Đây là luận văn về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật Tố tụng dân sự - Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện được thực hiện bởi một người từng có thời gian 5 năm công tác tại ngành Tòa án nên rất đáng để tham khảo.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
MAI HOÀNG PHƯỚC
Quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật Tố tụng dân sự - Thực tiễn áp
dụng và giải pháp hoàn thiện
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018
1
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
MAI HOÀNG PHƯỚC
Quy định về c ấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật Tố tụng dân sự - Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện.
Ngành Luật Dân sự - Tố tụng dân sự
Mã số 801031421
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
Trang 3Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên thực hiện Luận văn
Mai Hoàng Phước
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG DÂN SỰ 10
1.1 Khái niệm văn bản tố tụng dân sự, văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo 10
1.1.1 Khái niệm văn bản tố tụng 10
1.1.2 Văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo 13
1.2 Khái niệm và vai trò của hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng 20
1.2.1 Cấp văn bản tố tụng 21
1.2.2 Tống đạt văn bản tố tụng 21
1.2.3 Thông báo văn bản tố tụng 22
1.3 Chủ thể có nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng 25
Kết luận Chương 1 28
CHƯƠNG 2 THỦ TỤC CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG TRỰC TIẾP 30
2.1 Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến người có liên quan 30
2.1.1 Quy định pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến người có liên quan 30
2.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến người có liên quan và kiến nghị hoàn thiện 35
2.2 Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến cơ quan, tổ chức 42
2.2.1 Quy định pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến cơ quan, tổ chức 42
2.2.2 Thực tiến áp dụng quy định pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến cơ quan, tổ chức và kiến nghị hoàn thiện 43
2.3 Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thông qua thừa phát lại 46
Trang 62.3.1 Quy định pháp luật về Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thông qua thừa phát
lại 46
2.3.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về tống đạt văn bản tố tụng thông qua Thừa phát lại và kiến nghị hoàn thiện 47
Kết luận Chương 2 50
CHƯƠNG 3 CÁC THỦ TỤC CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG KHÁC 52
3.1 Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử 52
3.1.1 Quy định pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử 52
3.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định về cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử và kiến nghị hoàn thiện 53
3.2 Thủ tục niêm yết 54
3.2.1 Thủ tục niêm yết đối với cá nhân 54
3.2.2 Thủ tục niêm yết đối với cơ quan, tổ chức 57
3.3 Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng 62
3.3.1 Quy định pháp luật về thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng 62
3.3.2 Thực tiễn áp dụng quy định về thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và kiến nghị hoàn thiện 65
Kết luận Chương 3 66
KẾT LUẬN 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
PHỤ LỤC 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để có thể giải quyết được vụ án cũng như tạo điều kiện cho những ngườitham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, Bộ luật Tố tụng dân sựquy định Toà án phải có nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng chonhững người tham gia tố tụng Tuy nhiên trên thực tế, không chỉ những vụ án cótính chất phức tạp mà rất nhiều vụ án đơn giản cũng phải kéo dài thời gian giảiquyết, thậm chí bị huỷ do sự trở ngại, vi phạm trong khâu tống đạt văn bản tố tụng
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã dành ra Chương X từ Điều 170 đếnĐiều 181 để quy định về việc Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Tuy nhiên,thực tế công tác cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng gặp phải khó khăn do chưa
có quy định hướng dẫn cụ thể Hiện nay vẫn chưa có hướng dẫn những tình huống
mà thực tế đã gặp phải như đương sự không đồng ý niêm yết tại nhà mình hoặcchống đối; Pháp nhân không còn hoạt động trên thực tế và trụ sở hiện nay là mộtpháp nhân khác đang hoạt động và họ không đồng ý cho niêm yết; Đại diện theopháp luật của pháp nhân cố tình không gặp người thực hiện thủ tục tố tụng
Để việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiện một cách
có hiệu quả, đúng quy định pháp luật, tiếc kiệm thời gian, công sức cần phải có sựhợp tác của chính quyền địa phương, cụ thể là Ủy ban nhân dân phường, xã Tuynhiên, hiện nay do chưa có hướng dẫn cụ thể nên chưa có sự thống nhất trong việcphối hợp giữa Cơ quan tiến hành tố tụng và Chính quyền địa phương vô tình gây rakhó khăn cho việc thực hiện
Bên cạnh đó là sự xuất hiện của chế định thừa phát lại với chức năng củamình đã thực hiện giúp các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc cấp, tống đạt, thôngbáo các văn bản tố tụng Tuy nhiên, vẫn chưa có quy định cụ thể về việc cấp, tốngđạt, thông báo các văn bản tố tụng của Thừa phát lại thay cho cơ quan tiến hành tốtụng cũng như quy định về sự phối hợp của chính quyền địa phương với Thừa phátlại Do đó, khi thực hiện chứng năng của mình Thừa phát lại cũng gặp không ít khókhăn phát sinh
Từ lý do trên, tác giả nhận thấy cần phải có một công trình nghiên cứunghiêm túc và bài bản về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng làm cơ sở
để sửa đổi, bổ sung các qui định có liên quan, cũng như ban hành thêm các hướng
dẫn cần thiết Do đó, tác giả chọn đề tài “Quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật Tố tụng dân sự - Thực tiễn áp dụng và giải
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về Cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng đã được một số nhà khoa học, nhà nghiên cứu
Trang 8quan tâm dưới các góc độ khác nhau Có một số luận văn nghiên cứu liên quan đếnvấn đề này đã được công bố như:
Luận văn thạc sĩ “Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự” của tácgiả Nguyễn Kim Giang (tháng 9/2011) đã tập trung làm rõ các khái niệm cấp vănbản tố tụng dân sự, khái niệm thông báo văn bản tố tụng dân sự, khái niệm tống đạtvăn bản tố tụng dân sự và phân tích, so sánh làm rõ được sự khác biệt giữa các kháiniệm này Phân tích nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về cấp, tống đạt
và thông báo văn bản tố tụng dân sự, thấy được những điểm kế thừa và phát triểncủa các quy định của pháp luật hiện hành đồng thời cũng thấy được những điểm hạnchế của chúng và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện
Luận văn thạc sĩ “Cấp, thông báo, tống đạt văn bản tố tụng – Thực tiễn thựchiện tại tỉnh Sơn La” của tác giả Đèo Thị Thủy (tháng 9/2013) đã nghiên cứu một
số vấn đề lý luận chung và các qui định của pháp luật hiện hành về cấp, tống đạt,thông báo văn bản tố tụng dân sự, luận văn làm rõ khái niệm văn bản tố tụng dân
sự, cấp văn bản tố tụng dân sự, tống đạt văn bản tố tụng dân sự, thông báo văn bản
tố tụng dân sự, khẳng định mục đích, ý nghĩa và yêu cầu của việc nhận thức kháiniệm này; Phân tích họat động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự củacác chủ thể có thẩm quyền từ cơ sở khoa học đến các qui định hiện hành và thựctiễn áp dụng Đặc biệt luận văn phân tích thực tiễn thực hiện cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản tố tụng dân sự tại Sơn La với những tính chất đặc thù vùng niềm Từ đóphát hiện những qui định chưa thực sự phù hợp, luận văn đưa ra một số kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sựnói chung và tại tỉnh Sơn La nói riêng
Ngoài ra còn có một số bài báo khoa học có liên quan đến quy định phápluật về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng như:
“Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004; thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện”, của tác giả Dương
Quốc Thành được đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật Viện Nhà nước và Phápluật, Số 11/2007, tr 52 - 57 Bài viết nêu lên khái quát chung về các văn bản tố tụngdựa trên các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 Tác giả cũng dành mộtphần bài viết phân tích đề thời hạn tống đạt bản án, quyết định của Tòa án Bêncạnh đó, tác giả đã dành phần lớn nội dung đề cập đến việc cấp tống đạt trực tiếpcho đương sự, phân tích những bất cập và đưa ra các giải pháp hoàn thiện trong bốicảnh năm 2005 khi mà Bộ luật tố tụng Dân sự 2004 đang có hiệu lực
“Một vài ý kiến về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo quy địnhcủa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004” của tác giả Thái Chí Bình - Tòa án nhân dânthành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang được đăng trên website Tòa án nhân dân tốicao:http//toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?
p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=39136546&article_details=1.Trong khuôn khổ bài viết của mình, tác giả đã nêu lên một số vướng mắc, bất cậpcần có sự hoàn thiện hoặc cần có văn bản hướng dẫn để phát huy giá trị pháp lý củathủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Cụ thể, tác giả đi vào phân tích và
Trang 9nêu lên vướng mắc, cũng như đề suất những giải pháp hoàn thuận của các thủ tục:Tống đạt qua đường bưu điện; Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng;Niêm yết
“Chuyên đề 9 Kỹ năng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng” của tác
giả ThS Nguyễn Thanh Mận – Phó hiệu trưởng Trường Cán bộ Tòa án – Tài liệutập huấn Nghiệp vụ Thư ký Tòa án năm 2012, tr 147-156 Trong chuyên đề trên,tác giả đã phân tích và đưa ra khái niệm văn bản tống tụng, văn bản tố tụng nào cầnphải được cấp, tống đạt, thông báo Bên cạnh đó, tác giả đi sâu vào các vấn đềhướng dẫn nghiệp vụ chủ yếu dành cho thư ký Tòa án Tác giả đã đưa ra các tìnhhuống cụ thể và hướng dẫn nghiệp vụ để xử lý các tình huống đó để đúng với quyđịnh pháp luật
“Tìm hiểu việc thực hiện chức năng tống đạt của Thừa phát lại hiện nay”
của tác giả Ths Vũ Hoài Nam – NXBTP – Bộ Tư pháp được đăng trên website Bộ
Tư pháp ngày 06.5.2014 –http //moj.gov.vn/thuaphatlai/Pages/kn-tl.aspx?ItemID=4.Trong bài viết trên, tác giả đã liệt kê khái quát các văn bản pháp luật điều chỉnh chếđịnh Thừa phát lại và quá trình hình thành từ khi thí điểm cho đến khi áp dụngchính thức Bên cạnh đó, tác giả còn đi vào phân tích những điểm tích cực khi chophép Thừa phát lại thực hiện chức năng tống đạt và những điểm còn hạn chế trongquá trình thực hiện chức năng này
Những công trình khoa học trên là tài liệu quý báu, giúp tác giả có thêmnhiều thông tin quan trọng phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn, các công trìnhtrên tập trung nghiên cứu về các quy định pháp luật về cấp, tống đạt, thông báo vănbản tố tụng Tuy nhiên, các luận văn, bài báo khoa học trên trên được thực hiệntrong bối cảnh Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 đang cóhiệu lực Do đó, các tác giả trên chưa tiếp cận được các quy định pháp luật của Bộluật Tố tụng dân sự năm 2015, cũng như so sánh với Bộ luật tố tụng dân sự năm
2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửađổi bổ sung năm 2011 Bên cạnh đó, các tác giả trên cũng chưa đặt các quy định củapháp luật vào nhiều tình huống thực tiễn phát sinh cụ thể, đề từ đó đề xuất các kiếnnghị hoàn thiện Cuối cùng, các tác giả trên cũng chưa nghiên cứu về chế định Thừaphát lại trong việc cấp tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Vì vậy, việc tác giả lựachọn đề tài “Quy định về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trong pháp luật tố
tụng dân sự- Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện” để làm luận văn thạc sĩ là
không trùng lắp với các công trình khoa học đã công bố và có những điểm riêng đểnghiên cứu cụ thể
3 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu làm sáng rõ một số vấn đề về lý luận, thựctrạng pháp luật cũng như thực tiễn và đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần hòanthiện pháp luật về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng tại Việt Nam.Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan Tư pháp Việt Nam
Trang 10Ngoài ra, đề tài nghiên cứu này sẽ góp phần phong phú vào kho tài liệu thamkhảo của nhà làm luật trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật Đề tài sẽlàm tài liệu khoa học hữu ích cho việc giảng dạy, học tập trong lĩnh vực Luật họcchuyên ngành Luật Dân sự - Tố tụng dân sự.
