Đây là Luận văn chuyên sâu duy nhất cho đến thời điểm hiện tại về hoạt động lập vi bằng. Luận văn được thực hiện bởi một người có quá trình công tác lâu dài trong hoạt động thừa phát lại nên rất đang để tham khảo.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
HOÀNG ĐỨC HOÀI
HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
HOÀNG ĐỨC HOÀI
HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã ngành: 60380103
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN TIẾN
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của cá nhân tôi Các số liệu, tài liệu sử dụng để dẫn chiếu, phân tích trong Luận văn có nguồn gốc rõ ràng và đã được công bố theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong Luận văn được tôi tìm hiểu, phân tích một cách khách quan, trung thực
Các kết quả này chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Tác giả
Hoàng Đức Hoài
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT STT Tên viết tắt Tên đầy đủ
1 Nghị định số 61
Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về
tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện
thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh
2 Nghị định số 135
Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi Nghị định số 61/2009/NĐ-CP về tổ chức
và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm
tại Thành phố Hồ Chí Minh
3 Thông tư liên tịch số 09
Thông tư liên tịch số TANDTC-VKSNDTC-BTC ngày 28/02/2014 hướng dẫn thực hiện thí điểm chế định thừa phát
09/2014/TTLT-BTP-lại theo Nghị quyết 36/2012/QH13
Trang 5(http://moj.gov.vn/dtvb/pages/chi-DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC
02 Vi bằng ghi nhận hành vi giao nhận tiền
03 Vi bằng ghi nhận hành vi giao thông báo
04 Vi bằng ghi nhận hiện trạng công trình xây dựng
Trang 6MỤC LỤC
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các phụ lục
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI 9
1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại 9
1.1.1 Khái niệm hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại 9
1.1.2 Đặc điểm hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại 10
1.2 Ý nghĩa của hoạt động lập vi bằng 13
1.3 So sánh hoạt động lập vi bằng với một số hoạt động xác lập chứng cứ khác 16
1.3.1 Với hoạt động chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên 17
1.3.2 Với hoạt động chứng thực 22
1.4 Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại tại Việt Nam từ trước đến nay 25
1.5 Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới 32
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI 38
2.1 Thẩm quyền lập vi bằng 38
2.1.1 Thẩm quyền về đối tượng 38
2.1.2 Thẩm quyền theo lãnh thổ 47
2.2 Hình thức và nội dung chủ yếu của vi bằng 50
2.2.1 Hình thức của vi bằng 50
2.2.2 Nội dung của vi bằng 51
2.3 Thủ tục lập vi bằng 53
2.3.1 Tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng 53
2.3.2 Thỏa thuận lập vi bằng 54
2.3.3 Tiến hành lập vi bằng 56
2.3.4 Đăng ký vi bằng 57
2.3.5 Lưu trữ vi bằng 60
2.3.6 Cấp bản sao vi bằng 60
Trang 72.4 Hiệu lực của vi bằng 61
2.5 Giải quyết tranh chấp liên quan đến hoạt động lập vi bằng 63
CHƯƠNG 3: NHỮNG BẤT CẬP VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA THỪA PHÁT LẠI 67
3.1 Về đối tượng lập vi bằng 67
3.2 Về việc thừa phát lại lập vi bằng liên quan đến hoạt động công chứng, chứng thực 68
3.3 Về địa điểm được lập vi bằng 73
3.4 Về việc ký tên trong vi bằng 75
3.5 Về thủ tục lập vi bằng 76
3.6 Về giá trị pháp lý của vi bằng 93
3.7 Về tranh chấp liên quan đến giá trị pháp lý của lập vi bằng 95
KẾT LUẬN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 14 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XII đã thông qua
Nghị quyết số 24/2008/QH12, trong đó có nội dung “triển khai thực hiện chủ
trương xã hội hoá một số công việc có liên quan đến thi hành án dân sự, giao Chính phủ quy định và tổ chức thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại (Thừa hành viên) tại một số địa phương”, thời gian thí điểm đến ngày 01 tháng 7 năm 2012 Căn cứ
vào Nghị quyết này, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh Các văn phòng thừa phát lại thực hiện 4 chức năng gồm: Tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự và trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự
Tháng 5 năm 2010, 05 văn phòng thừa phát lại đầu tiên của cả nước lần lượt khai trương và chính thức đi vào hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đến năm 2012, số lượng văn phòng thừa phát lại trên cả nước đã tăng lên 8 văn phòng Tuy nhiên, do thời gian thí điểm còn ngắn, chỉ có 8 văn phòng hoạt động thí điểm và tại một địa phương duy nhất được chọn thí điểm là Thành phố Hồ Chí Minh dẫn đến kết quả thí điểm của giai đoạn 2010-2012 chưa đủ cơ sở để Quốc hội đưa ra quyết định là áp dụng hay không áp dụng chính thức mô hình thừa phát lại tại Việt Nam Do đó, Quốc hội khóa XIII tại kỳ họp thứ 4 đã thông qua Nghị quyết
số 36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 kéo dài thời gian thí điểm và cho phép mở rộng phạm vi thí điểm đến một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác
Thực hiện theo Nghị quyết này, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của thừa phát lại thực hiện thí điểm tại Thành phố Hồ Chí Minh Ngày 24/6/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định số 1531/QĐ-BTP mở
Trang 9rộng phạm vi thí điểm chế định thừa phát lại đến 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác ngoài Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long
Ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại, Quốc hội khóa XIII, tại kỳ họp thứ 10 đã ban hành Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26 tháng 11 năm 2015 cho thực hiện chế định thừa phát lại trong phạm vi cả nước kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016
Sau hơn 8 năm được triển khai, Đề án về chế định thừa phát lại đã đạt được những kết quả khả quan Thừa phát lại với chức năng tổ chức thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án giúp người dân có thêm một lựa chọn về cơ quan tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án Với chức năng tống đạt văn bản, thừa phát lại đã hỗ trợ tích cực cho Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự, giúp các thẩm phán, chấp hành viên, thư ký Tòa án và thư ký cơ quan thi hành án có thời gian tập trung vào công việc chuyên môn tại trụ sở cơ quan Đặc biệt, hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại có những kết quả rất khả quan Đây là một phương thức hiệu quả để người dân xác lập chứng cứ, dự phòng rủi ro pháp lý Chỉ tính riêng từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/7/2016, các văn phòng thừa phát lại trên cả nước đã lập được 18.196 vi bằng, thu 20 tỷ 400 triệu 187 nghìn đồng vi bằng1
Tính đến thời điểm hiện tại, chế định thừa phát lại đã được triển khai hơn tám năm, trong đó có hơn ba năm triển khai chính thức Tuy nhiên, dù được áp dụng chính thức nhưng những quy định của pháp luật về thừa phát lại vẫn chưa có gì mới
mà vẫn đang áp dụng theo những quy định được ban hành từ thời gian thí điểm Do
đó, khi áp dụng vào thực tiễn thì phát sinh những bất cập đặt ra yêu cầu nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật, đặc biệt là ở hoạt động lập vi bằng Hiện nay, Chính phủ đang soạn thảo Nghị định mới thay thế các Nghị định cũ về Thừa phát lại
1 Bộ Tư Pháp (2016), Báo cáo tình hình hoạt động thừa phát lại từ sau khi có Nghị quyết số
107/2015/QH13 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại, Hà Nội
Trang 10Chính vì vậy, một đề tài nghiên cứu về “Hoạt động lập vi bằng của thừa phát
lại theo pháp luật Việt Nam” trong giai đoạn này là cần thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Như đã nêu ở trên, nếu so với các nghề luật khác ở Việt Nam thì thừa phát lại là được xem nghề luật non trẻ nhất Do đó, các đề tài, công trình nghiên cứu về nghề luật này hiện nay không nhiều Qua tìm hiểu của tác giả, ở nước ta hiện nay có các
đề tài, công trình nghiên cứu hoặc tài liệu chuyên sâu về thừa phát lại như sau:
- Đề tài khoa học cấp Bộ: Qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy, hiện nay chỉ có
duy nhất đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ mang tên “Cơ sở lý luận và thực tiễn về
chế định thừa phát lại” do tác giả Nguyễn Đức Chính bảo vệ thành công vào năm
1998 Đây là công trình nghiên cứu khá toàn diện về lịch sử chế định thừa phát lại tại Việt Nam trên cơ sở so sánh, đối chiếu với chế định thừa phát lại của các nước trên thế giới Công trình nghiên cứu cũng chứa đựng những cơ sở vững chắc và cho thấy sự hợp lý nếu triển khai trở lại chế định thừa phát lại ở Việt Nam
