Luận văn về chức năng tống đạt của thừa phát lại được thực hiện vào cuối năm 2019. Đây là luận văn duy nhất đến thời điểm hiện tại nói về hoạt động tống đạt của thừa phát lại tại Việt Nam nên rất đáng để tham khảo.
Trang 1
LÊ THỊ HƯƠNG
HOẠT ĐỘNG TỐNG ĐẠT CỦA THỪA PHÁT LẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2
LÊ THỊ HƯƠNG
HOẠT ĐỘNG TỐNG ĐẠT CỦA THỪA PHÁT LẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã ngành: 60380103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHẠM KIM ANH
Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3Các số liệu, tài liệu sử dụng để dẫn chiếu, phân tích trong Luận văn có nguồn gốc rõràng và đã được công bố theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn đượctôi tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực
Các kết quả này chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nàokhác
Tác giả
Lê Thị Hương
Trang 4và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểmtại Thành phố Hồ Chí Minh.
3 Thông tư liên tịch số
09
Thông tư liên tịch VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 hướng dẫnthực hiện thí điểm chế định thừa phát lại theo Nghịquyết 36/2012/QH13
(https://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-5 Thi hành án Thi hành án dân sự, hoạt động thi hành án dân sự
6 Người tiến hành tống
đạt
Người trực tiếp tiến hành việc tống đạt như thẩmphán, thư ký tòa án, chấp hành viên, thư ký cơquan thi hành án, thừa phát lại, thư ký thừa phát lại
Trang 5SỐ PHỤ LỤC TÊN PHỤ LỤC
01 Biên bản tống đạt trực tiếp văn bản của Tòa án
02 Biên bản tống đạt qua người thân thích
03 Biên bản ghi nhận sự việc
04 Biên bản niêm yết tại nơi cư trú của đương sự
05 Biên bản niêm yết tại Uỷ ban nhân cấp xã
06 Biên bản niêm yết tại trụ sở cơ quan phát hành văn bản
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
LỜI CAM ĐOAN 6
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC 6
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỐNG ĐẠT CỦA THỪA PHÁT LẠI 9
1.2 Cơ sở để thực hiện việc tống đạt qua thừa phát lại 13
1.3 Đặc điểm hoạt động tống đạt của thừa phát lại 17
3.4 Về mức phí tống đạt 56 KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU
PHỤ LỤC
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thừa phát lại là một chức danh bổ trợ tư pháp ở Việt Nam Đây là chức danh tuymới mà cũ bởi nó đã từng tồn tại ở Việt Nam trước năm 1975 Sau khi nước ta thốngnhất, vì một số lý do về chính trị, pháp lý mà chế định thừa phát lại không còn được ápdụng Khoảng 10 năm trở lại đây, dưới tác động của cơ chế mở cửa, nền kinh tế củanước ta phát triển, các mối quan hệ xã hội ngày càng đa dạng và phức tạp Từ đó, nhucầu sử dụng các loại hình dịch vụ pháp lý ngày càng cao nên Đảng và Nhà nước ta đãđưa ra nhiều chủ trương, ban hành nhiều chính sách pháp luật nhằm mở rộng sự pháttriển lĩnh vực bổ trợ tư pháp dẫn đến việc áp dụng trở lại chế định thừa phát lại
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua
Nghị quyết số 24/2008/QH12, trong đó có nội dung “triển khai thực hiện chủ trương
xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại (thừa hành viên) tại một số địa phương”, thời gian thí điểm đến ngày 01 tháng 7 năm 2012 Căn cứ vào Nghị
quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm
2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố HồChí Minh Trong 04 chức năng của thừa phát lại thì có chức năng tống đạt theo yêucầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự Tháng 5 năm 2010, 05 văn phòngthừa phát lại đầu tiên của cả nước lần lượt khai trương và chính thức đi vào hoạt độngtại Thành phố Hồ Chí Minh; đến năm 2012, cả nước có 08 văn phòng thừa phát lạiđang hoạt Tuy nhiên, do thời gian thí điểm còn ngắn, chỉ có 8 văn phòng hoạt động thíđiểm và tại một địa phương duy nhất được chọn thí điểm là Thành phố Hồ Chí Minhdẫn đến kết quả thí điểm chưa đủ cơ sở để Quốc hội đưa ra quyết định là áp dụng haykhông áp dụng chính thức mô hình thừa phát lại tại Việt Nam Do đó, Quốc hội khóaXIII tại kỳ họp thứ 4 đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 kéodài thời gian thí điểm và cho phép mở rộng phạm vi thí điểm đến một số tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương khác Thực hiện theo Nghị quyết này, Chính phủ ban hànhNghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 Ngày 24/6/2013, Bộ trưởng Bộ Tư
Trang 8pháp đã ban hành Quyết định số 1531/QĐ-BTP mở rộng phạm vi thí điểm được mởrộng thêm 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác ngoài Thành phố Hồ ChíMinh gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, BìnhĐịnh, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long.
Ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại,Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 10 đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13ngày 26 tháng 11 năm 2015 cho thực hiện chế định thừa phát lại trong phạm vi cảnước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016
Sau hơn 8 năm được triển khai, Đề án về chế định thừa phát lại đã đạt được nhữngkết quả khả quan Thừa phát lại với chức năng tổ chức thi hành án và xác minh điềukiện thi hành án giúp người dân có thêm một lựa chọn về cơ quan tổ chức thi hành bản
án, quyết định của Tòa án Chức năng lập vi bằng là phương thức hiệu quả giúp ngườidân xác lập chứng cứ, dự phòng rủi ro pháp lý Đặc biệt, chức năng tống đạt đã hỗ trợtích cực cho Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự, giúp các thẩm phán, chấp hànhviên, thư ký có thời gian tập trung vào công việc chuyên môn tại trụ sở cơ quan
Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, chế định thừa phát lại đã được triển khai hơn
8 năm, trong đó có gần 04 năm triển khai chính thức Tuy nhiên, toàn bộ văn bản quyđịnh của pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động thừa phát lại đều được ban hành từthời gian thí điểm Trong khi đó, thực tiễn thực hiện chế định thừa phát lại tồn tạinhững vấn đề bất cập cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật, đặcbiệt là ở hoạt động lập tống đạt văn bản Hiện nay, Chính phủ đang lập dự thảo Nghịđịnh mới thay thế Nghị định số 61 và Nghị định số 135 Chính vì vậy, đề tài nghiên
cứu “Hoạt động tống đạt của thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam” trong giai đoạn
này là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
So với các nghề luật khác ở Việt Nam, thừa phát lại là được xem là nghề luật nontrẻ Do đó, các đề tài, công trình nghiên cứu về nghề luật này hiện nay không nhiều
Trang 9Qua tìm hiểu của tác giả, ở nước ta hiện nay có các đề tài, công trình nghiên cứu hoặctài liệu chuyên sâu về thừa phát lại như sau:
- Nhóm các đề tài nghiên cứu khoa học:
1 Nguyễn Đức Chính (1998): “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định thừa phát
lại”, Đề tài khoa học cấp Bộ - Bộ Tư pháp Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện
về lịch sử chế định thừa phát lại tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với chếđịnh thừa phát lại của các nước trên thế giới
2 Lê Thu Hà (2011): “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chương trình đào tạo,
bồi dưỡng thừa phát lại ở Việt Nam”, Đề tài khoa học cấp cơ sở -Học viện Tư pháp.
Đề tài đã phân tích làm rõ vị trí, vai trò của thừa phát lại; chủ trương của Đảng và Nhànước trong việc phát triển nghề thừa phát lại; thực tiễn hoạt động thí điểm thừa phát lạitại Thành phố Hồ Chí Minh Những kiến nghị về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thừaphát lại trong đề tài này đã phần nào được tiếp thu, áp dụng trong giai đoạn hiện nay
- Nhóm luận văn, luận án:
1 Nguyễn Kim Giang (2011): “Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân
sự”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Luận văn này đã tập trung làm
rõ các khái niệm cấp văn bản tố tụng dân sự, khái niệm thông báo văn bản tố tụng dân
sự, khái niệm tống đạt văn bản tố tụng dân sự và phân tích, so sánh làm rõ được sựkhác biệt giữa các khái niệm này Ngoài ra luận văn còn nêu và phân tích được các nộidung các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp, tống đạt và thông báo văn bản tốtụng dân sự, qua đó thấy được những điểm kế thừa và phát triển của các quy định củapháp luật hiện hành đồng thời cũng thấy được những điểm hạn chế của chúng và đưa
ra các kiến nghị hoàn thiện
2 Đèo Thị Thủy (2013): “Cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng – Thực tiễn
thực hiện tại tỉnh Sơn La”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Luận văn
đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung và các qui định của pháp luật hiện hành vềcấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, luận văn làm rõ khái niệm văn bản tốtụng dân sự, cấp văn bản tố tụng dân sự, tống đạt văn bản tố tụng dân sự, thông báo
Trang 10văn bản tố tụng dân sự, khẳng định mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc nhận thứckhái niệm này; Phân tích họat động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sựcủa các chủ thể có thẩm quyền từ cơ sở khoa học đến các qui định hiện hành và thựctiễn áp dụng Đặc biệt luận văn phân tích thực tiễn thực hiện cấp, tống đạt, thông báovăn bản tố tụng dân sự tại Sơn La với những tính chất đặc thù vùng miền Từ đó pháthiện những qui định chưa thực sự phù hợp, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằmnâng cao hiệu quả hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự nói chung
và tại tỉnh Sơn La nói riêng
3 Nguyễn Minh Thuỳ (2014): “Thừa phát lại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội Luận văn
nghiên cứu lý luận, thực tiễn nói chung về cả bốn chức năng của thừa phát lại trongbối cảnh chế định thừa phát lại đang triển khai thí điểm
4 Phạm Phúc Thịnh (2014): “Thừa phát lại trong thi hành án dân sự”, Luận văn
Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là đề tài chuyên sâu vềhoạt động thi hành án dân sự của thừa phát lại, trong đó tác giả trình bày khá tốt phần
lý luận còn về thực tiễn triển khai thì chưa thấy có nhiều số liệu, thông tin để đốichiếu
- Nhóm giáo trình, sách chuyên khảo:
1 Nguyễn Đức Chính (2006): “Tổ chức thừa phát lại”, Nhà xuất bản Tư pháp.
Công trình này đã cung cấp tương đối đầy đủ các nội dung về chế định thừa phát lạidưới góc độ bao quát nhiều nội dung như: Lịch sử chế định thừa phát lại; cơ sở lý luậncho việc triển khai chế định thừa phát lại; kinh nghiệm triển khai chế định thừa phát lạitại một số nước trên thế giới Công trình này cũng bổ sung và làm phong phú thêm về
mặt lý luận cho đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mang tên “Cơ sở lý luận và thực
tiễn về chế định thừa phát lại” do chính tác giả Nguyễn Đức Chính bảo vệ thành công
năm 1998
2 Vũ Hoài Nam (2013): “Tổ chức và hoạt động của thừa phát lại ở Việt Nam hiện
nay”, Nhà xuất bản Tư pháp Công trình này nghiên cứu chế định thừa phát lại dưới
Trang 11góc độ lý luận về bốn chức năng của thừa phát lại theo quy định của pháp luật Tại thờiđiểm nghiên cứu, chế định thừa phát lại đã được triển khai thí điểm được hơn 03 nămnên tác giả Vũ Hoài Nam đã có những tư liệu, thông tin về thực tiễn nhằm đối chiếuvới quy định của pháp luật, phát hiện bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện quy địnhcủa pháp luật hiện hành về thừa phát lại.
