sửa đổi qui định về hiệu lực của di chúc chung của vợ chồng

Điều 668 BLDS 2005 qui định rõ ràng và ngắn gọn hơn so với Điều luật cũ

tương ứng: “Di chúc chung chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc thời điểm vợ, chồng cùng chết” Qui định này tỏ ra hợp lý hơn so với

qui định tương ứng trong BLDS 1995, vì một di chúc chỉ có thể có một thời điểm cóhiệu lực

2.7 Sửa đổi qui định về công bố di chúc

Nhìn chung, qui định về việc công bố di chúc tại Điều 672 BLDS 2005, về cơbản, không khác so với qui định tương ứng tại Điều 675 BLDS 1995 Riêng khoản 3

Điều 672 BLDS 2005 có một sửa đổi nhỏ: bỏ đoạn “bản sao di chúc phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi mở thừa kế” Qui định như vậy phù hợp với thực trạng pháp luật công

chứng, chứng thực hiện nay

3 THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Trang 19

Phần này gồm có 7 Điều luật qui định về việc thừa kế theo pháp luật, nhưng

có 3 điều khoản được sửa đổi, bổ sung:

3.1 Bổ sung qui định hàng thừa kế thứ hai

Điểm b, Khoản 1 Điều 679 BLDS 1995 qui định: “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết” Như vậy, hàng thừa kế

thứ hai theo luật cũ không có cháu nội, cháu ngoại của người chết Điểm b, Khoản 1Điều 676 bổ sung thêm người thừa kế vào hàng thừa kế thứ hai Theo đó, hàng thừa

kế thứ hai gồm: “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết, cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại”.

3.2 Tương tự, điểm c, khoản 1 Điều 676 BLDS 2005 cũng bổ sung thêm: “chắt

ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại”

Nhiều ý kiến cho rằng, qui định như trên là có sự chồng chéo giữa các điềuluật và chắc chắn qui định này cũng sẽ gây ra sự lúng túng trong việc áp dụng phápluật và sẽ gây nhiều tranh cãi Nếu chỉ cho thừa kế thế vị đối với đối tượng vừa nêu,thì qui định đưa họ vào hàng thừa kế sẽ trở nên vô nghĩa vì là qui định thừa Còn nếucho họ hưởng theo hàng thừa kế thì sẽ bất công, bất hợp lý và mâu thuẫn với quyềnđược thừa kế thế vị Nếu cho họ vừa được thừa kế theo hàng, vừa thừa kế thế vị thìlại vi phạm nguyên tắc chia thừa kế ưu tiên cho hàng thừa kế trước Có ý kiến lại chorằng, qui định như vậy là công bằng hơn so với thừa kế thế vị vì thừa kế thế vị thìmỗi tất cả các cháu chỉ được hưởng chung một suất hàng thứ nhất, thì trong trườnghợp này, mỗi cháu là một nhân suất trong hàng thứ hai

Thoạt nhìn, các nhận định đó quả không sai Tuy nhiên, như chúng ta đã biết,nếu cháu, chắt trực hệ mà được thừa kế thế vị thì việc chia thừa kế cho hàng thứ haihoặc cho hàng thứ ba là không thể xảy ra Hàng thừa kế thứ hai chỉ có thể được chiakhi mà hàng thứ nhất không có người nào có đủ điều kiện để được hưởng thừa kế.Tương tự, nếu hàng thứ hai cũng không còn ai thì hàng thứ ba được hưởng toàn bộ

di sản Như vậy, sẽ không có chuyện một người vừa được chia thừa kế theo hàng thứhai, vừa được hưởng thừa kế thế vị Một người cháu nội hoặc cháu ngoại của ngườichết, không thể vừa được hưởng thừa kế thế vị, vừa được thừa kế theo hàng thứ hai

Tương tự, chắt cũng không thể vừa thừa kế thế vị, vừa được thừa kế theo thứ

ba, do một nguyên tắc quan trọng của việc chia thừa kế theo hàng ràng buộc: chỉ khi

Trang 20

không ai trong hàng thừa kế trước đủ điều kiện thừa kế, thì di sản đã được chia hếtcho hàng tiệp theo Tuy nhiên, tình huống không ai có đủ điều kiện để được hưởng

di sản, là một tình huống rất đa dạng, bao gồm cả trường hợp người thừa kế từ chốihưởng di sản hoặc người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản hoặc người thừa kế bị

di chúc truất quyền hưởng di sản Vậy, cháu và chắt sẽ không thể được thừa kế thế

vị, nếu cha mẹ của cháu hoặc cha mẹ của chắt thuộc 1 trong 3 trường hợp trên Lúc

đó, di sản sẽ được chia hết cho hàng thừa kế tiếp theo Do vậy, nếu pháp luật chỉ quiđịnh về trường hợp thừa kế thế vị thì sẽ không bảo đảm quyền được thừa kế củanhững người có quan hệ huyết thống trực hệ với người chết và cũng không bảo đảm

sự công bằng trong mối quan hệ thừa kế giữa cháu với ông bà hoặc giữa chắt với các

cụ

BLDS 2005 qui định bổ sung điểm này là cần thiết và khắc phục bất cập từ

trước tới nay khi mà pháp luật chưa bảo đảm được tập tục “nước mắt chảy xuôi”

trong quan hệ thừa kế giữa ông, bà với các cháu và giữa các cụ với các chắt Mặc dùvậy, Điều luật này có khả năng sẽ tạo ra những bất cập mới là không bảo đảm sự

công bằng giữa các chi, nhánh và thứ, bậc trong việc thừa kế của số các cháu hoặc

chắt không được thừa kế thế vị

3.3 Bổ sung qui định về thừa kế thế vị

Điều Điều 677 BLDS 2005 đã bổ sung quyền được hưởng thừa kế thế vị củacháu, chắt có cha, mẹ hoặc ông, bà chết cùng thời điểm với người để lại di sản chophù hợp với thực tế quyền thừa kế của cháu trực hệ, chắt trực hệ

4 THANH TOÁN VÀ PHÂN CHIA DI SẢN

Phần này trong BLDS 1995 có 6 Điều luật và được sửa đổi, bổ sung 2 điều khoảntrong BLDS 2005 Cụ thể:

4.1.Bổ sung qui định về các trường hợp hạn chế phân chia di sản

Kế thừa qui định trong Điều 689 BLDS 1995 và các qui định liên quan của Luật Hônnhân và Gia đình 2000, nhà làm luật đã bộ sung vào Điều luật tương ứng trong

BLDS 2005 nội dung: “Trong trường hợp yêu cầu chia di sản thừa kế mà việc chia

di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của một bên vợ hoặc chồng còn sống

và gia đình thì bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa cho chia di sản trong một thời hạn nhất định, nhưng không quá 3 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế; nếu hết thời hạn do

Trang 21

Tòa án xác định hoặc bên xcòn sống đã kết hôn ới người khác thì những người thừa

kế khác có quyền yêu cầu Tòa án cho chia di sản thừa kế”.

4.2 BLDS 2005 bổ sung một Điều luật mới về phân chia di sản khi có người thừa

kế mới hoặc có người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế

Điều luật này khắc phục tình trạng bỏ sót người thừa kế khi chia thừa kế; đồng thờitạo cơ sở pháp lý để yêu cầu người thừa kế bị bác bỏ quyền thừa kế phải hoàn trảphần di sản mà họ được chia trước khi quyền thừa kế của họ bị bác bỏ Điều luật quiđịnh rõ thời điểm qui đổi giá trị kỷ phần di sản là thời điểm di sản được phân chiatrên thực tế, nhằm xác định rõ ràng về cách tính giá trị mỗi phần di sản, làm cơ sở đểtính toàn giá trị di sản mà mỗi người thừa kế được hưởng

19B

Trang 22

Chuyên đề 02

1BMỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỪA KẾ

20B TS Phạm Văn Tuyết

Trường Đại học Luật Hà Nội

1.1 Các quan niệm về thừa kế

Con người không thể sống khi không có tài sản để thoả mãn các nhu cầu thiếtyếu Nếu tư liệu tiêu dùng là phương tiện sinh hoạt, tư liệu sản xuất là phương tiện

để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh thì tài sản nói chung là phương tiệnsống của con người Khi sống, con người khai thác công dụng của tài sản để thoảmãn cho nhu cầu của mình, khi chết, tài sản còn lại của họ được dịch chuyển chongười còn sống Quá trình dịch chuyển đó được gọi là thừa kế

Theo Từ điển tiếng Việt thì “thừa kế là việc dịch chuyển tài sản của người đãchết cho người còn sống” F

1

FVề mặt ngữ nghĩa thì thừa kế là thừa hưởng một cách kếtục Theo phương diện này, Từ điển Tiếng Việt đã định nghĩa: “Thừa kế là hưởngcủa người chết để lại cho.F