- Luận văn Thạc sĩ: Tác giả tìm hiểu và thấy có một số đề tài liên quan như:
Đề tài “Thừa phát lại - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” của
tác giả Nguyễn Minh Thuỳ bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội năm 2014 Đây là đề tài
có nội dung nghiên cứu là lý luận, thực tiễn nói chung về cả bốn chức năng của thừa phát lại trong bối cảnh chế định thừa phát lại đang triển khai thí điểm Ngoài ra, tác
giả có tìm hiểu về đề tài “Thừa phát lại trong thi hành án dân sự” của tác giả Phạm
Phúc Thịnh bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2014 Đây là một
đề tài chuyên sâu về hoạt động thi hành án dân sự của thừa phát lại, trong đó tác giả trình bày khá tốt phần lý luận còn về thực tiễn triển khai thì chưa thấy có nhiều số liệu, thông tin để đối chiếu
- Về đề tài nghiên cứu cấp cơ sở: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng
chương trình đào tạo, bồi dưỡng thừa phát lại ở Việt Nam” của TS Lê Thu Hà –
Học viện Tư pháp Với đề tài này, tác giả đã phân tích làm rõ vị trí, vai trò của thừa phát lại; chủ trương của Đảng và Nhà nước trong việc phát triển nghề thừa phát lại
Đề tài cũng đã đánh giá thực tiễn hoạt động thí điểm thừa phát lại tại Thành phố Hồ
Trang 11Chí Minh Đây là đề tài được thực hiện ngay từ những ngày đầu thừa phát lại mới được triển khai thí điểm nên những kiến nghị về hoạt động đào tạo, bồi dưỡng thừa phát lại trong đề tài này đã phần nào được tiếp thu, áp dụng trong giai đoạn hiện nay
- Về sách: Tác giả thấy có sách “Tổ chức thừa phát lại” của tác giả Nguyễn
Đức Chính (chủ biên) xuất bản tại Nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 Các tác giả nghiên cứu chế định thừa phát lại dưới góc độ bao quát nhiều nội dung như: Lịch sử chế định thừa phát lại; cơ sở lý luận cho việc triển khai chế định thừa phát lại; kinh nghiệm triển khai chế định thừa phát lại tại một số nước trên thế giới… Cuốn sách
là sự bổ sung và làm phong phú thêm về mặt lý luận cho đề tài nghiên cứu khoa học
cấp bộ mang tên “Cơ sở lý luận và thực tiễn về chế định thừa phát lại” do chính tác
giả Nguyễn Đức Chính bảo vệ thành công năm 1998 Tác giả cũng tìm thấy cuốn
sách “Sổ tay thừa phát lại” của Bộ Tư pháp xuất bản năm 2010 tại Nhà xuất bản
Thời Đại Đây là cuốn sách có nội dung chủ yếu là trích dẫn và phân tích điều luật
để hướng dẫn nghiệp vụ cho các thừa phát lại và các văn phòng thừa phát lại Ngoài
ra, tác giả cũng tìm thấy sách “Tổ chức và hoạt động của thừa phát lại ở Việt Nam
hiện nay” của tác giả Vũ Hoài Nam xuất bản tại Nhà xuất bản Tư pháp năm 2013
Tác giả Vũ Hoài Nam nghiên cứu chế định thừa phát lại này dưới góc độ lý luận về bốn chức năng của thừa phát lại theo quy định của pháp luật Tại thời điểm nghiên cứu thì chế định thừa phát lại đã được triển khai thí điểm được hơn 3 năm nên tác giả Vũ Hoài Nam đã có những tư liệu, thông tin về thực tiễn nhằm đối chiếu với quy định của pháp luật, phát hiện bất cập và đề xuất hướng hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về thừa phát lại
- Bài báo khoa học: Tác giả tìm thấy có một số bài báo khoa học như sau:
“Suy nghĩ về chế định thừa phát lại” của tác giả Phan Thông Anh đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp - Văn phòng Quốc hội, số 4/2002, tr.17 – 19; “Chế định thừa
phát lại : Lịch sử ra đời và yêu cầu đổi mới theo tinh thần cải cách tư pháp” của tác
giả Nguyễn Văn Nghĩa đăng trên tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, số
5/2006, tr 39 – 43; “Nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự và xác minh điều kiện
Trang 12thi hành án của thừa phát lại” của tác giả Nguyễn Tiến Pháp đăng trên tạp chí Dân
chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp, số 11/2012, tr.55 – 58; “Một số vấn đề về tổ chức và
hoạt động của thừa phát lại ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Vũ Hoài Nam đăng
trên tạp chí Nghề Luật - Học viện Tư pháp, số 6/2012, tr.26 – 28 Các bài báo nêu trên nghiên cứu một hoặc một số nội dung về chế định thừa phát lại Tuy nhiên, không có nghiên cứu nào trực tiếp và chuyên sâu về hoạt động lập vi bằng
Tóm lại, đa số các tác phẩm vừa nêu ra đời trước thời điểm thừa phát lại được
áp dụng chính thức trên cả nước và đối tượng nghiên cứu chủ yếu là cả bốn chức năng của thừa phát lại, phạm vi nghiên cứu ở mức khái quát Tác phẩm nào nghiên cứu chuyên biệt về một hoặc một số chức năng của thừa phát lại thì tập trung ở chức năng tổ chức thi hành án và xác minh điều kiện thi hành án Còn hoạt động lập vi bằng với tư cách là một đối tượng nghiên cứu độc lập thì chưa có tác giả nào nghiên cứu, thực hiện Do đó, một công trình nghiên cứu riêng về chức năng này bổ sung vào danh mục các tài liệu về thừa phát lại là cần thiết
4 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại, quy định của pháp luật hiện tại về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại và thực tiễn áp dụng những quy định này
- Về phạm vi nghiên cứu: Tác giả chỉ nghiên cứu về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại Tác giả không nghiên cứu về hoạt động công chứng theo Luật công chứng năm 2014 và hoạt động chứng thực theo Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng
Trang 13thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch nhưng tác giả có so sánh hai hoạt động này với hoạt động lập vi bằng để làm rõ nội dung của đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp phân tích là phương pháp được sử dụng chủ yếu xuyên suốt luận văn từ chương 1 đến chương 3 Tại chương 1, phương pháp này được sử dụng
để phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận về khái niệm, đặc điểm của hoạt động lập vi bằng Tại chương 2, phương pháp này được sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật về hoạt động lập vi bằng Tại chương 3, phương pháp này được sử dụng
để phân tích những bất cập về quy định của pháp luật và phân tích, làm rõ các giải pháp mà tác giả đề xuất
- Phương pháp so sánh, đối chiếu được sử dụng để so sánh hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại với hoạt động công chứng và chứng thực tại mục 1.3 của chương 1; so sánh hoạt động lập vi bằng ở Việt Nam giai đoạn trước ngày 30/4/1975 và giai đoạn từ ngày 30/4/1975 đến nay tại mục 1.4 của chương 1; so sánh hoạt động lập vi bằng theo pháp luật của một số nước trên thế giới tại mục 1.5 của chương 1
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng ngay sau phương pháp phân tích nhằm tổng hợp các đặc điểm của hoạt động lập vi bằng nêu tại mục 1.1.2 của chương 1, tổng hợp các quy định của pháp luật nêu tại chương 2 và đề ra các giải pháp khắc phục bất cập nêu tại chương 3 Ngoài ra, phương pháp này cũng được sử dụng để kết luận mỗi chương
Các phương pháp nêu trên thực hiện trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và đường lối, chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam
6 Ý nghĩa của đề tài
Nội dung chủ yếu của đề tài là trình bày những vấn đề cơ bản, có hệ thống, đánh giá những ưu điểm và hạn chế của pháp luật về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại Thông qua nghiên cứu các vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về hoạt
Trang 14động này, tác giả đưa ra những bất cập và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập vi bằng Do đó, luận văn có ý nghĩa sau:
- Ý nghĩa đối với lý luận: Phân tích một số vấn đề lý luận liên quan đến hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại, trên cơ sở đó làm phong phú thêm những lý luận liên quan đến hoạt động này
- Ý nghĩa đối với pháp luật: Trên cơ sở phân tích những bất cập quy định của pháp luật về thừa phát lại, tác giả đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định này
- Ý nghĩa đối với thực tiễn: Là tài liệu hữu ích đối với các sinh viên, học viên chuyên ngành luật, các văn phòng thừa phát lại, Tòa án, cơ quan thi hành án và các cơ quan, tổ chức khác có quan tâm đến vấn đề này
7 Bố cục đề tài
Với tên đề tài là “Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại theo pháp luật Việt
Nam”, bố cục của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài
liệu tham khảo thì được chia thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Trong chương này, tác giả tập trung làm rõ khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại Tác giả cũng tiến hành so sánh hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại với một số hoạt động xác lập chứng cứ khác Đồng thời, tác giả cũng nghiên cứu về hoạt động lập vi bằng ở một số nước trên thế giới
và của Việt Nam Kết quả nghiên cứu ở chương này là cơ sở để phân tích, đánh giá những quy định của pháp luật về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại mà tác giả