3 Bộ Tư pháp (2010): “Sổ tay thừa phát lại”, Nhà xuất bản Thời Đại Đây là
cuốn sách có nội dung chủ yếu là trích dẫn điều luật và phân tích để hướng dẫn cácthừa phát lại và các văn phòng thừa phát lại trong quá trình hành nghề, hoạt động
Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật:
Ngoài những nghiên cứu khoa học đã nêu ở trên còn một số bài viết khác liênquan đến luận văn như:
1 Hà Hùng Cường (2011): “Thừa phát lại từ chủ trương đến thực hiện thí điểm”,
Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Bộ Tư pháp Số 8 (233), tr 6-11
2 Lê Thu Hà (2011): “Đào tạo thừa phát lại - nhu cầu khách quan của công cuộc
cải cách tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Nghề luật, Học viện tư pháp, số 6, tr.15-17.
3 Nguyễn Tiến Pháp (2012): “Nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự và xác minh
điều kiện thi hành án của thừa phát lại”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp,
số 11/2012, tr.55 – 58
4 Huỳnh Đức Thái Lâm Hoàng (2018): “Giải pháp hoàn thiện pháp luật về thừa
phát lại ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Tài chính - Bộ Tài chính tháng 9/2018, số 688,
tr 101 – 103
5 Nguyễn Vinh Hưng (2018): “Cần nghiên cứu, đổi mới cơ chế hoạt động của
thừa phát lại ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật - Bộ Tư pháp số 1
(310), tr 24-30
Các bài báo nêu trên nghiên cứu một hoặc một số nội dung về chế định thừa phátlại Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào trực tiếp và chuyên sâu về hoạt động tống đạt.Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu vừa nêu có đối tượng nghiên cứu về chế định thừa
Trang 12phát lại nói chung hoặc tập trung ở chức năng tổ chức thi hành án dân sự Các đề tàinghiên cứu chuyên biệt về hoạt động tống đạt thì chủ yếu là nghiên cứu về hoạt độngtống đạt theo pháp luật tố tụng, tức là tống đạt văn bản của Tòa án Hoạt động tống đạtcủa thừa phát lại như một đối tượng nghiên cứu độc lập thì chưa có tác giả nào thựchiện Do đó, một công trình nghiên cứu riêng về chức năng này bổ sung vào danh mụccác tài liệu về thừa phát lại là cần thiết.
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Lý luận, quy định của pháp luật hiện hành về hoạtđộng tống đạt của thừa phát lại và thực tiễn áp dụng những quy định này
- Về phạm vi nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu hoạt động tống đạt của thừa phát lại.Tác giả không nghiên cứu về hoạt động tống đạt nói chung, tuy nhiên, thủ tục tống đạttheo pháp luật về tố tụng và thi hành án dân sự chiếm một phần nội dung của đề tài dotheo quy định hiện nay, thừa phát lại áp dụng thủ tục này khi đi tống đạt
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích là phương pháp được sử dụng chủ yếu từ chương 1 đếnchương 3 Tại chương 1, phương pháp này được sử dụng để phân tích, làm rõ các vấn
đề lý luận về khái niệm, đặc điểm của hoạt động tống đạt Tại chương 2, phương phápnày được sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật Tại chương 3, phương phápnày được sử dụng để phân tích những bất cập và làm rõ các giải pháp mà tác giả đềxuất
Trang 13- Phương pháp so sánh được sử dụng ở chương 2 để làm rõ sự giống và khác nhaugiữa việc tống đạt văn bản của Tòa án và việc tống đạt văn bản của cơ quan thi hành
án dân sự
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng sau phương pháp phân tích ở cả 03chương nhằm tổng hợp các đặc điểm của hoạt động tống đạt nêu tại mục 1.3 củachương 1, tổng hợp các quy định của pháp luật nêu tại chương 2 và đề ra các giải phápkhắc phục bất cập nêu tại chương 3
6 Ý nghĩa của đề tài
Nội dung chủ yếu của đề tài là trình bày những vấn đề cơ bản, có hệ thống, đánhgiá những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hoạt động lập tống đạt của thừa phátlại Thông qua nghiên cứu các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hoạt độngnày, tác giả nêu lên những bất cập và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạtđộng tống đạt Do đó, luận văn có ý nghĩa sau:
- Ý nghĩa đối với lý luận: Phân tích một số vấn đề lý luận về hoạt động tống đạtcủa thừa phát lại, trên cơ sở đó làm phong phú thêm những lý luận liên quan đến hoạtđộng này
- Ý nghĩa đối với pháp luật: Trên cơ sở phân tích những bất cập quy định củapháp luật về tống đạt của thừa phát lại, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiệnnhững quy định này
- Ý nghĩa đối với thực tiễn: Là tài liệu hữu ích đối với các sinh viên, học viênchuyên ngành luật, các văn phòng thừa phát lại, Tòa án, cơ quan thi hành án và các cơquan, tổ chức khác có quan tâm đến vấn đề này
7 Bố cục đề tài
Với tên đề tài là “Hoạt động tống đạt của thừa phát lại theo pháp luật Việt Nam”,
bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu thamkhảo thì được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động tống đạt của thừa phát lại
Trong chương này, tác giả làm rõ khái niệm, đặc điểm, cơ sở để thực hiện việctống đạt qua thừa phát lại Tác giả cũng nghiên cứu sơ lược về hoạt động cấp, tống đạt
và thông báo văn bản tại Việt Nam từ năm 1945 đến nay Kết quả nghiên cứu ở
Trang 14chương này là cơ sở để phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật mà tác giả sẽtrình bày tại chương 2 của Luận văn
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động tống đạt của thừa phát lại
Trong chương này, tác giả sẽ nêu, phân tích các quy định chủ yếu của pháp luật vềhoạt động tống đạt của thừa phát lại bao gồm: Thẩm quyền tống đạt; thỏa thuận tốngđạt, chủ thể tiến hành tống đạt, thủ tục tống đạt, phí tống đạt Kết quả nghiên cứu ởchương này là cơ sở để xem xét, đưa ra các bất cập nêu tại chương 3
Chương 3: Những bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động tống đạt của thừa phát lại
Trên nền tảng lý luận tại chương 1 và quy định của pháp luật tại chương 2, tác giảnêu những bất cập về hoạt động tống đạt của thừa phát lại và kiến nghị các giải pháphoàn thiện quy định của pháp luật
Trang 15CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG TỐNG ĐẠT CỦA
THỪA PHÁT LẠI 1.1 Khái niệm hoạt động tống đạt của thừa phát lại
1.1.1 Khái niệm thừa phát lại
Đây là một thuật ngữ có gốc Hán - Việt “Thừa” có nghĩa là “thừa lệnh, tuân theo
lệnh của cấp trên”; “Phát” có nghĩa là “phát ra, gửi đi hoặc giao cho ai vật gì”; “Lại”
nghĩa là “công lại” Theo “Hán – Việt từ điển” của Đào Duy Anh thì thừa phát lại là
“người thuộc lại của Tòa án sơ cấp hay Tòa án địa phương, giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của Tòa án, hay là thu một sản vật” 1 Từ điển
Tiếng Việt định nghĩa thừa phát lại là “Trưởng toà, người có tư cách chuyển đạt, thi
hành các án toà, lập vi bằng những vụ phạm phép tại trận”2 Đại từ điển Tiếng Việt thì
định nghĩa thừa phát lại là “Viên chức chuyên việc chuyển đạt mệnh lệnh của toà trong
việc thi hành các bản án” 3 Từ điển Luật học định nghĩa thừa phát lại là một “Viên
chức chuyên việc tống đạt giấy tờ và thi hành phán quyết của Toà án hay thu hồi một sản vật”4
Mỗi tài liệu có cách định nghĩa khác nhau về thừa phát lại nhưng điểm chung làđều định nghĩa thừa phát lại là một người “công lại”, “viên chức” giúp việc cho Tòa
án Các công việc mà chức danh này thực hiện đều mang tính chất công quyền và đượcthừa hành từ Tòa án
Còn theo quy định của pháp luật thì “Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ
nhiệm để làm các công việc về thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan” 5 Với quy định
này, thừa phát lại mang hai đặc điểm: Một là, đây là chức danh được Nhà nước bổnhiệm khi đáp ứng các tiêu chuẩn, điều kiện mà pháp luật quy định; Hai là, chức danh
1 Đào Duy Anh (1975), Hán – Việt từ điển, Nxb Trường Thi in lần ba, Sài Gòn.
2 Viện Ngôn Ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.977-978.
3Nguyễn Như Ý (chủ biên), (2013), Đại Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
tr.1554.
4 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.756.
5 Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61.
Trang 16này thực hiện các công việc liên quan đến quyền lực công cộng do Nhà nước traoquyền.
