Nguyên nhân hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều ápdụng cho giai đoạn 2016 - 2020 còn cao là do đặc điểm sản xuất của bà con chủ yếu là nông nghiệp, kinh nghiệm thâm
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, người dân tộc thiểu số chiếm hơn54% Vị trí địa lý không thuận lợi để phát triển kinh tế, nền kinh tế của tỉnh pháttriển còn chậm, đời sống của một bộ phân nhân dân còn nhiều khó khăn, thu nhậpcòn thấp và chưa ổn định Tỷ lệ hộ nghèo cao vẫn tập trung chủ yếu ở các huyệnvùng cao, các xã đặc biệt khó khăn, trong đó tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh là huyệnLâm Bình với 60,79%, huyện Na Hang với 50,08%; hộ nghèo là người dân tộc thiểu
số chiếm 78,5% so với tổng số hộ nghèo
Nguyên nhân hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều ápdụng cho giai đoạn 2016 - 2020 còn cao là do đặc điểm sản xuất của bà con chủ yếu
là nông nghiệp, kinh nghiệm thâm canh có nơi còn lạc hậu (đặc biệt là ở nhữngvùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc ít người), việc ứng dụng khoa học - kỹ thuậtvào sản xuất còn hạn chế; sản xuất còn manh mún, phân tán, chưa thích ứng với cơchế thị trường, chưa dám mạnh dạn vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất, chuyểnđổi ngành nghề; nhiều vùng chưa tận dụng được tiềm năng đất đai, thổ nhưỡng đểphát triển những cây con có hiệu quả kinh tế cao; việc thu hút vốn đầu tư những dự
án phát triển công nghiệp, chế biến nông sản còn hạn chế, đặc biệt là tại các vùngđặc biệt khó khăn, chưa thu hút được nhiều lao động, cũng như sản phẩn do bà consản xuất ra; cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh ở những vùng đặc biệt khókhăn, vùng đông đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế Do đó, chất lượng giảmnghèo ở một số vùng chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo và nguy cơ tái nghèo còncao
Theo số liệu của UBND tỉnh Tuyên Quang, kết quả rà soát hộ nghèo đầu năm
2016 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2015 - 2020, toàn tỉnh có 63.404 hộ nghèo, chiếm34,83% tổng số hộ toàn tỉnh, trong đó hộ nghèo là người dân tộc thiểu số chiếm75,13% số hộ nghèo Tỷ lệ hộ nghèo cao tập trung chủ yếu ở các huyện vùng cao vàcác xã đặc biệt khó khăn, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số Các huyện có tỷ
lệ hộ nghèo cao nhất là: Lâm Bình với 51,42%, Na Hang với 42.74%, Chiêm Hóavới 30.9%; Yên Sơn với 21,23% một số xã đặc biệt khó khăn có tỷ lệ hộ nghèo trên90%, như: Phúc Yên, Hồng Quang của huyện Lâm Bình
Giảm nghèo nói chung, giảm nghèo bền vững nói riêng là một vấn đề được cả
xã hội quan tâm và được nhiều nhà khoa học, nhà hoạch định chính sách đang tậptrung nghiên cứu Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống
về chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang.Luận văn là tài liệu tham khảo để phục vụ quá trình hoạch định các chính sách phát
Trang 2triển kinh tế, xã hội của huyện nói chung, các chính sách về giảm nghèo bền vữngcủa huyện nói riêng Đề tài hệ thống hóa các lý luận căn bản về vấn đề nghèo, vàgiảm nghèo bền vững Nghiên cứu thực trạng nghèo và tình hình thực hiện cácchính sách, các chương trình giảm nghèo của huyện Yên Sơn, từ đó đưa ra các giảipháp mới góp phần giảm nghèo theo hướng bền vững
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Nghèo đói là một vấn đề mang tính chất toàn cầu luôn tồn tại trong xãhội Nghèo đói làm cho nền kinh tế chậm phát triển, giải quyết vấn đề nghèo đói
là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Ngay cả những nước phát triển caocũng có tình trạng nghèo đói Theo ngân hàng thế giới đến năm 2011vẫn còn 1.1tỷngười nghèo đói chiếm 21% dân số thế giới Đó là một thách thức lớn cho sựphát triển của toàn thế giới Việt Nam là một trong những nước nghèo trên thế giới,với gần 70% dân cư sống ở khu vực nông thôn, lực lượng lao động làm nông nghiệp
là rất lớn Do sự phát triển chậm của lực lượng sản xuất, sự lạc hậu về kinh tế vàtrình độ phân công lao động xã hội kém, dẫn tới năng suất lao động xã hội và mứctăng trưởng xã hội thấp Tình hình nghèo đói ở Việt Nam diễn ra rất phổ biến vàphức tạp đặc biệt khu vực miền núi và nông thôn chiếm tỷ lệ rất cao, có sự chênhlệch giàu nghèo rất lớn giữa thành thị và nông thôn Nghèo đói làm cho trình độ dântrí không thể nâng cao, đời sống xã hội không thể phát triển được
Trong bối cảnh hiện nay, thế giới đang đổi thay mạnh mẽ, xu thế hội nhập vàtoàn cầu hóa là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược Trong bối cảnh đó, nhiềunước, nhiều quốc gia, dân tộc đang có nhiều cơ hội đổi thay và phát triển, có nhiềuđiều kiện để xây dựng một xã hội có nền kinh tế tăng trưởng cao và nhanh Tuynhiên cũng có rất nhiều quốc gia, dân tộc đang gặp phải thách thức to lớn như bất
ổn xã hội, thất nghiệp và đói nghèo nên đòi hỏi các quốc gia phải quan tâm hàngđầu đến phát triển một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ
Đây chính là đòi hỏi khách quan của việc xây dựng một xã hội phồn vinhtrong hiện tại và tương lai Chính vì lẽ đó, nếu thiếu một trong hai mặt (kinh tế và
xã hội) nêu trên thì xã hội khó có thể phát triển được hoặc phát triển không toàndiện, không bền vững Do đó, xóa đói giảm nghèo là chiến lược quan trọng củanhiều quốc gia Đối với Việt Nam, xóa đói giảm nghèo ở nước ta đã đạt được nhữngbước tiến quan trọng, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 59% năm 1993 (theo chuẩnnghèo cũ) xuống còn hơn 6,0% vào năm 2015 (theo chuẩn nghèo mới giai đoạn2011-2015) Riêng các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giảm bình quân 5%/năm,
từ 48,39% năm 2012 xuống còn 33,53% năm 2015 Nhiều nước và tổ chức quốc tế
Trang 3khác cũng đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa đóigiảm nghèo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp thế giới (Food and AgricultureOrganization of the United Nations - FAO) cũng vinh danh công nhận thành tíchnổi bật trong xóa đói, giảm nghèo cho 38 quốc gia trên thế giới, trong đó có ViệtNam Đồng thời, Việt Nam cũng nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao bằng khenchứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ 1 (MDG1) - giảmmột nửa số người bị đói vào năm 2015, cũng như mục tiêu tương tự nhưng có phầntham vọng hơn được đề ra tại Hội nghị Thượng đỉnh Lương thực Thế giới (WFS)năm 1996 Điều này khẳng định định hướng chiến lược toàn diện về tăng trưởng vàxóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển chungcủa thế giới.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, kết quả giảm nghèo của Việt Nam cònthiếu tính bền vững Trong Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ ngày 19/05/2011
đã khẳng định: kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, các hộ đã thoát nghèonhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn lớn, tỉ lệ hộ tái nghèo còn cao Sựchênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sốngngười nghèo còn nhiều khó khăn, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồngbào dân tộc thiểu số Mặt khác, trong thực tế vẫn tồn tại nguy cơ các hộ thoát nghèo
có thể vẫn trở lại tái nghèo khi chuẩn nghèo thay đổi và nguy cơ nghèo tương đốixuất hiện nhiều trong đời sống dân cư
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng nghèo và giảm nghèo bền vững, phân tích cácchính sách giảm nghèo, kết quả giảm nghèo, tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đếnnghèo, thoát nghèo và nguyện vọng của hộ nghèo, các nhân tố ảnh hưởng đến giảmnghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2012-
2016, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả công tácgiảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên Sơn trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác giảm nghèo
- Phân tích, đánh giá được thực trạng vấn đề nghèo trên địa bàn huyện YênSơn, tỉnh Tuyên Quang trong giai đoạn 2016 - 2020, định huớng đến năm 2025
- Đề xuất các giải pháp giảm nghèo bền vững tại huyện Yên Sơn, tỉnh TuyênQuang
Trang 44 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Thực trạng nghèo của các hộ dân tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện YênSơn, tỉnh Tuyên Quang;
- Giải pháp để giảm nghèo bền vững tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian: Nghiên cứu từ năm 2012 - 2016, định hướng đến năm 2020
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh TuyênQuang Bên cạnh đó, để tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến nghèo, thoát nghèo vàtái nghèo của các hộ nghèo trên địa bàn huyện Yên Sơn, lấy kết quả điều tra củahuyện Yên Sơn tiến hành điều tra mẫu tại 03 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất củahuyện Yên Sơn là xã Hùng Lợi, Trung Minh và Lực Hành
- Nội dung: Tập trung nghiên cứu hiện trạng giảm nghèo và đánh giá việc thựchiện các chính sách giảm nghèo theo hướng bền vững trên địa bàn huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang
5 Phương pháp nghiên cứu
Căn cứ vào các tài liệu đã được công bố, các báo cáo, số liệu thống kê về kếtquả thực hiện Chương trình giảm nghèo của huyện Yên Sơn trong giai đoạn 2012 –2016
Sau khi thu thập được các thông tin thứ cấp, tác giả sẽ tiến hành phân loại, sắpxếp thông tin theo các tiêu chí khác nhau phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của luậnvăn Đối với các thông tin là số liệu thì tác giả tiến hành lập các bảng biểu chia theotừng nội dung cụ thể để dễ theo dõi và phân tích sự biến động qua các năm
Để giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trên, đề tài sẽ sử dụng các phương phápsau:
6 Kết cấu dự của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung gồm 3 chương:
Trang 5Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về giảm nghèo bền vững
Chương 2: Thực trạng về giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên Sơn,tỉnh Tuyên Quang
Chương 3: Một số giải pháp giảm nghèo bền vững trên địa bàn huyện Yên
Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Trang 6CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO
BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững
1.1.1 Lý luận chung về nghèo và chuẩn nghèo tại Việt Nam
1.1.1.1 Khái niệm về nghèo
Khái niệm về nghèo ở Việt Nam tương đồng với những khái niệm về đóinghèo được thừa nhận rộng rãi trên thế giới Hiện nay, Việt Nam đã thừa nhận kháiniệm chung về nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái BìnhDương do Ủy ban kinh tế xã hội châu Á và Thái Bình Dương (ESCAP: UnitedNations Economic and Social Commision for Asia and Pacific) tổ chức tại Băng
Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”.