sẽ trình bày tại chương 2 của Luận văn
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Trong chương này, tác giả sẽ nêu, phân tích các quy định chủ yếu của pháp luật
về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại bao gồm: Thẩm quyền lập vi bằng theo
vụ việc; thẩm quyền lập vi bằng theo lãnh thổ; hình thức và nội dung chủ yếu của vi bằng; thủ tục lập vi bằng; hiệu lực của vi bằng; giải quyết tranh chấp liên quan đến
Trang 15hoạt động lập vi bằng Kết quả nghiên cứu ở chương này là cơ sở để phản biện, bình luận về những bất cập nêu tại chương 3
Chương 3: Những bất cập và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Trên nền tảng lý luận tại chương 1 và quy định của pháp luật tại chương 2, tác giả phát hiện, bình luận những bất cập về quy định của pháp luật liên quan đến hoạt
động lập vi bằng của thừa phát lại và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện
Trang 16CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP VI BẰNG CỦA
THỪA PHÁT LẠI 1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
1.1.1 Khái niệm hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Khái niệm thừa phát lại
Thuật ngữ “thừa phát lại” là một thuật ngữ có gốc Hán - Việt “Thừa” có nghĩa
là “thừa lệnh, tuân theo lệnh của cấp trên”; “phát” có nghĩa là “phát ra, gửi đi
hoặc giao cho ai vật gì”; “lại” nghĩa là “công lại” Theo “Hán – Việt từ điển” của
Đào Duy Anh thì thừa phát lại là “người thuộc lại của Tòa án sơ cấp hay Tòa án
địa phương, giữ việc phát tống các văn thư, chấp hành điều phán quyết của Tòa án, hay là thu một sản vật” 2 Theo Đại từ điển Tiếng Việt thì thừa phát lại là “Viên
chức chuyên việc chuyển đạt mệnh lệnh của toà trong việc thi hành các bản án” 3
Từ điển Tiếng Việt thì định nghĩa thừa phát lại là “Trưởng toà, người có tư cách
chuyển đạt, thi hành các án toà, lập vi bằng những vụ phạm phép tại trận”4
Dưới góc độ luật học, thừa phát lại được định nghĩa là “Viên chức chuyên việc
tống đạt giấy tờ và thi hành phán quyết của Toà án hay thu hồi một sản vật”5
Tuy có cách diễn đạt khác nhau nhưng các tài liệu nêu trên đều định nghĩa thừa
phát lại là người không phải là “công lại”, không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước nhưng lại thực hiện một số công việc mang tính chất quyền lực nhà nước Đây
được xem là một chức danh phụ tá pháp lý cho Toà án
Dưới góc độ quy định của pháp luật, khoản 1 Điều 2 Nghị định số 61 quy định:
“Thừa phát lại là người được Nhà nước bổ nhiệm để làm các công việc về thi hành
án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác theo quy định của Nghị định và pháp luật có liên quan” Theo quy định này, chức danh thừa phát lại
mang hai đặc trưng: Thứ nhất, đây là người được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
4 Viện Ngôn Ngữ (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Hồng Đức, tr.977-978
5 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.756
Trang 17bổ nhiệm theo trình tự, thủ tục nhất định khi đáp ứng tiêu chuẩn quy định; thứ hai, thừa phát lại là người thực hiện các công việc mang tính quyền lực Nhà nước gồm thi hành án dân sự, tống đạt giấy tờ, lập vi bằng và các công việc khác6
Khái niệm vi bằng
Đây là một thuật ngữ được sử dụng từ thời điểm chế định thừa phát lại mới du nhập vào nước ta thời Pháp thuộc Đến khi chế định thừa phát lại được áp dụng trở lại ở nước ta, thuật ngữ này vẫn được tiếp tục sử dụng Theo Từ điển Tiếng Việt thì
vi bằng có nghĩa động từ là “làm bằng, dùng làm chứng cứ”, nghĩa danh từ là “Biên
bản, tờ giấy ghi qua một việc vừa xảy ra với tất cả chi tiết, có chữ ký tên của những người chứng và nhà đương cuộc”7 Từ điển Hán – Việt hiện đại cũng có quan điểm
tương tự khi định nghĩa vi bằng là “dùng làm bằng chứng”8
Căn cứ vào Điều 2 Nghị định số 61, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số
135 thì “vi bằng là văn bản do thừa phát lại lập, ghi nhận sự kiện, hành vi được
dùng làm chứng cứ trong xét xử và trong các quan hệ pháp lý khác” Khoản 2 Điều
26 Nghị định số 61 cũng quy định “vi bằng chỉ ghi nhận những sự kiện, hành vi mà
thừa phát lại trực tiếp chứng kiến; việc ghi nhận phải khách quan, trung thực”
Từ phân tích trên, hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại là hoạt động của tổ chức có tính chất công nhằm ghi nhận, chứng kiến các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của khách hàng theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy định
1.1.2 Đặc điểm hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Hoạt động lập vi bằng được thực hiện bởi thừa phát lại có những đặc điểm riêng
để phân biệt với các hoạt động khác gồm:
Thứ nhất, là hoạt động bổ trợ tư pháp
Theo định nghĩa tại Từ điển Luật học thì “Bổ trợ tư pháp là trợ giúp, tạo điều
kiện cho hoạt động tư pháp tiến hành thuận lợi, nhanh chóng, chính xác bằng cách cung cấp hồ sơ, chứng cứ, phản biện cho các khâu, đoạn trong quá trình điều tra,
6 Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ
7 Viện Ngôn Ngữ (2007), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách Khoa, tr.1149
8 Trần Thị Thanh Liêm (2007), Từ điển Hán - Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, tr.782.
Trang 18truy tố, xét xử, đồng thời giúp cho các cá nhân, công dân, tổ chức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”9
Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại là hoạt động xác lập chứng cứ Khi thực hiện công việc này, thừa phát lại với tư cách là người được Nhà nước trao quyền chứng kiến các sự kiện, hành vi để xác lập nên vi bằng Vi bằng là sản phẩm của hoạt động lập vi bằng, chứa đựng các thông tin về sự kiện, hành vi mà thừa phát lại trực tiếp chứng kiến Trong hoạt động giải quyết vụ việc tại Tòa án, vi bằng giúp Tòa án xác định được sự thật khách quan đã diễn ra mà không phải mất nhiều thời gian để thu thập, xem xét, đánh giá chứng cứ, qua đó rút ngắn được thời gian giải quyết vụ việc Đối với luật sư, hoạt động lập vi bằng đóng vai trò là công cụ, phương tiện để luật sư thu thập chứng cứ, phản biện với bên đối lập, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp cho khách hàng Đối với lĩnh vực công chứng, hoạt động lập vi
bằng “bổ khuyết” cho hoạt động này khi công chứng viên không có thẩm quyền
chứng nhận hết tất cả quá trình giao dịch giữa các bên
Đối với người dân, doanh nghiệp, hoạt động lập vi bằng có ý nghĩa tạo lập, lưu giữ chứng cứ về giao dịch, qua đó giúp các bên thêm tin tưởng lẫn nhau, tích cực tiến hành và thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Khi phát sinh mâu thuẫn, bất đồng, các bên có vi bằng kiểm tra, đối chứng nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, tự giải quyết mâu thuẫn, bất đồng mà không phải yêu cầu Tòa án, Trọng tài thương mại giải quyết Hai cơ quan này vì thế mà cũng được giảm tải công việc
Do đó, hoạt động lập vi bằng có vai trò là một hoạt động bổ trợ tư pháp, trợ giúp đắc lực cho hoạt động của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp khác
Thứ hai, do thừa phát lại trực tiếp thực hiện
Sau khi tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng của đương sự, thừa phát lại phải trực tiếp chứng kiến, lập vi bằng mà không được giao lại cho thư ký hay ủy quyền cho bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào khác thực hiện
Điều này xuất phát từ hai lý do: Một là, chỉ có người trực tiếp chứng kiến toàn
bộ sự việc mới có đầy đủ thông tin để xác lập một văn bản ghi nhận lại những gì
9 Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa & Nxb Tư pháp, tr.72
Trang 19mình làm chứng, khẳng định nội dung đó là sự thật, khách quan; hai là, vi bằng là một tài liệu có giá trị chứng cứ, vậy nên chủ thể xác lập phải là người có đủ tư cách pháp lý tức được Nhà nước bổ nhiệm và đạt một trình độ chuyên môn nhất định, đủ điều kiện để thực hiện hoạt động này Do đó, chỉ có thừa phát lại mới có thẩm quyền lập vi bằng
Khi lập vi bằng, thừa phát lại phải là người trực tiếp có mặt, chứng kiến toàn bộ
sự kiện, hành vi, ghi chép các thông tin Sau đó, thừa phát lại soạn thảo vi bằng, ký
hồ sơ vi bằng, cam đoan về tính xác thực, khách quan về những sự kiện, hành vi mà mình mô tả trong vi bằng Trong quá trình này, thừa phát lại có thể yêu cầu thư ký nghiệp vụ hỗ trợ (quay phim, chụp hình, đo đạc, ghi chép, soạn thảo vi bằng); mời các bên khác tham gia (đơn vị giám định, đại diện của chính quyền địa phương, người phiên dịch) nếu thấy cần thiết nhưng thừa phát lại là người duy nhất chịu trách nhiệm về tính xác thực của các hành vi, sự kiện nêu trong vi bằng
Thứ ba, được thực hiện theo một trình tự, thủ tục theo luật định