1.1.2 Khái niệm về cấp, tống đạt, thông báo văn bản
Trong phạm vi đề mục này, các văn bản để cấp, tống đạt, thông báo được hiểu làcác văn bản tố tụng và văn bản thi hành án dân sự
Khái niệm cấp văn bản
Theo từ điển tiếng Việt thì “cấp” (nghĩa động từ) được hiểu là giao cho hưởng,
giao cho toàn quyền sử dụng6 Từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Nhà xuấtbản Từ điển Bách khoa (trang 169) cũng có định nghĩa tương tự Căn cứ vào các địnhnghĩa này, cấp văn bản được hiểu là hành vi của tổ chức, cá nhân nhằm giao văn bản
mà họ đang nắm giữ cho tổ chức, cá nhân khác để những người này tùy nghi sử dụngtheo nhu cầu, mục đích của họ
Đối với lĩnh vực tố tụng thì cấp văn bản tố tụng là hoạt động của cơ quan tiến hành
tố tụng giao cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụ việc dân sự văn bản tốtụng để họ sử dụng7 Hiện nay, pháp luật về thi hành án dân sự không quy định về cấpvăn bản thi hành án mà chỉ quy định thông báo về thi hành án Trên thực tế, cơ quanthi hành án dân sự có thực hiện thủ tục cấp văn bản thi hành án dân sự, ví dụ cấp bảnsao các văn bản có trong hồ sơ thi hành án khi đương sự có yêu cầu
Như vậy, cấp văn bản là hoạt động mang tính bắt buộc để đáp ứng nhu cầu sửdụng văn bản của đương sự được thực hiện khi pháp luật có quy định hoặc đương sự
có yêu cầu
Trên cơ sở những phân tích nêu trên, chúng ta có thể định nghĩa cấp văn bản tố
tụng, thi hành án dân sự là“hoạt động của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy
định của pháp luật giao cho tổ chức, cá nhân khác văn bản có liên quan đến vụ việc dân sự, thi hành án dân sự để họ sử dụng nhằm phục vụ các quyền, lợi ích của họ” Khái niệm tống đạt văn bản
6 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng tr.124.
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.201.
Trang 17Đây là thuật ngữ có gốc Hán - Việt Theo từ điển Hán - Việt hiện đại thì tống đạtnghĩa là “truyền đạt”8 Theo từ điển Tiếng Việt, từ “tống” có nghĩa là đưa đến, gửi đến
mà bất chấp có đồng ý nhận hay không9; “đạt” có nghĩa là đến được mục đích, thựchiện được mục tiêu đã đề ra; đúng với yêu cầu ở mức tương đối10 Từ điển Tiếng Việt
định nghĩa tống đạt là “chuyển đạt, gởi đi cách chính thức” Tuy có nhiều định nghĩa
khác nhau nhưng các tài liệu nêu trên đều có điểm chung mô tả “tống đạt” là hoạt độngđược thực hiện bởi chủ thể có thẩm quyền nhằm chuyển tải thông tin đến một đốitượng nhất định, nhằm đạt được mục đích nhất định
Theo khoa học pháp lý thì tống đạt là việc chuyển đến đương sự các giấy tờ cầnthiết của cơ quan tư pháp11 Đối với lĩnh vực tố tụng thì tống đạt văn bản tố tụng làhoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng giao cho tổ chức, cá nhân có liên quan đến vụviệc dân sự văn bản tố tụng và buộc họ phải nhận được12 Cũng như thuật ngữ “cấp”văn bản thi hành án dân sự, pháp luật về thi hành án dân sự không trực tiếp quy định
về tống đạt mà chỉ có văn bản pháp luật về thừa phát lại mới đề cập
Như vậy, tống đạt văn bản là hoạt động mang tính bắt buộc phải thực hiện đối với
cơ quan ban hành văn bản lẫn người cần nhận văn bản Cơ quan ban hành văn bản phảitống đạt nhằm tạo cơ sở pháp lý để thực hiện các thủ tục tiếp theo; đương sự phải nhậnđược văn bản này và phải thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo văn bản Ví dụ:Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Giấy triệu tập cho đương sự nhằmtạo cơ sở cho việc mở phiên tòa xét xử; đương sự phải nhận được hai văn bản nàynhằm thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo nội dung văn bản Trên thực tế,người tiến hành tống đạt và đương sự có thể không gặp nhau hoặc đương sự từ chốinhận văn bản Do đó, người tiến hành tống đạt phải thực hiện đầy đủ các biện pháptống đạt theo quy định pháp luật để chứng minh rằng, đương sự đã biết về nội dungvăn bản cần tống đạt
8 Trần Thị Thanh Liêm (2007), Từ điển Hán - Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, Bến Tre, tr.364.
9 Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa tr.1302.
10 Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa tr.386.
11 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.799.
12 Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân,
Hà Nội, tr.201.
Trang 18Từ những vấn đề nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về tống đạt văn bản tố tụng
như sau: “Tống đạt văn bản tố tụng là hoạt động của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
theo quy định của pháp luật chuyển đến, gửi đến cho cá nhân, tổ chức liên quan đến
vụ việc tố tụng thông qua các hình thức mà pháp luật quy định dù cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan có đồng ý nhận hay không nhưng phải đảm bảo là đã thực hiện được việc chuyển giao văn bản đó đúng quy định của pháp luật”.
Khái niệm thông báo văn bản
Theo Từ điển tiếng Việt thì từ “thông báo” có nghĩa là báo cho mọi người biết tình
hình, tin tức bằng lời nói hoặc văn bản13 Pháp luật về tố tụng và thi hành án đều cóquy định hình thức này Hoạt động này chú trọng đến vấn đề chuyển tải thông tin đầy
đủ, chính xác cho người nhận Như vậy, thông báo văn bản “là hoạt động của cá
nhân, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật báo cho cá nhân, tổ chức liên quan đến vụ việc tố tụng, thi hành án dân sự biết về những vấn đề liên quan đến
họ để họ nắm bắt được nội dung yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó họ có cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ của bản thân họ”.
Ba hoạt động nêu trên có điểm chung là hoạt động của cá nhân, tổ chức có thẩmquyền theo quy định của pháp luật nhằm giao văn bản liên quan tố tụng, thi hành ánhoặc truyền đạt nội dung văn bản đó đến cá nhân, tổ chức liên quan để họ biết về nộidung của văn bản, biết được quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện
Về sự khác nhau: Cấp văn bản đáp ứng nhu cầu sử dụng văn bản của đương sự nênđương sự có quyền nhận hoặc không nhận văn bản theo nhu cầu của họ; tống đạt vănbản được thực hiện làm cơ sở để cơ quan ban hành văn bản tiến hành các trình tự, thủtục tiếp theo trong quá trình giải quyết hồ sơ vụ việc nên việc giao và việc nhận vănbản là yếu tố bắt buộc phải thực hiện; thông báo văn bản có vai trò truyền tải các nộidung trong văn bản đến đương sự để đương sự nắm bắt được thông tin trong văn bảncòn việc thực hiện hay không thực hiện theo thông báo là do ý thức chủ quan củangười được thông báo Ngoài ra, cấp văn bản và tống đạt văn bản có đối tượng hành vi
13 Viện ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, tr.1224.
Trang 19giao nhận văn bản, tài liệu còn hoạt động thông báo có đối tượng là hành vi truyền đạtthông tin có trong văn bản, tài liệu.
Tóm lại, cấp, tống đạt và thông báo văn bản là hoạt động cá nhân, tổ chức có thẩmquyền theo quy định pháp luật trong việc chuyển giao văn bản đã được ban hành hoặctruyền đạt thông tin của nội dung văn bản đó đến các chủ thể liên quan để họ biết được
về nội dung của văn bản đó, biết được quyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện Tuynhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng hình thứccấp, tống đạt hay thông báo cho phù hợp
Về nguyên tắc, việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản trước tiên là do tổ chức, cánhân đã ban hành văn bản thực hiện nhưng họ có thể giao cho tổ chức, cá nhân khácthực hiện theo quy định của pháp luật Cấp, tống đạt, thông báo văn bản là một thủ tụctrong hoạt động tố tụng và thi hành án dân sự Do đó, kết quả của hoạt động này ảnhhưởng đến quá trình giải quyết hồ sơ của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự Hoạtđộng cấp, tống đạt, thông báo được thực hiện đầy đủ, nhanh chóng và đúng trình tự,thủ tục theo quy định của pháp luật sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình giải quyết hồ sơcủa Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự Ngược lại, nếu hoạt động cấp, tống đạt,thông báo không được thực hiện hoặc thực hiện chậm, không đầy đủ, không đúng trình
tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì sẽ kéo theo sự chậm trễ giải quyết vụ việctại Tòa án, vụ việc thi hành án hoặc thậm chí kết quả xét xử, kết quả thi hành án có thể
bị hủy bỏ
1.2 Cơ sở để thực hiện việc tống đạt qua thừa phát lại
Trên thế giới, thừa phát lại là một nghề có truyền thống lâu đời Hầu hết các quốcgia đang áp dụng chế định này thì đều quy định thừa phát lại có chức năng tống đạtvăn bản Điều này chứng minh rằng, tống đạt văn bản qua thừa phát lại là một côngviệc đóng vai trò quan trọng, thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực tư pháp Ở Việt Nam,thừa phát lại không phải là một nghề mới mà đã xuất hiện từ thời Pháp thuộc Tronggiai đoạn này, thừa phát lại cũng thực hiện chức năng tống đạt văn bản Nhờ nhữngđóng tích cực vào lĩnh vực tư pháp mà chế định này tồn tại ở nước ta đến năm 1975trước khi tạm chấm dứt
Trang 20Hiện nay, quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và Luật tố tụng hành chính về việccấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng còn rườm rà, mang nặng tính thủ tục dẫn đếngây khó khăn cho những người tiến hành tố tụng Cụ thể, để giải quyết xong một vụ ándân sự, trong trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt, Tòa án phải tiến hành ít nhất 08 lầnthực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như: Tống đạt thông báo thụ lý
vụ án (ít nhất hai lần, trong đó một lần phải đi niêm yết ở nơi cư trú, niêm yết tại trụ sở
Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và niêm yết tại trụ sở Tòa án); tống đạt thôngbáo hòa giải (ít nhất hai lần, trong đó một lần phải đi niêm yết ở nơi cư trú, niêm yếttại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn và niêm yết tại trụ sở Tòa án); tống đạtquyết định đưa vụ án ra xét xử (ít nhất hai lần, trong đó một lần phải đi niêm yết ở nơi
cư trú, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và niêm yết tại trụ sởTòa án); tống đạt quyết định hoãn phiên tòa (ít nhất hai lần, trong đó một lần phải điniêm yết ở nơi cư trú, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và niêmyết tại trụ sở Tòa án); tống đạt bản án (ít nhất hai lần, trong đó một lần phải đi niêmyết ở nơi cư trú, niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và niêm yếttại trụ sở Tòa án)14
Trong hoạt động thi hành án dân sự, mỗi loại vụ việc, chấp hành viên phải tống đạt
ít nhất 05 loại giấy tờ như giấy báo tự nguyện thi hành án, giấy mời, quyết định thihành án, biên bản tống đạt quyết định thi hành án, thông báo kê biên tài sản, định giátài sản Trong trường hợp cưỡng chế thì phải có 15 loại giấy tờ và cả các vụ việc xácminh điều kiện thi hành án Hiện nay, tại địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương, hàng năm, trung bình mỗi chấp hành viên phải thực hiện trên 160 vụ việc, do đóphải tống đạt trên 800 văn bản, trong trường hợp cưỡng chế thì phải tống đạt trên 2400văn bản15
Trước khi các văn phòng thừa phát lại được thành lập, các văn bản, tài liệu của cơquan tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự được cấp, tống đạt, thông báo chủ yếu bởichính nhân sự của các cơ quan này, Ủy ban nhân dân cấp xã và nhân viên bưu chính
14 Báo cáo số 43/BC-TANDTC ngày 26 tháng 2 năm 2015 của Tòa án nhân dân tối cao về tổng kết thực tiễn
10 năm thi hành Bộ luật tố tụng dân sự.