Thực tế cho thấy có sự không thống nhất về quan điểm, khái niệm và đối vớitừng quốc gia khác nhau sẽ có chuẩn mực đánh giá khác nhau Vì thế, trên cơ sởthống nhất chung về mặt định tính, mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địaphương cần phải xác định thước đo mức nghèo đói của quốc gia, lãnh thổ, địaphương mình
1.1.1.2 Chuẩn nghèo tại Việt Nam
Xác định nghèo là một công việc khó khăn vì nó gắn với từng thời điểm, từngquốc gia và được xem xét ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Ở nước ta, khi cóchủ trương xóa đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra nhữngchuẩn mực để xác định tình hình nghèo đói
Từ năm 2015 trở về trước, Việt Nam chủ yếu xác định chuẩn nghèo theo chỉtiêu thu nhập bình quân đầu người theo tháng hoặc theo năm Chỉ tiêu này được tínhbằng giá trị hoặc bằng hiện vật quy đổi, thường lấy lương thực quy thóc để đánhgiá Ngoài ra còn một số chỉ tiêu chế độ dinh dưỡng (calo/người), mức chi nhà ở,chi ăn mặc, chi tư liệu sản xuất, điều kiện học tập, điều kiện chữa bệnh, đi lại Cáctiêu chí đánh giá nghèo khác như chỉ số phát triển con người (HDI), Chỉ số hànhtinh hạnh phúc (HPI) cũng đã được sử dụng, nhưng chủ yếu là sử dụng trong cáccông trình nghiên cứu kinh tế xã hội hoặc tính toán trên phạm vi quốc gia để xác
Trang 7định mức độ phát triển trong so sánh với các nước khác trên thế giới Tại Việt Nam,
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan được Chính phủ giao nhiệm vụchủ trì thực hiện việc điều tra, khảo sát các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, nghiên cứu và
đề xuất với Chính phủ, căn cứ vào đề xuất đó Chính phủ công bố mức chuẩn nghèocho từng giai đoạn cụ thể
Bảng 1.1 Chuẩn nghèo của Việt Nam được xác định qua các thời kỳ
1 Giai đoạn 1993-1994 ≤ mức ≤ mức
2 Giai đoạn 1995-1997
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo kg gạo/người/tháng 13 15
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du kg gạo/người/tháng 13 20
3 Giai đoạn 1998-2000
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 45.000 55.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 45.000 70.000
- Vùng thành thị đồng/người/tháng 45.000 90.000
4 Giai đoạn 2001-2005
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo đồng/người/tháng 80.000
- Vùng nông thôn đồng bằng, trung du đồng/người/tháng 100.000
Trang 8Từ năm 1993 đến nay Việt Nam đã có 6 lần thay đổi chuẩn nghèo, các mứcchuẩn nghèo của Việt Nam trong 3 giai đoạn đầu: giai đoạn 1993-1994, giai đoạn1995-1997 và giai đoạn 1998-2000 nước ta sử dụng mức chuẩn nghèo theo thu nhậpbình quân đầu người trên tháng nhưng được tính quy đổi bằng gạo(kg/người/tháng) Từ năm 2000 trở đi ở nước ta về cơ bản đã xoá được tình trạngđói, do đó mức chuẩn nghèo các giai đoạn 2001-2005 và giai đoạn 2006 - 2010 vẫnđược tính theo thu nhập bình quân đầu người trên tháng nhưng được tính bằng giátrị (đồng/người/tháng) Theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chínhphủ ngày 30/01/2011 đã ban hành tiêu chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015 Theo đó,mức chuẩn hộ nghèo trong giai đoạn 2011-2015 là hộ có mức thu nhập bình quânđến 400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và đến 500.000đồng/người/tháng ở khu vực thành thị Chuẩn hộ cận nghèo là hộ có mức thu nhậpbình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và
từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị
Gần đây nhất theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giaiđoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều ápdụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đachiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức độ thiếuhụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch
và vệ sinh, thông tin) Chuẩn nghèo cụ thể như sau:
- Khu vực nông thôn: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống.+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên
- Khu vực thành thị: hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống.+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội
cơ bản trở lên
Vì đề tài tập trung nghiên cứu hiện trạng giảm nghèo và đánh giá việc thựchiện các chính sách giảm nghèo trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quangtrong giai đoạn 2015 - 2020 nên tôi sẽ sử dụng chuẩn nghèo của Việt Nam tronggiai đoạn 2015 - 2020 để làm cơ sở đánh giá
Trang 91.1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam
Việt Nam xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, lại phải trải qua nhiềucuộc chiến tranh lâu dài và gian khổ, bị tàn phá nặng nề, cơ sở vật chất, hạ tầng kỹthuật và nguồn lực của Nhà nước chưa đáp ứng ngay được nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của các địa phương cũng như việc đảm bảo đầy đủ các nguồn lực để hỗtrợ người nghèo Điều này dẫn đến một số vùng, tỉnh, huyện, xã nghèo không tự tạo
ra được những điều kiện cũng như phát huy tiềm năng của mình để phát triển, do đólàm cho người dân ở địa bàn cũng phải gánh chịu những khó khăn đó và không thể
tự thoát ra khỏi tình trạng nghèo đói
- Nguyên nhân từ thực tiễn
+ Nhóm nguyên nhân do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bãolụt, hạn hán, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìmhãm sản xuất, từ đó gây ra tình trạng đói nghèo
+ Nhóm các nguyên nhân do chủ quan của người nghèo: thiếu kiến thức làm
ăn, thiếu vốn, đông con, thiếu lao động, không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội,
ốm đau và gặp phải các rủi ro trong cuộc sống
+ Nhóm các nguyên nhân thuộc về cơ chế chính sách: thiếu hoặc không đồng
bộ các chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực khó khăn, chínhsách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn và nguồn lực đầu
tư còn hạn chế
+ Do Chính phủ thường xuyên điều chỉnh mức chuẩn nghèo cho tiếp cận vớimức chuẩn nghèo thế giới, đối với các nước đang phát triển hiện nay ở mức là1USD/người/ngày
+ Số lượng dân cư sống ở các vùng nông thôn cao 67,0% (năm 2015), trong
khi đó tổng sản phẩm quốc dân ở khu vực nông thôn rất thấp Bên cạnh đó, còn có
sự chênh lệch lớn về điều kiện kinh tế xã hội giữa các vùng miền, giữa thành thị vànông thôn, giữa các dân tộc
+ Nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhưng chưa nhanh và chưa đảm bảotính bền vững, tình trạng thất nghiệp có xu hướng gia tăng
+ Môi trường bị phá hoại ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, trong khi đa sốngười nghèo lại sống nhờ vào nông nghiệp Tình trạng lạm dụng sử dụng hoá chấttrong sản xuất nông nghiệp còn khá phổ biến, còn sử dụng các kỹ thuật canh táckhông phù hợp với việc bảo vệ môi trường, thảm thực vật bị phá hoại, tỉ lệ che phủrừng bị giảm do tình trạng phá rừng Những việc làm đó tác động đến chất lượngcủa môi trường đất, nước và tài nguyên sinh vật
Trang 101.1.2 Lý luận chung về giảm nghèo bền vững
1.1.2.1 Khái niệm về giảm nghèo bền vững
Giảm nghèo bền vững là một khái niệm mới và trong thời gian gần đây được
đưa vào sử dụng trên các diễn đàn, trên các hội nghị, hội thảo và các chính sách vĩ
mô về công tác xoá đói giảm nghèo Tuy nhiên, thuật ngữ “giảm nghèo bền vững”
đến nay vẫn chưa được kết luận dưới góc độ là một khoa học từ khái niệm, nội dung
và các yếu tố cấu thành Do vậy, để tìm hiểu khái niệm về giảm nghèo bền vữngchúng ta có thể tìm hiểu một số quan điểm về giảm nghèo bền vững như sau:
- Trong Báo cáo phát triển Việt Nam tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ ViệtNam được tổ chức năm 2004 tại Hà Nội, tác giả Phạm Ngọc Kiểm cho rằng “Trêngiác độ tổng cung xoá đói giảm nghèo sẽ bơm thêm vào luồng cung hàng hoá vàdịch vụ cho xã hội Điều này được thể hiện là hầu hết các hộ đói nghèo do thiếu
điều kiện để sản xuất Người ta cần “cái cần câu cá hơn là xâu cá” Vì thế, Nhà
nước đã cung cấp cho họ “cái cần câu cá” thông qua trợ cấp vốn xoá đói giảm
nghèo để họ sản xuất, kinh doanh”
- Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam phátbiểu tại Hội thảo “Chiến lược giảm nghèo: đề xuất ý tưởng cho giai đoạn 2011-2020” do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Viện Kinh tế Việt Nam và Tổ chứcPhát triển của Liên Hợp quốc (UNDP) phối hợp tổ chức ngày 28 tháng 12 năm
2009 tại Hà Nội thì “Không thể giúp người nghèo thoát nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống Đây là cách xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững Muốn xóa nghèo bền vững, Nhà nước, cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì Bên cạnh đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro chứ không chỉ là sự nỗ lực khắc phục hậu quả sau rủi ro Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận”.