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận, pháp lý liên quan đến
cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này; có sự so sánh, đối chiếu với
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụngDân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011
Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật, đề tài có dành mộtphần thích hợp để nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về cấp, tốngđạt, thông báo văn bản tố tụng đề từ đó phát hiện những bất cập và đề xuất các giảipháp hoàn thiện
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được xây dựng trên nền tảng chung của Chủ nghĩa duy vật biệnchứng và duy vật lịch sử; nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn Trong quá trìnhnghiên cứu, tác giả phối hợp hợp lý các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản,chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp, phối hợp với phương pháp sosánh đối chiếu để làm sáng tỏ các vấn đề cần nghiên cứu Bên cạnh việc so sánh đốichiếu giữa Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,sửa đổi bổ sung năm 2011 thì tác giả còn so sánh với Bộ luật tố tụng Dân sự NhậtBản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011
5 Các vấn đề dự kiến cần giải quyết
Luận văn tập trung giải quyết những nội dung chủ yếu sau
Thứ nhất là tìm hiểu rõ các vấn đề lý luận liên quan đến cấp, tống đạt, thôngbáo văn bản tố tụng Thứ hai là phân tích các quy định pháp luật hiện hành về cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Qua đó, phát hiện những bất cập, hạn chế củacác quy định pháp luật hiện hành đồng thời thấy được tính cần thiết phải sửa đổi, bổsung các quy định cho phù hợp lý luận, thực tiễn
Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu thamkhảo và phụ lục, luận văn được xây dựng làm 03 chương:
Chương 1 nêu lên khái quát chung về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tốtụng trong hoạt động tố tụng dân sự Trong đó, bao gồm: Khái niệm về văn bản tốtụng dân sự, văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo; Khái việm và vaitrò của hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng; Chủ thể có nghĩa vụ cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Trang 11Chương 2 đề cập đến thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trựctiếp Trong đó, bao gồm: Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếpđến người có liên quan; Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếpđến cơ quan, tổ chức; Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng thông quathừa phát lại Cụ thể sẽ nêu lên những quy định pháp luật, những điểm mới đáng ghinhận của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi
bổ sung năm 2011, các vấn đề thực tiễn phát sinh mà luật chưa điều chỉnh hoặc quyđịnh chưa rõ ràng và đề suất giải pháp hoàn thiện
Chương 3 đề cập đến các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụngkhác như: Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo bằng phương tiện điện tử; Thủ tục niêmyết; Thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng Trong đó sẽ nêu lênnhững quy định pháp luật của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015, đồng thời so sánhvới Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụngDân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011 Để từ đó nêu lên các vấn đềthực tiễn phát sinh mà luật chưa điều chỉnh hoặc quy định chưa rõ ràng và đề suấtgiải pháp hoàn thiện
Trang 12CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ TỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
DÂN SỰ1.1 Khái niệm văn bản tố tụng dân sự - văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo
1.1.1 Khái niệm văn bản tố tụng
Trong hoạt động tố tụng dân sự, văn bản tố tụng có vai trò hết sức quan trọng.Nếu các chứng cứ (như vật chứng, giấy tờ, lời khai …) đóng vai trò làm sáng tỏ nộidung, cũng như sự thật khách quan của vụ án, thì văn bản tố tụng đóng vai trò vềmặt hình thức và từ đó, cho biết rằng một vụ án, vụ việc dân sự cụ thể có được giảiquyết đúng theo trình tự, quy định pháp luật của Bộ luật tố tụng Dân sự hay không Tuy có vai trò hết sức quan trọng như vậy và được sử dụng rất nhiều trong Bộluật tố tụng Dân sự, nhưng cho đến nay vẫn chưa có một quy định pháp lý cụ thểvăn bản như thế nào thì được xem là văn bản tố tụng Tại Điều 39 Nghị quyết05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dânTối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết
vụ án tại tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sungnăm 2011 có quy định về các mẫu văn bản tố tụng, nhưng là theo hướng liệt kê gồm
có 15 loại văn bản cụ thể: đơn khởi kiện; giấy báo nhận đơn khởi kiện; thông báotrả lại đơn khởi kiện; thông báo nộp tiền tạm ứng án phí; thông báo về việc thụ lý vụán; thông báo về phiên hoà giải; thông báo hoãn phiên hòa giải; biên bản hoà giải;biên bản hoà giải thành; biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành;quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự; quyết định công nhận thuậntình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự; quyết định tạm đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự; quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự; quyết định đưa vụ án raxét xử; biên bản phiên toà sơ thẩm; quyết định hoãn phiên toà; thông báo sửa chữa,
bổ sung bản án Tuy nhiên, hiện nay Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổsung năm 2011 đã hết hiệu lực kéo theo việc hết hiệu lực của các văn bản hướngdẫn (trong đó có Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồngThẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao)
Bên cạnh đó, để áp dụng thống nhất và phù hợp với Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015 Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã ban hành Nghị quyết01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017 quy định 93 biểu mẫu để thay thế cho các mẫuvăn bản tố tụng tại Điều 39 Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP và bổ sung thêm các
Trang 13biểu mẫu mới Tuy nhiên, Hội Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao đã không còndùng cụm từ mẫu văn bản tố tụng mà thay bằng cụm từ biểu mẫu và cũng khôngđịnh nghĩa khái niệm văn bản tố tụng Mặc khác, Điều 39 của Nghị quyết 05/2012/NQ-HĐTP và Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP cũng chỉ liệt kê các mẫu văn bản tốtụng, biểu mẫu của Tòa án, thực tế vẫn còn các văn bản tố tụng của các cơ quan tưpháp khác là Viện kiểm sát và Cơ quan Thi hành án Do đó, Điều 39 của Nghị quyết05/2012/NQ-HĐTP và Nghị quyết 01/2017/NQ-HĐTP cũng chỉ là để tham khảo.Tuy nhiên, từ việc tham khảo các văn bản pháp luật trên, chúng ta có thể phântích đặc điểm của văn bản tố tụng và phân loại văn bản tố tụng Trên cơ sở củanhững phân tích đó, chúng ta có thể đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về vănbản tố tụng
1.1.1.1 Đặc điểm văn bản tố tụng 1
Thứ nhất, văn bản tố tụng là văn bản áp dụng pháp luật, áp dụng trong quátrình giải quyết vụ, việc dân sự, thi hành án dân sự đối với từng trường hợp nhấtđịnh Trong đó, chứa đựng các quy định xử sự đối với từng chủ thể liên quan
Ví dụ: Trong trường hợp thụ lý vụ án thì Tòa án phát hành thông báo về việcthụ lý vụ án để thông báo cho Viện kiểm sát, nguyên đơn, bị đơn, người có quyềnlợi, nghĩa vụ liên quan biết Trong thông báo thụ lý phải đảm bảo được các nội dungnhư họ tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,yêu cầu khởi kiện và các chứng cứ kèm theo
Thứ hai, văn bản tố tụng được ban hành và sử dụng trong hoạt động tố tụngdân sự, thi hành án dân sự Có những văn bản do Tòa án phát hành nhưng không sửdụng trong hoạt động tố tụng dân sự thì không được xem là văn bản tố tụng Ví dụ:Thông báo của Tòa án về mẫu chữ ký của Chánh án không phải là văn bản tố tụng.Thứ ba, văn bản tố tụng được ban hành theo một trình tự, thủ tục mà pháp luật
tố tụng dân sự quy định.Trong quá trình giải quyết một vụ án, việc dân sự cụ thểphải tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự mà ban hành các văn bản tố tụngtương ứng Ví dụ: Khi thụ lý vụ án thì phải ra thông báo thụ lý, rồi sau đó muốnmời đương sự lên để giải quyết thì phải ra thông báo về phiên hòa giải
Thứ tư, văn bản tố tụng phải do cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, cơ quan thihành án dân sự hoặc người tiến hành tố tụng dân sự, người có thẩm quyền của cơ
1 Tòa án nhân dân tối cao, năm 2012, Sổ tay Thư ký Tòa án, Chuyên đề 11 Kỹ năng soạn thảo văn bản tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ của Thư ký Tòa án Nhà xuất bản Thanh niên Tr 125
Trang 14quan thi hành án dân sự ban hành Văn bản tố tụng có vai trò chứng minh cho việcgiải quyết vụ án được thực hiện đúng theo trình tự, quy định của pháp luật và đảmbảo quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự Do đó, văn bản tố tụng phải do cơquan, người có thẩm quyền ban hành.
1.1.1.2 Phân loại văn bản tố tụng 2
Theo những tiêu chí khác nhau, chúng ta có thể phân văn bản tố tụng ra thànhtừng loại Cụ thể như sau:
Căn cứ vào cơ quan ban hành thì có thể phân loại thành văn bản tố tụng củaViện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan Thi hành án
Căn cứ vào tính chất của hoạt động tố tụng thì văn bản tố tụng bao gồm vănbản về nội dung và văn bản về thủ tục Trong đó, các văn bản về thủ tục tố tụng(trong thực tiễn hồ sơ vụ án, các văn bản này thường được xếp vào tập “Hình thức”)bao gồm: quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án, thông báo thụ lý, giấytriệu tập, thông báo hòa giải Văn bản về nội dung vụ án (trong thực tiễn hồ sơ vụ
án, các văn bản này thường được xếp vào tập “Chứng cứ” và tập “Quyết định”) baogồm: các loại biên bản (Biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải, biên bản đốichất ), bản án, quyết định của Toà án…
Căn cứ theo nội dung văn bản thì văn bản tố tụng bao gồm: văn bản tố tụngquy định quyền và nghĩa vụ và văn bản tố tụng phản ánh sự việc Theo đó, văn bản
tố tụng quy định quyền và nghĩa vụ có nội dung chứa đựng các quy định Trong đó,
nó thể hiện một cá nhân hay cơ quan nào đó có những quyền gì, hay có nghĩa vụ gì
Ví dụ: Giấy triệu tập đương sự thường quy định ngày giờ, địa điểm yêu cầu đương
sự mang theo giấy tờ tùy thân có dán ảnh; hay quyết định đình chỉ vụ án thì có nộidung đình chỉ giải quyết vụ án, bên cạnh đó cũng thể hiện quyền của nguyên đơn cóquyền kháng cáo, quyền được hoàn lại tạm ứng án phí (trường hợp đình chỉ do rútđơn khởi kiện) Văn bản tố tụng phản ánh sự việc được sử dụng trong quá trình giảiquyết vụ việc với mục đích phản ánh các nội dung sự việc Trên cơ sở đó để có căn
cứ giải quyết vụ việc đúng đắn Các loại văn bản này được thể hiện bởi các biên bảnxác minh, biên bản ghi lời khai, biên bản phiên tòa, biên bản xem xét thẩm định tạichỗ, biên bản định giá
2Tòa án nhân dân tối cao, năm 2012, Sổ tay Thư ký Tòa án, Chuyên đề 11 Kỹ năng soạn thảo văn bản tố tụng trong phạm vi nhiệm vụ của Thư ký Tòa án Nhà xuất bản Thanh niên Tr 125
Trang 15Tuy nhiên, sự phân loại căn cứ theo nội dung văn bản cũng chỉ mang tính chấttương đối Vì có nhiều văn bản vừa thể hiện nội dung quyền và nghĩa vụ của củachủ thể, nhưng cũng chứa đựng cả việc phản ánh sự việc Ví dụ: Bản án vừa cóphần phản án sự việc, nhưng cũng có phần quyết định thể hiện quyền và nghĩa vụcủa chủ thể.