15 Văn phòng Chính phủ (2016), “Báo cáo đánh giá tác động của Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động
thừa phát lại”, Hội thảo Dự thảo Nghị định về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại ngày 08/12/2016, tr.6-7.
Trang 21Việc các nhân sự ở Tòa án, cơ quan thi hành án trực tiếp tống đạt có ưu điểm là ngườitrực tiếp đi tống đạt sẽ nắm rõ các nội dung, tình tiết trong hồ sơ và đặc điểm đương sự
để xử lý tình huống tống đạt thích hợp Ngoài ra, bên cạnh việc tống đạt văn bản đơn
thuần, họ có nhiệm vụ “thực hiện các hoạt động nghiệp vụ khác như giải thích pháp
luật, thuyết phục đương sự, nắm bắt thông tin về nhân thân, hoàn cảnh tâm lý của đương sự”16
Tuy nhiên, phương thức tống đạt nêu trên cũng có những bất cập: Thứ nhất, cácnhân sự tại cơ quan này cần thời gian tập trung vào công việc chuyên môn tại cơ quan,nghiên cứu hồ sơ trong khi hoạt động tống đạt là một hoạt động chủ yếu mang tính cơhọc, tốn nhiều thời gian; thứ hai, nhân sự tại các cơ quan này được nhận lương theobiên chế, bậc lương của Nhà nước nên ít nhiều ảnh hưởng đến sự nỗ lực hoàn thànhcông việc tống đạt; thứ ba, việc giao nhiệm vụ tống đạt hiện nay cũng chưa thống nhấtgiữa các Tòa án và cơ quan thi hành án (bộ phận văn phòng, thư ký, thậm chí là thẩmphán, chấp hành viên cũng tham gia vào việc tống đạt) Nếu duy trì tình trạng này thìkhó đảm bảo chất lượng giải quyết hồ sơ đồng thời cũng là gánh nặng cho Nhà nướckhi duy trì các nhân sự làm việc kém hiệu quả
Về việc giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo
là quy định chưa hợp lý và phù hợp Đây là cơ quan có các chức năng, thẩm quyềnriêng liên quan đến lĩnh vực quản lý hành chính Luật về tổ chức Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân năm 2003 (nay là Luật tổ chức chính quyền địa phương 2015)không quy định tống đạt là nhiệm vụ của Ủy ban nhân dân cấp xã Bên cạnh đó, đây là
cơ quan hành chính cấp cơ sở, cấp thấp nhất trong các cơ quan hành chính ở nước tanên rất gần dân và thường xuyên phải tiếp xúc, giải quyết các công việc liên quan đếnlĩnh vực hành chính mà cơ quan này phụ trách, vốn được xem như là “cái túi” củacông việc17 Nếu đảm nhận việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản thay cho Tòa án và
cơ quan thi hành án dân sự rất dễ bị chậm trễ
16 Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh (2015), “Tham luận đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động thừa phát lại và những tác động, ảnh hưởng của thừa phát lại đối với công tác thi hành án dân sự trên địa
bàn Thành phố Hồ Chí Minh”, Tài liệu hội thảo đánh giá kết quả thí điểm chế định thừa phát lại trên địa bàn
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 22/4/2015, Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp, tr.29.
17 Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2006), Tổ chức thừa phát lại, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội tr.59.
Trang 22Về việc tống đạt qua nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính, đây là một tổ chứcchuyên thực hiện dịch vụ giao nhận hàng hóa; đối tượng hàng hóa được giao nhận rất
đa dạng Các nhân viên trực tiếp thực hiện dịch vụ bưu chính không phải là nhữngngười được đào tạo chuyên môn về pháp luật cộng với phương thức giao nhận bưu gửikhông chặt chẽ bằng phương thức cấp, tống đạt, thông báo Vậy nên, kết quả của việcgiao nhận bưu gửi của nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính dễ bị phản bác và khó trởthành căn cứ, cơ sở để thực hiện các bước tố tụng, thi hành án tiếp theo
Từ thực tế nêu trên cho thấy, công việc tống đạt đang chiếm khá nhiều thời giancủa Tòa án và cơ quan thi hành án nhưng việc triển khai chưa được hiệu quả, do nhiều
cơ quan thực hiện và trình tự, thủ tục là chưa thống nhất ở mỗi đầu mối Chúng ta đang
có sự hội nhập sâu rộng với quốc tế, các mối quan hệ trong xã hội ngày càng đa dạng,nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp lý công ngày càng cao Đảng và Nhà nước ta phảithực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật nhằm đẩy mạnh sự phát triểncác dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu của xã hội Một trong các chủ trương đó là xã hộihóa các hoạt động bổ trợ tư pháp được Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 BộChính trị đề ra
Do đó, việc có một bộ phận trung gian như văn phòng thừa phát lại chuyên tráchnghiệp vụ cấp, tống đạt, thông báo và nhận thù lao theo số lượng văn bản tống đạt trởnên cần thiết, đảm bảo tính pháp lý, tính chuyên nghiệp của công việc, đảm bảo sự ổnđịnh, nề nếp trong công việc này, giảm bớt công việc cho chính quyền cấp cơ sở.Ngoài ra, dưới góc độ kinh tế, việc thừa phát lại đi tống đạt cũng giúp giảm một phầnchi phí cho Nhà nước18
18 Nếu tạm tính sơ bộ, nếu trực tiếp đi tống đạt (trong địa bàn quận, huyện), ước tính bình quân mỗi cán bộ Tòa án, Thi hành án mỗi ngày tống đạt được 6-8 văn bản; mỗi tháng (20 ngày làm việc) sẽ tống đạt được từ 120 -
160 văn bản Hiện nay, mỗi tháng ngân sách nhà nước phải chi khoảng 10 triệu đồng cho một công chức thi hành
án, Tòa án hoạt động (bao gồm tiền lương, các khoản chi thường xuyên…) Nếu giao Thừa phát lại tống đạt, với
số lượng văn bản trên và mức chi bình quân hiện nay đang thanh toán cho các Văn phòng Thừa phát lại khoảng 55.000đ/01 văn bản/địa bàn quận, huyện nơi đặt Văn phòng thì nhà nước phải chi trả từ 6.600.000 đồng (cho 120 văn bản) đến 8.800.000 đồng (cho 160 văn bản) Khoản tiền này thấp hơn so với khoản kinh phí nhà nước chi cho hoạt động của mỗi công chức Thi hành án, Tòa án trong một tháng (khoảng 10 triệu đồng) Bên cạnh đó, ngoài lương, chi thường xuyên, nhà nước còn phải đầu tư xây dựng trụ sở, mua sắm phương tiện, kèm theo các chế độ đào tạo, bồi dưỡng, đóng bảo hiểm xã hội, đãi ngộ khác cho cán bộ, công chức Như vậy, nếu chỉ tính ở góc độ tài chính thì việc giao Thừa phát lại tống đạt là có hiệu quả hơn Bên cạnh đó, những lợi ích và hiệu quả lâu dài của việc tống đạt như đã nêu Báo cáo tổng kết của Chính phủ còn có ý nghĩa nhiều hơn và không thể định lượng được (Báo cáo số 538/BC-CP ngày 19/10/2015 của Chính phủ về về tổng kết việc triển khai tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại theo Nghị quyết số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội)
Trang 231.3 Đặc điểm hoạt động tống đạt của thừa phát lại
Hoạt động tống đạt được thực hiện bởi thừa phát lại có những đặc điểm riêng đểphân biệt với các hoạt động khác gồm:
Thứ nhất, là hoạt động bổ trợ tư pháp
Theo định nghĩa tại Từ điển Luật học thì “Bổ trợ tư pháp là trợ giúp, tạo điều kiện
cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho các cá nhân, công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”19
Trong quá trình tố tụng, thi hành án dân sự, Tòa án và cơ quan thi hành án phảithực hiện nhiều thủ tục mà trong đó có hoạt động tống đạt Thẩm phán, chấp hành viênhoặc thư ký phải trực tiếp đi đến địa chỉ của các đương sự cần tống đạt để tiến hànhgiao văn bản Trường hợp không thể giao trực tiếp thì phải đi lại nhiều lần Nếu khôngtống đạt được thì phải yêu cầu chính quyền địa phương hỗ trợ Trường hợp vẫn khônggiao được văn bản cho đương sự thì phải thực hiện thủ tục niêm yết ở nhiều địa điểm.Nếu thực hiện sai thủ tục thì kết quả tố tụng hoặc thi hành án có thể bị hủy bỏ Nhưvậy, tuy không phải là công việc mang nặng tính chuyên môn nhưng đây là công việckhó khăn, chiếm nhiều thời gian và ảnh hưởng đến kết quả tố tụng và thi hành án Do
đó, nhu cầu chuyển giao hoạt động tống đạt nêu trên cho một đơn vị chuyên trách nhưvăn phòng thừa phát lại là cần thiết Các thừa phát lại, thư ký nghiệp vụ đều đào tạochuyên môn về pháp luật nên có thể hỗ trợ Tòa án và cơ quan thi hành án tống đạt vănbản
Khi không còn phải tham gia nhiều vào công việc tống đạt, các Thẩm phán, Chấphành viên, Thư ký có thể tập trung thời gian cho các công việc chuyên môn tại trụ sởnên chất lượng, số lượng hoạt động xét xử, thi hành án dân sự được đảm bảo Cácđương sự trong vụ việc cũng được hưởng lợi từ tác động tích cực này Nói cách khác,
hoạt động tống đạt của thừa phát lại “góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công
19 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.72.