2

F Vì vậy, có thể hiểu rằng thừa kế là quá trình dịch chuyển

di sản từ người chết cho người còn sống

Quá trình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống đượchình thành ở bất cứ một xã hội nào và dĩ nhiên, khi chưa có nhà nước và pháp luật,

nó được thực hiện theo tập tục xã hội nên được gọi là thừa kế Khi nhà nước xuấthiện, bằng pháp luật, nhà nước tác động đến quá trình dịch chuyển tài sản nói trên,trong đó, quyền để lại tài sản cũng như quyền hưởng di sản của các chủ thể được nhànước ghi nhận và đảm bảo thực hiện bằng pháp luật nên từ đó, quá trình dịch chuyển

di sản được gọi là quyền thừa kế Nói cách khác, khái niệm quyền thừa kế là mộtphạm trù pháp lý mà nội dung của nó là xác định phạm vi các quyền, các nghĩa vụcủa các chủ thể trong lĩnh vực thừa kế Quyền thừa kế chỉ xuất hiện và tồn tại trong

xã hội đã có nhà nước Bên cạnh nội dung kinh tế, quyền thừa kế còn bao hàm ý chícủa nhà nước Nghĩa là việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người cònsống phải hoàn toàn tuân thủ sự qui định của pháp luật

1.2 Thừa kế và mối liên hệ với sở hữu

Theo Từ điển Tiếng Việt: “ thừa kế là hưởng của người chết để lại cho” thìthừa kế được hiểu là sự tiếp nối giữa việc để lại tài sản của người đã chết với việcnhận di sản của người còn sống Qua đó chúng ta thấy rằng, thừa kế bao giờ cũng là

hệ luận của quyền sở hữu, có sở hữu mới có thừa kế

1 1, 2 Xem Từ điển tiến Việt Viện Ngôn ngữ học NXB Đà Nẵng 2000

2

Trang 23

Thừa kế và sở hữu là hai phạm trù kinh tế tồn tại song song trong mọi hìnhthái kinh tế xã hội Trong phạm vi một chế độ xã hội, hai phạm trù này gắn bó chặtchẽ với nhau, mỗi phạm trù là tiền đề và cũng chính là hệ quả đối với nhau Nếu sởhữu là yếu tố đầu tiên để từ đó làm xuất hiện thừa kế thì đến lượt mình, thừa kế lại làphương tiện để duy trì, củng cố và xác định quan hệ sở hữu.Với tư cách là hệ luậncủa vấn đề sở hữu, thừa kế xuất hiện trong xã hội loài người như một hiện tượng tấtyếu Nếu quan hệ sở hữu cho thấy tài sản trong xã hội thuộc về ai thì thừa kế phảnánh quá trình dịch chuyển tài sản của người đó ra sao, nếu họ chết.

Với mối quan hệ biện chứng giữa thừa kế và sở hữu, chúng ta thấy rằng, khinào xuất hiện vấn đề sở hữu thì khi đó đồng thời xuất hiện vấn đề thừa kế Bất cứchế độ xã hội nào cũng đều phải tồn tại trên một cơ sở kinh tế nhất định, nghĩa là sựtồn tại của xã hội bao giờ cũng phải dựa trên một chế độ sở hữu Vì vậy, sở hữu làmột quan hệ tất yếu đối với sản xuất và do đó đối với mọi xã hội Trong một tácphẩm của mình, C Mác đã chỉ ra rằng: “ Bất cứ nền sản xuất nào cũng là việc conngười chiếm hữu những đối tượng của tự nhiên trong một phạm vi, một hình thái xãhội nhất định và thông qua hình thái đó.”, “ Nơi nào không có một hình thái sở hữunào cả thì nơi đó cũng không thể có sản xuất và do đó cũng không có một xã hội nàocả.”F

3

F Quan hệ sở hữu luôn mang một nội dung kinh tế Trong một xã hội nhất định,quan hệ sở hữu phản ánh mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, giữa tập đoàn nàyvới tập đoàn khác, giữa giai cấp này với giai cấp khác về việc nắm giữ các tư liệusản xuất và các vật phẩm tiêu dùng

Trong xã hội sơ khai của loài người, dù ý thức về xã hội, về cộng đồng cònhạn chế nhưng con người nguyên thuỷ đã biết chiếm giữ những gì mà mình có được

để phục vụ cho nhu cầu của mình Nghĩa là vấn đề sở hữu xuất hiện ngay từ thời kỳ

đó Tuy nhiên, trong thời kỳ đó “chưa có sự phân biệt rõ rệt về khái niệm “sở hữu”đối với tư liệu sản xuất và sức lao động”4 Như chúng ta đã biết, cơ sở kinh tế của xãhội cộng sản nguyên thuỷ là chế độ sở hữu cộng đồng về tư liệu sản xuất và các sảnphẩm lao động Ở thời kỳ này, tài sản mà con người chiếm hữu được chỉ là nhữngcông cụ lao động thô sơ và chỉ là những vật phẩm của tự nhiên mà con người thunhận được thông qua việc săn bắn, hái lượm Mặt khác, sự nhận thức của con ngườitrong thời kỳ này còn hết sức thấp kém “ Trong xã hội cộng sản nguyên thuỷ, dotrình đọ phát triển của lực lượng sản xuất thấp kém, công cụ lao động thô sơ, conngười chưa có sự nhận thức đúng đắn về thiên nhiên và về bản thân mình, họ luônluôn trong tình trạng mềm yếu, hoảng sợ và bất lực trước những tai hoạ của thiênnhiên thường xuyên xảy ra, năng suất lao động thấp Trong những điều kiện và

3 xem C.Mác-ăng ghen, Tuyển tập, tập 1, tr 247

4 Xem “Lịch sử triết học”, Tập I, NXBTTVH Hà Nội 1992, tr.19.

Trang 24

hoàn cảnh đó, con người không thể sống riêng biệt mà phải dựa vào nhau, cùngchung sống ” (Xem “Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật”, Trường Đại họcluật Hà Nội, NXBCAND, 1998, tr.28) Từ đó, chế độ quần hôn đã tồn tại trong giaiđoạn đầu của xã hội cộng sản nguyên thuỷ

Sự tồn tại của chế độ quần hôn không cho phép xác định được ai là cha củađứa trẻ sinh ra mà chỉ có thể biết được mẹ nó mà thôi Vì thế, những đứa trẻ sinh rachỉ theo dòng họ mẹ Tập hợp những người cùng chung sống theo huyết tộc mẹ quanhiều thế hệ đã hình thành những tổ chức thị tộc nhất định Thị tộc là tế bào của xãhội và mỗi một tổ chức thị tộc đã dần dần trở thành một tổ chức lao động và sảnxuất

“ Với một nền sản xuất và tổ chức xã hội giản đơn nên sở hữu trong thời kỳnguyên thuỷ chỉ là một khái niệm để phản ánh mối quan hệ giữa con người với nhautrong việc chiếm hữu những vật phẩm của tự nhiên mà họ thu giữ được”.(Xem

“Giáo trình luật dân sự Việt Nam” của Trường Đại học luật Hà Nội, NXBCANDnam 2001, tr.148) Tuy vậy, khi mà thông qua vấn đề sở hữu có thể phân biệt đượctài sản trong xã hội thuộc về ai, tổ chức thị tộc nào thì từ đó cũng sẽ xuất hiện quátrình dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người còn sống Tất nhiên, sựchuyển dịch đó chỉ hoàn toàn theo những tập tục của thừa kế nguyên thuỷ, nghĩa làthừa kế trong thời kỳ này hoàn toàn do phong tục tập quán của từng thị tộc quyếtđịnh Khi nghiên cứu về vấn đề này, Ph.Ang ghen đã viết: "Theo chế độ mẫu quyền,nghĩa là chừng nào huyết tộc chỉ kể về bên mẹ và theo tập tục thừa kế nguyên thuỷ,người trong thị tộc mới được thừa kế những người trong thị tộc chết Tài sản phải đểlại trong thị tộc, vì tài sản để lại không có giá trị lớn nên lâu nay trong thừa kế có lẽngười ta vẫn trao những tài sản đó cho những bà con thân thiết nhất, nghĩa là traocho những người cùng huyết tộc với người mẹ”1 (Xem Ph.đ Ăng ghen “Nguồn gốcgia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXBST Hà Nội, 1972 tr.58)

Kể từ khi hình thái gia đình Punaluan xuất hiện, diện những người có quan hệtính giao đã được hạn chế hơn nhiều nhưng huyết tộc vẫn được xác định về bên mẹ

“Tuy nhiên, bắt đầu từ lúc đó, nhóm ấy ngày càng do những thiết chế, chúng khắc cótính chất xã hội, tôn giáo mà càng trở nên vững chắc và ngày càng có những nétphân biệt với các thị tộc khác trong cùng một bộ lạc.” (Xem Ph.đ Ăng ghen “Nguồngốc gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXBST Hà Nội, 1972 tr 65).Mặt khác, trong các thị tộc này người phụ nữ chiếm một địa vị quan trọng, là laođộng chính và có vai trò vinh dự trong thị tộc Họ là thành viên của những ngườiđứng đầu thị tộc Địa vị của người phụ nữ lúc đó độc lập, vững vàng và tính chất củathị tộc lúc này là thị tộc mẫu quyền Tất nhiên, chúng ta không nói đến “quyền” theonghĩa pháp lý mà đó chỉ là những quyền lực được tạo ra từ uy tín, địa vị Chính vì