Từ các quan điểm trên về giảm nghèo bền vững, theo tác giả thì: “Giảm nghèo bền vững là việc nhà nước thực hiện các chính sách giảm nghèo nhằm tạo ra sự chủ động trong việc thoát nghèo bằng chính năng lực của người nghèo chứ không chỉ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng” Như vậy, muốn giảm nghèo bền vững,
Nhà nước, cơ quan chức năng trong thực hiện các chương trình giảm nghèo cầnquan tâm đến việc phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới, để họ
có thể tiếp cận và duy trì Ngoài giảm nghèo bền vững, chúng ta cần quan tâm đếnmột số thuật ngữ hay sử dụng như nghèo kinh niên, thoát nghèo, tái nghèo, rơixuống nghèo và thoát nghèo bền vững
Trang 11Nghèo kinh niên: Một hộ được coi là nghèo kinh niên là hộ chưa bao giờ có
thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khuvực và trong từng giai đoạn khác nhau
Thoát nghèo: Một hộ được coi là thoát nghèo khi hộ đang là hộ nghèo theo
chuẩn nghèo, đã có được thu nhập bình quân đầu người cao hơn mức nghèo theochuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn khác nhau
Tái nghèo: Một hộ được gọi là tái nghèo khi hộ đó đã thoát nghèo nhưng vì
nguyên nhân nào đó đã không còn đủ khả năng ứng phó với những bất lợi trongcuộc sống dẫn đến đói nghèo, tức là có mức thu nhập thấp hơn mức chuẩn nghèocho từng khu vực và trong từng giai đoạn
Rơi xuống nghèo: Một hộ được gọi là rơi xuống nghèo nếu là hộ thường xuyên
có thu nhập ở trên mức nghèo theo chuẩn nghèo cho từng khu vực và trong từnggiai đoạn khác nhau, nhưng vì một lý do nào đó hộ không còn đủ cơ hội để ứng phóvới những bất lợi trong cuộc sống hoặc có thu nhập của hộ chỉ thấp hơn mức chuẩn
nghèo cho từng khu vực và trong từng giai đoạn.
Thoát nghèo bền vững: Một hộ được gọi là thoát nghèo bền vững nếu đang là
hộ nghèo đã có thu nhập ổn định và phát triển có mức thu nhập trên mức chuẩnnghèo cho từng khu vực, trong từng giai đoạn (kể cả việc tăng mức chuẩn nghèo),
họ không bị tái nghèo và có các kỹ năng, đủ năng lực để ứng phó với những bất lợixảy ra
1.1.2.2 Nội dung của giảm nghèo bền vững
- Xác định rõ mục tiêu giảm nghèo bền vững
Tùy theo điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế, văn hóa - xã hội, phong tục tậpquán,… của từng địa phương mà đưa ra những mục tiêu chung, mục tiêu cụ thểgiảm nghèo bền vững, từ đó xác định rõ đâu là mục tiêu quan trọng, cấp thiết và đưa
ra chỉ tiêu cho từng mục tiêu giảm nghèo dựa theo tiêu chí:
+ Người nghèo, người dân tộc thiểu số, người kinh ở các xã đặc biệt khó khănđược cấp thẻ BHYT; được khám, chữa bệnh theo chế độ BHYT
+ Số hộ nghèo, hộ cận nghèo có nhu cầu vay vốn tín dụng ưu đãi được vayvốn
+Học sinh, sinh viên con hộ nghèo và ở các xã đặc biệt khó khăn được miễn,giảm học phí và hỗ trợ học tập theo quy định
+Lao động thuộc hộ nghèo có nhu cầu đăng ký học nghề được hỗ trợ đào tạo
và cấp bằng, chứng chỉ nghề
+Hộ nghèo được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh
Trang 12+Hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công.
+Thực hiện hỗ trợ về nhà ở cho hộ nghèo
+Tạo việc làm cho người nghèo trong độ tuổi lao động
+ Cán bộ làm công tác giảm nghèo ở cấp huyện và cấp xã được tập huấn nângcao năng lực
- Nguồn lực thực hiện giảm nghèo bền vững
Việc tập trung nguồn lực, thực hiện đa dạng hóa nguồn vốn huy động, bố trí
đủ nguồn, lồng ghép các chính sách hỗ trợ giảm nghèo nói chung và các chính sáchgiảm nghèo đặc thù với các dự án thuộc Chương trình ở huyện Yên Sơn theo cácNghị quyết và các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn (Chương trình 135), chương trìnhxây dựng nông thôn mới để tập trung đầu tư đúng địa chỉ, vùng nghèo, xã nghèo,thôn bản đặc biệt khó khăn, tránh dàn trải, cào bằng, bình quân; chỉ đạo thực hiệncác chính sách, dự án giảm nghèo hiệu quả, bền vững Đẩy mạnh công tác dạy nghềcho lao động nông thôn gắn với tạo việc làm tăng thu nhập cho người lao động,trong đó quan tâm ưu tiên tới người nghèo, lao động thiếu việc làm
Bên cạnh nguồn kinh phí hỗ trợ từ chương trình mục tiêu, tỉnh cân đối bố trítheo khả năng nguồn vốn đối ứng từ ngân sách địa phương thực hiện các hoạt độngcủa chương trình hiệu quả Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, đặcbiệt là chính sách ưu đãi người có công và trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hộikhác
Trên cơ sở xác định nguyên nhân nghèo chủ yếu của người dân là thiếu vốn,thiếu việc làm và tư duy làm ăn phát triển kinh tế, huyện đã tăng cường công táctuyên truyền để thay đổi nhận thức của người dân chủ động vươn lên nghèo và huyđộng mọi nguồn lực tham gia vào công tác giảm nghèo Thực hiện nhiều giải pháptạo mọi điều kiện cho người nghèo ổn định, phát triển sản xuất, có việc làm nhưtăng nguồn vốn tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo, đẩy mạnh công tác dạy nghề, chuyểngiao khoa học kỹ thuật, kiến thức về tổ chức sản xuất, cuộc sống
- Ban hành các chính sách để giảm nghèo bền vững: sau khi đã xác định được
đối tượng của giảm nghèo bền vững thì nhà nước cần ban hành các chính sách để hỗtrợ người nghèo, hộ nghèo vươn lên thoát nghèo bền vững Các chính sách hiện naynhà nước đang triển khai là: Chính sách hỗ trợ về y tế; Chính sách vay vốn tín dụng
ưu đãi; Chính sách dạy nghề; Chính sách khuyến nông và hỗ trợ phát triển sản xuất
cho hộ nghèo; Chính sách hỗ trợ về giáo dục, đào tạo; Chính sách hỗ trợ về nhà ởcho người nghèo; Chính sách trợ giúp pháp lý cho người nghèo; Chính sách hỗ trợtiền điện cho người nghèo; Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo vùng khó
Trang 13khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg; Dự án hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng
các thôn, xã đặc biệt khó khăn (chương trình 135); Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực
giảm nghèo, truyền thông và giám sát, đánh giá chương trình
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách giảm nghèo: Kiểm tra,
giám sát, đánh giá kết quả triển khai thực hiện các chính sách, dự án thuộc Chươngtrình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, kiểm tra việc thụ hưởng chính sáchgiảm nghèo của nhóm đối tượng người nghèo, hộ nghèo Kiểm tra, giám sát trựctiếp cơ quan quản lý nhà nước các cấp, người dân để đánh giá những thuận lợi, khókhăn, tìm giải pháp tháo gỡ để thực hiện tốt hơn công tác giảm nghèo bền vững
Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo, góp phần thựchiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăngthu nhập của người dân, đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho ngườinghèo, hộ nghèo tiếp cận thuận lợi các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở,nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), tháng 9/2016, Thủ tướng Chính phủ
đã ban hành Quyết định 1722/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình MTQG giảm nghèobền vững giai đoạn 2016-2020 Mục tiêu cụ thể là phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo cảnước bình quân 1% - 1,5%/năm (riêng các huyện nghèo, xã nghèo giảm 4%/năm;
hộ nghèo dân tộc thiểu số giảm 3% - 4%/năm) theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều
áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020; Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộcsống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cảnước cuối năm 2020 tăng lên 1,5 lần so với cuối năm 2015 (riêng hộ nghèo ở cáchuyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn, hộ nghèo dân tộc thiểu số tănggấp 2 lần); Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cảithiện điều kiện sống và tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của ngườinghèo… Đến năm 2020, có 50% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khókhăn theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP; 30% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãingang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn; 20 - 30% số xã,thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệtkhó khăn
Phát biểu tại Hội thảo Nâng cao chất lượng công tác truyền thông về giảmnghèo trên báo chí năm 2017, ông Ngô Trường Thi, Vụ trưởng, Chánh Văn phòng
Quốc gia về giảm nghèo (Bộ Lao động – TBXH) cho biết: “Chương trình MTQG giảm nghèo giai đoạn 2016-2020 đưa ra cách xác định đối tượng hộ nghèo theo Chương trình từ đo lường nghèo dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo đa chiều, nhằm đáp ứng mức sống tối thiểu và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân, đồng thời thay đổi phương pháp xác định đối tượng từ điều tra thu nhập trực
Trang 14tiếp sang đánh giá các đặc điểm của hộ gia đình; tăng cường sự tham gia của người dân, phân cấp cho xã công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo”.