Trang 24tác xét xử, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên khi tham gia tố tụng” 20 Đây
thực sự là một hoạt động bổ trợ tư pháp, trợ giúp đắc lực cho hoạt động của các cơquan tư pháp
Thứ hai, được thực hiện trên cơ sở sự ủy quyền của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự
Ủy quyền là việc “giao cho người khác thay mặt mình sử dụng quyền mà mình có
được một cách hợp pháp”21 Về chủ thể, quan hệ ủy quyền xuất hiện hai chủ thể là bên
ủy quyền và bên được ủy quyền Đối tượng của quan hệ ủy quyền là quyền, là côngviệc mà bên ủy quyền có được một cách hợp pháp nhưng vì không thể trực tiếp thựchiện mà họ ủy quyền cho người khác làm thay
Cấp, tống đạt, thông báo văn bản là hoạt động chuyên môn trong quá trình xét xử,giải quyết hồ sơ thi hành án Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự được nhà nước giaoquyền thực hiện các hoạt động này Tuy nhiên, như trên đã phân tích, để tạo điều kiệncho các nhân sự của hai cơ quan này tập trung vào công việc tại trụ sở thì pháp luật cóquy định về người hỗ trợ, thực hiện thay hoạt động cấp, tống đạt, thông báo Chủ thểthực hiện thay công việc này được chỉ định trong văn bản pháp luật như Ủy ban nhândân cấp xã, tổ chức bưu chính, người có chức năng tống đạt
Tuy được Nhà nước giao cho chức năng tống đạt nhưng để thừa phát lại có căn cứthực hiện trên thực tế thì pháp luật phải quy định phương thức, thủ tục chuyển giaoquyền tống đạt từ cơ quan ban hành văn bản qua văn phòng thừa phát lại Bộ luật tốtụng dân sự năm 2015, Luật tố tụng hành chính năm 2015 có quy định phương thứccấp, tống đạt, thông báo văn bản qua “người có chức năng tống đạt”, “người thứ bađược ủy quyền” Luật thi hành án dân sự năm 2008 có quy định phương thức thôngbáo “qua cơ quan, tổ chức, cá nhân khác” Nghị định số 61 và Nghị định số 135 quyđịnh Tòa án, cơ quan thi hành án trao quyền cho thừa phát lại đi tống đạt thông quathỏa thuận về việc tống đạt (hợp đồng dịch vụ) Do đó, hoạt động tống đạt của thừa
20 Thông báo số 03/TB-TANDTC ngày 14/8/2015 của Tòa án nhân dân tối cao về việc tiếp tục thí điểm chế định thừa phát lại.
21 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.837.
Trang 25phát lại thực hiện trên cơ sở sự ủy quyền của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sựthông qua thỏa thuận dịch vụ.
Thứ ba, vừa mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính dịch vụ
Theo Từ điển tiếng Việt thì “Quyền lực là quyền định đoạt mọi công việc quan
trọng về mặt chính trị và sức mạnh để đảm bảo việc thực hiện quyền ấy” 22 Theo Từ
điển Luật học thì “Quyền lực nhà nước là quyền lực chính trị được thực hiện bằng bộ
máy nhà nước, là cơ quan, là công cụ của quyền lực chính trị” 23 Quyền lực nhà nước
có bốn đặc điểm cơ bản là: Luôn luôn gắn liền với sự tồn tại của chính quyền nhànước; được phân chia thành quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp; dogiai cấp thống trị thực hiện; được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế củanhà nước Tống đạt văn bản là hoạt động thuộc nhánh quyền tư pháp Tòa án, cơ quanthi hành án dân sự là các cơ quan thuộc chính quyền nhà nước và được giao quyền tưpháp mà trong đó có quyền tống đạt cho đương sự Để tạo cơ sở cho tiến hành hoạtđộng này, Nhà nước quy định trình tự, thủ tục chặt chẽ để các chủ thể liên quan thựchiện Chủ thể nào có hành vi vi phạm thủ tục tống đạt hoặc cản trở trái phép hoạt độngtống đạt thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chínhhoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật Các văn phòng thừaphát lại được Nhà nước trao cho thẩm quyền thực hiện công việc tống đạt Công việcnày cũng được chuyển giao lại từ hai hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước khác làTòa án và cơ quan thi hành án dân sự Do đó, hoạt động tống đạt của thừa phát lại làhoạt động được Nhà nước trao quyền, mang tính quyền lực nhà nước
Về khái niệm “dịch vụ”, Từ điển tiếng Việt định nghĩa “dịch vụ là công việc phục
vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công” 24
Còn theo Từ điển Luật học thì “Hợp đồng dịch vụ là một hợp đồng dân sự thông dụng,
theo đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ”25 Như vậy, đối tượng của
22 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.815.
23 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.652.
24 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.256.
25 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.391.
Trang 26quan hệ cung ứng dịch vụ là một công việc cụ thể để đáp ứng nhu cầu Bên cung ứngdịch vụ thực hiện công việc này cho bên thuê dịch vụ và được trả phí; Bên thuê dịch
vụ được đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ của mình và phải trả phí dịch vụ Văn phòngthừa phát lại được nhà nước trao thẩm quyền thực hiện hoạt động tống đạt văn bản;Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự cũng có thẩm quyền này nhưng có nhu cầuchuyển giao một phần hoặc toàn bộ các văn bản cần tống đạt cho thừa phát lại thôngqua hợp đồng dịch vụ tống đạt
Như vậy, hoạt động tống đạt của thừa phát lại vừa mang tính quyền lực nhà nướcvừa mang tính dịch vụ
Thứ tư, được thực hiện theo một trình tự, thủ tục theo luật định
Các hoạt động xảy ra thường xuyên, mang tính chất pháp lý, ảnh hưởng đến quyềnlợi của các chủ thể khác dù là do tư nhân hay cơ quan nhà nước thực hiện thì thườngđược pháp luật quy định về trình tự, thủ tục để các chủ thể có liên quan thực hiện.Hoạt động tống đạt cũng không ngoại lệ Đây là công việc mang tính chất truyền đạtcác văn bản của cơ quan tư pháp cho đương sự Kết quả tống đạt là cơ sở để các cơquan tư pháp thực hiện các thủ tục trong xét xử và thi hành án Do đó, đây là một hoạtđộng quan trọng cần được pháp luật quy định thành một trình tự, thủ tục nhất định đểcác chủ thể thực hiện áp dụng Hiện nay, pháp luật chưa quy định một bộ quy trình, thủtục tống đạt riêng cho thừa phát lại Tùy thuộc vào loại văn bản cần tống đạt, các thừaphát lại và thư ký nghiệp vụ sẽ áp dụng pháp luật về tố tụng hoặc pháp luật về thi hành
án dân sự để thực hiện Pháp luật cũng quy định về thời gian giao nhận văn bản giữavăn phòng thừa phát lại và cơ quan Tòa án, cơ quan thi hành án, thời hạn tống đạt củavăn phòng thừa phát lại Hiện nay, về cơ bản, thừa phát lại thực hiện hai thủ tục đểhoàn tất việc tống đạt gồm: Tống đạt trực tiếp và niêm yết văn bản Tống đạt trực tiếp
là hình thức tống đạt mà văn bản tống đạt được giao tận tay cho người cần tống đạthoặc người khác nhưng có liên quan đến người cần tống đạt (người thân thích, tổtrưởng dân phố) Niêm yết văn bản được thực hiện khi không thể tống đạt trực tiếp vàchỉ được áp dụng khi đáp ứng một số điều kiện nhất định
Trang 271.4 Sơ lược về hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản từ năm 1945 đến nay
1.4.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ nước Việt Nam dân chủcộng hòa đã tạm thời kế thừa những quy định cũ thời Pháp thuộc nhưng vẫn còn phùhợp với thời điểm Cách mạng tháng Tám vừa thành công Ví dụ, chủ tịch Hồ Chí
Minh ký Sắc lệnh ngày 10/10/1945 với nội dung: “Cho đến khi ban hành những bộ
luật pháp duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này” Hoặc Sắc lệnh số 130/SL ngày 19/7/1946
giao cho các thừa phát lại tiếp tục công việc thi hành án như trước đây Trong giai đoạnnày, thủ tục cấp, tống đạt, thông báo đã được quy định rải rác trong các văn bản phápluật
- Sắc lệnh số 112 ngày 28/6/1946 quy định: “Hạn kháng án khuyết tịch bất cứ
trước toà án nào về việc hình hay hộ là 15 ngày kể từ ngày tống đạt cho đích thân người bị xử khuyết tịch Nếu không tống đạt được cho đích thân, thì người đương sự mất quyền kháng án khuyết tịch một khi mà án đã được thi hành xong hoặc đã bán xong động sản hay bất động sản hoặc đã biết rõ rằng người được kiện đang đem thi hành”
- Thông tư số 1869-VHC ngày 25/10/1955 của Bộ Tư pháp cũng quy định “Thi
hành mệnh lệnh của cấp trên như: tống đạt giấy gọi, tống đạt án, điều tra cung cấp thêm tài liệu về một vụ án theo yêu cầu Tòa án nhân dân huyện hoặc của Tòa án nhân dân tỉnh, v.v…” là một trong các nhiệm vụ và quyền hạn về mặt tư pháp của Ủy ban
hành chính xã
- Thông tư số 1326-HCTP ngày 31/7/1956 quy định về cấp, tống đạt Bản án liên
quan đến việc mất tích như sau: “Khi bản án công nhận sự mất tích đã thành nhất
định thì Toà án cấp cho thân nhân người ấy một trích lục án để đem xin đăng ký một việc khai tử với Uỷ ban hành chính nơi cư trú cuối cùng của người mất tích hoặc nơi
Trang 28cư trú hiện nay của thân nhân người ấy Đồng thời Toà án tống đạt bản án cho những nơi cần tống đạt để thi hành án theo thủ tục hiện hành”.