Trang 25

vậy mà khi so sánh địa vị của người phụ nữ dưới chế độ thị tộc mẫu quyền với địa vịcủa người phụ nữ trong xã hội văn minh, Ph.Angghen đã viết:

“Một bà trong thời đại văn minh được tôn trọng bề ngoài và xa lạ với một laođộng thực sự thì lại chiếm một địa vị xã hội thấp hơn rất nhiều so với địa vị xã hộicủa người đàn bà thời dã man là người phải cực nhọc nhưng được nhân dân coi làmột bà thật sự” (Xem Ph.đ Ăng ghen “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu vàcủa Nhà nước”, NXBST Hà Nội, 1972, tr 76, 77)

Bằng việc chỉ ra một cách khái quát về tính chất của chế độ thị tộc mẫu hệ,chúng ta thấy rõ thừa kế trong thời kỳ này là sự chuyển dịch tài sản của người quá cốsang người còn sống khác nhưng không được vượt khỏi phạm vi một thị tộc Trongphạm vi đó, người được giao tài sản phải là người có quan hệ thân thiết nhất vớingười đã chết và sự thân thiết này được xác định trên cơ sở huyết thống mẫu hệ Nhưvậy, thừa kế trong thời kỳ này chỉ là một tập tục xã hội thuần tuý

Ở giai đoạn tiếp theo, qua quá trình lao động sản xuất với những kinh nghiệm

đã được tích luỹ, trình độ lao động của con người dần dần được nâng cao, nền kinh

tế ngày càng phát triển nên đã xuất hiện nhiều ngành nghề khác nhau Người đànông bắt đầu đảm nhiệm những công việc chính với hiệu suất lao động cao, tạo rađược của cải dư thừa Trong khi đó người đàn bà vẫn chỉ làm các công việc cũ vớihiệu suất lao động thấp Bắt đầu từ đó địa vị của người đàn bà ngày càng lu mờ Mặtkhác, do sự tác động của sự phát triển kinh tế mà những quan hệ hôn nhân cũng thayđổi Sự phát triển về mọi mặt của thị tộc đã đến lúc không cho phép sự tồn tại củachế độ quần hôn Chế độ hôn nhân với hình thái gia đình đối ngẫu đã xuất hiện thaycho hình thái gia đình Punaluan, nghĩa là ở thời kỳ này, chế độ quần hôn đã bị chế

độ gia đình cặp đôi thay thế Đó là hình thái hôn nhân mà trông đó một người đànông sống với một người đàn bà Chế độ hôn nhân này đã tạo ra các điều kiện đủ đểxác định ai là cha của đứa trẻ sinh ra, mà theo Ăng- ghen: “ Còn xác thực hơn nhiều

so với những người cha thời nay” (thời Tư bản chủ nghĩa) (Xem Ph.đ Ăng ghen

“Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXBST Hà Nội, 1972 tr.86).Sự biến đổi quan trọng trên đã chuyển từ chế độ mẫu hệ thành chế độ phụ hệ, và:

“ thế là huyết tộc theo họ mẹ và quyền thừa kế mẹ bị xoá bỏ, huyết tộc theo họ cha

và quyền thừa kế cha được xác lập” (Xem Ph.đ Ăng ghen “Nguồn gốc gia đình, củachế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXBST Hà Nội, 1972 tr 87)

Như vậy, ngay từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ đã hình thành vấn đề thừa kế

Sự phát triển kinh tế xã hội làm cho các quan hệ sở hữu thay đổi kéo theo sự thayđổi bản chất về thừa kế Vì vậy, có thể nói rằng thừa kế là một hiện tượng xã hội tấtyếu xuất hiện đồng thời với quan hệ sở hữu mà nội dung kinh tế của nó chính là sự

Trang 26

phản ánh quá trình dịch chuyển tài sản từ những người đã chết sang những ngườicòn sống khác.

1.3 Quyền thừa kế và mối liên hệ với quyền sở hữu

Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, sự xuất hiện chế độ hôn nhânvới hình thái gia đình đối ngẫu làm cho kinh tế gia đình đã trở thành một đơn vị kinh

tế độc lập trong thị tộc, không còn phụ thuộc vào thị tộc và cuối cùng làm tan rã thịtộc

Ở thời kỳ này gia đình phát triển sang một hình thức mới hơn (Ăng ghen gọi

là hình thức trung gian trong bước chuyển từ chế độ hôn nhân đối ngẫu sang chế độhôn nhân một vợ một chồng), trong đó mọi quyền lực thuộc về người chồng, với tưcách là gia trưởng nên tất cả tài sản trong gia đình thuộc sở hữu của người chồng, và

sở hữu của “gia đình cá thể đã trở thành một lực lượng đang đe doạ xã hội.” (XemPh.đ Ăng ghen “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”, NXBST

Hà Nội, 1972 tr.89)

Xét rộng ra, do sự phân công lao động, ở thời kỳ này xã hội đã có nhiều biếnđổi sâu sắc Cùng với sự phân công lao động xã hội, chăn nuôi và trồng trọt ngàycàng phát triển, năng xuất lao động ngày một nâng cao đã xuất hiện sự dư thừa sảnphẩm Quá trình phân hoá của cải trong xã hội được hình thành và dẫn đến sự phânbiệt kẻ giàu người nghèo trong xã hội Những người có quyền hành trong thị tộc, bộlạc tìm mọi thủ đoạn để chiếm hữu số của cải dư thừa đó làm của riêng Chế độ tưhữu xuất hiện và từ đó chế độ thị tộc, chế độ cộng sản nguyên thuỷ dần dần bị phá

vỡ và hoàn toàn tan rã nhường chỗ cho một chế độ xã hội mà trong đó đã có sự phânhoá giai cấp

Nếu trước đây tổ chức thị tộc đã sinh ra từ một xã hội không biết đến mâuthuẫn nội tại, trong đó mọi thành viên xã hội hầu như hoàn toàn “hoà tan” vào cuộcsống cộng đồng thì xã hội mới ra đời đã có sự phân chia giai cấp, trong đó các giaicấp có quyền lợi đối lập nhau, “luôn luôn mâu thuẫn và đấu tranh gay gắt với nhau

để bảo vệ lợi ích của giai cấp mình.” (Xem “giáo trình lý luận nhà nước và pháp luậtcủa trường Đại học luật Hà nội, NXBCAND năm 2001 tr.38) Trước bối cảnh đó, dĩnhiên tổ chức thị tộc trở thành bất lực trước xã hội, không thể phù hợp được nữa.Lúc này, “xã hội đó đòi hỏi phải có một tổ chức mới đủ sức để dập tắt cuộc xung độtcông khai giữa các giai cấp ấy, hoặc cùng lắm là để cho cuộc đấu tranh giai cấp diễn

ra trong lĩnh vực kinh tế, dưới một hình thức gọi là hợp pháp Tổ chức đó là nhànước và nhà nước đã xuất hiện.” (Xem “giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật củatrường Đại học luật Hà nội, NXBCAND năm 2001 tr.38)

Trang 27

Khi chưa xuất hiện nhà nước, thừa kế được dịch chuyển theo phong tục tậpquán thì khi nhà nước xuất hiện, quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chếtcho người còn sống đã có sự tác động bằng ý chí của nhà nước Giai cấp thống trịthông qua quyền lực nhà nước để áp dụng các phương pháp cưỡng chế nhằm tácđộng đến các quan hệ xã hội làm cho các quan hệ đó phát sinh, phát triển theo hướng

có lợi cho giai cấp mình Nghĩa là khi có nhà nước thì mọi quan hệ cũng như mọi sựkiện xẩy ra trong đời sống xã hội đều được pháp luật điều chỉnh Thừa kế trong xãhội đã có nhà nước cũng không nằm ngoài sự điều chỉnh của pháp luật Vì thế, cóthể nói rằng khái niệm quyền thừa kế được xuất hiện và chỉ xuất hiện chừng nào có

sự xuất hiện nhà nước và pháp luật

Như vậy, nếu thừa kế xuất hiện ngay cả khi xã hội chưa phân chia giai cấp,chưa có nhà nước và pháp luật thì khái niệm quyền thừa kế chỉ ra đời và tồn tại trongnhững xã hội đã phân chia giai cấp và có nhà nước