Các hoạt động xảy ra thường xuyên, mang tính chất pháp lý, ảnh hưởng đến quyền lợi của các chủ thể khác dù là do cơ quan nhà nước hay tổ chức tư nhân thực hiện thì thường được pháp luật quy định về trình tự, thủ tục để các chủ thể có liên quan thực hiện Hoạt động lập vi bằng cũng không ngoại lệ Đây là một công việc mang tính chất công nhằm ghi nhận các thông tin để xác lập chứng cứ nhưng được Nhà nước trao quyền cho tư nhân thực hiện Vi bằng được Tòa án và các bên sử dụng làm cơ sở xác định quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan Như vậy, đây là văn bản rất quan trọng trong lĩnh vực tư pháp và trong đời sống giao dịch Do đó, hoạt động lập vi bằng cần được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nhất định để đảm bảo sự chặt chẽ và hợp pháp Về cơ bản, thủ tục lập vi bằng trải qua các bước gồm: Tiếp nhận yêu cầu lập vi bằng; thỏa thuận về việc lập vi bằng; tiến hành lập vi bằng; bàn giao và lưu trữ vi bằng
Ngoài ra, trường hợp vi bằng cần có xác nhận hoặc đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì thừa phát lại cũng phải thực hiện thủ tục này thì vi bằng mới phát sinh hiệu lực
Trang 20Thứ tư, vi bằng phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
Đăng ký vi bằng là hoạt động mà thừa phát lại khai báo với cơ quan có thẩm quyền về vi bằng mà mình đã lập Hiện nay, trong quản lý hành chính, chúng ta có nhiều thủ tục liên quan đến việc đăng ký với cơ quan có thẩm quyền như đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư, đăng ký tạm trú, đăng ký giao dịch bảo đảm… Việc đăng ký này tùy từng trường hợp mà có những mục đích, ý nghĩa khác nhau nhưng tất cả các thủ tục này đều có điểm chung là nhằm để cung cấp cho cơ quan có thẩm quyền thông tin của một hoạt động cụ thể để quản lý Việc đăng ký vi bằng cũng có mục đích tương tự là để cung cấp cho cơ quan quản lý các thông tin về vi bằng được xác lập, giúp Nhà nước kiểm soát hoạt động lập vi bằng
Hiện nay, Sở Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận hồ sơ đăng ký vi bằng Sở Tư pháp là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện các công việc theo phân công, trong đó có việc quản lý các chức danh bổ trợ tư pháp Thừa phát lại là một chức danh bổ trợ tư pháp; hoạt động lập vi bằng là một hoạt động bổ trợ tư pháp Do đó, Sở Tư pháp là cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận
hồ sơ đăng ký các vi bằng do thừa phát lại lập
Về phương thức, trình tự đăng ký vi bằng, khoản 4 Điều 26 Nghị định số 61 quy định vi bằng được lập thành 03 bản chính: 01 bản giao người yêu cầu; 01 bản gửi Sở Tư pháp để đăng ký trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày lập vi bằng;
01 bản lưu trữ tại văn phòng thừa phát lại theo quy định của pháp luật về chế độ lưu trữ đối với văn bản công chứng Theo quy định này, thừa phát lại sẽ nộp một bản chính vi bằng để đăng ký tại Sở Tư pháp Đây là hình thức nộp hồ sơ trực tiếp, truyền thống Theo tác giả, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và nỗ lực cải cách hành chính của Nhà nước ta, thủ tục đăng ký vi bằng có thể thực hiện trực tuyến Đến một thời điểm nhất định, khi pháp luật về chế định thừa phát lại đã chặt chẽ và thừa phát lại đã khẳng định được uy tín của mình trong xã hội thì có thể bỏ thủ tục đăng ký vi bằng Ở Cộng hòa Pháp, vi bằng do thừa phát lại lập không phải đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền
1.2 Ý nghĩa của hoạt động lập vi bằng
Trang 21Thứ nhất, là phương thức giúp công dân bảo vệ quyền trong các quan hệ pháp luật và tại Tòa án
Xã hội càng phát triển, quan hệ xã hội ngày càng đa dạng, từ đó dễ phát sinh các tranh chấp, mâu thuẫn ảnh hưởng quyền lợi của các cá nhân, cơ quan, tổ chức
Do đó, các chủ thể có nhu cầu sử dụng các phương thức cần thiết, phù hợp để bảo
vệ quyền lợi của mình phù hợp với những hoàn cảnh cụ thể Ví dụ, để tránh tranh chấp việc mua bán nhà thì các bên có nhu cầu nhờ một bên thứ ba được Nhà nước trao quyền (công chứng viên) để chứng nhận hợp đồng mua bán này; để bảo vệ quyền lợi của mình tại Tòa án thì các bên có nhu cầu nhờ một người có chuyên môn
về lĩnh vực pháp luật (luật sư) thực hiện công việc này Tương tự, khi cần lưu giữ lại chứng cứ về một vấn đề gì thì các bên có nhu cầu nhờ một người có chuyên môn
để làm chứng, xác lập chứng cứ Lập vi bằng là hoạt động được thực hiện bởi một người có trình độ, chuyên môn pháp lý và được Nhà nước bổ nhiệm để chuyên ghi nhận các sự kiện, hành vi hoặc hiện trạng làm chứng cứ Do đó, đây là phương thức
mà các bên có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu của mình
Vi bằng ban đầu chỉ đơn thuần là một tài liệu lưu giữ chứng cứ, có giá trị dự phòng giúp các bên đạt được sự tin cậy lẫn nhau, thúc đẩy các quan hệ trong xã hội phát triển Trường hợp có tranh chấp, mâu thuẫn thì đây là tài liệu để các bên đối chứng, kiểm tra và thỏa thuận với nhau về quyền, nghĩa vụ giữa các bên Nếu vụ việc tranh chấp được Tòa án thụ lý, vi bằng là tài liệu được các bên cung cấp cho Tòa án, dùng để phản bác các lập luận của bên đối lập, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Do đó, yêu cầu thừa phát lại lập vi bằng là phương thức giúp công dân bảo vệ quyền trong các quan hệ pháp luật và tại Tòa án
Thứ hai, là hoạt động xác lập và lưu giữ chứng cứ
Chứng cứ đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động xét xử của Tòa án Để tiếp cận sự thật khách quan và làm sáng tỏ nội dung vụ việc thì phải có chứng cứ để xem xét, đối chiếu Chứng cứ có được thông qua quá trình thu thập chứng cứ Tuy nhiên, trước khi có chứng cứ để thu thập, chứng cứ phải hình thành, tồn tại bằng
Trang 22cách xác lập chứng cứ Do đó, xác lập chứng cứ là bước đầu tiên và rất quan trọng tạo nguồn để thu thập chứng cứ về sau
Xác lập chứng cứ là công việc tạo ra chứng cứ bằng các công việc như thu thập, lưu giữ, đánh giá thông tin có liên quan đến vụ việc theo trình tự, thủ tục nhất định Kết quả của hoạt động này dẫn đến việc hình thành nguồn chứng cứ, là nơi thu, nhận được chứng cứ Ví dụ, chứng nhận hợp đồng, giao dịch là hoạt động xác lập chứng cứ của công chứng viên; hoạt động này tạo ra văn bản công chứng, là một loại nguồn chứng cứ Lập vi bằng là hoạt động thu thập các thông tin có thật, đã xảy
ra của các sự kiện, hành vi nên có ý nghĩa xác lập chứng cứ về vụ việc có liên quan đến sự kiện, hành vi được lập vi bằng
Lưu giữ chứng cứ là hoạt động nhằm bảo quản chứng cứ để sử dụng khi cần thiết Chứng cứ đã được hình thành, tồn tại mà chưa được sử dụng ngay thì cần phải được lưu giữ, bảo quản Bất kỳ một hoạt động xác lập chứng cứ nào cũng dẫn đến việc lưu giữ chứng cứ thông qua kết quả mà hoạt động đó tạo ra Kết quả này là hình thức chứa đựng, lưu giữ chứng cứ Khi lập vi bằng, thừa phát lại sử dụng các giác quan, phương tiện hỗ trợ để chứng kiến các sự kiện, hành vi theo yêu cầu của khách hàng nhưng để hoạt động này có ý nghĩa trên thực tế thì nó phải được thể hiện bởi một kết quả cụ thể, đó là văn bản vi bằng Như vậy, vi bằng là tài liệu thừa phát lại sử dụng để lưu giữ chứng cứ do mình xác lập và để chuyển tải những thông tin mà thừa phát lại đã chứng kiến đến chủ thể sử dụng vi bằng
Xác lập chứng cứ và lưu giữ chứng cứ là hai hoạt động gắn liền, nối tiếp nhau
và không tách rời Quá trình chứng minh trong tố tụng bao gồm các bước là thu thập, cung cấp, kiểm tra và đánh giá chứng cứ nhưng đều diễn ra sau hoạt động xác lập và lưu giữ chứng cứ Như vậy, xác lập chứng cứ và lưu giữ chứng cứ là tiền đề cho quá trình chứng minh trong tố tụng
Khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì đương sự có quyền khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Tuy nhiên, họ cũng có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp Nếu không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp chứng cứ không thuyết phục thì
Trang 23họ sẽ phải chịu hậu quả do việc không chứng minh được Trước khi chế định thừa phát lại được triển khai trở lại ở nước ta, các đương sự không có một cơ chế, công
cụ hay phương tiện nào để thu thập thông tin, xác lập chứng cứ một cách hữu hiệu, bảo vệ quyền lợi của mình Khi đó, các chủ thể muốn ghi nhận thông tin, xác lập chứng cứ, đương sự phải trông chờ vào cơ quan nhà nước hoặc tự mình thực hiện Tuy nhiên, cả hai phương thức này có nhiều hạn chế
Các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ hành chính của mình theo quy định và không có cơ quan nào có chức năng chuyên biệt về hoạt động làm chứng Do đó, mỗi cơ quan khi nhận được đề nghị xác lập, thu thập hoặc cung cấp
chứng cứ thì sẽ tự thực hiện một trình tự, thủ tục riêng nên “tính xác thực, tính