Như vậy, trên cơ sở phân tích các đặc điểm và cách phân loại trên, chúng ta có
thể đưa ra khái niệm văn bản tố tụng như sau: “Văn bản tố tụng dân sự là văn bản
do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án, người
có thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự ban hành theo thủ tục, trình tự pháp luật tố tụng dân sự quy định và áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự, trong đó chứa đựng các quy tắc xử sự của các chủ thể có quyền
và nghĩa vụ liên quan”.
1.1.2 Văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo
Từ khái niệm đã đề cập ở phần 1.1, có thể thấy văn bản tố tụng trên thực tế rất
đa đạng thể hiện ở rất nhiều loại văn bản khác nhau, do nhiều cá nhân, cơ quan cóthẩm quyền ban hành.Tuy nhiên, không phải văn bản tố tụng cũng buộc phải đượccấp, tống đạt, thông báo theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, mà chỉ mộtphần trong số đó được quy định là phải được cấp, tống đạt, thông báo
Theo quy định tại Điều 171 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì có 04 loạivăn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo bao gồm:
Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự
Bản án, quyết định của Tòa án
Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát, các văn bản của cơ quan thi hành
án dân sự
Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định
Đây là những văn bản tố tụng cần thiết để đảm bao cho việc xét xử được đúngđắn, công khai, minh bạch, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.Hành vi không cấp, tống đạt, thông báo những văn bản tố tụng này có thể bị xem làhành vi vi phạm thủ tụng tố tụng.3
3 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Tp.HCM Tr 118
Trang 16Như vậy, có thể thấy Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đã quy định theohướng liệt kê các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo và theo hướng
mở Theo đó, chúng ta có thể thấy văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thôngbáo do các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án dân sự ban hành vàVăn phòng Thừa phát lại được thực hiện tống đạt văn bản của Tòa án và Cơ quanthi hành án dân sự trên cơ sở thỏa thuận của của hai bên (trừ văn bản của Tòa phúcthẩm Tòa án nhân dân Tối cao)
1.1.2.1 Các văn bản tố tụng dân sự do Tòa án cấp, tống đạt và thông báo
Nhìn chung, các văn bản tố tụng mà Tòa án cấp, tống đạt và thông báo đượcquy định khá đa dạng về số lượng cũng như loại văn bản Bên cạnh đó, pháp luậtcũng quy định cụ thể thời hạn phải thực hiện đối với một số loại văn bản để đảmbảo cho những người nhận văn bản thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình Cụthể: Đối với bản án (Điều 269 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015) thì thời hạn phảigiao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sátcùng cấp là mười ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với các quyết định như Quyết địnhđưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trongthời hạn 03 ngày sau khi ra quyết định (Điều 220 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015);Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (Điều 212 Bộ luật tố tụngDân sự năm 2015) phải được cấp cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp trong thờihạn năm ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định; Thông báo về việc thụ lý vụ ánphải được thực hiện trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án (Điều
196 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015); Đối với đơn kháng cáo, sau khi nhận đơnkháng cáo hợp lệ, Tòa án cấp sơ thẩm phải thông báo ngay bằng văn bản cho Việnkiểm sát cùng cấp và đương sự có liên quan đến kháng cáo biết về việc kháng cáo(Điều 277 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015); Đối với quyết định kháng nghị, Việnkiểm sát có quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương
sự có liên quan đến kháng nghị (Điều 279 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015)
Tuy nhiên, đối với một số loại văn bản tố tụng mà Tòa án phải tiến hành cấp,tống đạt và thông báo văn bản tố tụng thì lại không quy định thời gian Tòa án phảithực hiện như: thông báo hòa giải (Điều 208 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015),giấy triệu tập dẫn đến việc một số văn bản tố tụng được cấp, tống đạt và thông báoquá muộn, làm cho người được cấp, tống đạt và thông báo không sắp xếp đượccông việc vì vậy không thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình, làm chocác buổi hòa giải, buổi làm việc không tiến hành được Bên cạnh đó thì một số điềuluật khi quy định việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng thường sử dụng từ
Trang 17“ngay”, điều này đôi khi cũng làm cho việc cấp, tống đạt và thông báo có nhiềucách hiểu không thống nhất Về phía đương sự và những người có quyền nhận vănbản thì thường thúc giục Tòa án phải thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo quánhanh dẫn đến chất lượng của các văn bản không đảm bảo Về phía cán bộ thì đôikhi thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo quá muộn nhưng cũng không thể xử lý
kỷ luật vì không có văn bản giải thích “ngay” là thế nào
1.1.2.2 Các văn bản tố tụng dân sự do Viện kiểm sát cấp, tống đạt và thông báo
Hiện nay các văn bản tố tụng được Viện kiểm sát ban hành và cấp, tống đạt vàthông báo không nhiều Do Viện kiểm sát là cơ quan tiến hành tố tụng thực hiệnkiểm sát các hoạt động tố tụng dân sự theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.Viện kiểm sát không có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết các vụ việc dân sự như Tòa
án hay tổ chức thi hành án như cơ quan thi hành án dân sự Viện kiểm sát chỉ kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án đểđảm bảo cho việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án dân sự kịp thời, đúngpháp luật.4 Hiện tại theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì các vănbản tố tụng được Viện kiểm sát cấp, tống đạt và thông bao gồm: quyết định khángnghị phúc thẩm (Điều 281 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015), quyết định khángnghị giám đốc thẩm (Điều 336 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015) Ngoài ra, theoquy định tại Điều 357 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì “các quy định về thủ tụctái thẩm được thực hiện như các quy định về thủ tục giám đốc thẩm” Do vậy, quyếtđịnh kháng nghị tái thẩm cũng là văn bản tố tụng mà Viện kiểm sát thực hiện cấp,tống đạt, thông báo
Theo Điều 281 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì sau khi thực hiện việckháng nghị phúc thẩm thì Viện kiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngayquyết định kháng nghị cho đương sự có liên quan đến kháng nghị Theo Điều 336
Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì quyết định kháng nghị giám đốc thẩm phảiđược gửi ngay cho Tòa án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị khángnghị, các đương sự, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền và những người khác
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến nội dung kháng nghị Các quy định này khôngnói rõ thời hạn cụ thể Viện kiểm sát thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo màchỉ quy định là gửi ngay Việc quy định như vậy đôi khi dẫn đến nhiều cách hiểukhông thống nhất khi thực hiện và cũng khó để quy trách nhiệm khi Viện kiểm sát
4 Điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014
Trang 18thực hiện việc gửi muộn cho đương sự, cơ quan liên quan Điều này làm ảnh hưởngtrực tiếp đến quyền, lợi ích của của đương sự.
Ngoài ra, thì ngay tại Điều 281 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 về cách sửdụng ngôn từ cũng không chính xác Cụ thể tại khoản 1 Điều 281 quy định “Việnkiểm sát ra quyết định kháng nghị phải gửi ngay quyết định kháng nghị cho đương
sự có liên quan đến kháng nghị” Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 281 lại quy định
“người được thông báo về việc kháng nghị” Rõ ràng quyết định kháng nghị vàthông báo về việc kháng nghị là 02 văn bản tố tụng khác nhau Việc quy định nhưvậy sẽ làm khó cho việc thực hiện cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng củaViện kiểm sát
Bên cạnh đó, một số loại văn bản tố tụng mà Viện kiểm sát ban hành đó làquyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, được quy định tại Điều 62 Bộ luật tốtụng Dân sự năm 2015 Theo quy định này quyết định thay đổi kiểm sát viên trướckhi mở phiên tòa và quyết định cử kiểm sát viên thay thế là do Viện trưởng Việnkiểm sát cùng cấp hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật hiện nay không có quy định nào quy địnhquyết định này phải được giao cho đương sự và những người liên quan trong vụ án.Tại Điều 171 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cũng chỉ quy định quyết định củaTòa án là văn bản tố tụng phải cấp, tống đạt và thông báo chứ không nói đến quyếtđịnh của Viện kiểm sát Việc không quy định việc cấp, tống đạt và thông báo đốivới quyết định thi hành án đổi Kiểm sát viên sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích củanhững người tham gia tố tụng Đây là một vấn đề mà pháp luật cần phải quy địnhthêm để hoàn thiện hơn trong hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng
1.1.2.3 Các văn bản tố tụng dân sự do Cơ quan thi hành án dân sự cấp, tống đạt và thông báo
Hiện nay việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng do cơ quan thi hành
án dân sự thực hiện được quy định tại Bộ luật tố tụng Dân sự 2015; Luật Thi hành
án Dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014; Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18tháng 7 năm 2015 hướng dẫn thi hành Luật Thi hành án Dân sự; Thông tư số09/2011/TT-BTP ngày 30.5.2011 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫnviệc quản lý, sử dụng các loại biểu mẫu nghiệp vụ thi hành án; Công văn số2423/BTP-THADS ngày 07.7.2015 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện Luật sửađổi,bổ sung một số Điều của Luật Thi hành án Dân sự trong giai đoạn chuyển tiếp;Công văn số 1967/BTP-THADS ngày 09.6.2015 cuả Bộ Tư pháp hướng dẫn sử
Trang 19dụng biểu mẫu thi hành án dân sự Theo các văn bản này thì các văn bản tố tụng do
cơ quan thi hành án dân sự cấp, tống đạt và thông báo gồm các loại sau:
Các quyết định về thi hành án như: quyết định thi hành án, quyết định hoãnthi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án, quyết định trả đơn yêu cầu thi hành
án, quyết định khôi phục thời hiệu thi hành án, quyết định cưỡng chế thi hành án.5
Các giấy báo thi hành án Đây là văn bản được ban hành theo mẫu thốngnhất do Bộ Tư pháp quy định để thông báo cho các đương sự biết những nội dungthông tin nhất định về thi hành án để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ như: giấybáo tự nguyện thi hành án, giấy báo đương sự đến giải quyết việc thi hành án.6
Giấy triệu tập thi hành án Đây là văn bản do Chấp hành viên ban hành đểtriệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thihành án 7
Thông báo từ chối nhận đơn yêu cầu thi hành án, thông báo tạm đình chỉ thihành án, cưỡng chế thi hành án.8