Bằng việc ban hành các văn bản pháp luật, nhà nước qui định quyền để lạithừa kế và nhận thừa kế của các chủ thể, qui định trình tự và các điều kiện dịchchuyển tài sản cũng như qui định các phương thức dịch chuyển tài sản từ người đãchết sang những người còn sống khác Tuy nhiên, mỗi một chế độ xã hội khác nhau

sẽ có sự khác nhau trong quy định về quyền thừa kế Thậm chí ngay trong một chế

độ xã hội nhưng ở từng giai đoạn khác nhau sự quy định này cũng có thể khác nhau.Điều đó có nghĩa rằng chế độ thừa kế phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển kinh

tế, xã hội của một nhà nước và đặc biệt là do chế độ sở hữu quyết định

Vì vậy, trong mỗi chế độ xã hội, chế độ thừa kế thường tồn tại một cáchtương ứng với chế độ sở hữu

Tất cả sự quy định của nhà nước nhằm tác động, điều chỉnh quá trình dịchchuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống sẽ hình thành khái niệmquyền thừa kế theo nghĩa khách quan của nó

Quyền thừa kế là một chế địmh của ngành luật dân sự bao gồm một tổng hợpcác quy phạm pháp luật do nhà nước đặt ra nhằm điều chỉnh quá trình dịch chuyểnnhững lợi ích vật chất từ người chết cho những người còn sống khác

Việc ghi nhận và xác định các quyền, nghĩa vụ nói trên không phải hoàn toàn

do ý chí chủ quan tuyệt đối của giai cấp lãnh đạo xã hội, dù rằng pháp luật là ý chícủa giai cấp đó Bằng ý chí chủ quan của mình trên cơ sở dựa vào điều kiện vật chấtcủa xã hội, Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền cũng như xác định các nghĩa vụ tronglĩnh vực thừa kế cho các cá nhân và các chủ thể khác

Pháp luật của bất kỳ nhà nước nào cũng phải xuất phát từ cơ sở kinh tế, phùhợp với thực tế khách quan và do cơ sở kinh tế của xã hội quyết định Khi chế độ

Trang 28

kinh tế thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi tương ứng trong sự quy định của pháp luật.

Vì vậy, dẫu rằng pháp luật là ý chí của Nhà nước (do Nhà nước đặt ra) nhưng nóvẫn mang tính khách quan Như vậy, khi xem xét quyền thừa kế dưới góc độ mộtchế định pháp luật thì có nghĩa là xem xét, nhìn nhận ở phương diện khách quan.Ngoài ra, quyền thừa kế còn được xem xét ở một phương diện khác, phương diệnchủ quan

Nhìn nhận theo phương diện này, quyền thừa kế là quyền năng cụ thể củamỗi một cá nhân trong việc để lại thừa kế và nhận di sản thừa kế, đó là những khảnăng mà các chủ thể được phép xử sự theo quy định của pháp luật, được để lại thừa

kế như thế nào, việc lập di chúc phải tuân thủ những yêu cầu gì, ai là người đượcnhận di sản thừa kế, khi nào thì bị tước quyền hưởng di sản, người lập di chúc cónhững quyền năng gì v.v

Trong thừa kế, các chủ thể chủ động hiện thực hoá những quyền năng màpháp luật quy định để biến các quyền đó thành những quyền dân sự cụ thể, qua đóđáp ứng nhu cầu và thực hiện lợi ích cho chính mình

Vì vậy, quyền thừa kế theo phương diện khách quan (pháp luật) là điều kiệntiên quyết đối với quyền thừa kế ở phương diện chủ quan Nghĩa là cá nhân (chủ thể)

có được những quyền gì, phải gánh vác những nghĩa vụ gì trong lĩnh vực thừa kếtrước hết là do pháp luật quy định

Như đã phân tích ở phần đầu, các quan hệ sở hữu, cũng như thừa kế lúc đầutồn tại một cách khách quan với ý nghĩa là phạm trù kinh tế nhưng khi chúng tồn tạitrong một xã hội đã có nhà nước thì trong những quan hệ ấy, các chủ thể đã bị ràngbuộc bởi các quy phạm pháp luật, ý chí của nhà nước đã tác động đến chúng thôngqua pháp luật

Nếu sở hữu và thừa kế là hai vấn đề liên quan mật thiết với nhau, song songtồn tại bên nhau thì quyền sở hữu với quyền thừa kế cũng có mối quan hệ hết sứcmật thiết đối với nhau

Từ chỗ pháp luật quy định chế độ sở hữu về tài sản của cá nhân và theo đó, cánhân có được các quyền năng đối với tài sản của mình thì dựa theo đó pháp luật quyđịnh cho họ những quyền năng trong lĩnh vực thừa kế Hay nói cách khác, pháp luật

về sở hữu là cơ sở cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế Vì vậy,quyền thừa kế luôn mang một bản chất giai cấp sâu sắc, nó luôn là phương tiện đểduy trì, củng cố quyền sở hữu ở những xã hội mà chính bản thân nó đang tồn tại.Nghĩa là, với mỗi một chế độ xã hội khác nhau, thông qua pháp luật, Nhà nước quyđịnh một chế định thừa kế, coi nó là một phương tiện để bảo vệ quyền lợi cho các cánhân cũng như quyền lợi của giai cấp lãnh đạo xã hội

Trang 29

Bản thân thừa kế không tạo nên quyền thống trị cho giai cấp thống trị, “Thừa

kế không sáng tạo ra khả năng chuyển thành quả lao động từ một người này sang túingười khác, thừa kế chỉ quan hệ đến sự thay đổi những người có khả năng đó”.(Xem Ph.đ Ăng ghen “Nguồn gốc gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước”,NXBST Hà Nội, 1972 tr 97) Tuy nhiên, thừa kế là một trong những phương tiện

để duy trì quyền thống trị

Ở các nhà nước mà cơ sở kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất thìpháp luật về thừa kế là một trong những công cụ pháp lý quan trọng mà giai cấpthống trị sử dụng để duy trì và củng cố địa vị thống trị của mình

Chẳng hạn, trong Nhà nước chủ nô, quyền để lại thừa kế về nô lệ, quyền nhậnthừa kế đối với nô lệ của những người trong giai cấp chủ nô là việc dịch chuyển lại

sự sở hữu của những người trong giai cấp này đối với những “ công cụ biết nói” vàcũng chính là truyền lại quyền lực về chính trị để duy trì sự áp bức bóc lột của giaicấp chủ nô đối với nô lệ

Tương tự như vậy, ở các kiểu Nhà nước phong kiến và Nhà nước tư sản, giaicấp bóc lột sở hữu những tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội thì di sản của họ để lạicho con cháu cũng là những tài sản ấy Và vì thế thừa kế là việc thay đổi kẻ thống trịnày bằng kẻ thống trị khác trong cùng một giai cấp

Ở nước ta, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất quan trọng, cá nhân

sở hữu chủ yếu là tư liệu tiêu dùng, nếu là tư liệu sản xuất thì chỉ là những tư liệusản xuất thông thường Những tư liệu sản xuất quan trọng như “Đất đai, rừng núi,sông hồ, nguồn nước tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa

và vùng trời" (xem Điều 17, Hiến pháp 1992) đã thuộc về sở hữu của toàn thể nhân

dân lao động nên không trở thành đối tượng thừa kế.

Vì vậy, pháp luật thừa kế ở nước ta, trước hết nhằm đảm bảo quyền lợi chongười lao động, thành quả lao động của bản thân họ được tôn trọng, khi họ chết,thành quả đó được chuyển sang cho những người thừa kế của họ Mặt khác, quyềnthừa kế ở nước ta là một trong những phương tiện để củng cố và phát triển các quan

hệ hôn nhân gia đình, bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong lĩnh vựcthừa kế, qua đó góp phần bảo đảm quyền sở hữu chính đáng của mọi cá nhân trong

xã hội

Bằng các nguyên tắc cơ bản được ghi nhận trong Bộ luật dân sự, pháp luật vềthừa kế ở nước ta bảo vệ lợi ích hợp pháp của mọi người lao động trên cơ sở bảo vệlợi ích chung của toàn xã hội, xoá bỏ tàn tích mà chế độ thừa kế của thực dân phongkiến đã để lại hàng bao đời nay, nâng cao ý thức pháp luật cho mỗi người dân tronglĩnh vực thừa kế nói riêng cũng như trong đời sống xã hội nói chung

Trang 30

Quyền thừa kế của cá nhân đã được Điều 634 Bộ luật Dân sự của nước Cộnghoà xã hội chủ nghĩa Việt nam có hiệu lực từ ngày 1.7.1995 (từ đây xin được viết tắt

là BLDS 1995) quy định và được qui định lại theo Điều 631 của Bộ luật dân sự sửađổi 2005 có hiệu lực từ ngày 10/010/2006 (từ đây xin được viết tắt là BLDS 2005)như sau:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình, để lại tài sảncủa mình cho người thừa kế theo pháp luật, hưởng di sản theo di chúc hoặc theopháp luật ”