trung thực của chứng cứ là không đồng đều, không có sự đảm bảo chắc chắn” 10 Thông thường, các cơ quan này sẽ lập biên bản về vụ việc và yêu cầu các bên ký tên vào biên bản Việc một trong các bên từ chối ký tên vào biên bản có nghĩa là họ không xác nhận hoặc không đồng ý với sự việc được nêu trong biên bản Do đó, nếu đương sự sử dụng các biên bản này để chứng minh thì dễ bị bên đối lập phản bác Ngoài ra, thủ tục yêu cầu các cơ quan nhà nước can thiệp, hỗ trợ cũng mất nhiều thời gian và các cơ quan này cũng chỉ làm việc vào giờ hành chính, không đáp ứng được tính kịp thời của việc xác lập chứng cứ
Trường hợp đương sự tự mình xác lập chứng cứ thì việc phải tự chứng minh tính khách quan, trung thực của các tài liệu thu thập được là thách thức rất lớn đối với họ bởi chính họ là một bên đối lập trong vụ việc tranh chấp cần thu thập chứng
cứ Do đó, sự ra đời của một cơ quan có chức năng chuyên làm chứng và được pháp luật công nhận giúp giải quyết bất cập nêu trên Ngoài ra, thời gian được phép lập vi bằng không bị giới hạn; địa điểm mà một văn phòng thừa phát lại được phép lập vi bằng được mở rộng nên hoạt động lập vi bằng đảm bảo được yêu cầu xác lập và lưu giữ chứng cứ kịp thời của đương sự
1.3 So sánh hoạt động lập vi bằng với một số hoạt động xác lập chứng cứ khác
10 Bộ Tư pháp (2014), Một số vấn đề về chế định thừa phát lại”, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.20
Trang 241.3.1 Với hoạt động chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên
Căn cứ khoản 1 Điều 2 Luật công chứng năm 2014 thì “Công chứng là việc
công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Trong phạm vi
nghiên cứu của đề mục này, tác giả chỉ so sánh hoạt động lập vi bằng với hoạt động chứng nhận hợp đồng, giao dịch của công chứng viên (không bao gồm hoạt động công chứng bản dịch) Đây là hoạt động xác lập chứng cứ được tiến hành bởi công chứng viên và có một số điểm tương đồng với hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại
Về chủ thể
Vi bằng do thừa phát lại lập còn văn bản công chứng được công chứng viên chứng nhận Điểm chung của hai hoạt động này là đều do những người có tiêu chuẩn, trình độ chuyên môn nhất định trực tiếp thực hiện và không kiêm nhiệm Cụ thể, thừa phát lại và công chứng viên đều là người có trình độ cử nhân luật trở lên,
đã có một quãng thời gian công tác pháp luật trước khi được bổ nhiệm, trải qua lớp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn theo quy định và được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm Khi thực hiện công chứng, lập vi bằng, họ phải trực tiếp thực hiện, không được ủy quyền hoặc giao cho người khác làm thay
Một vài điểm khác nhau là: Công chứng viên phải trải qua quá trình tập sự trước khi được bổ nhiệm còn thừa phát lại thì không; một luật sư có thể được bổ nhiệm thừa phát lại ngay sau khi trải qua lớp tập huấn nhưng muốn miễn đạo tạo và được bổ nhiệm công chứng viên thì ngoài trải qua lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công chứng (hình thức tương tự lớp tập huấn thừa phát lại) thì phải có thời gian hành nghề luật sư từ 05 năm trở lên
Về đối tượng
Trang 25Hoạt động công chứng có đối tượng là hợp đồng, giao dịch Những hợp đồng, giao dịch này được pháp luật quy định bắt buộc phải công chứng hoặc pháp luật không bắt buộc nhưng các bên tự nguyện yêu cầu công chứng Đối tượng tác động của hoạt động lập vi bằng rất đa dạng, có thể liên quan trực tiếp đến hợp đồng, giao dịch tương tự đối tượng được công chứng viên chứng nhận nhưng cũng có thể không liên quan đến hợp đồng, giao dịch Ví dụ: Công chứng viên chứng nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hành
vi giao nhận tiền giữa các bên để thực hiện điều khoản thanh toán nêu trong hợp đồng; công chứng viên chứng nhận hợp đồng mua bán xe, thừa phát lại lập vi bằng ghi nhận hành vi bàn giao xe giữa các bên
Đối tượng được thừa phát lại lập vi bằng nhưng không liên quan trực tiếp đến hợp đồng, giao dịch như sự kiện họp đại hội đồng cổ đông, hiện trạng nhà bị lún do nhà hàng xóm thi công, bài đăng trên trang thông tin điện tử
Tuy có điểm tương đồng, nhưng thoả thuận dịch vụ giữa hai hoạt động này có
sự khác nhau về nội dung thỏa thuận và phí dịch vụ Về nội dung, thỏa thuận lập vi
11 Thông tư liên tịch số 09
Trang 26bằng của thừa phát lại là một hợp đồng với nhiều điều khoản ràng buộc, chi tiết về phạm vi và đối tượng lập vi bằng; phiếu yêu cầu công chứng có nội dung đơn giản hơn, chủ yếu là nội dung đề nghị công chứng và liệt kê các giấy tờ do đương sự cung cấp Về phí dịch vụ, pháp luật đã quy định biểu phí công chứng và biểu phí này được tổ chức công chứng công khai tại trụ sở nên thông thường các bên không thỏa thuận mà khách hàng đã ngầm chấp nhận phí này khi yêu cầu công chứng; ngược lại, thỏa thuận lập vi bằng thì quy định rất rõ, chi tiết về phí dịch vụ lập vi bằng vì theo quy định, đây là nội dung do văn phòng thừa phát lại thoả thuận với khách hàng
Vi bằng gồm phần nội dung vi bằng do thừa phát lại lập và các tài liệu đính kèm khác mà thừa phát lại thu thập được trong quá trình lập vi bằng Thừa phát lại và các bên tham gia đều ký tên đầy đủ vào vi bằng Tài liệu đính kèm này rất đa dạng bao gồm: Hình ảnh, thiết bị lưu trữ chứa tập tin hình ảnh, tập tin ghi âm, biên bản làm việc giữa các bên… Thừa phát lại thường xuyên đính kèm các tài liệu này nhằm minh chứng cho nội dung của vi bằng là đúng sự thật, khách quan Càng về sau, thừa phát lại càng chú trọng đính kèm các tài liệu mà thừa phát lại ghi nhận, thu thập được đồng thời hạn chế sử dụng từ ngữ mô tả trong vi bằng
Về nội dung
Vi bằng là lời làm chứng đơn phương của thừa phát lại ghi nhận những sự kiện, hành vi có thực, đã xảy ra theo sự chứng kiến của thừa phát lại nhưng không khẳng
Trang 27định, đánh giá tính hợp pháp hoặc quan hệ nguyên nhân, kết quả của các sự kiện, hành vi này Hoạt động công chứng thì khác, đó là hành vi của công chứng viên chứng nhận, bảo đảm tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Hay nói cách khác, công chứng viên khi công chứng phải thực hiện hai công việc là xác nhận tính có thực, và xác nhận tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch Thừa phát phát lại chỉ làm một công việc là xác nhận tính có thực của sự kiện, hành vi Do phải xác nhận tính có thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch nên trước khi công chứng, công chứng viên được quyền yêu cầu các chủ thể liên quan cung cấp các thông tin cần thiết như giấy tờ tùy thân, giấy tờ về đối tượng của hợp đồng, giao dịch Ngược lại, thừa phát lại không được quyền yêu cầu các bên liên quan (ngoại trừ người yêu cầu lập vi bằng) cung cấp các thông tin tương tự Do đó, các thông tin
về tài sản, nhân thân của chủ thể khác (nếu có) ở trong vi bằng thường không đầy
đủ
Ngoài ra, phần thông tin có giá trị để sử dụng từ kết quả của hoạt động công chứng chính là nội dung hợp đồng, giao dịch được các đương sự giao kết, xác lập (văn bản do khách hàng lập) Nhưng thông tin có giá trị sử dụng từ kết quả hoạt động lập vi bằng chính là nội dung vi bằng (văn bản do thừa phát lại lập)
Về giá trị pháp lý
Vi bằng do thừa phát lại lập có giá trị chứng cứ để Toà án xem xét giải quyết vụ
án Trong một vụ việc được Tòa án thụ lý, các bên đều có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh yêu cầu của mình là hợp pháp, phản bác lại lập luận của bên đối lập Vi bằng của thừa phát lại chứa đựng các thông tin có thật, khách quan nên được các bên sử dụng để chứng minh, Tòa án cũng sử dụng để xem xét, đánh giá vụ việc và đưa ra phán quyết phù hợp với quy định của pháp luật Ngoài ra, vi bằng còn là căn cứ để thực hiện các giao dịch pháp lý khác theo quy định của pháp luật Trên thực tiễn, vi bằng được lập chủ yếu nhằm mục đích lưu giữ chứng cứ để phòng ngừa tranh chấp tại Tòa án Ví dụ, các bên yêu cầu lập vi bằng
về hiện trạng nhà ở trước khi cho thuê nhằm tránh tranh chấp hiện trạng nhà sau khi
Trang 28kết thúc thời hạn thuê; vi bằng về việc giao nhận tiền mua bán nhà nhằm phòng ngừa tranh chấp về việc thanh toán của giao dịch mua bán nhà
Văn bản công chứng vừa có giá trị chứng cứ vừa có giá trị thi hành Thực tiễn cho thấy, giá trị thi hành của văn bản công chứng được sử dụng thường xuyên hơn giá trị chứng cứ tại Tòa án Các bên yêu cầu công chứng viên công chứng hợp đồng, giao dịch là để xác lập, tiến hành và hoàn tất các thoả thuận, giao dịch của mình Ví
dụ, việc công chứng hợp đồng mua bán căn hộ chung cư nhằm ghi nhận việc chuyển giao quyền sở hữu căn hộ giữa các bên, đồng thời để các bên hoàn tất thủ tục đóng thuế thu nhập, lệ phí trước bạ và đăng ký giấy chứng nhận sang tên người mua, nếu chậm trễ sẽ bị phạt theo quy định