Chương trình đươc xây dựng theo hướng: Ban hành các tiêu chí xác định đối tượng,địa bàn; ban hành khung giám sát, đánh giá chương trình
1.1.2.3 Tiêu chí đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo
Để đánh giá mức độ bền vững trong giảm nghèo, không thể chỉ đánh giá dựatrên số lượng người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo, huyện nghèo giảm xuống mà phảicăn cứ trên nhiều tiêu chí khác nhau như:
- Thu nhập thực tế của người nghèo, hộ nghèo được cải thiện, vượt qua đượcchuẩn nghèo, hạn chế tối đa tình trạng tái nghèo về thu nhập nếu gặp rủi ro hoặc sựthay đổi của chuẩn nghèo
- Được tạo cơ hội và có khả năng tiếp cận đầy đủ với các nguồn lực sản xuấtđược xã hội tạo ra, các dịch vụ hỗ trợ người nghèo, được quyền tham gia và có tiếngnói của mình đối với các hoạt động lập kế hoạch phát triển kinh tế, giảm nghèo chobản thân và địa phương
- Được trang bị một số điều kiện "tối thiểu" để có khả năng tránh được tìnhtrạng tái nghèo khi gặp phải những rủi ro khách quan như thiên tai, lũ lụt, dịch bệnhhoặc sự thay đổi của chuẩn nghèo
- Được đảm bảo tiếp cận bình đẳng về giáo dục, dạy nghề và chăm sóc sứckhoẻ để về lâu dài, người nghèo, người mới thoát nghèo và con em họ có được kiếnthức, kinh nghiệm làm ăn, tay nghề nhằm tạo ra thu nhập ổn định trong cuộc sống
* Theo đó, chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020 của Việt Nam được xây dựngtheo hướng sử dụng kết hợp cả chuẩn nghèo về thu nhập và mức độ thiếu hụt tiếpcận các dịch vụ xã hội cơ bản Theo đó, tiêu chí đo lường nghèo được xây dựng dựatrên cơ sở các tiêu chí về thu nhập, bao gồm chuẩn mức sống tối thiểu về thu nhập,chuẩn nghèo về thu nhập, chuẩn mức sống trung bình về thu nhập; mức độ thiếu hụttrong tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (tiếp cận về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch
và vệ sinh, tiếp cận thông tin)
Trên cơ sở 5 chiều cạnh nghèo, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã xâydựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều tươngứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở,nước sạch, hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Các chỉ số
đo lường này được trình bày trong bảng dưới đây:
Trang 15Bảng 1.2 Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam
từ năm 1986 trở lại khôngtốt nghiệp trung học cơ sở
và hiện không đi học
Hiến pháp 2013
NQ 15/NQ-TWMột số vấn đề chínhsách xã hội giai đoạn 2012-
2020
Nghị quyết số41/2000/QH (bổ sung bởiNghị định số 88/2001/NĐ-
em trong độ tuổi đi học (5
-14 tuổi) hiện không đi học
Hiến pháp 2013.Luật Giáo dục 2005.Luật bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em
NQ 15/NQ-TW Một sốvấn đề chính sách xã hộigiai đoạn 2012-2020
Hiến pháp 2013.Luật Khám chữa bệnh2011
2.2 Bảo
hiểm y tế
Hộ gia đình có ít nhất 1thành viên từ 6 tuổi trở lênhiện tại không có bảo hiểm
y tế
Hiến pháp 2013.Luật bảo hiểm y tế2014
NQ 15/NQ-TW Một sốvấn đề chính sách xã hộigiai đoạn 2012-2020
Trang 16đơn sơ(Nhà ở chia thành 4 cấp độ:
nhà kiên cố, bán kiên cố,nhà thiếu kiên cố, nhà đơn
sơ)
vấn đề chính sách xã hộigiai đoạn 2012-2020
Luật Nhà ở 2014.Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chínhphủ Phê duyệt Chiến lượcphát triển nhà ở quốc giađến năm 2020 và tầm nhìnđến năm 2030
Luật Viễn thông 2009
NQ 15/NQ-TW Một sốvấn đề chính sách xã hộigiai đoạn 2012-2020
và không nghe được hệthống loa đài truyền thanh
xã/thôn
Luật Thông tin Truyềnthông 2015
NQ 15/NQ-TW Một sốvấn đề chính sách xã hộigiai đoạn 2012-2020
(Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015.)
1.1.2.4 Các thách thức trong giảm nghèo bền vững ở Việt Nam - Vấn đề tái nghèo và cận nghèo
Mặc dù trong những năm qua, Việt Nam là một trong những quốc gia thựchiện khá thành công công cuộc giảm nghèo được thế giới ghi nhận và đánh giá cao.Tuy nhiên vấn đề tái nghèo vẫn còn khá phổ biến và tỉ lệ hộ cận nghèo còn cao Tạibuổi tọa đàm báo chí về chính sách giảm nghèo bền vững nhân ngày Vì ngườinghèo do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội tổ chức ngày 15 tháng 10 năm
Trang 172015, khi đánh giá hiệu quả của những chính sách giảm nghèo thời gian qua, Vụtrưởng, Chánh Văn phòng Quốc gia về giảm nghèo Ngô Trường Thi cho rằng, thựcchất giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ nghèo giảm, cận nghèo tăng Một ngườithoát nghèo là thoát chuẩn nghèo, chứ không phải thoát nghèo đúng nghĩa, thànhgiàu Tỷ lệ hộ cận nghèo còn khá cao, thường xuyên chiếm bằng 1/2 tỉ lệ hộ nghèo.Bên cạnh đó, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ 3 hộ thoát nghèo thì lại có 1 hộtrong số đó tái nghèo.