Bằng việc quy định trên, pháp luật nước ta tôn trọng quyền tự định đoạt của

cá nhân với tư cách là chủ sở hữu đối với tài sản của họ Vì vậy, trước khi chết, họ

có quyền định đoạt tài sản của mình cho ai theo ý chí của họ được thể hiện trong dichúc đã lập Trong những trường hợp vì một lý do nào đó mà di sản của họ khôngđược dịch chuyển theo di chúc, thì di sản của người đó được dịch chuyển cho nhữngngười có quan hệ hôn nhân, gia đình thân thích nhất đối với họ Sự quy định nàychính là việc pháp luật phỏng đoán mong muốn của người chết trong việc dịchchuyển tài sản mà họ để lại cho những ai

Như vậy, tại điều luật trên, BLDS của nước ta trước hết ghi nhận quyền để lạithừa kế của cá nhân Việc để lại thừa kế đó do cá nhân định đoạt bằng ý chí trước lúcchết Nếu người đó không thể hiện ý chí để định đoạt tài sản hoặc sự định đoạt đókhông phù hợp với yêu cầu của pháp luật thì di sản của họ sẽ được phân chia theopháp luật

Bên cạnh quyền để lại thừa kế, việc hưởng di sản thừa kế cũng là một quyềnnăng mà pháp luật đã quy định cho bất kỳ một cá nhân nào Cho nên việc để lại thừa

kế, việc nhận di sản thừa kế là hai phạm trù khác nhau, là hai mặt đối lập nhưng lạicùng thống nhất với nhau, là hai yếu tố cấu thành nên khái niệm quyền thừa kế Haiyếu tố này liên hệ mật thiết với nhau để qua đó phản ánh quá trình dịch chuyển tàisản của người đã chết sang những người còn sống khác

1.4 Nhận xét chung

Quá trình dịch chuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống đượcgọi là thừa kế hay được gọi là quan hệ thừa kế? Tương tự như vậy, quá trình dịchchuyển tài sản từ một người đã chết cho người còn sống khi đã có sự tác động củapháp luật được gọi là quyền thừa kế hay được gọi là quan hệ pháp luật về thừa kế?

Việc sử dụng thuật ngữ nào trong những trường hợp nói trên có ý nghĩa tươngđối quan trọng về mặt lý luận Nếu cho rằng thừa kế là một quan hệ xã hội thì thừa

kế khi có sự điều chỉnh của pháp luật sẽ là một quan hệ pháp luật dân sự Và nhưvậy, sẽ động chạm đến một vấn đề tương đối lớn về mặt lý luận sau đây:

Trang 31

Trong khoa học pháp luật dân sự, người ta thường dựa vào những tiêu chíkhác nhau để phân chia quan hệ pháp luật dân sự thành các loại khác nhau:

- Nếu dựa vào tính xác định của chủ thể mang quyền và chủ thể mang nghĩa

vụ thì quan hệ pháp luật dân sự được phân thành quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối

và quan hệ pháp luật dân sự tương đối Quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối là quan

hệ mà trong đó chỉ xác định được chủ thể mang quyền, tất cả các chủ thể khác là chủthể mang nghĩa vụ Quan hệ pháp luật dân sự tương đối là quan hệ mà trong đó,tương ứng với chủ thể mang quyền đã được xác định cụ thể là chủ thể mang nghĩa

vụ cũng đã được xác định cụ thể, theo đó quyền của chủ thể bên này là nghĩa vụ củachủ thể bên kia và ngược lại Như vậy, theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế làmột quan hệ thì quan hệ pháp luật về thừa kế sẽ thuộc nhóm quan hệ pháp luật dân

sự tuyệt đối hay tương đối? Điều này không thể lý giải được bởi lẽ nếu thừa kế làmột quan hệ pháp luật thì trong quan hệ đó bao giờ cũng đã xác định được cả hai bênchủ thể nên không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật dân sự tuyệt đối được.Mặt khác, trong quan hệ này không có sự tương ứng đối lập nhau về quyền, nghĩa vụgiữa các bên chủ thể nên cũng không thể xếp nó vào nhóm các quan hệ pháp luật dân

sự tương đối

- Nếu dựa vào cách thức thực hiện quyền dân sự của thể mang quyền thì quan

hệ pháp luật dân sự được phân chia thành quan hệ vật quyền và quan hệ trái quyền.Quan hệ vật quyền là quan hệ pháp luật dân sự mà trong đó, chủ thể mang quyềnthực hiện quyền dân sự bằng chính hành vi của mình mà hoàn toàn không phụ thuộcvào hành vi của người khác Ví dụ: quan hệ pháp luật về sở hữu được coi là quan hệvật quyền vì trong đó khi thực hiện quyền dân sự của mình, chủ sở hữu (chủ thểmang quyền) bằng chính hành vi của mình tác động trực tiếp đến vật để thực hiệnviệc chiếm hữu, việc sử dụng và định đoạt tài sản của mình Quan hệ trái quyền làquan hệ pháp luật dân sự mà trong đó, quyền của chủ thể bên này muốn được thựchiện phải thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của bên kia Ví dụ: quan hệ nghĩa vụvay nợ được coi là một quan hệ trái quyền vì quyền thu hồi nợ của bên cho vay chỉđược thực hiện chừng nào bên vay thực hiện hành vi trả nợ

Theo cách phân loại trên và nếu coi thừa kế là một quan hệ thì quan hệ phápluật về thừa kế sẽ được xếp vào nhóm quan hệ nào? Trước hết, không thể xếp nó vàonhóm các quan hệ trái quyền vì quyền nhận tài sản của người thừa kế hoàn toànkhông phụ thuộc vào hành vi của người để lại di sản, càng không thể thông qua hành

vi của người đó được vì quyền nhận di sản chỉ xuất hiện khi người để lại di sản đãchết Mặt khác, cũng không thể xếp thừa kế vào nhóm các quan hệ vật quyền đượcbởi người thừa kế không thể tác động đến tài sản của người để lại di sản nếu ở họchưa xuất hiện quyền nhận di sản Kể từ khi họ có quyền nhận di sản thì di sản đó đã

Trang 32

thuộc sở hữu của họ và khi họ bằng hành vi của mình tác động trực tiếp đến di sảnchính là việc họ đang thực hiện quyền của một chủ sở hữu để chiếm hữu, sử dụng vàđịnh đoạt tài sản của chính mình Thừa kế chỉ là hệ luận của một quan hệ vật quyền

và từ đó tạo ra một quan hệ vật quyền khác Bởi lẽ, như đã nói ở phần trước, thừa kếchỉ là sự tiếp nối giữa việc để lại tài sản và việc nhận tài sản mà việc để lại tài sảncủa người đã chết (dù có di chúc hay không) thì về bản chất, đều là quyền định đoạttài sản của một chủ sở hữu Việc nhận di sản chính là việc người thừa kế tiếp nhậnquyền định đoạt của người để lại thừa kế

Như vậy, nếu thừa kế là một quan hệ pháp luật thì nó phải thuộc hoặc nhómnày hoặc nhóm kia theo các cách phân loại trên Trong khi về mặt lý luận, không thểxếp nó vào bất kỳ một nhóm nào bởi thực chất, thừa kế chỉ là một sự kiện dịchchuyển tài sản từ một người đã chết sang người còn sống

Theo quan niệm truyền thống thì quá trình dịch chuyển tài sản của người đãchết cho người còn sống là một quan hệ xã hội về thừa kế và thường được gọi quan

hệ thừa kế Đó là mối quan hệ giữa hai bên chủ thể Một bên là người để lại di sản vàmột bên là người nhận di sản thừa kế Có lẽ cách gọi này xuất phát từ quan điểm chorằng, đối tượng điều chỉnh của pháp luật chỉ có thể là các quan hệ xã hội Thừa kếđược pháp luật điều chỉnh nên nó phải là một quan hệ xã hội và so với các quan hệkhác, thừa kế là một quan hệ khá đặc biệt

Chúng tôi cho rằng, không nên hiểu khái niệm thừa kế là một “quan hệ phápluật” với các lý do sau đây:

Thứ nhất, ngoài việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật còn điều chỉnh

rất nhiều các sự kiện khác xảy ra trong thực tế Khi một quan hệ xã hội phát sinhcũng có nghĩa là đã xuất hiện một sự kiện nhưng một sự kiện xuất hiện chưa hẳn đãlàm xuất hiện một quan hệ xã hội Trong đa số các trường hợp thì khi xuất hiện một

sự kiện sẽ đồng thời làm xuất hiện một quan hệ xã hội Tuy nhiên, cũng có rất nhiều

sự kiện xuất hiện và đã được pháp luật dự liệu một hậu quả pháp lý nhưng bản thân

sự kiện đó không phải là một quan hệ xã hội và cũng không làm xuất hiện một quan

hệ xã hội nào Chẳng hạn, hành vi từ bỏ quyền sở hữu tài sản là một sự kiện đượcpháp luật điều chỉnh (xem Điều 249 BLDS) nhưng hành vi đó không phải là mộtquan hệ xã hội Thậm chí, hành vi này chính là sự kiện làm chấm dứt một quan hệpháp luật về sở hữu

Thứ hai, trong một tác phẩm của mình, C Mác đã viết:

“ Xã hội bất cứ dưới hình thức nào-là gì? Nó là sự tác động lẫn nhau giữangười và người.” (Xem C.Mác: “Thư gửi Alencốp” Tuyển tập, tập II NXBST HàNội 1971 tr.450)

Trang 33

Luận điểm trên của C Mác đã chỉ cho chúng ta thấy rằng xã hội vốn là tổnghoà các mối quan hệ giữa con người với con người.