Về phí dịch vụ
Căn cứ Điều 66, Điều 67 và Điều 68 của Luật Công chứng năm 2014 thì có ba loại chi phí trong hoạt động công chứng là: Phí công chứng, thù lao công chứng (soạn thảo hợp đồng, giao dịch, đánh máy, sao chụp, dịch giấy tờ, văn bản ) và các chi phí khác (như xác minh, giám định, công chứng ngoài trụ sở…) Trong đó, phí công chứng được quy định thành biểu phí chi tiết theo từng hợp đồng, giao dịch áp dụng cho tất cả các tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước Thù lao công chứng do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành theo mức trần và áp dụng cho các tổ chức hành nghề công chứng có trụ sở trong địa bàn tỉnh, thành đó Các chi phí khác
do tổ chức hành nghề công chứng và người yêu cầu công chứng thỏa thuận trên cơ
sở bảng nguyên tắc tính phí do chính tổ chức công chứng tự quy định và niêm yết Phí dịch vụ lập vi bằng do văn phòng thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng thỏa thuận trên cơ sở khung giá do văn phòng thừa phát lại tự quy định và niêm yết Như vậy, quy định về phí dịch vụ lập vi bằng là tương tự với chi phí khác trong hoạt động công chứng (loại chi phí thứ ba được liệt kê ở trên)
Trang 29nơi văn phòng thừa phát lại đặt trụ sở (thông qua thủ tục đăng ký vi bằng); văn bản công chứng không bị giới hạn về số lượng bản chính được lập nên có thể được lưu trữ ở nhiều nơi phụ thuộc vào số bản chính được lập và số lượng các bên liên quan tham gia giao dịch được công chứng nhưng về cơ bản, văn bản công chứng đươc lưu trữ bởi hai chủ thể là tổ chức hành nghề công chứng và khách hàng của tổ chức hành nghề công chứng Ngoài ra, tuy không được một bên thứ ba lưu trữ như một thủ tục bắt buộc như hoạt động lập vi bằng nhưng hoạt động công chứng có hình thức lưu trữ riêng thông qua cơ sở dữ liệu công chứng theo quy định tại Điều 62
Luật Công chứng năm 2014
1.3.2 Với hoạt động chứng thực
Theo quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ thì chứng thực bao gồm ba hoạt động là: Chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch Trong phạm vi đề mục này, tác giả tiến hành so sánh hoạt động lập vi bằng với hoạt động chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch bởi các hoạt động này có những nét tương đồng cần phân biệt để tránh nhầm lẫn
Về chủ thể
Công việc lập vi bằng chỉ do duy nhất thừa phát lại thực hiện Hoạt động chứng thực được thực hiện bởi nhiều chức danh thuộc nhiều cơ quan khác nhau như Trưởng phòng, Phó Trưởng Phòng Tư pháp thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã; viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự của cơ quan đại diện ngoại giao; công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng
Tương tự thừa phát lại, các chức danh có thẩm quyền ký chứng thực đều trải qua thời gian công tác chuyên môn nhất định Tuy nhiên, một số chức danh không bắt buộc phải có trình độ cử nhân luật Ví dụ, chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ cần có trình độ từ trung cấp chuyên môn trở lên (khu vực
Trang 30đồng bằng) hoặc phải được bồi dưỡng kiến thức chuyên môn (khu vực miền núi)12, viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự cũng không bắt buộc phải có trình độ cử nhân luật13…
Về đối tượng
Chứng thực có đối tượng là hành vi ký tên, điểm chỉ trong các hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, văn bản Đối tượng của công việc lập vi bằng bao gồm các hành vi, sự kiện, tình trạng sự vật trừ một số trường hợp không được phép lập vi bằng Đó có thể là hành vi, sự kiện phù hợp với quy định của pháp luật như hành vi giao thông báo về việc chấm dứt hợp đồng, thông báo đòi nợ… nhưng cũng có thể là hành vi,
sự kiện trái với quy định của pháp luật như hành vi chiếm giữ nhà trái pháp luật, hành vi đưa thông tin sai sự thật trên mạng internet…
Như vậy, đối tượng của hoạt động chứng thực là hẹp hơn đối tượng của hoạt động lập vi bằng khi chỉ liên quan đến hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, văn bản và được tiến hành hay không là phụ thuộc vào tính đúng đắn của hành vi ký tên, điểm chỉ
Về hình thức
Vi bằng và văn bản được chứng thực đều có hình thức là văn bản nhưng giữa chúng có điểm khác biệt Tương tự văn bản công chứng được nêu ở trên, văn bản được chứng thực về cơ bản có hai phần gồm phần nội dung cần chứng thực, thể hiện ý chí của các bên chủ thể yêu cầu chứng thực (chính là văn bản, giấy tờ, hợp đồng, giao dịch) và phần chứng thực của người có thẩm quyền Đây là hai phần phải có trong văn bản được chứng thực Còn đối với vi bằng, chỉ duy nhất phần lời chứng của thừa phát lại là bắt buộc Còn các tài liệu khác của các bên tham gia không bắt buộc phải đính kèm vào trong vi bằng
Về nội dung
12 Khoản 4 Điều 8 Quy định tiêu chuẩn đối với cán bộ, công chức xã,phường, thị trấn (Ban hành kèm theo Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ)
13 Khoản 5 Điều 4 Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài năm
2009, Khoản 5 Điều 1 Luật 19/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài
Trang 31Hoạt động chứng thực liên quan đến hành vi ký tên, điểm chỉ vào văn bản, giấy
tờ, hợp đồng, giao dịch nên nội dung chứng thực nhằm xác nhận sự thật về các yếu
tố như: Thời gian, địa điểm chứng thực; thông tin nhân thân của các bên; tình trạng tinh thần, ý chí tự nguyện của các bên tham gia Nếu không thể xác định được các vấn đề vừa nêu thì hoạt động chứng thực không thể tiến hành hoặc nếu có tiến hành thì sẽ ảnh hưởng đến tính hợp pháp hợp đồng, giao dịch, giấy tờ, văn bản được chứng thực
Tương tự văn bản chứng thực, nội dung của vi bằng là sự xác nhận của thừa phát lại về sự thật đã xảy ra Tuy nhiên, do đối tượng lập vi bằng là đa dạng nên nội dung xác nhận của thừa phát lại cũng đa dạng, không chỉ bó hẹp trong việc xác định thông tin về chủ thể; thời gian, địa điểm xảy ra sự kiện, hành vi mà còn các yếu tố khác nhưng chủ yếu là mô tả sự kiện, hành vi xảy ra như thế nào Ngoài ra, do phải tuân thủ tính khách quan nên thừa phát lại không đánh giá trạng thái tinh thần, ý chí
tự nguyện của các bên trong quá trình lập vi bằng
Về giá trị pháp lý
Căn cứ khoản 3, khoản 4 Điều 3 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 thì chữ ký được chứng thực có giá trị chứng minh người yêu cầu chứng thực đã ký chữ ký đó, là căn cứ để xác định trách nhiệm của người ký về nội dung của giấy tờ, văn bản; hợp đồng, giao dịch được chứng thực có giá trị chứng cứ chứng minh về thời gian, địa điểm các bên đã ký kết hợp đồng, giao dịch; năng lực hành vi dân sự,
ý chí tự nguyện, chữ ký hoặc dấu điểm chỉ của các bên tham gia hợp đồng, giao dịch Như vậy, tương tự kết quả của hoạt động lập vi bằng, kết quả của hoạt động chứng thực có giá trị chứng minh về đối tượng được chứng thực
Nếu đi vào chi tiết, hồ sơ chứng thực khá tương đồng với hồ sơ vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi ký tên vào giấy tờ, văn bản (dù việc lập vi bằng về vấn đề này còn nhiều quan điểm trái chiều) bởi chúng đều có giá trị xác thực về chủ thể, thời gian, địa điểm ký tên Điểm khác nhau là người có thẩm quyền chứng thực hợp đồng, giao dịch phải kiểm tra về trạng thái tinh thần, ý chí tự nguyện của chủ thể ký tên; còn đối với việc lập vi bằng, do phải đảm bảo tính khách quan nên thừa phát lại
Trang 32không kiểm tra, đánh giá về trạng thái tinh thần, ý chí của các chủ thể liên quan trong vi bằng
Về chi phí
Căn cứ vào Thông tư số 226/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính
và Thông tư số 257/2016/TT-BTC ngày 11/11/2016 của Bộ Tài chính thì cơ quan
có thẩm quyền đã ban hành biểu phí về hoạt động chứng thực, mức thu từ 10.000 đồng đến 50.000 đồng tùy trường hợp Phí lập vi bằng do văn phòng thừa phát lại
và khách hàng thỏa thuận Theo thống kê của Chính phủ, từ khi được áp dụng thí điểm đến hết ngày 30/9/2015, các văn phòng thừa phát lại đã lập được 42.911 vi bằng, thu 58 tỷ 828 triệu 768 nghìn đồng14 Như vậy, nếu tính bình quân thì phí dịch
vụ lập vi bằng trên một hồ sơ là cao hơn phí chứng thực
Về lưu trữ
Đối với việc chứng thực chữ ký, cơ quan, tổ chức thực hiện chứng thực phải lưu một bản giấy tờ, văn bản đã chứng thực trong thời hạn 02 năm trừ trường hợp chứng thực chữ ký của người tiến hành giám định trong văn bản kết luận giám định
tư pháp; hợp đồng, giao dịch được chứng thực thì lưu một bản chính kèm theo hồ sơ trong thời hạn là 20 năm (Điều 14 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015)
Vi bằng thì được lưu trữ 20 năm và ngoài việc được văn phòng thừa phát lại và người yêu cầu lập vi bằng lưu trữ thì vi bằng còn được Sở Tư pháp lưu trữ thông qua thủ tục đăng ký vi bằng
1.4 Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại tại Việt Nam từ trước đến nay