Đến năm 1961, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 363/DS ngày17/4/1961 về xử lý ly hôn đối với người cố tình giấu địa chỉ đề cập đến một phương
thức khác của cấp, tống đạt các văn bản tố tụng đó là “Việc niêm yết công khai giấy
gọi đương sự ra phiên tòa, niêm yết trích lục bản án” Nhìn chung, trước năm 1975,
pháp luật ở miền Bắc chỉ nêu về việc cấp, tống đạt, thông báo mà không quy định chitiết thủ tục thực hiện
Ở Miền Nam Việt Nam, dưới chế độ Việt Nam cộng hòa, thủ tục cấp, tống đạt,thông báo được quy định rất rõ trong các văn bản pháp luật Cụ thể, Bộ luật Dân sự vàthương sự tố tụng năm 1972 có 58 lần sử dụng từ tống đạt Bộ luật hình sự tố tụng năm
1972 có 107 lần sử dụng từ này Nhìn chung, các văn bản pháp luật dưới chế độ ViệtNam cộng hòa không chỉ quy định hoạt động tống đạt nói chung mà có quy định thêm
về hai hình thức cấp, thông báo văn bản đồng thời quy định rõ cách thức thực hiện cáchoạt động này tương tự nội dung quy định của các văn bản pháp luật ở nước ta hiệntại Người thực hiện việc tống đạt mà không thực hiện đúng quy định cũng có chế tài
xử phạt
Ví dụ, Điều thứ 192 Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm 1972 quy định
“Bản đại tự thứ nhì của một án văn chỉ có thể cấp phát cho đương sự chiếu theo án lệnh của chánh án tòa đã tuyên xử” Hoặc Điều thứ 532 Bộ luật hình sự tố tụng năm
1972 quy định: “Các công lại và viên chức kể nơi Điều 527 phải mẫn cán tống đạt
giấy tờ đến tận tay đương sự và giao bản sao tờ tống đạt cho y Nếu đương sự vắng mặt, bản sao sẽ được giao cho thân nhân, gia nhân hay một người nào hiện diện cùng ngụ tại nơi cư sở của đương sự Công lại hay viên chức thi hành việc tống đạt phải ghi nơi bản chánh tờ tống đạt tư cách của người nhận trát” Từ năm 1954 đến năm 1975,
các văn bản của Tòa án ở miền Nam chủ yếu được thừa phát lại đi tống đạt
Nhìn chung, giai đoạn 1945-1975, do chiến tranh, công tác xét xử, thi hành ánchưa được ổn định nên hoạt động tống đạt chưa được quy định cụ thể và chi tiết trongcác văn bản pháp luật (ngoại trừ miền Nam giai đoạn 1954-1975) Tuy nhiên, những
Trang 29quy định và thực tiễn tống đạt của thời kỳ này có ý nghĩa quan trọng, tạo tiền đề để cơquan có thẩm quyền ban hành những quy định về hoạt động tống đạt trong gia đoạntiếp theo.
1.4.2 Giai đoạn từ năm 1976 đến trước năm 2004
Đối với việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng, năm 1977, Tòa án nhân dântối cao ban hành Thông tư số 53/TATC Đây là văn bản quy định về việc cấp, thôngbáo văn bản của Tòa án Sau đó, một loạt các văn bản pháp luật liên quan đến thủ tụcgiải quyết các loại vụ án ra đời như Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sựnăm 1989, Pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế năm 1994, Pháp lệnh vềthủ tục giải quyết các tranh chấp lao động năm 1996, Pháp lệnh về thủ tục giải quyếtcác vụ án hành chính năm 1996, Pháp lệnh về thi hành án dân sự năm 1989, Bộ luật tốtụng hình sự năm 1988 Các văn bản này đều có các quy định về thủ tục cấp, tống đạt
và thông báo văn bản Tuy nhiên, việc thực hiện các hoạt động cấp, tống đạt và thôngbáo trong giai đoạn này vẫn chủ yếu dựa vào các quy định trong Thông tư số 53/TATCnêu trên, Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa ánnhân dân tối cao; Công văn số 29/NCPL ngày 6/4/1992 của Tòa án nhân dân tối caohướng dẫn giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự đang ở nước ngoài đềcập đến việc thông báo và lấy lời khai đương sự qua cơ quan ngoại giao của nước ta ởnước ngoài
Đối với hoạt động thông báo văn bản của cơ quan thi hành án dân sự, Pháp lệnh vềthi hành án dân sự năm 1989 và Pháp lệnh về thi hành án dân sự năm 1993 được banhành có quy định về thủ tục này
Nhìn chung, các văn bản pháp luật trong giai đoạn này có quy định về thủ tục cấp,tống đạt, thông báo văn bản nhưng nhìn chung còn sơ sài, chỉ mới quy định nghĩa vụthực hiện của các chủ thể mà chưa quy định về trình tự, thủ tục thực hiện Ngoài ra, chỉ
có thuật ngữ “cấp” và “thông báo” văn bản là được đề cập trực tiếp trong các văn bảnpháp luật, còn thuật ngữ “tống đạt” thì chưa thấy đề cập Từ năm 1976, chế định thừaphát lại tạm ngưng vai trò của mình trên cả nước
Trang 301.4.3 Giai đoạn từ năm 2004 đến nay
Trong lĩnh vực tố tụng, giai đoạn này đánh dấu sự ra đời, có hiệu lực của hàng loạt
bộ luật mà nội dung có quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản của tòa án như
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Đáng chú ý, cácvăn bản này đều quy định rất chi tiết về hình thức, trình tự, thủ tục cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản để những người có thẩm quyền thực hiện Ví dụ, Bộ luật tố tụng dân sựdành từ Điều 146 đến Điều 156, Luật tố tụng hành chính năm 2010 dành từ Điều 92đến Điều 102 để quy định về thủ tục này Các văn bản luật mới được bản hành sau này
để sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế các văn bản vừa được nêu vẫn quy định chi tiết vềhoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trên cơ sở kế thừa các quy định cũ.Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 hayLuật thi hành án dân sự năm 2008 đều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục thông báocác văn bản về thi hành án cho đương sự Đáng chú ý, các văn bản pháp luật nàykhông đề cập đến hoạt động “cấp” và “tống đạt” văn bản thi hành án Trong khi đó, Bộluật tố tụng dân sự hoặc Luật tố tụng hành chính nêu trên đều quy định đầy đủ cả bahình thức này
Giai đoạn này đánh dấu chế định thừa phát lại được triển khai trở lại ở nước ta Từnăm 2009 đến năm 2015 là thời gian thí điểm với 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương tham gia Từ năm 2016 đến nay, chế định này được áp dụng chính thức trên cảnước Một trong bốn chức năng của các văn phòng thừa phát lại là tống đạt văn bảncủa cơ quan Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự Từ khi các văn phòng thừa phát lại
đi vào hoạt động, Tòa án và cơ quan thi hành án dần chuyển giao các văn bản củamình cho thừa phát lại đi tống đạt Thủ tục tống đạt của thừa phát lại cũng thực hiệntheo quy định của các văn bản pháp luật về tố tụng và thi hành án dân sự
Nhìn chung, từ năm 2004 đến nay, các vấn đề về cấp, tống đạt, thông báo văn bản
tố tụng và thi hành án đã được quy định rất cụ thể, chi tiết trong các văn bản pháp luậtnhư: Loại văn bản tống đạt, hình thức tống đạt, phương thức – trình tự thực hiện, chủthể thực hiện, quyền và nghĩa vụ của các bên có liên quan Nội dung các quy định nàykhá tương đồng với thủ tục tống đạt được quy định trong các văn bản pháp luật dưới
Trang 31chế độ Việt Nam cộng hòa Đây là điều dễ hiểu bởi các văn bản pháp luật dưới chế độViệt Nam cộng hòa chủ yếu được xây dựng trên cơ sở tham khảo các văn bản phápluật của nước Cộng hòa Pháp, một nước có hệ thống pháp luật thành văn rất phát triển
và tiến bộ Các Bộ luật, luật về tố tụng, thi hành án dân sự của nước ta gần đây đều có
sự tham khảo, học hỏi từ nền pháp luật của đất nước này
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Cấp văn bản, tống đạt văn bản hay thông báo văn bản có lịch sử lâu đời, gắn liềnvới việc hình thành cơ quan có chức năng xét xử, là một thủ tục được áp dụng thườngxuyên tại Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự Ở Việt Nam, cho đến khi Bộ luật tốtụng dân sự năm 2004 được ban hành thì ba hình thức này mới lần đầu tiên được quyđịnh đầy đủ và tập trung trong một văn bản quy phạm pháp luật Tuy có tên gọi, ýnghĩa và hoàn cảnh áp dụng khác nhau nhưng cả ba hình thức này được thực hiệnnhằm mục đích chuyển giao văn bản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự đến tổchức, cá nhân khác có liên quan
Hoạt động tống đạt không đòi hỏi cao về chuyên môn pháp lý, chỉ yêu cầu thựchiện đúng theo trình tự mà pháp luật quy định nhưng chiếm nhiều thời gian của Tòa án
và cơ quan thi hành án Do đó, việc chuyển giao hoạt động này cho một cơ quanchuyên môn như văn phòng thừa phát lại thực hiện là cần thiết, đảm bảo tính pháp lý,tính chuyên nghiệp của công việc
Khi được thực hiện bởi thừa phát lại, tống đạt văn bản đóng vai trò là hoạt động bổtrợ tư pháp quan trọng, giúp giảm thiểu công việc cho Tòa án và cơ quan thi hành án.Nhờ vậy, các nhân sự tại hai cơ quan này có điều kiện tập trung vào công việc chuyênmôn tại trụ sở, nâng cao hiệu quả giải quyết hồ sơ Thừa phát lại tống đạt văn bản theo
sự ủy quyền của Tòa án, cơ quan thi hành án thông qua hợp đồng Đây vừa là hoạtđộng mang tính quyền lực nhà nước vừa mang tính dịch vụ
Trang 33CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
HOẠT ĐỘNG TỐNG ĐẠT CỦA THỪA PHÁT LẠI 2.1 Thẩm quyền tống đạt
2.1.1 Thẩm quyền theo đối tượng
Thẩm quyền tống đạt theo đối tượng nghĩa là các loại văn bản mà thừa phát lạiđược quyền đi tống đạt Điều 21 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 6Điều 2 Nghị định số 135 quy định văn phòng thừa phát lại được quyền thỏa thuận đểtống đạt văn bản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự các cấp trên địa bàn tỉnh,thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt văn phòng thừa phát lại, bao gồm: Giấy báo,giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định trongtrường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án; quyết định về thi hành án, giấy báo,giấy triệu tập của cơ quan thi hành án dân sự Trong trường hợp cần thiết, trên cơ sở đềnghị của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự, văn phòng thừa phát lại có thể thỏa thuận