Biên lai thu tiền tạm ứng án phí sơ thẩm, phúc thẩm.9
Nhìn chung, cơ quan thi hành án dân sự thực hiện việc cấp, tống đạt và thôngbáo đối với khá nhiều các văn bản tố tụng Tuy nhiên, trước đây Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 chỉ quy định biên lai thu tiền tạm ứng án
phí, tiền tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và các chi phí khác là các văn bản tố tụng
phải được cấp, tống đạt, thông báo Các văn bản khác như Luật Thi hành án, cácthông tư, thông tư liên tịch đều chỉ quy định thủ tục thông báo về thi hành án Trong
đó, tất cả các văn bản tố tụng như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập
và văn bản khác có liên quan đến việc thi hành án đều phải thông báo cho đương sự,người có quyền và nghĩa vụ liên quan để họ thực hiện quyền, nghĩa vụ theo nộidung của văn bản đó Đối với một số văn bản như giấy triệu tập thi hành án và một
số quyết định rõ ràng không thể chỉ thực hiện việc bằng hình thức thông báo chođương sự và những người có quyền nghĩa vụ liên quan mà tùy vào tính chất của vănbản mà một số văn bản cần phải được cấp và tống đạt (Ví dụ: Đối với giấy triệu tậpthi hành án đây là văn bản mà cơ quan thi hành án dân sự phải thực hiện bằng hìnhthức tống đạt, để đảm bảo người phải thi hành án phải nhận được văn bản để họ
5 Điều 39 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
6 Công văn số 1967/BTP-THADS ngày 09.6.2015 cuả Bộ Tư pháp
7 Khoản 3 Điều 20 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
8 Điều 49 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
9 Điều 195, Điều 276 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Trang 20thực hiện) Do vậy, việc Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 quy định các văn bản của
cơ quan thi hành án dân sự là văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo làphù hợp với thực tiễn và đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.Theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Thi hành án Dân sự năm 2008, sửađổi năm 2014 thì “Việc thông báo phải thực hiện trong thời hạn 03 ngày làm việc,
kể từ ngày ra văn bản, trừ trường hợp cần ngăn chặn đương sự tẩu tán, hủy hoại tàisản, trốn tránh việc thi hành án” Quy định này xác định rõ thời hạn mà cơ quan thihành án, cán bộ ban hành văn bản phải thực hiện việc thông báo Nó giúp cho việcthông báo văn bản của người ban hành đảm bảo được thực hiện, đảm bảo đượcquyền, lợi ích của đương sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến văn bảnthi hành án Đồng thời cũng là cơ sở để truy cứu trách nhiệm đối với những cán bộkhông thực hiện Việc Luật Thi hành án Dân sự năm 2008, sửa đổi năm 2014 quyđịnh về thời hạn phải tiến hành thông báo là hết sức cần thiết, khắc phục phần nàotình trạng hồ sơ thi hành án bị “bỏ quên” mà không có lý do chính đáng
1.1.2.3 Các văn bản tố tụng dân sự do Văn phòng thừa phát lại cấp, tống đạt và thông báo
Sau khi Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thựchiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh theo Nghị định số 61/2009/ NĐ-CP ngày
24 tháng 7 năm 2009 (được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CPngày 18/10/2013) Ngày 24/6/2013, Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã ban hành Quyết định
số 1531/QĐ-BTP về việc chọn địa phương mở rộng thực hiện thí điểm chế địnhThừa phát lại Theo đó, ngoài thành phố Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyếtđịnh mở rộng địa bàn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, ThanhHóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Bình Dương, Tiền Giang, An Giang, VĩnhLong Ngày 28/02/2014 Bộ Tư pháp, TANDTC, VKSNDTC, Bộ tài chính cũng đã
ra Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC về việchướng dẫn thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số36/2012/QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội
Theo Điều 3 của Thông tư liên tịch số VKSNDTC-BTC thì “Văn phòng Thừa phát lại thỏa thuận để tống đạt văn bản củaTòa án (trừ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao), Cơ quan thi hành án dân sựcác cấp trên địa bàn cấp tỉnh nơi đặt Văn phòng Thừa phát lại, bao gồm: Giấy báo,giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết định trongtrường hợp xét xử vắng mặt đương sự của Tòa án; các quyết định về thi hành án,
Trang 2109/2014/TTLT-BTP-TANDTC-giấy báo, 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-giấy triệu tập của Cơ quan thi hành án dân sự Trong trường hợp cần thiết,Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự có thể thỏa thuận với Văn phòng Thừa phát lại
để tống đạt các loại văn bản, giấy tờ khác”
Như vậy, theo quy định này thì Văn phòng Thừa phát lại được thực hiện tốngđạt văn bản của Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự trên cơ sở thỏa thuận của củahai bên (trừ văn bản của Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao) Việc thỏa thuậngiữa Văn phòng Thừa phát lại với Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự được thựchiện thông qua hợp đồng dịch vụ tống đạt Với hầu hết các văn bản do cơ quan thihành án dân sự ban hành như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập vàcác văn bản giấy tờ khác (những văn bản tố tụng cơ quan thi hành án dân sự cấp,tống đạt, thông báo) thì Văn phòng Thừa phát lại đều có thể thực hiệc việc tống đạtTuy nhiên, đối với các văn bản tố tụng của Tòa án, không phải tất cả mọi trườnghợp Văn phòng Thừa phát lại đều có thể được thực hiệc việc tống đạt Chỉ có giấybáo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyết địnhtrong trường hợp xét xử vắng mặt đương sự và một số loại văn bản khác (những vănbản tố tụng do Tòa án cấp, tống đạt, thông báo) khi có thỏa thuận Văn phòng Thừaphát lại mới được thực hiện việc tống đạt Các bản án, quyết định mà khi xét xử cómặt đương sự thì Văn phòng thừa phát lại không được thực hiện Tuy nhiên, vềnguyên tắc việc đương sự có mặt hay không có mặt tại phiên xét xử không ảnhhưởng gì đến quyền nhận các văn bản của họ Hơn nữa, không phải trường nào Tòa
án cũng giao được cho đương sự bản án, quyết định được ngay sau khi xét xử, nhất
là những vụ án phức tạp, có nhiều đương sự Do đó, việc cấp, tống đạt và thông báovăn bản tố tụng phải thực hiện sau đó một vài ngày Pháp luật đưa hoạt động Thừaphát lại vào thí điểm là nhằm mục tiêu thực giảm áp lực công việc cho các cơ quanTòa án, Thi hành án Nhưng với quy định như trên thì rõ ràng đã hạn chế phần nào ýnghĩa của hoạt động Thừa phát lại
Bên cạnh việc quy định Văn phòng Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt cácvăn bản tố tụng của Tòa án, Cơ quan Thi hành án thì pháp luật hiện nay còn quyđịnh cụ thể về thời hạn Văn phòng Thừa phát lại tống đạt và thủ tục tống đạt nhằmđảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho người nhận văn bản Văn phòng Thừa phátlại thực hiện việc tống đạt các văn bản tố tụng trong thời gian và theo thủ tục phápluật tố tụng dân sự và pháp luật thi hành án dân sự quy định
Tuy nhiên, về mặt cách sử dụng thuật ngữ hiện nay ở các văn bản vẫn chưathống nhất Tại Nghị định số 61/2009/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 09/2014/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC-BTC thì quy định Thừa phát lại thực hiện việc tống đạt
Trang 22giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời, quyết định đưa vụ án ra xét xử, bản án, quyếtđịnh Tại Luật thi hành án dân sự và một số văn bản hướng dẫn thì lại sử dụng thuậtngữ thông báo quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập Còn tại Bộ luật tốtụng Dân sự thì lại sử dụng cả 3 thuật ngữ cấp, tống đạt và thông báo Cấp, tống đạt
và thông báo là 3 thuật ngữ có ý nghĩa khác nhau Và mỗi một loại văn bản Tòa án,
Cơ quan thi hành án dân sự sử dụng một hình thức nhất định tùy vào tính chất vàloại văn bản Khi Văn phòng Thừa phát lại thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báocho Tòa án, Cơ quan thi hành án dân sự thông qua hợp đồng thì hoạt động của Thừaphát lại giống như người được Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự ủy quyền, dovậy hình thức thực hiện cũng không được khác với hình thức thực hiện của cơ quanban hành văn bản Việc chỉ sử dụng hình thức tống đạt đối với Thừa phát lại làkhông phù hợp Cần phải quy định cả 3 hoạt động cấp, tống đạt và thông báo đốivới Thừa phát lại để thống nhất
Trên cơ sở các phân tích trên, có thể nhận thấy các văn bản tố tụng phải đượccấp, tống đạt, thông báo là do các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành
án dân sự ban hành Các quy định pháp luật hiện nay chỉ quy định Thừa phát lạithực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng cho Tòa án, Cơ quan thi hành án Trong khimột cơ quan tiến hành tố tụng khác là Viện kiểm sát cũng có nghĩa vụ ban hành vàthực hiện cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng lại không thấy quy định Thừaphát lại được thực hiện thay Mặc dù về thực tế thì trong hoạt động tố tụng dân sự,
số văn bản tố tụng do Viện kiểm sát ban hành không nhiều Tuy nhiên, trong thựchiện nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát ngoài thực hiện nhiệm vụ theo tố tụng dân
sự, thì các hoạt động liên quan đến lĩnh vực hình sự, hành chính cũng rất vất vả Dovậy, cũng cần quy định các văn bản của Viện kiểm sát có thể được Thừa phát lạithực hiện tống đạt để pháp luật thêm hoàn chỉnh
1.2 Khái niệm và vai trò của hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Trong tố tụng dân sự, hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng làhoạt động quan trọng và diễn ra khá thường xuyên Hoạt động tố tụng của cơ quantiến hành tố tụng giao cho cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự văn bản tốtụng để họ sử dụng được gọi là cấp văn bản tố tụng; hoạt động tố tụng của cơ quantiến hành tố tụng giao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sựvăn bản tố tụng và buộc họ phải nhận được gọi là tống đạt văn bản tố tụng; hoạtđộng tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên
Trang 23quan đến vụ việc dân sự biết về những vấn đề liên quan đến họ được gọi là thôngbáo văn bản tố tụng.10
1.2.1 Cấp văn bản tố tụng
Theo từ điển tiếng Việt “cấp” được hiểu là giao cho hưởng, giao cho toànquyền sử dụng11 Đây là cách hiểu chung nhất, khái quát nhất về thuật ngữ “cấp”.văn bản tố tụng do cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, cơ quan thihành án, người có thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự ban hành Do vậy, vềnguyên tắc việc cấp văn bản tố tụng trước tiên là do các những cá nhân, cơ quan nàytrực tiếp thực hiện Ngoài ra, các cơ quan này cũng có thể giao cho các cơ quan, cánhân khác thực hiện việc cấp văn bản tố tụng theo quy định pháp luật
Trên cơ sở định nghĩa từ “cấp” và mục đích của việc cấp văn bản tố tụng đãphân tích ở trên có thể đưa kết luận định nghĩa về cấp văn bản tố tụng như sau:
“Cấp văn bản tố tụng là hoạt động của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật giao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân
sự, thi hành án dân sự văn bản tố tụng để họ có toàn quyền sử dụng nhằm phục vụ các quyền, lợi ích của họ ”.