- Xu hướng nghèo tập trung vào đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số và khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Tại “Diễn đàn Phát triển dân tộc thiểu số 2015” do Hội đồng Dân tộc Quốchội, Văn phòng Chính phủ và Tổ chức Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp
tổ chức ngày 9 tháng 12 năm 2015 tại Hà Nội cho biết, vùng dân tộc và miền núichiếm gần 3/4 diện tích tự nhiên của Việt Nam, là địa bàn sinh sống của 54 dân tộc,trong đó có 53 dân tộc thiểu số với trên 13 triệu người, chiếm 14,28% dân số cảnước Dân tộc thiểu số có tỷ lệ đói nghèo rất cao, do hầu hết ở các vùng sâu, vùng
xa, núi cao nên những phúc lợi mà họ được hưởng rất ít, nhiều nơi còn chưa cóđiện, chưa phủ sóng điện thoại, chưa có nước sạch, chưa có đường nông thôn, chưa
có trường học, trạm y tế Mặc dù công tác xóa đói, giảm nghèo đối với dân tộc thiểu
số đã đạt được một số kết quả, nhưng một thực tế vẫn rất đáng quan tâm là ở cácvùng dân tộc thiểu số tỷ lệ hộ nghèo vẫn chiếm đến 47%, trong khi họ chỉ chiếmchưa đến 15% dân số cả nước Bên cạnh đó, nếu xét tỷ lệ nghèo theo vùng thì số hộnghèo tập trung ở một số vùng chiếm tỷ lệ cao như khu vực miền núi Đông Bắc,khu vực miền núi Tây Bắc và khu vực Tây Nguyên
- Khả năng phát sinh hình thức nghèo mới
Trong giai đoạn 2011-2015, nước ta đang sử dụng tiêu chí xét chuẩn nghèotheo thu nhập bình quân/người/tháng Trên thực tế hiện nay đã xuất hiện nhiều hìnhthức nghèo mới như: nghèo về giáo dục, nghèo về y tế, nghèo về các khía cạnh củachất lượng cuộc sống Do đó, theo quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướngchính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2015 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đachiều giai đoạn 2016-2020 đã quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đachiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lườngnghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 gồm tiêu chí về thu nhập và mức
độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (gồm 5 dịch vụ là y tế, giáo dục, nhà ở,nước sạch và vệ sinh, thông tin) Như vậy, hình thức nghèo mới trong giai đoạn tới
là nghèo đa chiều
- Hiệu quả giảm nghèo và tiếp cận chuẩn quốc tế
Trang 18Trong thời gian qua Đảng, Nhà nước và cộng đồng đã quan tâm đầu tư rất lớntrên nhiều phương diện cho công tác giảm nghèo Tuy nhiên, mức chuẩn nghèo củaViệt Nam còn thấp so với chuẩn nghèo quốc tế Bên cạnh đó, các chương trình,chính sách giảm nghèo của Việt Nam còn rời rạc và bị phân mảng Nguyên nhân là
do thời gian qua cũng như hiện tại, Việt Nam đang triển khai quá nhiều chươngtrình giảm nghèo dẫn đến sự chồng chéo giữa các chính sách giảm nghèo Cụ thể,những chính sách giảm nghèo này với tính chất từng chính sách đơn lẻ là các hợpphần của những chương trình, mục tiêu đơn lẻ được quản lý bởi các bộ, ngành khácnhau Vì thế, các chương trình này sẽ tạo ra một lượng lớn thời gian, tiền bạc chochi phí giao dịch trong quá trình thực hiện Và đây cũng chính là nguyên nhân dẫnđến kết quả mục tiêu không đạt được như mong đợi
1.1.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giảm nghèo bền vững
Yếu tố ảnh hưởng khách quan:
- Cơ chế chính sách của nhà nước, của địa phương
Để thực hiện giảm nghèo bền vững thì Nhà nước đóng vai trò là nhân tố quantrọng và quyết định Nhà nước đóng vai trò chủ đạo từ việc xây dựng chủ trương,ban hành các chính sách, xây dựng cơ chế điều hành, tạo nguồn vốn và tổ chức thựchiện Để thực hiện thành công mục tiêu giảm nghèo bền vững, các chính sách vànguồn lực phải được công khai, minh bạch, hỗ trợ đúng đối tượng và hiệu quả;chuyển dần từ hình thức hỗ trợ cho không sang hỗ trợ có điều kiện, hoặc có thu hồi,
để người nghèo có ý thức bảo toàn vốn, tránh tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợcủa Nhà nước
Bên cạnh đó, các địa phương cần chủ động thực hiện có hiệu quả các chínhsách giảm nghèo của Nhà nước, chủ động ban hành các chính sách phù hợp với quyđịnh của Nhà nước và với đặc thù của địa phương mình trong công tác giảm nghèobền vững Trên cơ sở tiềm năng của mỗi địa phương, cần nghiên cứu ban hànhchính sách thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh nông,lâm nghiệp, du lịch, dịch vụ góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm tạichỗ cho lao động nông thôn các huyện nghèo, xã nghèo
Khuyến khích hộ nghèo, xã nghèo vươn lên thoát nghèo, thông qua hình thứctăng thêm nguồn lực đối với những địa bàn thực hiện tốt; cắt giảm các huyện, xãthực hiện kém hiệu quả, thất thoát lãng phí nguồn vốn đầu tư Áp dụng cơ chế quản
lý bảo toàn nguồn kinh phí hỗ trợ thực hiện các mô hình giảm nghèo ở các địaphương để có điều kiện nhân rộng mô hình và tăng trách nhiệm sử dụng vốn
Trang 19- Sự phối hợp của các ban ngành, các tổ chức đoàn thể trong tổ chức thực hiện giảm nghèo bền vững
Trách nhiệm giảm nghèo bền vững không chỉ riêng là trách nhiệm của nhànước hay một tổ chức nào mà là trách nhiệm chung của toàn xã hội Để giảm nghèo
và giảm nghèo bền vững, vai trò của cộng đồng, doanh nghiệp và các tổ chức kinh
tế - xã hội là nhân tố không thể thiếu, nó được thể hiện bằng sự chia sẻ nguồn lực,
hỗ trợ các hộ nghèo trên các mặt hoạt động như vốn, tạo thị trường, tạo việc làm,đào tạo lao động hoặc liên doanh liên kết nhằm tạo cơ hội và thúc đẩy hộ nghèovươn lên thoát nghèo
Một trong những vai trò quan trọng của doanh nghiệp đối với công cuộc giảmnghèo là giải quyết đầu ra cho người sản xuất Theo xu hướng hỗ trợ giảm nghèobền vững, các nội dung hỗ trợ trực tiếp (bằng tiền, hiện vật tiêu dùng) đã giảm dần
và được thay thế bằng các hỗ trợ có tác động lâu dài hơn như nâng cao kiến thức,phát triển sản xuất, tiếp cận thị trường Trong đó thì vấn đề phát triển sản xuất vàtiếp cận thị trường luôn gắn chặt với nhau Nếu sản xuất mà không có đầu ra thì ýnghĩa hỗ trợ giảm nghèo của nó sẽ hầu như biến mất, thậm chí còn tạo thêm gánhnặng cho người được hỗ trợ Và ở khâu giải quyết đầu ra, tiếp cận thị trường, sựhợp tác của các doanh nghiệp có ý nghĩa vô cùng quan trọng
Yếu tố ảnh hưởng chủ quan
- Nguồn lực xóa đói giảm nghèo
Muốn thực hiện thành công công tác giảm nghèo bền vững thì nhất thiết cầnphải có nguồn lực dành cho công tác này Bên cạnh nguồn ngân sách nhà nước thìcông tác xã hội hóa hoạt động giảm nghèo, đặc biệt là xã hội hóa về nguồn lực,nhân lực và vật lực ngày càng đóng vai trò quan trọng Cùng với sự chia sẻ tráchnhiệm xã hội của mọi người dân trong việc trợ giúp người nghèo thì sự đồng thuận,giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, các quốc gia cũng góp phần không nhỏ trong côngcuộc giảm nghèo của Việt Nam
- Ý thức vươn lên thoát nghèo
Hộ nghèo và người nghèo nói chung vừa là chủ thể và là khách thể của quátrình giảm nghèo, đòi hỏi bản thân hộ nghèo và cộng đồng người nghèo phải ý thứcđược ý nghĩa then chốt, tầm quan trọng cũng như nội dung của việc thoát nghèo Từ
sự hỗ trợ của Nhà nước, của cộng đồng cần phải có sự chủ động, tính tích cực của
hộ nghèo được thể hiện thông qua ý thức vươn lên tự thoát nghèo của họ Nếukhông có sự chủ động này thì mọi sự hỗ trợ từ bên ngoài cho giảm nghèo sẽ khôngđạt hiệu quả, thậm chí còn có tác dụng tiêu cực đó là tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờvào sự hỗ trợ, thụ động trong vươn lên thoát nghèo
Trang 201.2 Cơ sở thực tiễn về giảm nghèo bền vững
1.2.1 Kinh nghiệm của Thế giới và bài học đối với Việt Nam
1.2.1.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Nhờ những cố gắng tích cực của mình trong nhiều năm liên tục, Trung Quốc
đã đạt được những thành tựu đáng kể trong cuộc chiến chống đói nghèo kể từ cuốinhững năm 70, trở thành một trong những điểm sáng nổi bật về xóa đói giảm nghèotrong khu vực Châu Á cũng như Thái Bình Dương Số người nghèo ở Trung Quốcgiảm mạnh từ 250 triệu người năm 1978 xuống còn 50 triệu người năm 1997 Việcgiảm quy mô nghèo đói đó trong một thời gian ngắn như vậy là chưa từng có trongquá khứ và được xem là một trong những thành tựu lớn nhất trong sự phát triển conngười trong thế kỉ 20 Gắn liền với sự phát triển của kinh tế xã hội, các chính sách