1.4.1 Giai đoạn trước 30/4/1975
Từ thời phong kiến, các công việc như gửi trát triệu tập cho đương sự, thu thập chứng cứ, bảo vệ phiên tòa, thi hành lệnh của quan lại đã xuất hiện Như vậy, xét về tính chất công việc thì thừa phát lại đã tồn tại ở Việt Nam từ thời phong kiến15 Nhưng về tên gọi, chức danh thì chế định thừa phát lại thực sự xuất hiện ở Việt
Trang 33Nam từ thời thực dân Pháp xâm lược và áp đặt chế độ cai trị và quy chế thuộc địa trên lãnh thổ nước ta
Những văn bản được ban hành vào thời điểm này có đề cập đến thừa phát lại như Bộ Dân sự tố tụng Việt Nam ban hành kèm Nghị định ngày 16/03/1910 ở Nam Kỳ; Bộ Dân luật Trung năm 1936 – 1939 kèm Bộ Hộ sự, Thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 ở Trung Kỳ; Bộ Dân luật Bắc 1931, kèm Bộ Dân sự tố tụng Bắc
1917 ở Bắc Kỳ Trong các văn bản này, thừa phát lại được gọi với các tên gọi khác nhau tùy vào từng vùng miền như Chưởng tòa (miền Bắc), Mõ tòa (miền Trung), thừa phát lại (miền Nam) nhưng đều thể hiện địa vị của một công lại giống chức
danh “Huissier” trong Bộ dân luật Pháp năm 1804 và Bộ dân sự tố tụng Pháp năm
1807 mà khi dịch sang Tiếng Việt có nghĩa là “Chưởng tòa”16
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký
Sắc lệnh ngày 10/10/1945 với nội dung: “Cho đến khi ban hành những bộ luật pháp
duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam
bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này” Với sự ra đời của sắc lệnh này, chế định thừa
phát lại vẫn được duy trì ở nước ta Đặc biệt, vào ngày 19/7/1946, Chính phủ Cách
mạng tiếp tục ban hành Sắc lệnh số 130/SL có nội dung: “Vậy, Chủ tịch Chính phủ
Việt Nam Dân chủ cộng hoà truyền cho các thừa phát lại theo lời yêu cầu của người đương sự thi hành bản án này, các ông Chưởng lý và Biện lý kiểm soát việc thi hành, các vị chỉ huy Binh lực giúp đỡ mỗi khi đương sự chiểu luật yêu cầu" Đây
được xem là sự manh nha cho hoạt động thi hành án dân sự có huy động lực lượng của nước ta sau này
Ngày 22/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 85/SL về “Cải cách bộ
máy Tư pháp và luật tố tụng” Theo quy định này, việc thi hành án dân sự do thừa
phát lại và ban Tư pháp xã thực hiện trước đây được thay thế bằng thẩm phán cấp huyện dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án Đây là mốc thời gian đánh dấu sự kết thúc vai trò của thừa phát lại trong hoạt động pháp luật ở miền Bắc
16 Nguyễn Văn Sơn (2011), “Chế định thừa phát lại với quá trình thực hiện công cuộc đổi mới”, Tạp chí dân chủ và Pháp luật, Số chuyên đề tháng 11/2011
Trang 34Ở miền Nam, sau khi đế quốc Mỹ thế chân thực dân Pháp xâm lược nước ta, chế định thừa phát lại vẫn được duy trì đến năm 1975 Chế định này được quy định tiếp trong các văn bản luật như Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng, Bộ luật hình sự
tố tụng cùng được ban hành năm 1972 của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy rằng, chế định thừa phát lại nói chung và hoạt động lập vi bằng nói riêng được quy định khá chi tiết trong các văn bản luật dưới chế độ Việt Nam cộng hoà Cụ thể, Bộ luật Dân sự và thương sự tố tụng năm
1972 có tổng cộng 591 Điều thì có đến 41 Điều sử dụng cụm từ “thừa phát lại” và
22 Điều sử dụng cụm từ “vi bằng” Bộ luật hình sự tố tụng năm 1972 thì có 8 Điều
sử dụng cụm từ “thừa phát lại” và 5 Điều sử dụng từ “vi bằng” trên tổng số 725
Điều của Bộ luật
Nhìn chung, giai đoạn từ năm 1975 về trước, thừa phát lại ở Việt Nam thực hiện các công việc bao gồm: Các truyền phiếu; các công việc lục tống về tư pháp hay không thuộc tư pháp; thi hành các bản án, các công văn, quyết định hành chính; các công việc nội bộ trong Tòa án17 Mảng lục tống về tư pháp hay không thuộc tư pháp của thừa phát lại gồm các công việc như: Lập vi bằng, chứng thực các hành vi, sưu tầm các sự kiện thực tế hoặc thông báo, đôn đốc một vấn đề nào đó… làm căn
cứ để giải quyết các tranh chấp sau này Thừa phát lại có thể lập vi bằng ghi nhận về hành vi xây dựng công trình trên đất lấn chiếm, lập vi bằng về hành vi chiếm giữ trái phép tài sản, lập vi bằng ghi nhận việc quay xổ số
Trong giai đoạn này, thừa phát lại lập vi bằng theo yêu cầu của đương sự nhưng cũng đồng thời lập vi bằng theo yêu cầu (Quyết định, lệnh) của Tòa án Khi lập vi bằng theo yêu cầu của Tòa án, thừa phát lại có thể được nhân viên cảnh sát hỗ trợ và
có thể yêu cầu được đi vào những khu vực tư nhân theo văn bản của Tòa Thẩm quyền lập vi bằng trong giai đoạn này là tương tự với thẩm quyền lập vi bằng của nước Cộng hòa Pháp
Các vi bằng do thừa phát lại lập trong thời điểm này được xem là có giá trị công
chứng thư nghĩa là “các chứng thư do thừa phát lại lập đương nhiên được Tòa án
17 Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2006), Tổ chức thừa phát lại, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.13-17
Trang 35tin tưởng và không thể bị phủ nhận bởi bất kỳ chứng cứ nào khác” 18 Vi bằng chỉ bị
vô hiệu khi có người khởi kiện thừa phát lại và Tòa án tiến hành điều tra xác định vi bằng là giả mạo Trong trường hợp này, thừa phát lại sẽ bị truy tố theo pháp luật Ngược lại, nếu kết quả điều tra xác định được vi bằng không bị giả mạo thì vi bằng vẫn có giá trị pháp lý; người khởi kiện sẽ bị truy tố về tội vu khống thừa phát lại Chức năng lập vi bằng của thừa phát lại được các đương sự sử dụng như một công cụ, phương tiện để xác lập chứng cứ, bảo vệ quyền lợi của mình Tòa án cũng
sử dụng vi bằng làm căn cứ để giải quyết vụ việc Ví dụ, ông Nguyễn Văn Chánh kiện ông Khứu Hoa để xin Tòa cho án lệnh trục xuất khẩn cấp ông Hoa cùng gia đình, đồ đạc ra khỏi căn nhà thuê vì ông Khứu Hoa đã sử dụng nhà thuê làm cơ sở sản xuất mà chưa được sự đồng ý của ông Nguyễn Văn Chánh Hoạt động của cơ sở sản xuất được ông Chánh yêu cầu thừa phát lại lập vi bằng và cung cấp cho Tòa án
Bản án nhận xét rằng: “Vi bằng đã lập rất rõ ràng nên được xem là một bằng chứng
có hiệu lực nên Tòa xử cho trục xuất ông Hoa cùng thụ quyền quyến thuộc lẫn đồ vật ra khỏi căn nhà trên” 19
Tuy nhiên, không phải tất cả các vi bằng đều được Tòa án sử dụng làm căn cứ
để giải quyết vụ việc Có những vi bằng do đương sự cung cấp cho Tòa án nhưng Tòa án không sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án Các vi bằng này không phải là không hợp pháp mà những thông tin trong vi bằng không liên quan đến vụ việc mà Tòa án đang thụ lý hoặc có liên quan nhưng thông tin này chưa đủ thuyết phục để Tòa án sử dụng làm căn cứ giải quyết vụ án Ví dụ, ông Lư Huy cho ông Huỳnh Đô Tài thuê nhà để ở nhưng ông Huỳnh Đô Tài lại ngăn nhà thành nhiều phòng nhỏ để cho thuê lại mà chưa được sự đồng ý của ông Lư Huy Ông Lư Huy đã yêu cầu thừa phát lại đến nhà cho thuê để lập vi bằng và cung cấp cho Tòa án Bản án nhận xét:
“Những điều ghi nhận trong vi bằng của thừa phát lại phải xem là có giá trị của một lời chứng, nhưng muốn có được giá trị này, những điều ghi nhận của thừa phát lại phải được rành mạch với những chi tiết đầy đủ để bị đơn không thể đả phá bằng
18 Nguyễn Đức Chính (chủ biên) (2006), Tổ chức thừa phát lại, Nhà xuất bản Tư pháp, tr.18
19 Bộ Tư pháp (2012), “Quy định pháp luật và kỹ năng lập vi bằng”, Tài liệu lớp tập huấn nghiệp vụ về thừa phát lại, TP Hồ Chí Minh, ngày 18-19/2/2012
Trang 36những lời trình bày suông Nhưng điều ghi trong vi bằng không thể coi là bằng chứng… Xét sự khiếm khuyết của vi bằng nên không thể chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn” 20
Chế định thừa phát lại tại Việt Nam trước năm 1975 phát triển mạnh và thực hiện các công việc tương tự chế định thừa phát lại của nước Cộng hòa Pháp, trong
đó công việc lập vi bằng
Qua quá trình tìm hiểu một số vi bằng của thừa phát lại trước năm 1975 ở miền Nam, tác giả nhận thấy rằng, thừa phát lại giai đoạn này sử dụng từ chính xác, vừa đảm bảo tính khách quan vừa đảm bảo việc tái hiện được các sự kiện, hành vi hay hiện trạng mà thừa phát lại chứng kiến Bên cạnh đó, kỹ thuật về phim, ảnh, ghi âm chưa phát triển và chi phí cao dẫn đến nội dung vi bằng hoàn toàn sử dụng từ ngữ
để mô tả Vi bằng được xem là một “công chứng thư” tương tự các văn bản do
công chứng viên xác lập
1.4.2 Giai đoạn từ 30/4/1975 đến nay
Sau ngày đất nước thống nhất, cả nước ta tiến hành xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa Trong giai đoạn đầu, nền kinh tế của nước ta là nền kinh tế tập trung, bao cấp với hai thành phần kinh tế chủ yếu là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể Do đó, các quan hệ kinh tế, thương mại, dân sự… hầu như không phát triển Các tranh chấp phát sinh rất ít và thường được Nhà nước can thiệp, giải quyết như một quan hệ hành chính Do đó, các dịch vụ pháp lý như luật sư, công chứng không còn tồn tại hoặc tồn tại dưới hình thức khác Mô hình thừa phát lại cũng chung số phận khi hoàn toàn biến mất trong các văn bản pháp lý bởi đây được xem là một tàn dư cũ của chế độ thực dân