Mặt khác, xã hội được định dạng thông qua hành vi xử sự của con người hiệntại Nói đến xã hội là nói đến sự cấu thành bởi những con người cụ thể - những cánhân sống Vì thế, nếu quan hệ xã hội là quan hệ giữa người với người thì phải làmối quan hệ giữa những người đang sống Với một người đã chết, người ta chỉ cóthể nói rằng người đó đã từng tham gia quan hệ này hay quan hệ khác mà tuyệtnhiên khôngthể nói rằng người đã chết đang tham gia một quan hệ nào đó, trong khithừa kế chỉ phát sinh khi người để lại tài sản đã chết

Thứ ba, “để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ dân sự nói

riêng, cá nhân phải có tư cách chủ thể được tạo thành bởi năng lực pháp luật và nănglực hành vi” (Xem “Giáo trình luật dân sự Việt Nam” của Trường Đại học luật HàNội, NXBCAND năm 2001, tr.52) Mặt khác, tại Khoản 3-Điều 16-BLDS đã xácđịnh “Năng lực pháp luật của cá nhân chấm dứt khi người đó chết” Vì thế, nếu nóirằng thừa kế là quan hệ giữa người để lại di sản với người nhận di sản thì vô hìnhchung lại thừa nhận rằng, cá nhân khi không còn năng lực pháp luật và năng lựchành vi dân sự vẫn là chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự

Thứ tư, theo nghĩa từ điển: “ thừa kế là hưởng của người chết để lại cho” thì

thừa kế được hiểu là sự tiếp nối giữa việc để lại di sản của người đã chết với việcnhận di sản của người đang sống (mà không phải là mối quan hệ giữa họ) Sự tiếpnối đó chính là quá trình dịch chuyển tài sản và được coi là sự kiện (căn cứ) làm xáclập quyền sở hữu của người thừa kế đối với khối di sản mà họ đã nhận thừa kế.(Xem Điều 245-BLDS)

Thứ năm, cũng theo Từ điển tiếng Việt thì thừa kế còn một nghĩa thứ hai

đồng nghĩa với kế thừa là: “thừa hưởng, giữ gìn và tiếp tục phát huy” (Từ điểm tiếngViệt) (nghĩa này chỉ dùng trong những trường hợp cái được thừa hưởng mang giá trịtinh thần) Vì thế, nếu nói rằng kế thừa những di sản văn hoá của dân tộc thì cần phảihiểu đó là sự thừa hưởng của thế hệ sau đối với những giá trị tinh thần của thế hệtrước để lại mà không được hiểu là mối quan hệ giữa thế hệ trước với thế hệ sau

Như vậy, thừa kế nói chung là quá trình dịch chuyển di sản từ người đã chếtcho người còn sống Nếu quá trình dịch chuyển này được thực hiện dựa trên ý chí

của người đã chết thể hiện trong di chúc mà họ để lại sẽ được gọi là: Thừa kế theo

di chúc Mặt khác, nếu sự dịch chuyển trên được thực hiện “Theo hàng thừa kế, điều

kiện và trình tự thừa kế do pháp luật qui định” sẽ được gọi là: Thừa kế theo pháp

luật.

21B

Trang 34

Chuyên đề 03

2BLƯỢC SỬ PHÁP LUẬT THỪA KẾ VIỆT NAM

3BTỪ THẾ KỶ THỨ XV ĐẾN NAY

Trường Đại học Luật Hà Nội

I THỪA KẾ DƯỚI CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN Ở VIỆT NAM

1 Thừa kế vào thời nhà Lê (Thế kỷ XV)

Điểm lại lịch sử triều Lê, thấy rằng giai cấp phong kiến mà triều Lê là đạidiện, tự hào biết mấy lịch sử dân tộc vào thời kỳ này có những khai quốc công thần

và vì thế, triều Lê đã chiếm vị trí tuyệt đối của đỉnh cao quyền lực và đạo phật dướitriều Lê cũng được suy tôn, làm cương thường bất khả xâm phạm cho đời sống xãhội Đạo phật dưới triều Lê và Nho giáo cùng song song tồn tại, ý thức Phật giáo vàNho giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung Pháp luật nói chung và những qui định

về thừa kế trong Quốc triều hình luật (sau đây được viết tắt là QTHL) nói riêng Tưtưởng tôn ti, thứ thế, con trưởng, vợ cả, vợ lẽ, nàng hầu, hương hoả; trật tự trongquan hệ dòng họ và gia đình theo thứ bậc trên dưới, trước sau được tôn trọng nhưmột chuẩn mực của lẽ sống và đạo đức và được hiểu như nguyên tắc cương thườngtrong các quan hệ xã hội, dòng họ và gia đình, được thể hiện rõ nét trong những quiđịnh về thừa kế dưới triều Lê

Với tinh thần độc lập và tự chủ trong phát triển kinh tế, phát triển pháp luậtđược xây dựng trên cơ sở tư tưởng, ý thức tự chủ của toàn dân tộc

Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thuận lợi chophát triển nông nghiệp, do vậy đất đai là tài sản có gía trị và là di sản thừa kế cơ bảncủa một người sau khi chết để lại cho các con, các cháu Pháp luật của nhà Lê đã cónhững qui định điều chỉnh về quan hệ thừa kế có đối tượng là đất đai Những nguyêntắc, điều kiện, hình thức thừa kế và trình tự phân chia di sản được qui định trong BộQuốc Triều hình luật (Bộ Luật Hồng Đức)F

1

F Về quyền sở hữu ruộng đất của cá nhân

và một trong những căn cứ xác lập quyền sở hữu đất đai là thừa kế đất đai Trong

Quốc Triều hình luật có chương “điền sản”, qui định về thừa kế đất đai cũng theo

một trong hai hình thức theo di chúc và theo pháp luật

+ Thừa kế các tài sản khác nói chung và thừa kế đất đai được chia theo phápluật trong trường hợp người chết không để lại di chúc Những người thừa kế theo

1 Vũ Văn Mẫu, Cổ vật Việt Nam và tư pháp sử, Quyển 1, Tập 1, Sài Gòn, 1973, tr 191 –192.

Trang 35

pháp luật gồm người có quan hệ huyết thống trực hệ với người để lại di sản và theonguyên tắc tôn trọng quan hệ huyết thống xuôi (quan hệ huyết thống giữa người đểlại di sản và người thừa kế theo pháp luật là con, cháu) Các con của người để lại disản đều có quyền bình đẳng trong việc hưởng di sản chia theo pháp luật, không phânbiệt giới tính Tuy nhiên, theo quan niệm chính thất và thứ thất (vợ cả, vợ thứ) củangười để lại di sản, pháp luật qui định có sự phân biệt phần di sản được hưởng củanhững người con của người vợ lẽ, được hưởng phần di sản ít hơn phần của các concủa người vợ cả; nguyên tắc này được qui định tại Điều 388

+ Thừa kế theo pháp luật theo nguyên tắc ưu tiên việc hưởng di sản chonhững người có quan hệ huyết thống xuôi là các con, các cháu của người để lại disản Trong trường hợp người để lại di sản không có con, cháu thì di sản của ngườinày được chia cho bố, mẹ được hưởng

+ Quốc triều hình luật cũng có những qui định điều chỉnh quan hệ thừa kếgiữa người con ruột và người làm con nuôi của người để lại di sản Người con nuôi

có các quyền và nghĩa vụ như người con đẻ, đều phải có nghĩa vụ kính trọng, chămsóc, nuôi dưỡng bố mẹ, cho dù người đó là bố, mẹ ruột hay bố, mẹ nuôi Khi bố, mẹnuôi chết thì người con nuôi được thừa kế di sản như người con ruột của người để lại

di sản Qui định này nhằm bảo đảm quyền thừa kế của các con nói chung, đồng thờicũng củng cố quyền và nghĩa vụ của người con nuôi trong gia đình và sự thể hiệnhiếu hạnh, ân nghĩa của các con, các cháu đối với bề trên (chăm sóc, kính trọng, biết

ơn người nuôi dưỡng mình và liên quan đến việc thờ cúng bố, mẹ nuôi sau khi họqua đời) Ân nghĩa của người con nuôi đối với bố, mẹ nuôi là căn cứ bảo đảm quyềnthừa kế của người con nuôi hưởng di sản của bố, mẹ nuôi và ngược lại Nhưng ngườiđang làm con nuôi của người khác chỉ được thừa kế theo pháp luật của người là bố

nuôi, mẹ nuôi mà không được thừa kế theo pháp luật của bố, mẹ ruột (Qui định này cũng đã từng được qui định trong Thông tư số 81/TANDTC ngày 24/7/1981 của Toà