và chiến lược xóa đói giảm nghèo, những thành quả xóa đói giảm nghèo của TrungQuốc có thể chia thành 5 giai đoạn: 1978-1985, 1986-1993, 1994-2000, 2001-2010
và 2011-2015
- Giai đoạn 1 (1978-1985): trước năm 1978, số người dân Trung Quốc sống
dưới mức nghèo mà chính phủ nước này đề ra vượt quá 250 triệu người và chiếmtới 33% tổng số dân sống ở nông thôn Mặc dù, tình trạng nghèo đói nghiêm trọngnày đã gây ra rất nhiều vấn đề, một vấn đề nghiêm trọng trong số đó là việc nắm giữđất đai của những người không có mong muốn sử dụng nó để sản xuất trong cộngđồng Nói cách khác, hệ thống vận hành của ngành nông nghiệp là không phù hợpcho sự phát triển Do đó, sự thay đổi trong hệ thống này được xem như một biệnpháp quan trọng cho việc giảm nghèo đói Sự cải cách này bao gồm hai mảng chính:
+ Thứ nhất, trong cơ cấu của những người chủ ruộng đất, hệ thống sản xuất
tập trung của cộng đồng đã được thay thế bằng việc quy trách nhiệm cho từng hộgia đình, nghĩa là cho họ tự quyết định về việc sản xuất của mình, gắn liền giữacông sức, tiền của họ bỏ ra để sản xuất với sản phẩm mà cá nhân hay hộ gia đình đóthu được Sự thay đổi này đã khuấy động được tinh thần của nông dân, nhận được
sự hưởng ứng tích cực từ họ Năng suất lao động được giải phóng trong khi đầu vàongày càng tăng lên
+ Thứ hai, sự tự do hóa trong giá của các sản phẩm nông nghiệp trên thị
trường, hệ thống thị trường cho các sản phẩm nông nghiệp đã được xây dựng lại.Các công ty kinh doanh được thúc đẩy phát triển do lượng vốn lớn đầu tư vào ngànhnông nghiệp và các công ty này Nhờ những sự thay đổi này, đất đai đã được khaithác toàn diện và sử dụng hợp lý Nền kinh tế quốc dân phát triển rất nhanh Sự giatăng trong giá của các sản phẩm nông nghiệp cùng với áp dụng máy móc hiện đại
Trang 21hơn vào trong sản xuất nông nghiệp tao ra giá trị gia tăng lớn hơn của các sản phẩmđầu ra Lao động ở nông thôn đã được thuê hay kiếm được việc làm trong nhữngngành không phải nông nghiệp Những người dân nghèo đã được lợi từ những thayđổi này, rất nhiều người nông dân thoát khỏi mức nghèo và tình trang lạc hậu.Trong những năm 1978- 1985, tổng số dân sống dưới mức nghèo của quốc gia này
đã giảm từ 250 triệu người xuống còn 97 triệu người, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 33%xuống 9,2%
- Giai đoạn 2 (1986-1993): vào giữa những năm 80, hầu hết các vùng nông
thôn đã đạt được sự phát triển kinh tế nhanh chóng nhờ những lợi thế riêng của từngvùng Tuy nhiên, do xã hội, kinh tế, lịch sử, điều kiện địa lý, và những sự hạn chế
mà khoảng cách giữa những vùng kém phát triển của Trung
Quốc với những vùng khác, mà đặc biệt là những vùng phát triển nhanh ngàycàng gia tăng Vấn đề phát triển không đều giữa các vùng nông thôn đã bắt đầu xuấthiện Cùng với sự gia tăng thu nhập ở nhiều vùng nông thôn của Trung Quốc, một
bộ phận lớn người dân có mức thu nhập thấp Nhiều người trong số họ không thểnuôi sống chính mình, không thể tự đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu của cuộcsống; không đủ thức ăn, quần áo hay không có nhà để ở Do đó, tiến độ giảm đóinghèo đã bị đổi chiều Tỷ lệ nghèo ở nông thôn đã tăng từ 10,4% lên 12,3 % Tỷ lệngười nghèo ở thành thị tăng từ 0,2% năm 1988 lên 0,4% năm 1990 và tỷ lệ ngườilớn mù chữ tăng lên từ 23,5% năm 1982 lên đến 26,8% năm 1987 Những ngườidân nghèo thường tập trung chủ yếu ở một số vùng nhất định, chủ yếu là nhữngvùng kinh tế kém phát triển ở miền trung và tây của Trung Quốc Nhiều khu vựctrong số đó là những cơ sở cách mạng cũ, những vùng nhỏ xa xôi hay ở biên giới
Do đó chính phủ Trung Quốc đã đưa ra nhiều chương trình quan trọng để giải quyếtvấn đề nghèo đói ở vùng nông thôn, chẳng hạn như năm 1984, chính phủ đưa ra
“Khai báo về thay đổi tình trạng nghèo đói ở nông thôn trong một thời gian ngắn”đòi hỏi sự tập trung cao độ của chính quyền các cấp, các giải pháp hiệu quả cùngthái độ tích cực; hay năm 1986, chính phủ Trung Quốc đã thành lập tổ chức giúp đỡphát triển kinh tế ở những vùng nghèo Bên cạnh những nỗ lực của nhà nước quacác chương trình xóa đói giảm nghèo được tổ chức ở rộng khắp ở Trung Quốc,người nông dân cũng xây dựng những chương trình đầu tư của chính họ, để giảiquyết những vấn đề liên quan đến cuộc sống của chính mình, giảm nghèo đói và cócuộc sống tốt hơn Cuối năm 1992, sau 7 năm thực hiện các hoạt động xóa đói giảmnghèo với định hướng phát triển, số người nghèo ở vùng nông thôn đã giảm còn 80triệu người, chiếm tỷ lệ 8,8 % dân số
Trang 22- Giai đoạn 3 (1994- 2000): Sự ra đời của kế hoạch xóa đói giảm nghèo 8-7
(1994-2000) đã mở một trang mới trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của TrungQuốc Điểm chính của kế hoạch 8-7 này là chính phủ Trung Quốc sẽ cố gắng loại
bỏ sự nghèo khổ tuyệt đối trong vòng 7 năm thông qua các chính sách thuế, hỗ trợtài chính và các chương trình phát triển xã hội 592 vùng nghèo nhất được chọn ra
từ hơn 2.000 khu vực của Trung Quốc, được xem như “các vùng nghèo quốc gia”.Khoảng hơn 70% trong số 80 triệu người nghèo tập trung ở 592 vùng này có điềukiện môi trường rất kém với điều kiện kinh tế xã hội lạc hậu vào năm 1994 Qua cácnăm nỗ lực đó, dân số thuộc diện nghèo đã giảm xuống đáng kể còn 32,1 triệungười và chiếm tỷ lệ 3,4% vào cuối năm 2000
- Giai đoạn 4 (2001-2010): Chương trình xóa đói giảm nghèo theo định hướng
phát triển giai đoạn 2001- 2010 đã được chính phủ Trung Quốc xúc tiến và áp dụng,với mục tiêu giải quyết những vấn đề cơ bản về cuộc sống của những người thuộcdiện nghèo tuyệt đối và giúp nhóm thu nhập thấp nâng cao khả năng phát triển của
họ Chương trình này đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Công việc xóa đói giảmnghèo không chỉ để giải quyết những khó khăn trong cuộc sống của người nghèo
mà nó cũng giúp đỡ những người cận nghèo bằng việc nâng cao khả năng chống đỡcuộc sống của họ nhờ nâng cao thu nhập, đời sống cũng như điều kiện làm việc.Bên cạnh đó, chương trình đã tập trung phát triển một cách tổng thể, toàn bộ vềnhiều mặt như nâng cao cơ sở hạ tầng, giáo dục, chăm sóc sức khỏe cộng đồng vàvăn hóa; thông qua đó tạo nên một sự phát triển hài hòa giữa kinh tế và xã hội củanhững vùng khó khăn Kể từ năm 2001, cả số lượng lẫn tỷ lệ người nghèo đều giảmtheo thời gian
- Giai đoạn 5 (2011-2015): Chính phủ Trung Quốc đã triển khai nhiều chính
sách ưu tiên cho phát triển nông thôn như loại bỏ thuế nông nghiệp và lệ phí, giatăng hỗ trợ trực tiếp nông nghiệp; miễn giảm học phí cho giáo dục bắt buộc ở cácvùng nông thôn; mở rộng phạm vi cung cấp bảo hiểm y tế nông thôn; triển khai đề
án hỗ trợ y tế nông thôn và chương trình hỗ trợ y tế tối thiểu Đây là những chínhsách quan trọng trong việc giảm khoảng cách giữa tỷ lệ nghèo ở khu vực nông thôn
và khu vực thành thị
Kết quả giảm nghèo của Trung Quốc: trong suốt thời gian gần 40 năm kể từ
khi cải cách kinh tế, công cuộc xóa đói giảm nghèo của Trung Quốc đã được quantâm và tiến hành liên tục, đạt được nhiều thành tựu ấn tượng về nhiều mặt Năm
1978, Trung Quốc có 250 triêụ dân số nghèo khó, qua nỗ lưc ̣ trong nhiều năm qua,tinh́ theo mức chuẩn xóa đói giảm nghèo ở 1.274 nhân dân tê ̣cuối năm 2010, dân sốnghèo khó của Trung Quốc đã giảm xuống chỉ còn 26,88 triêụ người, đồng thời dâñ
Trang 23đầu thưc ̣ hiêṇ muc ̣ tiêu giảm thiểu môṭ nửa dân số nghèo khó theo Muc ̣ tiêu Pháttriển thiên niên kỷ của Liên Hơp ̣ Quốc Năm 2011, Trung Quốc quyết đinḥ lấy2.300 nhân dân tê ̣thu nhâp ̣ ròng binh̀ quân đầu người nông dân làm mức chuẩn xóađói giảm nghèo cấp Quốc gia, tương đương với khoảng 361 USD/năm, tăng 92% sovới năm 2009 Viêc ̣ công bố mức chuẩn mới này đã khiến số lượng và diện che phủdân số nghèo khó của Trung Quốc nâng từ 26,88 triêụ năm 2010 lên tới 128 triêụngười năm 2011 Tuy nhiên, đến năm 2015 số người nghèo ở Trung Quốc chỉ còn55,75 triệu người, giảm 72,25 triệu người so với năm 2011, trung bình mỗi nămTrung Quốc giảm được 14,45 triệu người nghèo.