1.2.2 Tống đạt văn bản tố tụng
Theo từ điển tiếng việt, từ “tống” có nghĩa là đưa đến, gửi đến mà bất chấp cóđồng ý nhận hay không12 và từ “đạt” có ý nghĩa là đến được mục đích, thực hiệnđược mục tiêu đã đề ra; đúng với yêu cầu ở mức tương đối13 Hoạt động tống đạtvăn bản tố tụng trước tiên cũng do cơ quan ban hành văn bản trực tiếp thực hiện.Ngoài ra, các cơ quan này cũng có thể giao cho các cơ quan, cá nhân khác thực hiệnviệc tống đạt các văn bản tố tụng thay cho mình theo quy định pháp luật Hoạt độngnày nhằm để giao văn bản tố tụng đến các cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến
vụ việc mà các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự đang giảiquyết
Từ những vấn đề nêu trên, có thể đưa ra định nghĩa về tống đạt văn bản tố
tụng như sau: “Tống đạt văn bản tố tụng là hoạt động của cá nhân, cơ quan có
thẩm quyền theo quy định của pháp luật đưa đến, gửi đến cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự, thi hành án dân sự văn bản tố tụng thông qua các hình thức mà pháp luật quy định bất chấp là cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan có đồng ý nhận hay không nhưng phải đảm bảo là đã thực hiện được việc giao được văn bản đó trên cơ sở pháp luật ”
Như vậy, tống đạt văn bản tố tụng là hoạt động mang tính bắt buộc đối với cả
cơ quan ban hành văn bản tố tụng và người nhận văn bản tố tụng Cơ quan tiến hành
10 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình tố tụng dân sự Việt Nam, sđd Tr 201
11 Viện ngôn ngữ học, tái bản 2010 Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [7, tr.169]
12 Viện ngôn ngữ học, tái bản 2010 Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [7, tr.1302]
13 Viện ngôn ngữ học, tái bản 2010 Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [28, tr.386]
Trang 24tố tụng có nghĩa vụ phải giao được văn bản tố tụng đó cho cá nhân, cơ quan, tổ chứcliên quan văn bản tố tụng cần tống đạt cho dù là người nhận có đồng ý nhận haykhông đồng ý nhận Tuy nhiên, cơ quan tống đạt văn bản tố tụng phải thực hiệnđược đầy đủ các biện pháp tống đạt theo quy định pháp luật, mà theo quy định phápluật việc thực hiện đầy đủ biện pháp đó đủ để khẳng định là người được tống đạt đãnhận được văn bản tố tụng mà cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án đã giao Yếu
tố bắt buộc đối với cơ quan ban hành văn bản có ý nghĩa rất lớn trong việc đảm bảoquyền cho người nhận văn bản Bên cạnh đó, việc quy định bắt buộc đối với bêntống đạt cũng là cơ sở của yếu tố bắt buộc đối với bên nhận văn bản tố tụng Bênnhận văn bản dù có nhận hay không, thì với các biện pháp theo quy định pháp luật,bên tống đạt có đủ các biện pháp thực hiện để theo quy định pháp luật có thể khẳngđịnh là bên nhận đã nhận được văn bản tố tụng Qua đó, bên nhận văn bản tố tụngphải có nghĩa vụ thực hiện các nội dung trong văn bản đã được tống đạt
Điểm khác biệt cơ bản giữa tống đạt với cấp văn bản tố tụng chính là việc chủthể nhận văn bản tố tụng bắt buộc phải nhận được văn bản tố tụng cần tống đạt, đểcho người nhận văn bản đó phải thực hiện các nội dung ghi trong văn bản Nếukhông thực hiện theo nội dung của văn bản được tống đạt, thì có thể coi là cơ sở xácđịnh họ đã từ bỏ quyền của mình hay vi phạm nghĩa vụ và là cơ sở để Tòa án, cơquan thi hành án dân sự tiến hành các hoạt động tố tụng hoặc áp dụng các biện pháptiếp theo Còn việc cấp văn bản tố tụng thì việc giao văn bản tố tụng cho chủ thểnhận không phải là yếu tố bắt buộc phải thực hiện đối với cả hai bên Việc họ nhậnhay không, không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ việc Việc họ nhận haykhông phụ thuộc vào việc người nhận có nhu cầu, mục đích sử dụng văn bản đókhông Ví dụ: Việc cấp trích lục án, chủ thể nhận có quyền yêu cầu được nhận nếu
họ cảm thấy cần thiết, còn nếu họ không cần thiết thì họ có thể không nhận
1.2.3 Thông báo văn bản tố tụng
Theo từ điển tiếng Việt thì từ “thông báo” có nghĩa là báo cho mọi người biếttình hình, tin tức bằng lời nói hoặc văn bản14 Do vậy, “thông báo văn bản tố tụng
là hoạt động của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định của pháp luật báo cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ, việc dân sự, thi hành án dân sự biết về những vấn đề liên quan đến họ để họ nắm bắt được nội dung yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, quyền và nghĩa vụ của mình, từ đó họ có cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ của bản thân họ.”
Thông báo văn bản tố tụng nó có điểm giống với cấp và tống đạt đó là hoạtđộng của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm truyền đạt thông tin của cơ quan tiến hành
tố tụng đến cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc, để các chủ thể này biếtđược nội dung của vụ việc và quyền nghĩa vụ của họ, từ đó họ có cơ sở để thực hiệnquyền của mình Tuy nhiên, thông báo khác với cấp văn bản tố tụng ở chỗ, cái cầntruyền tải đến người nhận đó là thông tin trong nội dung của văn bản tố tụng Trong
14 Viện ngôn ngữ học, tái bản 2010 Từ điển tiếng Việt Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa [28, tr.1224]
Trang 25khi đó, đối với cấp văn bản tố tụng thì đối tượng cấp chính là các tài liệu, văn bảnhiện hữu để người nhận văn bản tố tụng sử dụng phục vụ mục đích của họ.
Giữa thông báo và tống đạt văn bản tố tụng cũng có điểm khác nhau Đối vớitống đạt văn bản tố tụng thì việc chuyển văn bản và việc nhận văn bản là yếu tố bắtbuộc đối với cả người chuyển và người nhận văn bản Người chuyển văn bản phảithực hiện các thủ tục của việc chuyển văn bản để đảm bảo được quyền của ngườinhận là được cầm, nắm văn bản tố tụng đó Qua đó, người nhận văn bản tố tụng cótrách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ ghi trong tài liệu được tống đạt Trong khi đó,đối với thông báo văn bản tố tụng thì đối tượng cần truyền đạt đến người đượcthông báo đó chính là nội dung thông tin ghi trong văn bản tố tụng Và việc thựchiện thông báo đôi khi không phải là yếu tố bắt buộc đối với bên nhận thông báo
Họ có thể thực hiện, hay không thực hiện thông báo tùy thuộc vào ý thức chủ quancủa họ Ví dụ: Tòa án ra thông báo anh Nguyễn Văn A phải đến Chi cục Thi hành
án để nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm liên quan đến việc kháng cáo củaanh A đối với bản án của Tòa án Thì trong trường hợp này người nhận thông báo
có quyền thực hiện hoặc không thực hiện việc đến theo giấy thông báo nếu họkhông đến thì coi như họ từ bỏ việc kháng cáo Như vậy, việc này không có yếu tốbắt buộc đối với người nhận thông báo
Tóm lại, cấp, tống đạt và thông báo các văn bản tố tụng đều là hoạt động cá
nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền theo quy định pháp luật (Tòa án, Viện kiểmsát, cơ quan thi hành án dân sự, Thẩm phán, Thư ký, Kiểm sát viên, Chấp hànhviên, Thừa phát lại, UBND cấp xã…) trong việc chuyển giao văn bản tố tụng đãđược ban hành hoặc truyền đạt thông tin của nội dung văn bản đó đến các chủ thểliên quan để họ biết được về nội dung của văn bản đó, biết được quyền và nghĩa vụcủa mình để thực hiện Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể mà cơ quan tiếnhành tố tụng sử dụng hình thức cấp, tống đạt hay thông báo cho phù hợp
Khi giải quyết các vụ việc dân sự, hoạt động cấp, tống đạt và thông báo vănbản tố tụng nhanh hay chậm cũng ảnh hưởng rất lớn đối với thời gian giải quyết các
vụ việc Nếu các hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng được thựchiện nhanh chóng, các hoạt động tố tụng khác cũng sẽ có cơ sở để thực hiện Tuynhiên, nếu các hoạt động này không thực hiện được hoặc thực hiện chậm nó cũnglàm cho việc giải quyết vụ việc dân sự bị kéo dài theo Ngược lại, nếu thực hiện tốthoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng sẽ giúp cho việc giải quyết các
vụ việc được diễn ra nhanh chóng, hạn chế các cụ việc giải quyết quá hạn luật định.Bên cạnh các vai trò nêu trên, việc thực hiện tốt các hoạt động cấp, tống đạt vàthông báo văn bản tố tụng cũng góp phần không nhỏ vào việc giúp cho các vụ việcdân sự được diễn ra công khai, minh bạch và dân chủ.15Xem xét ở mỗi khía cạnh,mỗi chủ thể thì hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng lại có vai trònhất định Cụ thể:
15 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Tp.HCM Tr 117
Trang 26Đối với các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc, thôngqua hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng giúp cho họ nhận được,hoặc biết được nội dung của văn bản tố tụng dân sự Qua đó, cá nhân, cơ quan, tổchức liên quan biết được các quyền và nghĩa vụ của mình, nhờ đó có thể bảo vệđược quyền và lợi ích hợp pháp trước cơ quan tiến hành tố tụng (Ví dụ: Việc giaothông báo thụ lý cho đương sự sẽ giúp cho đương sự biết được việc Tòa án đang thụ
lý vụ án, từ đó họ biết được họ có quyền nêu ý kiến, hay cung cấp tài liệu về việckhởi kiện của nguyên đơn; hoặc việc giao thông báo nộp tiền tạm ứng án phí giúpcho người khởi kiện biết được nghĩa vụ của mình phải nộp bao nhiều tiền tạm ứng
án phí và nếu không nộp trong thời hạn quy định thì sẽ bị coi là từ bỏ việc khởikiện.)
Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự, thông quaviệc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng sẽ đảm bảo giúp họ thực hiện đượcnhiệm vụ và quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự của mình Vì thông qua việc giaocho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan văn bản tố tụng hoặc báo cho họbiết nội dung văn bản tố tụng cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự
đã truyền đạt đến đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan nội dung văn bản tốtụng Nhờ đó, người được cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng biết đượcquyền và nghĩa vụ của mình để thực hiện trong quá trình tố tung dân sự
Cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng có ý nghĩa rất lớn đối với việc giảiquyết các vụ việc dân sự Quá trình giải quyết các vụ việc dân sự gồm rất nhiều cáchoạt động tố tụng như điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ, hay hòa giải Tuynhiên, để thực hiện các hoạt động này luôn luôn phải có hoạt động cấp, tống đạt vàthông báo văn bản tố tụng đan xen bổ trợ Hoạt động cấp, tống đạt và thông báo vănbản tố tụng tuy không phải mang tính chất quyết định đến các hoạt động trên, nhưng
nó lại có sự ảnh hưởng nhất định đối với các hoạt động tố tụng Nếu việc cấp tốngđạt không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ theo quy định phápluật thì các hoạt động tố tụng liên quan đôi khi không có giá trị pháp lý Còn nếuhoạt động này được thực hiện đúng và đủ theo quy định pháp luật thì nó lại là cơ sở,tiền đề để các hoạt động khác được thực hiện đúng quy định pháp luật (Ví dụ: Khixét xử vụ án dân sự nhưng cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện việc giao giấytriệu tập đến tham gia phiên tòa cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ
án, nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có kháng cáo bản án, bản án sẽ bịhủy)
1.3 Chủ thể có nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Về nguyên tắc thì cơ quan nào ban hành văn bản có nghĩa vụ cấp, tống đạt,thông báo văn bản tố tụng cho những người tham gia tố tụng hoặc những người liênquan đến văn bản Dựa trên nguyên tắc này, Điều 170 Bộ luật tố tụng Dân sự năm
Trang 272015 cũng quy định: “Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án thực hiện việccấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tốtụng khác và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan theo quy định của Bộ luật này
và pháp luật có liên quan” Như vậy, theo quy định thì chủ thể có nghĩa vụ cấp, tốngđạt và thông báo văn bản tố tụng gồm có 3 cơ quan là Tòa án, Viện kiểm sát và cơquan thi hành án 16Tuy nhiên, không phải trường hợp nào các cơ quan này cũngtrực tiếp thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng cho người thamgia tố tụng hoặc những người liên quan đến văn bản Tùy tình hình thực tế của mỗi
vụ việc mà các cơ quan này có thể thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo vănbản tố tụng thông qua những người sau:
Người tiến hành tố tụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng đượcgiao nhiệm vụ thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng TheoĐiều 46 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người tiến hành tố tụng bao gồm: Chánh
án, Phó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án, Viện trưởngViện kiểm sát, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Quá trình giải quyết
vụ việc, mỗi giai đoạn tố tụng thì những người tiến hành tố tụng có những Thẩmquyền ban hành những văn bản tố tụng nhất định theo quy định pháp luật để thựchiện nhiệm vụ của mình Do đó, họ có quyền tự mình thực hiện cấp, tống đạt vàthông báo các văn bản tố tụng đó cho người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức
có liên quan đến văn bản Tuy nhiên, những người tiến hành tố tụng trên không phảitrường hợp nào cũng có thể trực tiếp tự mình thực hiện việc cấp, tống đạt và thôngbáo các văn bản tố tụng, do vậy việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng cóthể được giao cho một cán bộ khác cùng cơ quan để thực hiện Những người này cóthể là cán bộ, công chức hay thừa phát lại nhưng làm việc cho các cơ quan này vàđược phân công nhiệm vụ cấp, tống đạt và thông báovăn bản tố tụng Đối với cơquan Thi hành án, thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Phó thủ trưởng cơ quan thihành án, Chấp hành viên không phải là người tiến hành tố tụng Tuy nhiên, trongquá trình thực hiện hoạt động thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự cũng phảithực hiện các hoạt động tố tụng, và họ phải ban hành các văn bản tố tụng liên quanđến hoạt động thi hành án như quyết định về thi hành án, giấy báo, giấy triệu tập
Do vậy, họ có trách nhiệm phải cấp, tống đạt và thông báo các văn bản này chođương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan Để công việc được thực hiện thìtùy tình hình những người này cũng có thể giao cho cán bộ, nhân viên trong cơ quancủa họ để thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng thay mình
16 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Tp.HCM Tr 118
Trang 28UBND cấp xã nơi người tham gia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổchức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc khi Tòa án có yêu cầu Trong cuộcsống thì nơi ở và nơi làm việc là hai nơi luôn gắn trực tiếp đối với mỗi con người.
Họ có thể đi chơi nhưng sau đó vẫn phải về nhà để ngủ, phải đến cơ quan để làmviệc, kiếm sống UBND cấp xã nơi người tham gia tố tụng cư trú chính là cơ quanquản lý, nắm bắt rõ nhất về hoạt động cư trú của người tham gia tố tụng trên địabàn; cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sự làm việc chính là đơn vịtrực tiếp quản lý người tham gia tố tụng khi họ đi làm Do vậy, hai cơ quan này cóvai trò rất quan trọng trong việc hỗ trợ cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụngkhi cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu
Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng Dân sự quyđịnh Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của đương sự là những người trực tiếp tham gia vào vụ án, họ có nghĩa vụphải chứng minh, cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình hoặcyêu cầu của đương sự mà mình đại diện hoặc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.Những người này thường có mối liên hệ chặt chẽ với nhau thông qua quan hệ thânthích hoặc quan hệ hợp đồng do pháp luật quy định Họ có trách nhiệm và nghĩa vụràng buộc lẫn nhau và thường xuyên liên lạc gặp gỡ nhau để đảm bảo thực hiệnnghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ việc Chính vì vậy, một số trườnghợp, trong quá trình giải quyết vụ việc cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành
án dân sự chỉ tiếp xúc được với một trong số những người trên Do vậy, để đảm bảoquyền được nhận các văn bản tố tụng của các đương sự, các cơ quan tiến hành tốtụng, cơ quan thi hành án dân sự có thể giao các văn bản tố tụng đó cho đương sự
để họ giao lại những văn bản đó cho người đại diện theo pháp luật, người bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của họ hoặc ngược lại
Nhân viên bưu điện Hiện nay, hệ thống các bưu điện đã được triển khai đếntận địa bàn các xã, phường; các nhân viên bưu điện được phân công phụ trách đếntận các thôn, xóm, ấp Hoạt động vận chuyển các bưu kiện cũng tương đối nhanhchóng, thông thường những khu vực gần chỉ 1 đến 2 ngày là đến nơi; còn những địabàn xa, thì có thể 3 đến 4 ngày mới đến nơi Công việc cấp, tống đạt và thông báovăn bản tố tụng tại các cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án dân sự lại rất nhiều Vìvậy, phần lớn các văn bản cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng tại các cơquan này hiện nay được thực hiện bằng con đường gửi qua bưu điện thông qua cácnhân viên bưu điện giao đến cho các cá nhận, cơ quan tổ chức liên quan Việc gửicác văn bản tố tụng thông qua bưu điện có rất nhiều điểm tích cực đó là nhanh, số
Trang 29lượng gửi được nhiều nhưng bên cạnh đó thì nó có hạn chế đó là các văn bảnkhông đảm bảo đến tận tay được người cần cấp, tống đạt, thông báo; các văn bảngiao đôi khi được thiết lập rất sơ sài, không đảm bảo được theo yêu cầu của phápluật Tuy nhiên, đây vẫn là một trong những biện pháp rất cần thiết để giảm bớt áplực cấp, tống đạt và thông báovăn bản tố tụng cho các cơ quan có nghĩa vụ phải cấptống đạt.
Những người khác mà pháp luật có quy định.Đây là quy định mở của Bộ luật
tố tụng Dân sự nhằm mở rộng thêm những người có thể thực hiện việc tống đạt khithực tế yêu cầu Hiện tại, theo quy định Điều 177, Điều 178 Bộ luật tố tụng Dân sựnăm 2015, Điều 40, Điều 43 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi bổ sungnăm 2014 thì người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng cư trú với ngườicần thực hiện cấp tống đạt; tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, khóm,buôn, phum, sóc; UBND, công an xã, phường, thị trấn nơi người được cấp, tống đạthoặc thông báo cư trú Các cơ quan báo, đài phát thanh, đài truyền hình cũng lànhững người có thể thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng trongnhững trường hợp nhất định
Bên cạnh đó, thì theo khoản 1 Điều 3 và khoản 1 Điều 23 Nghị định số61/2009/ NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt độngcủa Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh (được sửa đổi bổsung bởi Nghị định số 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013) thì Thừa phát lại đượcthực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự;Thư ký nghiệp vụ thừa phát lại cũng được thực hiện việc tống đạt khi Trưởng vănphòng Thừa phát lại giao nhiệm vụ Giống như luật sư, công chứng viên thừa phátlại là một chức danh được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm cho một cá nhân có đầy
đủ những điều kiện nhất định Yêu cầu để được bổ nhiệm làm thừa phát lại rất chặtchẽ phải là người có bằng cử nhân luật, có chứng chỉ hoàn thành lớp tập huấn vềnghề Thừa phát lại do Bộ Tư pháp tổ chức, có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt (Điều 10 Nghị định số 61/2009/ NĐ-CP); Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại cũng phảiđảm bảo là người có bằng cử nhân luật, có sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt (điểm
c, khoản 3 Điều 15 số 61/2009/ NĐ-CP) Vì vậy, về lý thuyết các văn bản do Thừaphát lại và Thư ký nghiệp vụ Thừa phát lại thực hiện sẽ cơ bản đảm bảo được trình
tự, thủ tục do pháp luật quy định Việc pháp luật đưa chế định thừa phát lại vào ápdụng là một trong những hướng đi mới góp phần rất lớn trong việc hỗ trợ cho cơquan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án dân sự trong việc thực hiện nhiệm vụcủa mình trong đó có hoạt động cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng
Trang 30Nhìn chung, theo các quy định hiện hành thì chủ thể có nghĩa vụ cấp, tống đạt,hoặc thông báo văn bản tố tụng là Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án Đểthực hiện nghĩa vụ này, các cơ quan này phải thông qua những chủ thể là người của
cơ quan mình hoặc cơ quan, tổ chức khác để thực hiện việc cấp, tống đạt và thôngbáo văn bản tố tụng Thông qua các quy định pháp luật, các hợp đồng mà các nghĩa
vụ cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng được chuyển giao từ các cơ quan trêncho các chủ thể thực hiện việc cấp, tống đạt và thông báovăn bản tố tụng Tuynhiên, nghĩa vụ cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng chính vẫn là của các cơquan ban hành văn bản tố tụng (Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án) Ngoài
ra, để giúp các cơ quan ban hành văn bản tố tụng thực hiện được việc cấp, tống đạt,thông báo văn bản tố tụng thì Ủy ban nhân dân cấp xã nời người tham gia tố tụngdân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng làm việc có thể hỗtrợ khi cần thiết Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc người bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự, nhân viên tổ chức dịch vụ bưu chính và nhữngngười khác khi được Tòa án yêu cầu hoặc pháp luật quy định cũng có nghĩa vụ thựchiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Người có nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụngphải thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Trong trường hợp không thực hiện hoặcthực hiện không đúng nghĩa vụ đó của mình thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm
mà những người này có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứutrách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường cho bị hại theo quy địnhcủa pháp luật17
Kết luận Chương 1
Hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có ý nghĩa quan trọngtrong việc bảo đảm quyền bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Qua việcnhận được hoặc biết được nội dung các văn bản tố tụng, các đương sự có thể biết vàthực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, do vậy có thể bảo vệ đượcquyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án.18 Điều 171 Bộ luật tố tụng Dân sự năm
2015 đã quy định cụ thể 04 loại văn bản tố tụng bắt buộc phải được cấp, tống đạt,thông báo gồm: thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự;bản án, quyết định của Tòa án; quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các vănbản của cơ quan thi hành án dân sự; các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quyđịnh
17 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Tp.HCM Tr 119
18 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Tp.HCM Tr 117
Trang 31Bên cạnh đó, có thể thấy cụm từ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được
sử dụng rất nhiều trong Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 và thường được đi liền vớinhau Tuy nhiên, từng hoạt động cấp, tống đạt hay thông báo có ý nghĩa riêng của