để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác Điều 3 Thông tư liên tịch số 09 quy địnhthêm nội dung là thừa phát lại không tống đạt văn bản của Tòa phúc thẩm Tòa án nhândân tối cao (nay là Tòa án nhân dân cấp cao) Như vậy, theo quy định của pháp luật,thẩm quyền tống đạt theo đối tượng của thừa phát lại có hai đặc trưng:
Thứ nhất, thừa phát lại chỉ đi tống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan thi hành ándân sự Trên thực tế, có rất nhiều tổ chức, cá nhân có văn bản cần đi giao, thông báocho các tổ chức, cá nhân khác Đối với tổ chức, đó có thể là cơ quan trong lĩnh vực tưpháp (Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra…) hoặc cơ quan ngoài tư pháp (Ủy ban nhândân các cấp, doanh nghiệp ) Đối với cá nhân, đó là bất kỳ chủ thể nào nhưng làngười có liên quan đến văn bản cần giao ví dụ: Người khiếu nại trong vụ việc khiếunại quyết định hành chính, chủ nhà trong vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng chothuê nhà… Tuy nhiên, chỉ duy nhất Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể cóquyền yêu cầu, thỏa thuận với các văn phòng thừa phát lại để đi tống đạt Có quanđiểm cho rằng, mặc dù chưa được quy định cụ thể nhưng đối với một số văn bản củaTòa án được thực hiện theo yêu cầu của đương sự (ví dụ: các quyết định áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời mà Tòa án ban hành theo yêu cầu của đương sự trong các vụ
án dân sự, thương mại) thì thừa phát lại có quyền đi tống đạt trên cơ sở thỏa thuận với
Trang 34đương sự26 Đây là cách hiểu chưa phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành bởitheo quy định từ Điều 21 đến Điều 24 của Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởiNghị định số 135 thì thừa phát lại đi tống đạt khi được Tòa án, cơ quan thi hành án dân
sự yêu cầu thông qua thỏa thuận tống đạt Đáng chú ý, Thông tư liên tịch số12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC ngày 19 tháng 10 năm 2016 có quy định về thừaphát lại có thẩm quyền tống đạt giấy tờ theo quy định của pháp luật trong hoạt độngtương trợ tư pháp Tuy nhiên, khoản 2 Điều 6 Luật tương trợ tư pháp năm 2007 quyđịnh tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyềncủa Việt Nam hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua ủy thác tư phápnên chỉ khi nào nhận yêu cầu trực tiếp từ cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thìthừa phát lại mới được tống đạt các giấy tờ liên quan tương trợ tư pháp Do đó, hiệnnay, đương sự chưa được quyền trực tiếp thỏa thuận và giao văn bản tố tụng, văn bảnthi hành án để thừa phát lại đi tống đạt
Về bản chất, tống đạt là việc thừa phát lại được “ủy quyền” để đi giao văn bản
thay cho người ủy quyền do người này không có điều kiện đi giao trực tiếp Xét ở khíacạnh này thì không chỉ riêng thừa phát lại mà bất kỳ tổ chức, cá nhân nào cũng có thểthực hiện công việc này Và không chỉ đi tống đạt văn bản của Tòa án và cơ quan thihành án dân sự, thừa phát lại có thể tống đạt văn bản của các cá nhân, tổ chức có yêucầu Như ở Pháp, thừa phát lại không chỉ tống đạt văn bản tư pháp mà còn tống đạtvăn bản phi tư pháp27 Hiện nay, ở nước ta, chỉ có thừa phát lại đi tống đạt thông qua
cơ chế ủy quyền Mỗi công việc đặc biệt là công việc mang tính đặc thù riêng nên cầnphải giao cho các tổ chức, cá nhân chuyên môn đảm nhận để đảm bảo chất lượng, hiệuquả công việc Tống đạt là một công việc đặc thù bởi đó là hoạt động liên quan đếnpháp lý, kết quả của nó là căn cứ tiến hành hoạt động xét xử và thi hành án dân sự Do
đó, Nhà nước giao công việc tống đạt cho một tổ chức có chuyên môn như văn phòngthừa phát lại là hợp lý Tuy nhiên, để đảm bảo chất lượng, hiệu quả công việc, Nhànước cần quy định tiêu chuẩn của người tiến hành tống đạt và thủ tục riêng cho hoạtđộng này
26 Bộ Tư pháp (2010), Sổ tay thừa phát lại, Nhà xuất bản Thời Đại, Hà Nội, tr.70.
27 Bộ Tư pháp (2015), “Giới thiệu nghề thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp”, Tài liệu tọa đàm về thừa phát lại
ngày 17/8/2015, Hà Nội, tr.5-6.
Trang 35Thứ hai, loại văn bản mà thừa phát lại đi tống đạt là rất rộng, phụ thuộc vào thỏathuận giữa văn phòng thừa phát lại với Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự miễn làvăn bản đó là của hai cơ quan này Trước đây, Nghị định số 61 chỉ quy định chung làthừa phát lại được đi tống đạt văn bản theo thỏa thuận với Tòa án và cơ quan thi hành
án dân sự Sau đó, Nghị định số 135 và Thông tư liên tịch số 09 ra đời đã quy địnhtheo hướng liệt kê các văn bản mà thừa phát lại được quyền đi tống đạt nhưng vẫn cóquy định theo hướng mở là các bên có quyền thỏa thuận đi tống đạt các loại văn bảnkhác ngoài các loại văn bản được liệt kê Như vậy, chung quy lại, thừa phát lại có thể
đi tống đạt tất cả các loại văn bản của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự Một vấn
đề đặt ra là “Văn bản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự các cấp trên địa bàn
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi đặt văn phòng thừa phát lại” được hiểu
như thế nào Theo nghĩa hẹp, văn bản của Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự đượchiểu là các văn bản do các cơ quan này ban hành Theo nghĩa rộng, quy định này đượchiểu là ngoài các văn bản do các cơ quan này ban hành còn có các loại văn bản khácliên quan đến hồ sơ vụ án, hồ sơ thi hành án, ví dụ: Văn bản được ủy thác tống đạt, vănbản của cơ quan đo đạc, văn bản của cơ quan bán đấu giá…
Theo tác giả, quy định nêu trên nên được hiểu theo nghĩa rộng, bởi vì: Trên thực
tế, ngoài các văn bản do chính mình ban hành thì Tòa án và cơ quan thi hành án dân sựcòn phát sinh các văn bản khác cần đi tống đạt như ví dụ vừa nêu Dưới góc độ quyđịnh của pháp luật, Nghị định số 135 và Thông tư liên tịch số 09 quy định theo hướng
mở là ngoài các văn bản được liệt kê thì văn phòng thừa phát lại và Tòa án, cơ quan thihành án dân sự có quyền thỏa thuận đi tống đạt các văn bản khác Do đó, để hỗ trợ các
cơ quan này đồng thời để đảm bảo tính chất bổ trợ tư pháp trọn vẹn của mình, thừaphát lại có quyền đi tống đạt các văn bản khác không phải do Tòa án hoặc cơ quan thihành án dân sự mà mình đã ký hợp đồng ban hành miễn là các bên có thỏa thuận việcnày trong hợp đồng Hiện nay, không phải tất cả các văn bản đều được Tòa án và cơquan thi hành án dân sự giao cho thừa phát lại đi tống đạt Tùy tính chất, đặc điểmtừng vụ việc mà các cơ quan này vẫn giữ lại một số văn bản để trực tiếp đi tống đạt
2.1.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ
Trang 36Thẩm quyền theo lãnh thổ trong mục này được tác giả phân tích ở hai phạm trù:Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự ở đơn vị hành chính nào thì thừa phát lại có quyềnthỏa thuận đi tống đạt; địa điểm nào thì thừa phát lại quyền đi tống đạt
Về vấn đề thứ nhất, theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổsung bởi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 135 thì thừa phát lại đi tống đạt văn bản của Tòa
án và cơ quan thi hành án dân sự các cấp trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương nơi đặt văn phòng thừa phát lại (ngoại trừ văn bản của Tòa án nhân dân cấp cao)
Ví dụ, văn phòng thừa phát lại quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh có thẩmquyền đi tống đạt văn bản của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Chi cục thihành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, Tòa án và Chi cục thi hành án dân sự cácquận, huyện của Thành phố Hồ Chí Minh mà không có thẩm quyền thỏa thuận đi tốngđạt với các Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự khác nằm ngoài địa bàn Thành phố HồChí Minh
Trên thực tế, Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự của địa phương này cũng có nhucầu tống đạt các văn bản đến các địa phương khác ngoài địa bàn hành chính cấp tỉnh.Đối với trường hợp này, cơ quan có văn bản cần đi tống đạt có thể trực tiếp đi tống đạthoặc ủy thác cho cơ quan khác đi tống đạt hoặc yêu cầu thừa phát lại đi tống đạt.Trường hợp yêu cầu thừa phát lại đi tống đạt thì chỉ được quyền yêu cầu thừa phát lại
ở địa bàn mà cơ quan mình đặt trụ sở mà không được yêu cầu thừa phát lại ở địa bàn
có địa chỉ đương sự cần đi tống đạt Ví dụ, chi cục thi hành án dân sự huyện TrảngBom, Đồng Nai có quyền yêu cầu bất kỳ văn phòng thừa phát lại nào trên địa bàn tỉnhĐồng Nai đi tống đạt văn bản cho đương sự có địa chỉ ở quận Tân Bình, Thành phố HồChí Minh nhưng không có quyền yêu cầu các văn phòng thừa phát lại ở Thành phố HồChí Minh tống đạt trong trường hợp này
Ngoài ra, tuy pháp luật quy định thừa phát lại được quyền đi tống đạt văn bản củaTòa án và cơ quan thi hành án dân sự trên địa bàn mà mình đặt trụ sở nhưng điều đókhông có nghĩa là thừa phát lại được quyền tự do lựa chọn tổ chức mà ký hợp đồng đitống đạt mà theo sự thống nhất, chỉ định của các cơ quan quản lý Theo quy định tạikhoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 09 thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Cụctrưởng Cục Thi hành án dân sự phối hợp với Giám đốc Sở Tư pháp thống nhất địa hạt
Trang 37để các văn phòng thừa phát lại ký kết hợp đồng dịch vụ với các Tòa án, cơ quan thihành án dân sự trên địa bàn.