1.2.1.2 Kinh nghiệm của Malaysia
Malaysia là một đất nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, là đất nước có nềnvăn hóa đa dạng, cũng như một nền kinh tế có tiềm năng phát triển của Đông Nam
Á Kể từ khi độc lập vào năm 1957, Malaysia đã chuyển đổi thành công từ mộtnước nghèo trở thành một nước thu nhập trung bình Nền kinh tế Malaysia tăngtrưởng khá cao và ổn định, trung bình ở mức từ 6,0%/năm đến 8,0%/năm Bên cạnh
đó, Malaysia cũng gặt hái được nhiều thành công trong công cuộc xóa đói giảmnghèo của mình
Malaysia phát triển chuẩn nghèo riêng của mình trong những năm 1970 khichính sách quốc gia của chính phủ đã đưa ra một ưu tiên cao xóa đói giảm nghèo.Chính phủ sử dụng chuẩn nghèo trên cơ sở đánh giá mức tiêu thụ tối thiểu của một
hộ gia đình cỡ trung bình cho thức ăn, chỗ ở, quần áo và các nhu cầu phi lương thựckhác Tại Malaysia, có hai khái niệm liên quan đến nghèo đói, đó là nghèo tuyệt đối
và nghèo tương đối Nghèo tuyệt đối được định nghĩa là một tình trạng mà trong đótổng thu nhập hàng tháng của một hộ gia đình là không đủ để mua nhu cầu cần thiếttối thiểu của cuộc sống Đối với nghèo tương đối, khái niệm được sử dụng ởMalaysia được liên kết với các khái niệm về chênh lệch thu nhập giữa các nhóm.Theo đó, một nhóm có thu nhập ít hơn nhóm khác thì được xác định là nằm trongnhóm tương đối nghèo nàn Theo định nghĩa đó, nó có thể xác định một nhóm(người dân nông thôn) là đang nằm trong nhóm nghèo so với nhóm khác (cư dân đôthị) Chiến lược xóa đói giảm nghèo ở Malaysia tập trung vào hai mục tiêu:
- Chính sách xóa đói giảm nghèo được xây dựng để tạo ra một môi trường hỗtrợ trong một thời gian dài, ổn định và liên tục Tạo ra cơ chế hỗ trợ thu nhập chongười nghèo, đồng thời hoạt động trợ cấp trực tiếp cho người nghèo dần được loạibỏ
Trang 24- Các chính sách của chính phủ thực hiện trong khu vực công phải cam kết cảithiện phúc lợi và hạnh phúc cho tất cả người dân Malaysia.
Các chính sách, biện pháp giảm nghèo ở Malaysia từ năm 1970 đến nay bao gồm:
- Những người không có đất, không nắm giữ kinh tế sẽ được tái định cư theo
đề án phát triển đất đai, nơi họ có thể làm việc và cuối cùng là có thể sở hữu đất đai,cao su, dầu và các đồn điền cọ theo kế hoạch của chính phủ
- Phát triển diện tích đất nông nghiệp hiện tại theo hướng phục hồi và củng cốđất, thay thế các giống cây trồng cũ bằng các giống cây thương mại mới với năngsuất cao hơn
- Kết hợp nông nghiệp và phát triển nông thôn với chế biến nông sản Khuyếnkhích sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến để tăng thêm nguồn thu nhập bổsung
- Thành lập thị trường của nông dân ở đô thị, ở các trung tâm để cho phépnông dân bán sản phẩm của mình trực tiếp thay vì thông qua người trung gian, do
đó cho phép họ bán được sản phẩm với giá tốt hơn
- Thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn, xây dựng,
mở rộng các cơ sở tín dụng và tổ chức hỗ trợ liên quan để hỗ trợ lao độngnông thôn có thể tìm được việc làm trong các ngành nghề phi nông nghiệp hoặc bắtđầu các doanh nghiệp riêng của họ ở khu vực nông thôn
- Thực hiện các chương trình y tế công cộng, cung cấp bảo hiểm cho ngườinghèo và các đối tượng bảo trợ xã hội Bên cạnh đó, chính phủ Malaysia còn thựchiện các chính sách khác như miễn, giảm học phí trong hệ thống giáo dục quốc dân
và trợ cấp thất nghiệp cho người nghèo
- Khuyến khích sự tham gia của tư nhân, các tổ chức chính trị xã hội vào côngcuộc xóa đói giảm nghèo như ủng hộ các quỹ vì người nghèo, bảo lãnh tín dụng chongười nghèo, hỗ trợ người nghèo trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm đầu ra
- Để thực hiện giảm nghèo đồng bộ, trên nhiều lĩnh vực, chính phủ Malaysia
đã thực hiện chính sách ưu tiên cao khi đầu tư vào các lĩnh vực: thúc đẩy ngànhnông nghiệp; Tăng cường các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nâng cao phúc lợi của sinhviên; Tăng cường giáo dục mầm non; Tăng quyền sở hữu nhà ở; Mở rộng các cơ sở
y tế công cộng; Tăng cường mạng lưới an sinh xã hội; Cải thiện chế độ hưu trí và
mở rộng tài chính vi mô
Những thành tựu đạt được: bằng nhiều chính sách, biện pháp được chính phủ
và người dân nỗ lực thực hiện, Malaysia đã rất thành công trong công cuộc xóa đói
Trang 25giảm nghèo Tỷ lệ nghèo đã giảm từ 49,3% năm 1970 xuống còn 5,5% vào năm
2000 Đến năm 2015, tỷ lệ nghèo ở Malaysia chỉ còn 0,6% Trong giai đoạn tới,chính phủ Malaysia vẫn cam kết sẽ hỗ trợ và đảm bảo phúc lợi xã hội cho ngườinghèo, người dễ bị tổn thương trong xã hội
Bài học kinh nghiệm để giảm nghèo bền vững đối với Việt Nam
Qua nghiên cứu kinh nghiệm xoá đói giảm nghèo của Trung Quốc vàMalaysia, chúng ta có thể rút ra những bài học bổ ích cho Việt Nam trong công tácgiảm nghèo bền vững Đó là:
- Thứ nhất, đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn, coi đây là khu vực và
là đối tượng ưu tiên trọng điểm Trong đó nông nghiệp đóng vai trò quan trọng thúcđẩy tăng trưởng trong thời kỳ đầu của sự phát triển Do vậy, cần có chính sách đấtđai phù hợp, đầu tư kết cấu hạ tầng cho nông thôn góp phần phát triển kinh tế, giảiquyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân, xoá đói giảm nghèo
- Thứ hai, Nhà nước quan tâm hỗ trợ trong việc trang bị kiến thức, đào tạo
nghề và giải quyết việc làm cho người lao động
- Thứ ba, nhà nước cần áp dụng và thay đổi các chính sách xóa đói giảm
nghèo phù hợp với từng giai đoạn phát triển
- Thứ tư, nhà nước không nên can thiệp trực tiếp tới hộ nghèo, mà chỉ thông
qua các chính sách vĩ mô tạo môi trường kinh tế - xã hội thuận lợi để bản thân hộnghèo tự phấn đấu vượt qua đói nghèo
1.2.2 Kinh nghiệm của một số địa phương trong nước và bài học đối với huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Tác giả nghiên cứu kinh nghiệm giảm nghèo bền vững ở huyện Chợ Đồn, tỉnhBắc Kạn và 2 huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang là huyện Chiêm Hóa và huyện LâmBình là hai địa bàn có nhiều điểm tương đồng về điều kiện tự nhiên cũng như điềukiện kinh tế xã hội, đặc biệt là tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ trọng cao,trong khi đó hộ nghèo lại chủ yếu rơi vào nhóm người này
1.2.2.1 Kinh nghiệm huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn
Huyện Chợ Đồn nằm ở phía Tây của tỉnh Bắc Kạn, có diện tích tự nhiên91.115 ha chiếm 18,75% diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn Huyện Chợ Đồn córanh giới tiếp giáp như sau: phía Bắc giáp huyện Ba Bể; Phía Nam giáp huyện ĐịnhHoá tỉnh Thái Nguyên; Phía Đông giáp huyện Bạch Thông, huyện Chợ Mới; PhíaTây giáp huyện Chiêm Hoá, Yên Sơn, Na Hang tỉnh Tuyên Quang Huyện Chợ Đồn