án nhân dân Tối cao hướng dẫn đường lối giải quyết những tranh chấp về quyền thừa kế tại Toà án nhân dân) Quốc Triều hình luật qui định quyền thừa kế đất đai

của người con nuôi có thể không được bảo đảm nếu trong văn tự nhận nuôi con nuôicủa người là bố nuôi, mẹ nuôi không chỉ rõ người con nuôi được chia đất đai

Như vậy theo Quốc triều hình luật, quyền thừa kế theo pháp luật của ngườicon nuôi được bảo đảm thực hiện, trừ trường hợp người đang làm con nuôi củangười khác không được thừa kế theo pháp luật của người là bố, mẹ đẻ sau khi quađời Tuy nhiên, pháp luật cũng có qui định nếu người con đó có yêu cầu chia di sảncủa người là bố, mẹ ruột sau khi qua đời thì người này cũng được hưởng một suấtbằng 1/2 giá trị suất thừa kế của người thừa tự được hưởng

Trang 36

Trong gia đình của người Việt Nam, do ảnh hưởng của phong tục và tôn giáo,

quan hệ giữa các thành viên thuộc nhiều thế hệ cùng chung sống theo hình thức tam đại đồng đường, tam đại đồng cư; tứ đại đồng đường, tứ đại đồng cư khá phổ biến

trong xã hội kể từ đời nhà Đinh, Lý, Trần, Lê…cho đến ngày nay; tuy có thay đổiđáng kể nhưng hình thức tổ chức gia đình gồm nhiều thế hệ cùng sống chung dướimột mái nhà vẫn tồn tại ít nhiều ở Việt Nam kể cả trong giai đoạn hiện nay

Với hình thức tổ chức gia đình vào thời Lê, quyền gia trưởng luôn được đềcao Những quan hệ gia đình theo đó đã ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ thừa kế disản Đặc biệt, thờ cúng tổ tiên luôn được coi trọng Về hương hoả đã được pháp luậtqui định rất rõ trong việc xác lập gía trị và mục đích sử dụng Gía trị hương hoả cho

dù được xác lập theo hình thức nào, thì cũng không nhỏ hơn 1/20 gía trị di sản củangười chết để lại Phần tài sản là hương hoả bất khả chuyển dịch mà được lưu truyền

từ đời này sang đời khác trong dòng nội tộc của người để lại hương hoả đó Theo quiđịnh tại Điều 399 (QTHL), trong trường hợp người có tài sản nhưng tuyệt tự thì phảilập một người trong dòng họ làm người thừa tự để quản lý hương hoả và thực hiệnnghĩa vụ thờ cúng người đó và tổ tiên bên họ nội của người để lại của thừa tự

+ Về thừa kế theo di chúc, pháp luật triều Lê qui định bảo vệ quyền của người

có tài sản có quyền lập di chúc định đoạt tài sản của mình cho những người thừa kếđược chỉ định theo ý chí của người lập di chúc

Người lập di chúc tự mình viết di chúc định đoạt tài sản của mình cho ngườithừa kế là bất kỳ ai Trong trường hợp một người không biết chữ mà muốn lập dichúc, thì có thể yêu cầu một vị quan trưởng trong làng viết hộ và có người làmchứng việc lập di chúc đó Di chúc được lập trong trường hợp này nếu không cóngười làm chứng thì vô hiệu Ngoài ra, pháp luật còn qui định bảo hộ một hình thứclập di chúc rất đặc biệt là di chúc miệng Di chúc miệng được thể hiện dưới dạng dặn

dò con, cháu chia tài sản như thế nào, sau khi cha, mẹ qua đời Lời dặn dò, lời trăngtrối đó có gía trị pháp lý vì đó là ý nguyện cuối cùng của người có tài sản định đoạtcho người thừa kế Những lời dặn dò, trăng trối cuối cùng của người để lại di sảnphải được người thừa kế tuân theo Nguyên tắc này được qui định tại Điều 388 Quốc

triều hình luật: “Nếu có lệnh của ông bà và chúc thư thì phải theo đúng, trái thì mất phần mình” Thừa kế theo hình thức này là thừa kế theo “chúc ngôn”

+ Thừa kế trong trường hợp không có di chúc hoặc có di chúc nhưng di chúc không

có hiệu lực thi hành (Thừa kế theo pháp luật)

Quốc triều hình luật qui định hai trường hợp thừa kế theo pháp luật: Thứ nhất, người chết không để lại di chúc; thứ hai, người chết có để lại di chúc nhưng di chúc

không hợp pháp

Trang 37

Những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật được xác định trên quan hệhuyết thống xuôi, theo đó ưu tiên bảo vệ quyền thừa kế của các con, các cháu củangười để lại di sản Cha, mẹ của người để lại di sản chỉ được thừa kế theo pháp luậttrong trường hợp không có người thừa kế là các con, các cháu của người để lại di sảnhoặc họ đều bất xứng hưởng di sản Quan hệ hôn nhân không được coi trọng trongviệc xác định những người được thừa kế theo pháp luật, theo đó vợ hoặc chồng củangười chết không thuộc các hàng thừa kế theo pháp luật của nhau Người vợ goáhoặc người chồng goá của người để lại di sản chỉ được hưởng một phần di sản đủ đểsống suốt đời trong trường hợp người này không còn người bảo trợ, không còn nơi

nương tựa (tứ cố vô thân) Tuy nhiên, nếu người vợ goá lại kết hôn với người khác

thì phải trả lại phần tài sản đã được chia cho dòng nội tộc của người chồng đã chết.Nguyên tắc này cũng được áp dụng đối với người chồng goá được hưởng một phầntài sản của vợ trong trường hợp người chồng không còn nơi nương tựa, nhưng sau đócho dù người chồng này lại kết hôn với người khác, thì cũng không có nghĩa vụ hoàntrả tài sản đã được hưởng thừa kế cho bên nội tộc của người vợ đã chết

Pháp luật thời Lê thừa nhận chế độ đa thê (trai năm thê, bảy thiếp; gái chính chuyên chỉ có một chồng), nhưng có sự phân biệt quyền hưởng di sản thừa kế theo

pháp luật của người chồng chết trước theo nguyên tắc vợ chính thất (vợ cả) đượchưởng di sản của người chồng nhiều hơn thứ thất (vợ lẽ) Phần di sản được hưởngthừa kế theo pháp luật của người là con nàng hầu cũng ít hơn so với phần mà người

là con của người vợ chính thất được hưởng

Các con của người để lại di sản được hưởng di sản chia theo pháp luật, thìkhông có sự phân biệt giới tính, độ tuổi và đều được hưởng các phần di sản ngangnhau Nguyên tắc này đã củng cố quan hệ huyết thống xuôi giữa người để lại di sản

khi còn sống và người thừa kế theo pháp luật, theo như câu ngạn ngữ: “cha mẹ giàu con có, cha mẹ khó con nghèo”

Quốc triều hình luật cũng có qui định về việc thanh toán di sản của người chết

để lại trước khi chia, những người thừa kế phải thanh toán nghĩa vụ về tài sản củangười chết để lại đối với người khác nếu khi còn sống, người để lại di sản chưathanh toán được Qui định này rất hiện đại, không những bảo vệ quyền, lợi ích hợppháp của những người thừa kế, mà còn bảo vệ quyền tài sản của các chủ nợ củangười để lại di sản khi còn sống chưa thực hiện được Việc thanh toán nghiã vụ tàisản của người chết để lại do những người thừa kế thực hiện trong phạm vi di sảnđược hưởng Pháp luật còn qui định, trong trường hợp những người thừa kế còn nhỏtuổi, chưa trưởng thành thì người giám hộ của họ là trưởng họ có nghĩa vụ quản lý disản thừa kế được phép bán một phần điền sản để thanh toán nghĩa vụ tài sản củangười chết để lại đối với các chủ nợ Quan hệ thứ bậc bề trên, bề dưới theo quan hệ

Trang 38

huyết thống trong gia đình, dòng họ là căn cứ để xác định những người giám hộ chongười chưa trưởng thành là cháu, mà người giám hộ có thể là bác ruột, chú ruột, cậu

ruột của họ theo quan niệm truyền thống trong nhân dân: “quyền huynh thế phụ” và

“sảy cha có chú, sảy mẹ có dì”

Trong phần trên bài viết này, chúng tôi đã nhận định, pháp luật nhà Lê thừanhận chế độ đa thê và sự thừa nhận này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc chia di sảnthừa kế trong những trường hợp cụ thể:

Thứ nhất, trong trường hợp người để lại di sản không có con và cha, mẹ cũng

đều đã chết thì di sản được chia thành ba phần Người vợ goá được hưởng 2/3, còn1/3 giao cho người thừa tự Người thừa tự là người được chỉ định theo sự thoả thuậncủa những người trong cộng đồng dòng họ của người để lại di sản Người thừa tựphải là con trai thuộc nội tộc của người để lại di sản, có nghĩa vụ sử dụng tài sản củangười chết để lại để thờ cúng cho người đó và gia tiên của người đó Trong trườnghợp người con trai hoặc cháu trai của người để lại của thừa tự có điều kiện thực hiệnnghĩa vụ thờ cúng, thì người được thừa tự theo chỉ định có nghĩa vụ chuyển giaotoàn bộ tài sản thừa tự đã nhận cho người là con hoặc người cháu của người để lại disản là của thừa tự (Điều 394)