nó Từ việc phân tích các khái niệm trên, có thể đưa ra khái niệm chung về cấp,tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Để từ đó làm nổi bật lên vai trò của hoạt độngnày trong hoạt động tố tụng, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương
sự
Trong quá trình tố tụng, các văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo đếncác chủ thể gồm: các chủ thể có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc được giảiquyết; các chủ thể không có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ, việc nhưng phải thựchiện cấp, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng để làm rõ nội dung vụ, việc, đảmbảo thực hiện được việc giải quyết vụ việc; các chủ thể thực hiện việc giám sát hoạtđộng giải quyết vụ, việc hoặc thi hành các văn bản theo quy định pháp luật Các chủthể có nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng gồm: Người tiến hành tốtụng, người của cơ quan ban hành văn bản tố tụng được giao nhiệm vụ thực hiệnviệc cấp, tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng; UBND cấp xã nơi người thamgia tố tụng dân sự cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người tham gia tố tụng dân sựlàm việc khi Tòa án có yêu cầu; Đương sự, người đại diện của đương sự hoặc ngườibảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong những trường hợp do Bộ luật
tố tụng Dân sự quy định; Nhân viên bưu điện; Những người khác mà pháp luật cóquy định
Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ra đời đã góp phần không nhỏ làm cho hoạtđộng cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thuận lợi khi đã quy định cụ thể,chi tiết và dễ áp dụng hơn so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sungnăm 2011 Tuy nhiên, bên cạnh đó trên thực tiễn vẫn còn phát sinh các tính huốngthực tiễn mà luật vẫn chưa cho quy định Do đó, tại Chương II và Chương III củaluận văn này sẽ đề cập đến các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng vàcác vấn đề thực tiễn phát sinh, cũng như những kiến nghị để hoàn thiện hơn các quyđịnh pháp luật có liên quan
Trang 32CHƯƠNG 2 THỦ TỤC CẤP, TỐNG ĐẠT, THÔNG BÁO VĂN BẢN TỐ
TỤNG TRỰC TIẾP 2.1 Thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến người
Phần thứ nhất, quy định về địa chỉ của cá nhân được quy định tại các khoản 1
và khoản 3 Theo đó, văn bản tố tụng được cấp, tống đạt, thông báo đến địa chỉ màcác đương sự đã gửi cho Tòa án theo phương thức đương sự yêu cầu hoặc tới địachỉ mà các đương sự đã thỏa thuận và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó.Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo đã chuyển đến nơi cư trú mới và
đã thông báo cho Tòa án việc thay đổi nơi cư trú thì phải cấp, tống đạt, thông báotheo địa chỉ nơi cư trú mới của họ Đương sự phải ký nhận hoặc điểm chỉ Nếu họkhông thông báo cho Tòa án biết về việc thay đổi địa chỉ nơi cư trú và địa chỉ nơi cưtrú mới thì Tòa án thực hiện theo quy định tại Điều 179 và Điều 180 của Bộ luậtnày
Phần thứ hai, quy định về các trường hợp cấp, tống đạt, thông báo trực tiếpcho cá nhân tại các khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Theo đó gồm có các trường hợpsau:
- Trường hợp cá nhân đồng ý nhận văn bản trực tiếp thì phải ký nhận vào biên
bản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng
Trang 33- Trường hợp cá nhân từ chối nhận văn bản tố tụng thì người thực hiện việc
cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, cóxác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người
đó từ chối nhận văn bản tố tụng Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án
- Trường hợp cá nhân vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông
báo phải lập biên bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sựcùng nơi cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn,phum, sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kếtgiao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo Biên bản phải đượclưu trong hồ sơ vụ án.19
- Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt ở nơi cư trú mà
không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mới của họ thì ngườithực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiệnđược việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công
an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết công khai văn bản cầntống đạt Biên bản phải được lưu trong hồ sơ vụ án.20
Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 cũng quyđịnh trường hợp việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua dịch vụ bưuchính thì phải thực hiện bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản
tố tụng Văn bản có xác nhận phải được chuyển lại cho Tòa án Thời điểm để tínhthời hạn tố tụng là ngày họ xác nhận đã nhận được văn bản tố tụng do tổ chức dịch
vụ bưu chính chuyển đến.21
Bên cạnh đó, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn có những điểm mới đángghi nhận của quy định về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếpđến người có liên quan Trên cơ sở so sánh đối chiếu giữa Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 và Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 Có thểthấy có những điểm mới như sau: 22
19 Trường Đại học Kinh tế-Luật, năm 2016 Giáo trình Luật tố tụng Dân sự Nhà xuất bản Đại học Quốc Gia
Trang 34Thứ nhất, đó là việc Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ghi nhận văn bản tốtụng được cấp, tống đạt, thông báo đến địa chỉ mà các đương sự đã gửi cho Tòa ántheo phương thức đương sự yêu cầu hoặc tới địa chỉ mà các đương sự đã thỏa thuận
và đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó Ở đây, có thể nhận thấy việc ghi nhậnquyền của đương sự ở hai khía cạnh Một là đương sự có quyền yêu cầu Tòa án cấptống đạt, thông báo văn bản tố tụng theo địa chỉ mà các đương sự đã gửi cho Tòa án
và theo phương thức đương sự yêu cầu Hai là đương sự có thể thỏa thuận địa chỉ và
đề nghị Tòa án liên hệ theo địa chỉ đó Trước đây, trên thực tế Tòa án chỉ cấp, tốngđạt, thông báo theo địa chỉ được xác minh là thực tế đang cư trú hoặc nơi cư trúcuối cùng của đương sự (khi nộp đơn khởi kiện, nguyên đơn phải nộp kèm bản sao
hộ khẩu hoặc giấy xác nhận tạm trú) Cách thức cấp, tống đạt, thông báo đương sựkhông được yêu cầu Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đã cho phép đương sự thỏathuận địa chỉ không cần phải là nơi đang cư trú và được yêu cầu phương thức cấp,tống đạt, thông báo Như vậy để đảm bảo quyền riêng tư cá nhân của đương sự màvẫn đảm bảo được trình tự tố tụng Ví dụ: đương sự trong vụ án Ly hôn khôngmuốn những người ở cùng trong khu phố biết vì lý do riêng tư, có thể thỏa thuậnchọn một địa chỉ khác nơi đang cư trú (có thể là nhà một người bạn thân) và chọncách thức cấp, tống đạt, thông báo qua đường bưu điện, thư điện tử
Thứ hai, đó là việc Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ghi nhận việc đương sựthông báo việc thay đổi nơi cư trú cho Tòa án Theo đó, nếu đương sự thay đổi nơi
cư trú đến nơi cư trú mới và không thông báo cho Tòa án biết Thì Tòa án có thểthực hiện thủ tục Niêm yết công khai theo Điều 179 hoặc thủ tục Thông báo trênphương tiện thông tin đại chúng theo Điều 180 Trên thực tế, có nhiều trường hợpđương sự thay đổi địa chỉ nhưng không thông báo cho Tòa án biết và có thể khôngkhai báo tạm vắng tại địa phương gây rất nhiều khó khăn khi thực hiện việc cấp,tống đạt, thông báo cho họ Đặc biệt có trường hợp nguyên đơn thay đổi địa chỉnhưng không thông báo cho Tòa án biết, mặc dù việc khởi kiện là do họ chủ động
và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ.23
Đối với trường hợp này thì Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửađổi bổ sung năm 2011 quy định đương sự, người đại diện hợp pháp hoặc người đạidiện theo ủy quyền của đương sự có quyền thông báo cho tòa án có thẩm quyền giảiquyết địa điểm hoặc nơi người đó có thể được tống đạt (giới hạn ở một nơi ở NhậtBản) 24
23 Tòa án thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016 Chuyên đề tập huấn Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 – Những quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự Lưu hành nội bộ Tr 14
24 Điều 104 Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011
Trang 35Thứ ba, đó là việc Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ghi nhận rõ ràng:Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo từ chối nhận văn bản tố tụng thìngười thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản trong đó nêu rõ lý
do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường,thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng So với quy định trước đâycủa Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định: “Trongtrường hợp người được cấp, tống đạt hoặc thông báo từ chối nhận văn bản tố tụngthì người thực hiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản trong đó nêu
rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân,công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng” Nhưvậy, Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đã quy định đơn giản hóa và dễ hiểu hơntrong trường hợp này khi mà chỉ cần xác nhận của đại diện tổ dân phố hoặc Công an
xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tố tụng Còn cách quyđịnh của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 dễ gây haicách hiểu khi áp dụng luật Thứ nhất là cần phải có xác nhận của cả 03 là tổ trưởng
tổ dân phố; uỷ ban nhân dân; công an xã, phường, thị trấn Thứ hai là chỉ cần có xácnhận của 01 trong 03 là tổ trưởng tổ dân phố hoặc uỷ ban nhân dân hoặc công an
xã, phường, thị trấn Trên thực tế, đã từng có Bản án bị hủy do vi phạm thủ tục tốtụng vì Biên bản ghi nhận đương sự từ chối nhận văn bản không có đủ xác nhận của
cả bộ 03 gồm: tổ trưởng tổ dân phố, Uỷ ban nhân dân, công an xã, phường, thị trấn.Đối với trường hợp này thì Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửađổi bổ sung năm 2011 không quy định Bên cạnh đó thì Bộ luật tố tụng Dân sự NhậtBản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011 có quy định người được tống đạt nhưngkhông có cư trú rõ ràng ở Nhật Bản (trừ trường hợp đã nộp thông báo địa điểm tốngđạt cho Tòa án theo quy định tại của Điều 104) có thể được tống đạt ở bất cứ nơinào người thực hiện việc tống đạt tìm thấy người đó Điều này cũng áp dụng đối vớingười có nơi cư trú rõ ràng tại Nhật Bản hoặc người đã đã nộp thông báo địa điểmtống đạt cho Tòa án, đồng thời người đó không từ chối việc tống đạt.25
Thứ tư, đó là việc Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 ghi nhận trường hợpngười được cấp, tống đạt, thông báo vắng mặt thành 02 trường hợp cụ thể:
Trường hợp có người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư trúvới họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc thìgiao cho người đó để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người nàycam kết giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo So với Bộ
25 Điều 105 Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011
Trang 36luật tố tụng dân sự năm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 chỉ quy định cấp, tống đạthoặc thông báo qua người khác (không cụ thể là người nào) thì tiến hành lập biênbản Biên bản có chữ ký của người nhận chuyển văn bản tố tụng và người thực hiệnviệc cấp, tống đạt hoặc thông báo, người chứng kiến Có thể thấy Bộ luật tố tụngDân sự năm 2015 đã quy định cụ thể hơn và bổ sung thêm việc điểm chỉ.
Trường hợp không rõ thời điểm trở về hoặc không rõ địa chỉ nơi cư trú mớicủa họ thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản về việckhông thực hiện được việc cấp, tống đạt, thông báo, có xác nhận của đại diện tổ dânphố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủ tục niêm yết côngkhai văn bản cần tống đạt So với quy định trước đây của Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2004, sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định trong trường hợp trên thì người thựchiện việc cấp, tống đạt hoặc thông báo phải lập biên bản về việc không thực hiệnđược việc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của người cung cấp thông tin Cóthể thấy Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể hơn về việc xác nhậncủa đại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn; đồng thời, thực hiện thủtục niêm yết công khai văn bản cần tống đạt.26
Đối với trường hợp này thì Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửađổi bổ sung năm 2011 quy định nếu người thực hiện tống đạt không tìm được ngườiđược tống đạt tại nơi cư trú, thì tài liệu có liên quan có thể được tống đạt thông quanhân viên bất kỳ hoặc người sống cùng với người được tống đạt có quyền hợp lýnhận tài liệu có liên quan Điều này cũng áp dụng khi nhân viên bưu điện của Công
ty Dịch vụ Bưu chính Nhật Bản thực hiện việc tống đạt
Bên cạnh đó, nếu người thực hiện tống đạt không tìm được người được tốngđạt tại nơi làm việc và người đại diện hợp pháp của người đó hoặc bất kỳ người nàokhác có quyền quyết định hợp lý liên quan đến việc tiếp nhận tài liệu không từ chốinhận thì tài liệu có thể được tống đạt thông qua họ.27
2.1.2 Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp đến người có liên quan và kiến nghị hoàn thiện
Sự ra đời của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định cụ thể và rõ rànghơn về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng Đó là điều hết sức đáng ghinhận cho nỗ lực của cá nhà lập pháp Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật làm
26 PGS.TS Nguyễn Thị Hoài Phương, năm 2016 Bình luận những điểm mới trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Nhà xuất bản Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Tr 448,449
27 Điều 106 Bộ luật tố tụng Dân sự Nhật Bản năm 1996, sửa đổi bổ sung năm 2011
Trang 37phát sính nhiều vấn đề mà quy định của pháp luật còn chưa đề cập đến hoặc đề cậpchưa rõ ràng dẫn đến không thống nhất trong việc áp dụng.