Sau Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986), Nhà nước ta tiến hành cải cách kinh tế, chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trường Các mối quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại bắt đầu phát triển Theo đó, người dân phát sinh nhu cầu sử dụng các dịch vụ pháp lý Hoạt động luật sư, công chứng được Nhà nước ta luật hóa trở lại để giúp người dân tiếp cận dịch vụ Điều
20 Bộ Tư pháp (2012), “Quy định pháp luật và kỹ năng lập vi bằng”, Tài liệu lớp tập huấn nghiệp vụ về thừa phát lại, TP Hồ Chí Minh, ngày 18-19/2/2012
Trang 37133 Hiến pháp năm 1980 nêu rõ: “Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường
hợp do luật định Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý” Thông tư số
574/QLTPK ngày 10/10/1987 của Bộ Tư pháp đưa đến sự ra đời của các Phòng
công chứng Nhà nước Tuy nhiên, chế định thừa phát lại thì vẫn chưa được nhắc
đến trở lại trong các văn bản quy phạm pháp luật, ít nhất là đến Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 Nghị quyết này có nội dung “Nghiên cứu chế định thừa phát lại (thừa hành
viên); trước mắt, có thể tổ chức thí điểm tại một số địa phương, sau vài năm, trên
cơ sở tổng kết, đánh giá thực tiễn sẽ có bước đi tiếp theo”
Sau Nghị quyết số 49/NQ-TW, các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động thí điểm chế định thừa phát lại được ban hành như: Nghị quyết số 24/2008/QH12 của Quốc hội, Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ… Năm 2010, năm văn phòng Thừa phát lại đầu tiên của cả nước được khai trương, đi vào hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Văn phòng Thừa phát lại Quận 1, Quận 5, Quận 8, Quận Bình Thạnh, Quận Tân Bình Đến năm 2012, thêm ba văn phòng thừa phát lại nữa đi vào hoạt động và cũng tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (Quận 10, Quận Gò Vấp, huyện Bình Tân) Do thời gian hoạt động còn ngắn và bó hẹp tại một địa phương là Thành phố Hồ Chí Minh nên Quốc hội không có đủ cơ sở để đưa ra quyết định ngừng thực hiện chế định thừa phát lại hay cho phép hoạt động chính thức Do đó, Quốc hội quyết định tiếp tục thí điểm chế định thừa phát lại đến hết năm 2015 và mở rộng phạm vi thí điểm thêm 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, Vĩnh Long Năm 2016, chế định thừa phát lại chính thức được áp dụng trên phạm vi cả nước Cho đến thời điểm hiện tại, chế định thừa phát lại đã trải qua sáu năm hoạt động thí điểm và hơn ba năm hoạt động chính thức Tính đến ngày
Trang 3826/3/2019, cả nước có 80 văn phòng thừa phát lại được thành lập và đi vào hoạt động21
Theo các quy định hiện hành, văn phòng thừa phát lại giữ nguyên việc thực hiện bốn công việc như giai đoạn thí điểm gồm: Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc cơ quan thi hành án dân sự; lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự
và trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự
Trong đó, lập vi bằng là công việc chủ yếu và được đánh giá là thành công nhất của thừa phát lại Đây là công việc mang đến nguồn thu chủ yếu cho các văn phòng Chỉ tính riêng từ ngày 01/01/2016 đến hết ngày 31/07/2016, các văn phòng thừa phát lại trên cả nước đã lập được 18.196 vi bằng, thu 20 tỷ 400 triệu 187 nghìn đồng
vi bằng22 Nhìn chung, công việc lập vi bằng của thừa phát lại hiện nay là khá tương đồng với công việc lập vi bằng của thừa phát lại giai đoạn từ năm 1975 trở về trước
vì đều là sự làm chứng của thừa phát lại về các sự việc Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành, thừa phát lại không lập vi bằng theo yêu cầu của Tòa án và hiệu lực vi bằng hiện vẫn đang đứng giữa hai vai trò là chứng cứ và nguồn chứng cứ
mà chưa được quy định là có giá trị là “công chứng thư” không phải chứng minh
như trước đây
Hiện nay, do sự phát triển của các quan hệ xã hội kéo theo sự đa dạng trong nội dung, hình thức của giao dịch nên đối tượng được lập vi bằng cũng đa dạng như Thừa phát lại có thể được yêu cầu lập vi bằng ghi nhận hiện trạng công trình; ghi nhận nội dung bên trong một đĩa vi tính; ghi nhận sự kiện họp Đại hội đồng cổ đông; ghi nhận nội dung trên một ứng dụng nhắn tin trực tuyến hoặc ghi nhận nội dung bài viết trên trang thông tin điện tử
Một số nhận xét
21 Bộ Tư pháp “Danh sách văn phòng thừa phát lại.” Internet:
http://bttp.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/Danh-sach-van-phong-thua-phat-lai.aspx, truy cập lần cuối ngày 26/03/2019
22 Bộ Tư Pháp (2016), Báo cáo tình hình hoạt động thừa phát lại từ sau khi có Nghị quyết số
107/2015/QH13 của Quốc hội về thực hiện chế định thừa phát lại, Hà Nội
Trang 39Chế định thừa phát lại đã tồn tại và chứng minh được vai trò của mình trong một thời gian khá dài trước đây Sau khi được Nhà nước triển khai trở lại, chế định này một lần nữa khẳng định vai trò của mình là một chức danh bổ trợ tư pháp rất cần thiết trong đời sống pháp lý và trong quan hệ xã hội
Công việc lập vi bằng của thừa phát lại giúp người dân tạo lập những chứng cứ chính xác và kịp thời về những sự kiện, hành vi Vi bằng không chỉ có giá trị sử dụng tại Tòa án mà còn được các bên sử dụng như một phương tiện tạo nên sự tin tưởng lẫn nhau, qua đó thúc đẩy sự phát triển của các giao dịch trong xã hội Tuy nhiên, các văn bản quy phạm pháp luật hiện tại quy định về chế định thừa phát lại là chưa đầy đủ, hoàn thiện và tương xứng với vị trí, vai trò của chế định này Do đó, trong thời gian sắp tới, Nhà nước cần hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động này nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc giúp thừa phát lại phát huy hết vai trò của mình đối với xã hội
Bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, các văn phòng thừa phát lại cũng gặp một số sai sót đặc biệt là trong lĩnh vực lập vi bằng mà điển hình là vụ việc hai văn phòng thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh bị tạm đình chỉ hoạt động23 24
Do đó, để khẳng định vị trí của mình, trong thời gian sắp tới, các văn phòng thừa phát lại cần tuân thủ nghiêm túc quy định của pháp luật, đóng góp nhiều hơn vào lĩnh vực tư pháp mà mình đang hoạt động
1.5 Hoạt động lập vi bằng của thừa phát lại theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới
Trên thế giới, nghề thừa phát lại được phát triển rất sớm, được xem bắt nguồn
từ nước Cộng hòa Pháp Tại quốc gia này, thừa phát lại đã có quy chế hoạt động độc lập từ thời trung cổ Hiện nay, có khoảng 66 quốc gia đã áp dụng mô hình thừa
Trang 40phát lại và là thành viên của Liên minh thừa phát lại quốc tế25 Tuy nhiên, tùy vào pháp luật của mỗi quốc gia mà thừa phát lại có những chức năng khác nhau Theo
đó, không phải tất cả quốc gia có áp dụng chế định thừa phát lại thì thừa phát lại ở quốc gia đó cũng có hoạt động lập vi bằng Dưới đây thông tin về hoạt động lập vi bằng ở một số quốc gia trên thế giới
Ở Cộng hoà Pháp, thừa phát lại có những ba nhóm chức năng chính gồm:
Nhóm chức năng độc quyền, nhóm chức năng không độc quyền và nhóm chức năng phụ trợ Chức năng độc quyền gồm tống đạt văn bản và thi hành án Chức năng không độc quyền gồm: Soạn thảo văn bản, thu nợ bằng thoả thuận chung và đại diện cho khách hàng tại Toà án Nhóm chức năng phụ trợ bao gồm hoạt động bán đấu giá tài sản là động sản và các hoạt động khác nhằm đảm bảo cân đối tài chính cho văn phòng thừa phát lại26
Chức năng soạn thảo văn bản trong nhóm các chức năng không độc quyền lại gồm ba công việc: Soạn thảo các thỏa thuận chung, lập vi bằng đối với các sự kiện
và tư vấn Thừa phát lại có thể lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân hoặc của thẩm phán Trường hợp lập vi bằng theo yêu cầu của thẩm phán thì thẩm phán phải ban hành một Bản án (Lệnh) về việc yêu cầu này, thừa phát lại khi lập vi bằng theo yêu cầu của thẩm phán có quyền yêu cầu cảnh sát tư pháp hỗ trợ trong trường hợp cần thiết
Về giá trị pháp lý, kể từ tháng 12/2010, vi bằng được Tòa án xem là có giá trị
chứng cứ “trừ khi nó bị bác bỏ bởi một chứng cứ khác có sức thuyết phục hơn” 27
Về chi phí lập vi bằng, thừa phát lại được tự do thỏa thuận với người yêu cầu cung
cấp dịch vụ “trừ một trường hợp ngoại lệ được quy định trong danh sách văn bản,
hoặc hoạt động soạn thảo văn bản ký tư”28
25 Nguyễn Văn Tiến (2014), “Tham luận lịch sử chế định thừa phát lại tại Việt Nam Mô hình thừa phát
lại tại một số quốc gia”, Hội thảo thừa phát lại: Những vướng mắc từ thực tiễn, Báo Pháp luật TP Hồ Chí