Về vấn đề thứ hai, theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định số 61 được sửađổi, bổ sung bởi khoản 6 Điều 2 Nghị định số 135 thì thừa phát lại có quyền đi tốngđạt ngoài địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi văn phòng thừa phát lạiđặt trụ sở Như vậy, thừa phát lại có quyền đi tống đạt trên địa bàn cả nước Theo tácgiả, đây là quy định hợp lý nhằm hỗ trợ tối đa cho Tòa án và cơ quan thi hành án trongvấn đề đi tống đạt cho đương sự
2.2 Thỏa thuận về việc tống đạt
Theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
135 và Điều 3, Điều 4 Thông tư liên tịch số 09 thì giữa văn phòng thừa phát lại và Tòa
án, cơ quan thi hành án dân sự phải ký kết thỏa thuận tống đạt trước khi thừa phát lạitiến hành việc tống đạt Các vấn đề cần chú ý như sau:
2.2.1 Về chủ thể ký hợp đồng tống đạt
Số lượng văn phòng thừa phát lại mà một Tòa án, một cơ quan thi hành án dân sự
ký hợp đồng tống đạt
Khoản 2 Điều 24 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 135 quy
định: “Một cơ quan thi hành án dân sự hoặc một Tòa án chỉ được ký hợp đồng tống
đạt với một văn phòng thừa phát lại” Tuy nhiên, khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số
09 lại quy định một cơ quan thi hành án dân sự chỉ được ký hợp đồng với một vănphòng thừa phát lại Trên cơ sở tình hình thực tế của địa phương, Chánh án Tòa ánnhân dân cấp tỉnh quyết định cho mỗi Tòa án trên địa bàn có thể ký hợp đồng với một
hoặc nhiều văn phòng thừa phát lại Như vậy, Nghị định số 135 và Thông tư liên tịch
số 09 có sự thống nhất về số lượng văn phòng thừa phát lại mà một cơ quan thi hành
án dân sự được ký hợp đồng dịch vụ tống đạt nhưng có mâu thuẫn khi quy định về Tòaán
Thông tư liên tịch số 09 mặc dù được ban hành để hướng dẫn Nghị định số 61 vàNghị định số 135 nhưng lại mâu thuẫn với hai Nghị định này về vấn đề đang đề cập
Khoản 2 Điều 156 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định“Trong trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” Do đó, căn cứ các quy định nêu trên thì
một Toà án chỉ được ký hợp đồng dịch vụ tống đạt với một văn phòng thừa phát lại
Trang 38Trên thực tế, tùy thuộc vào số lượng hồ sơ vụ việc thụ lý mà mỗi Tòa án sẽ có sốlượng văn bản cần tống đạt khác nhau Ngoài ra, tùy thuộc vào quy mô, cơ cấu tổ chức
và năng lực mà hiệu quả tống đạt của mỗi văn phòng thừa phát lại là không giốngnhau Suy cho cùng, cái mà chúng ta hướng đến là việc tống đạt văn bản của Tòa án và
cơ quan thi hành án dân sự được diễn ra kịp thời, nhanh chóng để nâng cao hiệu quảxét xử và thi hành án dân sự Do đó, theo tác giả, chúng ta nên quy định theo hướng
mở là tùy vào tình hình thực tế mà một Tòa án, một cơ quan thi hành án dân sự đượclựa chọn nhiều hơn một văn phòng thừa phát lại để đi tống đạt văn bản
Số lượng Tòa án, cơ quan thi hành án dân sự mà một văn phòng thừa phát lại được quyền ký hợp đồng tống đạt.
Nghị định số 61, Nghị định số 15 và Thông tư liên tịch số 09 đều quy định thốngnhất rằng, một văn phòng thừa phát lại có quyền ký hợp đồng tống đạt với nhiều cơquan thi hành án dân sự hoặc nhiều Tòa án trên địa bàn cấp tỉnh nơi đặt văn phòngthừa phát lại Như đã phân tích, mỗi Tòa án, mỗi cơ quan dân sự có số lượng văn bảncần đi tống đạt là khác nhau; hiệu quả tống đạt văn bản của các văn phòng thừa phátlại cũng khác nhau Ngoài ra, dù được áp dụng chính thức trên cả nước từ ngày01/01/2016 nhưng đến nay, các văn phòng thừa phát lại chưa được thành lập đầy đủtrên 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chứ chưa nói đến việc mỗi đơn vị hànhchính cấp huyện có một văn phòng thừa phát lại Do đó, theo tác giả, quy định một vănphòng thừa phát lại có quyền ký hợp đồng tống đạt với nhiều cơ quan thi hành án dân
sự hoặc nhiều Tòa án là phù hợp với thực tiễn
2.2.2 Về hình thức
Thỏa thuận tống đạt được giao kết giữa văn phòng thừa phát lại với cơ quan thihành án dân sự hoặc Tòa án dưới hình thức hợp đồng dịch vụ về việc tống đạt Trênthực tế, thừa phát lại đi tống đạt rất nhiều loại văn bản Tương ứng với mỗi loại vănbản hoặc mỗi vụ việc cụ thể mà Tòa án, cơ quan thi hành án sẽ yêu cầu thừa phát lạitống đạt theo phương thức, thời hạn khác nhau Số lượng và từng loại văn bản cụ thể,giao thừa phát lại tống đạt được thực hiện thông qua sổ giao nhận có xác nhận của các
bên Như vậy, có thể hiểu là các cơ quan thi hành án, Tòa án sẽ ký hợp đồng “nguyên
tắc” về việc ủy quyền cho văn phòng thừa phát lại đi tống đạt28 Còn việc tống đạt trên
28 Vũ Hoài Nam (2013), Tổ chức và hoạt động của thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay, Nxb Tư pháp, Hà Nội,
tr.103.
Trang 39thực thế sẽ theo bảng kê bàn giao văn bản để thực hiện (như các Phụ lục hợp đồng).Mẫu hợp đồng tống đạt được ban hành kèm theo Thông tư liên tịch số 09.
Như vậy, tương tự hoạt động thi hành án dân sự, xác minh điều kiện thi hành ándân sự và lập vi bằng, hoạt động tống đạt của thừa phát lại cũng được triển khai trên
cơ sở hợp đồng Bảng kê, sổ giao nhận văn bản là cơ sở để đối chiếu văn bản giaonhận và làm cơ sở tính phí dịch vụ tống đạt
Ngoài hợp đồng mang tính nguyên tắc nêu trên, văn phòng thừa phát lại và Tòa án,
cơ quan thi hành án dân sự có thể ký một hợp đồng riêng cho từng việc cụ thể khi phátsinh trường hợp tống đạt ngoài địa bàn cấp tỉnh nơi đặt văn phòng thừa phát lại Theođánh giá của tác giả, các quy định hiện hành về hình thức thỏa thuận tống đạt là phùhợp với thực tiễn
2.2.3 Về nội dung
Thỏa thuận tống đạt có các nội dung chủ yếu gồm: Văn bản cần tống đạt, thời gianthực hiện hợp đồng, thủ tục việc tống đạt, quyền và nghĩa vụ của các bên, phí thựchiện tống đạt Về cơ bản, một số nội dung của thỏa thuận tống đạt đã được quy địnhtrong các văn bản pháp luật có liên quan nên trong hợp đồng, các bên chỉ cần dẫnchiếu tới các quy định này là đủ như loại văn bản đi tống đạt, thủ tục tống đạt, phí dịch
vụ tống đạt Sau đây là hai nội dung quan trọng trong thỏa thuận tống đạt:
- Về thủ tục tống đạt
Theo quy định thì việc thông báo về thi hành án dân sự thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật về thi hành án dân sự, việc tống đạt văn bản của Tòa án thực hiện theoquy định của pháp luật về tố tụng Tuy nhiên, các bên cần thỏa thuận là thời hạn thựchiện việc tống đạt của từng loại văn bản để đảm bảo việc tống đạt hoàn tất trong thờihạn quy định của pháp luật và kết quả tống đạt được bàn giao kịp thời cho Tòa án, cơquan thi hành án dân sử dụng để thực hiện các bước tiếp theo trong quá trình tố tụng,thi hành án
Ví dụ 1, khoản 1 Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Trong thời
hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án” Như vậy, ngay sau khi ban hành Thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án phải
chuyển giao ngay Thông báo này cho thừa phát lại đi tống đạt Tổng thời gian kể từ
Trang 40thời điểm ban hành Thông báo thụ lý vụ án đến thời điểm hoàn tất việc tống đạt làkhông được vượt quá 03 ngày làm việc Ví dụ 2, khoản 1 Điều 88 Luật thi hành án dân
sự năm 2008 quy định: “Trước khi kê biên tài sản là bất động sản ít nhất là 03 ngày
làm việc, chấp hành viên thông báo cho đại diện chính quyền cấp xã hoặc đại diện tổ dân phố nơi tổ chức cưỡng chế, đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, tài sản kê biên, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tài sản, trốn tránh việc thi hành án” Nếu thời điểm hoàn thành thông báo là
dưới 03 ngày làm việc thì việc cưỡng chế phải được hoãn lại gây thiệt hại cho ngườiđược thi hành án và Nhà nước
Do đó, khi bàn giao văn bản cho thừa phát lại đi tống đạt, Tòa án, cơ quan thi hành
án dân sự cần lưu ý ghi chú về thời hạn hoàn thành việc tống đạt từng loại văn bản cụthể để yêu cầu thừa phát lại thực hiện trong thời hạn đó
Về phí thực hiện tống đạt
Đây cũng là một nội dung quan trọng mà các bên cần thỏa thuận Bởi vì, theo quyđịnh tại Điều 13 Thông tư liên tịch số 09 thì mức phí tống đạt do các bên thỏa thuậncăn cứ theo mức tối đa được quy định Mức tối đa ở đây là 65.000 đồng/việc (bao gồm
cả thuế giá trị gia tăng) khi tống đạt trong phạm vi cấp huyện nơi đặt văn phòng thừaphát lại và 130.000 đồng/việc (bao gồm cả thuế giá trị gia tăng khi tống đạt ngoàiphạm vi cấp huyện nơi đặt văn phòng thừa phát lại)
Ngoài việc thỏa thuận về mức phí tống đạt cụ thể từng văn bản theo mức tối đa
nêu ở trên, các bên cần thỏa thuận cụ thể thế nào là “việc” để làm cơ sở tính phí do
hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau về vấn đề này dẫn đến mỗi địa phương cónhững cách tính phí khác nhau Nội dung này, tác giả sẽ trao đổi chi tiết tại mục 3.5chương 3
2.3 Chủ thể tiến hành thủ tục tống đạt
Căn cứ khoản 1 Điều 24 Nghị định số 61 được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
135 thì thỏa thuận tống đạt được ký kết giữa văn phòng thừa phát lại với cơ quan thihành án dân sự hoặc Tòa án dưới hình thức hợp đồng Như vậy, chủ thể có trách nhiệmtiến hành thủ tục tống đạt là văn phòng thừa phát lại Tuy nhiên, đây là một tổ chứcnên việc tiến hành phải thông qua các nhân sự trong tổ chức này
Theo quy định hiện hành, thừa phát lại và thư ký nghiệp vụ là hai chủ thể đượctrực tiếp tiến hành công việc tống đạt Hai chủ thể này có sự khác nhau về yêu cầu