2.1.2.1 Trường hợp cá nhân không biết chữ hoặc bị khuyết tật cơ thể không thể ký tên, điểm chỉ hoặc khuyết tật không thể nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn
Thực tiễn áp dụng
Trường hợp đương sự không biết chữ là khả phổ biến ở những địa phương màtrình độ dân trí còn thấp Trong khi đó, khoản 3 Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sựnăm 2015 có quy định việc điểm chỉ nhưng là khi người được cấp, tống đạt, thôngbáo đã chuyển đến nơi cư trú mới và thông báo cho Tòa án biết Tại khoản 5 Điều
177 cũng có quy định việc người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi
cư trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sócthực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ Tuy nhiên, Điều 175 chỉ quy định việc kýnhận vào Biên bản hoặc sổ giao nhận mà không quy định việc điểm chỉ khi cấp,tống đạt, thông báo trực tiếp cho đương sự Điều này dẫn đến sự không thống nhấttrong việc có chấp nhận hay không chấp nhận việc điểm chỉ của đương sự khi họđược cấp, tống đạt, thông báo văn bản trực tiếp
Bên cạnh đó, trường hợp đương sự có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng
bị khiếm khuyết cơ thể không thể ký tên, điểm chỉ (Ví dụ: như bị cụt hai bàn tay)hoặc khuyết tật nghe nói hoặc khuyết tật nhìn tham gia tố tụng không phải là hiếmgặp Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có quy định về cách thức tống đạt cho các đương
sự trên
Kiến nghị hoàn thiện
Để khắc phục sự không thống nhất trong việc có chấp nhận hay không chấpnhận việc điểm chỉ của đương sự khi họ được cấp, tống đạt, thông báo văn bản trựctiếp cần thiết phải bổ sung vào khoản 1 Điều 175 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015thêm phần điểm chỉ vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản
Riêng đối với người bị khuyết tật cơ thể không thể ký tên, điểm chỉ có thể quyđịnh tương tự như điểm c khoản 2 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.Nghĩa là người này có thể nhận văn bản, đồng thời nhờ khác có đủ năng lực tố tụngdân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận hoặc điểm chỉ vào biên bảnhoặc sổ giao nhận văn bản
Trang 38Bên cạnh đó, đối với người bị khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có thểquy định tương tự như Điều 20 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Nghĩa là ngườikhuyết tật có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho mình, trường hợpnày phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật đểdịch lại Người được cấp, tống đạt, thông báo phải ký nhận hoặc điểm chỉ và ngườiphiên dịch phải ký xác nhận hoặc điểm chỉ vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản
tố tụng
Từ những lập luận trên, có thể bổ sung khoản 1 Điều 175 Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015 theo hướng như sau:
Người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng phải trực tiếpchuyển giao cho người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng có liên quan.Người được cấp, tống đạt, thông báo phải ký nhận hoặc điểm chỉ vào biên bản hoặc
sổ giao nhận văn bản tố tụng Thời điểm để tính thời hạn tố tụng là ngày họ đượccấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bị khuyết tật
cơ thể không thể ký tên, điểm chỉ thì có thể nhận văn bản và nhờ người khác có đủnăng lực tố tụng dân sự làm chứng Người làm chứng phải ký xác nhận hoặc điểmchỉ vào biên bản hoặc sổ giao nhận văn bản
Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng bị khuyết tậtnghe, nói hoặc khuyết tật nhìn, phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dànhriêng cho người khuyết tật để dịch lại Người được cấp, tống đạt, thông báo phải kýnhận hoặc điểm chỉ và người phiên dịch phải ký xác nhận hoặc điểm chỉ vào biênbản hoặc sổ giao nhận văn bản tố tụng
2.1.2.2 Trường hợp cá nhân trực tiếp đến cơ quan Tư pháp
Thực tiễn áp dụng
Trường hợp cá nhân đến cơ quan Tư pháp để nhận văn bản tố tụng tưởngchừng như rất đơn giản Do không cần phải gửi thư hay đến trực tiếp địa chỉ của cánhân hoặc tống đạt qua người thứ 3 hay niêm yết Các trường hợp cá nhân đến cơquan Tư pháp để được cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng được thực hiệntrong nhiều giai đoạn của quá trình tố tụng nối tiếp nhau Ví dụ: Khi cá nhân nhậnđược thông báo thụ lý vụ án thì sẽ có 15 ngày để phản hồi về việc Tòa án thụ lý vụ
án Khi đến Tòa án để gửi ý kiến phản hồi, cá nhân có thể được tống đạt giấy triệutập hoặc thông báo về phiên họp tiếp cận việc công khai chứng cứ và hòa giải Khi
Trang 39đến Tòa án để hòa giải vụ án, cá nhân có thể được tống đạt thông báo đo vẽ, thôngbáo định giá hoặc quyết định xét xử Khi đến Tòa án để tham dự phiên xét xử,trường hợp hoãn phiên Tòa thì cá nhân có thể được tống đạt quyết định hoãn phiêntòa, trên quyết định có thể ghi thời gian, địa điểm mở phiên xử tiếp theo
Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp cá nhân đến cơ quan Tư phápnhưng lại từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc nhận văn bản tố tụng nhưng từ chối kývào Biên bản giao nhận Trong khi đó khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng Dân sựnăm 2015 khi quy định về trường hợp người được cấp, tống đạt, thông báo văn bản
tố tụng từ chối nhận văn bản tụng thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báophải lập biên bản trong đó nêu rõ lý do của việc từ chối, có xác nhận của đại diện tổdân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn về việc người đó từ chối nhận văn bản tốtụng
Như vậy bất cập đặt ra ở đây là trường hợp cá nhân đến cơ quan tư phápnhưng lại từ chối nhận văn bản tố tụng hoặc nhận văn bản tố tụng nhưng từ chối kývào Biên bản giao nhận Trường hợp trên được xem như từ chối nhận văn bản tốtụng theo khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 do không có quy địnhkhác Do đó, nếu áp dụng khoản 4 Điều 177 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thìngười thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên bản và có xác nhận củađại diện tổ dân phố hoặc Công an xã, phường, thị trấn nơi mà cơ quan tư pháp đóđặt trụ sở
Kiến nghị hoàn thiện
Đề giải quyết bất cập trên, thực tế đã có 02 luồng quan điểm như sau:
Thứ nhất, trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản hoặc nhận văn bảnnhưng không đồng ý ký nhận hoặc điểm chỉ tại trụ sở cơ quan Tư pháp thì tiến hànhlập lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo cóchữ ký của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp, trừ trường hợp đương sự từ chối nhậnvăn bản của Viện kiểm sát thì tiến hành lập biên bản về việc không thực hiện đượcviệc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của đại diện Công an cùng cấp
Thứ hai, trường hợp đương sự từ chối nhận văn bản hoặc nhận văn bản nhưngkhông đồng ý ký nhận hoặc điểm chỉ tại trụ sở cơ quan Tư pháp thì tiến hành lập lậpbiên bản về việc không thực hiện được việc cấp, tống đạt hoặc thông báo có chữ kýcủa Thẩm phán hoặc Kiểm sát viên hoặc Chấp hành viên không được phân côngtrực tiếp giải quyết vụ, việc dân sự hoặc thi hành án dân sự có liên quan
Trang 40Quan điểm trên thứ nhất xuất phát từ quy định Viện kiểm sát là cơ quan kiểmsát hoạt động tố tụng và nội dung của vụ, việc dân sự, thi hành án dân sự Do đó,khi xảy ra trường hợp trên, đại diện Viện kiểm sát sẽ thực hiện chức năng kiểm sáthoạt động tố tụng của mình Trường hợp, đương sự từ chối văn bản của Viện kiểmsát thì đại diện Công an cùng cấp sẽ xác nhận cho sự việc trên Tuy nhiên, việc ápdụng sẽ chỉ thuận lợi khi các cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, Chi cục Thi hành án
có trụ sở gần nhau Bên cạnh đó, các đương sự không đồng ý nhận văn bản hoặc từchối ký nhận thường mang tâm lý rất bức xúc, dễ bỏ về Nhưng không thể ngăn cảnquyền tự do đi lại của họ để chờ đại diện các cơ quan Tư pháp bạn đến xác nhận vàobiên bản
Quan điểm thứ hai đã khác phục được nhược điểm của quan điểm thứ nhất,đảm bảo tính kịp thời khi lập biên bản mà vẫn đảm bảo được tính khách quan khingười ký xác nhận là Thẩm phán hoặc Kiểm sát viên hoặc Chấp hành viên khôngđược phân công trực tiếp giải quyết vụ, việc dân sự hoặc thi hành án dân sự có liênquan
Do đó, kiến nghị bổ sung thêm vào khoản 4 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân
sự về trường hợp trên quy định cụ thể như sau: Trường hợp đương sự từ chối nhậnvăn bản hoặc nhận văn bản nhưng không đồng ý ký nhận hoặc điểm chỉ tại trụ sở cơquan Tư pháp thì tiến hành lập lập biên bản về việc không thực hiện được việc cấp,tống đạt hoặc thông báo có chữ ký của Thẩm phán hoặc Kiểm sát viên hoặc Chấphành viên không được phân công trực tiếp giải quyết vụ, việc dân sự hoặc thi hành
án dân sự có liên quan
2.1.2.3 Trường hợp đại diện cơ quan Tư pháp đến điạ chỉ của cá nhân
Thực tiễn áp dụng
Trên thực tế, khi gửi văn bản tố tụng qua đường bưu điện mà đương sự vẫnkhông đến thì đại diện cơ quan tư pháp phải đến địa chỉ của đương sự để thực hiệnviệc cấp, tống đạt, thông báo Trường hợp đến gặp được đương sự và họ trực tiếp kýnhận hoặc điểm chỉ vào biên bản giao nhận hoặc sổ giao nhận văn bản đúng theonhư quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Về mặt pháp
lý, biên bản giao nhận có chữ ký hoặc điểm chỉ là đủ thủ tục Tuy nhiên, hiện nayvẫn có Thẩm phán yêu cầu biên bản tống đạt trực tiếp phải được xác nhận củaUBND hoặc Công an xã, phường nơi đến tống đạt Điều này làm phát sinh thêmviệc người thực hiện việc tống đạt sau khi đương sự ký tên hoặc điểm chỉ vào biênbản giao nhận phải trở lại UBND hoặc Công an xã, phường để xin xác nhận