Thứ hai, một người có nhiều vợ, mà chỉ người vợ cả sinh được con nhưng lại

chết trước chồng, người vợ thứ hai không có con thì căn cứ vào số lượng điền sảncủa người chồng cùng với người vợ cả có được trong thời kỳ chung sống, được chialàm hai phần Phần điền sản của người vợ cả được chia đều cho các con không phânbiệt giới tính Riêng số điền sản của người chồng để lại được chia làm hai phần, theo

đó người vợ thứ không có con được hưởng 1/2, còn 1/2 số điền sản được chia đềucho các con của người chồng Pháp luật qui định trong trường hợp người vợ khôngtái gía thì được hưởng số điền sản đó suốt đời, nhưng nếu người này tái giá thì phảitrả lại số điền sản đó cho nội tộc của người chồng Nguyên tắc này không áp dụngđối với người chồng goá khi tái giá, trong trường hợp người vợ chết trước mà ngườichồng được thừa kế điền sản của người vợ

Thứ ba, xét về bản chất thì pháp luật nhà Lê có nhiều tiến bộ so với pháp luật

của các thời trước đó; tuy rằng pháp luật thời kỳ này có sự ảnh hưởng trực tiếp của

tư tưởng phật giáo và nho giáo Pháp luật nhà Lê đã qui định địa vị pháp lý của vợchồng và các con trong việc hưởng di sản thừa kế của nhau Về sở hữu thì vợ, chồng

có quyền có tài sản riêng và là đồng sở hữu chung tài sản do cùng tạo dựng trongthời kỳ hôn nhân Các con trong gia đình, không phân biệt con trai, con gái khi thừa

kế theo pháp luật thì được hưởng các phần di sản ngang nhau Vị trí của người vợgoá có các con, các cháu trong trường hợp người này không kết hôn với người khácthì có quyền kế quyền gia trưởng của người chồng đã chết để dạy bảo, lo toan mọi

Trang 39

việc cho các con; quản lý tài sản của gia đình; tổ chức thờ cúng người chồng và giatiên nhà chồng Những người em trai, em gái, cháu trai, cháu gái cùng chi bề dướicủa người chồng phải tuân theo quyền gia trưởng của người vợ goá được kế quyềngia trưởng

Qui định này của pháp luật nhà Lê đã là căn cứ bảo vệ không những gia đìnhtruyền thống của người Việt Nam, mà còn là cơ sở vững chắc nhằm bảo vệ quan hệtrên dưới, tôn ti, trật tự của gia đình truyền thống Hơn nữa cũng nhằm để củng cố

thuyết “tam tòng” được áp dụng đối với người phụ nữ khi kết hôn: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, tử tử tòng tôn” một cách linh hoạt và thực tế,

phù hợp với gia cảnh của từng gia đình, dòng họ

2 Pháp luật thừa kế trong thời thực dân, phong kiến ở Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, Việt Nam là một nước thuộc địanửa phong kiến Hệ thống pháp luật trong giai đoạn này chỉ là công cụ của thực dânPháp nhằm thực hiện triệt để chính sách khai thác thuộc địa Bản chất của chế độ nôdịch thuộc địa được bộc lộ công khai không những trong những chính sách cai trịcủa thực dân Pháp, mà cả trong các qui phạm pháp luật Mặc dù hệ thống pháp luậtcủa Cộng hoà Pháp thời kỳ đó được xem là hệ thống pháp luật tiến bộ, dân chủ,nhưng với bản chất của chủ nghĩa thực dân, Pháp đã tận dụng những hủ tục phongkiến lạc hậu của xã hội phong kiến nước ta thời kỳ đó để xây dựng hệ thống phápluật làm công cụ của kẻ xâm lược tại thuộc địa, do đó pháp luật dân sự ở Việt Nam

ra đời trong giai đoạn này cũng chứa đựng bản chất thực dân – phong kiến khá rõnét; đặc biệt trong Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 (DLB), Dân luật Trung Kỳ năm 1936(DLT) Tư tưởng trọng nam, khinh nữ của ý thức hệ phong kiến vẫn được bảo tồntrong quan hệ xã hội, trong quan hệ gia đình và cả trong các điều khoản pháp luật.Trong lĩnh vực thừa kế di sản, quyền bình đẳng về thừa kế không được bảo đảm,quyền thừa kế của người vợ bị hạn chế Người vợ không có quyền lập di chúc đểđịnh đoạt tài sản của riêng mình, nếu không được chồng cho phép Khi người vợchết trước, người chồng được thừa nhận là chủ sở hữu duy nhất đối với toàn bộ tàisản riêng của vợ Ngược lại, nếu người chồng chết trước, theo qui định tại Điều 346DLB và Điều 314 DLT, thì người vợ chỉ có quyền hưởng dụng tài sản riêng của bảnthân Gia đình và dòng họ vẫn là cơ sở chính để xác định vấn đề thừa kế, còn quan

hệ hôn nhân chỉ được coi là thứ yếu Do coi trọng quan hệ huyết thống, pháp luậtthừa kế thời kỳ này đã chú ý đến quyền bình đẳng của các con trong việc hưởng disản thừa kế của bố, mẹ Thừa kế theo pháp luật trong giai đoạn này đã luôn thể hiệnquan điểm bảo vệ gia đình huyết thống trong thừa kế Luật thừa kế đã bảo vệ nhữngquyền chính đáng của các con trong gia đình theo nguyên tắc tài sản của cha, mẹ sẽ

Trang 40

thuộc về các con khi cha, mẹ qua đời Đây chính là quan điểm quan trọng trong quan

hệ thừa kế theo pháp luật - thừa kế theo huyết thống xuôi

Theo trật tự của chế độ phong kiến, tư tưởng tôn ti, thế thứ được bảo tồn vàđược qui định bơi pháp luật, theo đó vị trí của người con trai trưởng hoặc cháu đíchtôn luôn được coi trọng Nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, ông, bà, cha, mẹ trước hết dongười con trai trưởng hoặc người cháu trai đích tôn đảm nhiệm, do vậy việc để lại disản dùng vào việc thờ cúng tổ tiên (hương hoả) do trưởng nam hoặc cháu đích tôncủa người để lại hương hoả đó quản lý để thờ cúng; các con gái của người để lạihương hoả không có quyền quản lý di sản dùng vào việc thờ cúng đó Qui định trêncủa pháp luật thực dân – phong kiến vẫn bảo vệ quan niệm cũ; “Nữ nhi ngoại tộc”(con gái không thuộc dòng họ nội tộc)

Như vậy, dưới chế độ thực dân – phong kiến trước năm 1945, quyền thừa kế củangười dân Việt Nam tuy đã được thể chế hoá bằng các qui định trong các Bộ luật,song do bản chất giai cấp, nên những vấn đề về bình đẳng trong quan hệ thừa kếchưa được giải quyết, đặc biệt là quyền bình đẳng nam và nữ, giữa vợ và chồngtrong quan hệ thừa kế

II PHÁP LUẬT THỪA KẾ Ở VIỆT NAM TỪ SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN NAY

1 Pháp luật thừa kế dưới chế độ dân chủ nhân dân - Giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước ngày có Pháp lệnh thừa kế năm 1990

Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990, kể từ khi nước ta giành đượcđộc lập, pháp luật thừa kế của chế độ mới được xây dựng, củng cố và bổ sung theohướng từng bước được hoàn thiện

Cùng với thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đất nước ta đãbước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội Nước ViệtNam dân chủ cộng hoà ra đời vào ngày 2-9-1945, là Nhà nước dân chủ nhân dân đầutiên ở Đông Nam Á Song song với việc củng cố chính quyền, Đảng và Nhà nước ta

đã rất chú trọng đến việc củng cố và phát triển nền kinh tế từ mức độ thấp nửa thựcdân – phong kiến nhằm mục đích nâng cao dần mức sống của nhân dân Các mốiquan hệ trong xã hội đã dần dần được đổi mới theo những chủ trương đúng đắn phùhợp với yêu cầu phát triển tất yếu, khách quan của dân tộc và thời đại Cùng với sự

ra đời của Nhà nước non trẻ, pháp luật của chế độ mới cũng được hình thành và pháttriển, trong đó quyền thừa kế của công dân cũng được coi trọng

Pháp luật thừa kế của Nhà nước ta đã xoá bỏ những tàn tích của chế độ phongkiến trong quan hệ thừa kế và thiết lập mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ, giữa

vợ và chồng, giữa các con trong gia đình…Loại bỏ tư tưởng gia trưởng, tư tưởng

Ngày đăng: 14/03/2018, 14:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w