có 22 xã, thị trấn (thị trấn Bằng Lũng) Địa bàn rộng, đồng bào dân tộc thiểu số
Trang 26chiếm 93,46% trong đó nhiều nơi vẫn còn tập quán canh tác lạc hậu khiến cuộcsống của người dân gặp không ít khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức cao Năm
2011, tỷ lệ hộ nghèo của toàn huyện chiếm gần 26% Trước tình hình trên, Đảng bộ,chính quyền huyện đã xác định công tác xóa đói, giảm nghèo là nhiệm vụ quantrọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương, thời gian qua, huyệnChợ Đồn đã có nhiều giải pháp thiết thực giúp người dân giảm nghèo bền vững
- Thứ nhất, huyện chú trọng công tác tuyên truyền nhằm tạo sự chuyển biến
trong nhận thức của người dân về công tác xóa đói giảm nghèo, qua đó khơi dậytinh thần tự lực trong phát triển kinh tế gia đình
- Thứ hai, xác định nông lâm nghiệp là lĩnh vực kinh tế chủ lực, các ban,
ngành chuyên môn của huyện đã phối hợp với các địa phương chuyển giao ứngdụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, hướng dẫn người dân thâm canh, tăng
vụ nhằm tăng năng suất, chất lượng các sản phẩm nông nghiệp Huyện chú trọngxây dựng và nhân rộng các mô hình trồng trọt, chăn nuôi như mô hình trồng camquýt, trông chè Giảo cổ lam, mô hình trồng lúa, sắn cao sản xen canh với rừngtrồng, hay mô hình nuôi trâu, bò, dê sinh sản… Để triển khai các mô hình này mộtcách hiệu quả, các cấp, ngành, đoàn thể trong huyện đã tín chấp với Ngân hàngChính sách xã hội, tạo điều kiện cho các hộ nghèo vay vốn Sau nhiều năm đồnghành cùng người nghèo trên địa bàn, phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách xã hội
đã thực hiện giải ngân hàng trăm tỷ đồng thông qua các chương trình cho vay ưuđãi, qua đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho đồng bào có cơ hội tiếp cận với nguồnvốn để đầu tư phát triển sản xuất, tăng thu nhập cho gia đình Bên cạnh đó, ngườidân còn được tham gia vào các buổi tư vấn, trao đổi kinh nghiệm để sử dụng cóhiệu quả nguồn vốn vay Nhờ vậy, trên địa bàn huyện đã có không ít hộ thoát nghèomột cách bền vững, không còn trường hợp người dân vay vốn về sử dụng khôngđúng mục đích, hiệu quả sử dụng nguồn vốn thấp dẫn đến gặp khó khăn khi hoàntrả vốn vay
- Thứ ba, phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện phối hợp với các
hội, đoàn thể mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức cho nông dân và dạy nghềngắn hạn cho các hộ nghèo Riêng trong năm 2014, huyện đã mở đươc ̣ 23 lớp đàotaọ nghềcho lao đông ̣ nông thôn taịcác xa,̃ thi ̣trấn với 690 học viên tham gia; giảiquyết việc làm mới cho 675 người Công tác đào tạo nghề đã từng bước góp phầnchuyển dịch cơ cấu lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, tạo ra việc làm mới, tăng thunhập cho người dân, nhất là người dân nghèo trên địa bàn Không chỉ vậy, hàngnăm huyện Chợ Đồn đã dành một khoản ngân sách lớn để hỗ trợ xây dựng nhà ở
Trang 27cho người nghèo, thăm, tặng quà, cấp gạo dịp Tết nguyên đán giúp chia sẻ, độngviên các hộ nghèo vươn lên, ổn định cuộc sống.
Kết quả giảm nghèo: bằng việc vận dụng tốt các cơ chế, chính sách và huy
động các nguồn lực thực hiện, chương trình giảm nghèo trên địa bàn huyện ChợĐồn đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận Từ tỷ lệ hộ nghèo 26% năm 2011 thìđến hết năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn 7,07%, trung bình mỗi năm giảm được3,8% Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Chợ Đồn thấp hơn mức trung bình của cả tỉnh(11,24%) Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn, song đây có thể coi là một nỗ lực lớncủa cả hệ thống chính trị và người dân huyện Chợ Đồn tỉnh Bắc Kạn
1.2.2.2 Kinh nghiệm huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Chiêm Hóa là một huyện miền núi của tỉnh Tuyên Quang, cách trung tâm tỉnh
67 km về phía Bắc Huyện có diện tích tự nhiên 1.278,82km2 với 25 xã và 01 thịtrấn Dân số của huyện năm 2015 là trên 130 nghìn người, có 18 dân tộc anh emcùng chung sống, trong đó dân tộc thiểu số chiếm trên 80% tổng dân số toàn huyện.Huyện Chiêm Hóa có ranh giới tiếp giáp như sau: Phía Bắc giáp huyện Na Hang,Lâm Bình; Phía Nam giáp huyện Yên Sơn; Phía Đông giáp huyện Chợ Đồn, tỉnhBắc Kạn; Phía Tây giáp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và huyện Bắc Quangtỉnh Hà Giang
Với tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 là 49,78%, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộhuyện Chiêm Hóa lần thứ XX nhiệm kỳ 2011 - 2015 đã phấn đấu tăng tỷ lệ hộ khágiàu, giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo Huyện đề ra mục tiêu mỗi năm giảm trên 5% tỷ lệ
hộ nghèo Thực hiện Nghị quyết, Đảng bộ huyện Chiêm Hóa đã cụ thể hóa nhữngnhiệm vụ trọng tâm về các chương trình phát triển kinh tế, đặc biệt là công tác xóađói giảm nghèo, hỗ trợ các gia đình chính sách khó khăn trên địa bàn Huyện đã chỉđạo các ngành chuyên môn cùng các địa phương tiến hành tìm hiểu, khảo sát, ràsoát các hộ nghèo, hộ cận nghèo, qua đó xác định được nguyên nhân chính các hộnghèo từ đó có giải pháp giảm nghèo hiệu quả Các giải pháp đó là:
- Thứ nhất, trên cơ sở điều tra tình hình đói nghèo hàng năm, Đảng bộ và
chính quyền huyện tìm mọi biện pháp như huy động nguồn trợ giúp từ các ngành,các cơ quan, phát động ủng hộ Quỹ vì người nghèo của huyện để giúp đỡ các hộnghèo có vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, có tư liệu để sản xuất, học tập kinhnghiệm từ các mô hình kinh tế điển hình
- Thứ hai, huyện chú trọng công tác giải quyết việc làm cho các hộ nghèo
thông qua việc cho vay các nguồn vốn tín dụng, tổ chức các lớp đào tạo nghề tại địaphương Trong giai đoạn 2011-2015, đã có trên 2 nghìn lao động nông thôn là đoàn
Trang 28viên, hội viên thuộc các tổ chức, đoàn thể ở các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đượctham gia các lớp đào tạo nghề về nông, lâm nghiệp, kỹ thuật trồng nấm, sửa chữamáy nông nghiệp, chăn nuôi gia súc Từ các lớp đào tạo nghề ngắn hạn, huyện đãđịnh hướng cho người dân cách thức phát triển kinh tế phù hợp với điều kiện thực tế
của gia đình và địa phương, từ đó có thêm thu nhập, ổn định cuộc sống Ngoài ra,
công tác giải quyết việc làm cho hộ nghèo cũng được đẩy mạnh thực hiện Tronggiai đoạn 2011-2015, đã có gần 600 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đượctạo việc làm và có thu nhập ổn định
- Thứ ba, tạo điều kiện cho các hộ nghèo tiếp cận được với nguồn vốn tín
dụng Mỗi năm từ nguồn vốn tín dụng đã giúp khoảng 200 hộ thoát nghèo, 400 hộnghèo được cải thiện đời sống, thu hút trên 100 lao động có việc làm, tạo điều kiệncho trên 200 sinh viên được vay vốn đi học Tổng dư nợ từ nguồn vốn tín dụng ưuđãi đến hết năm 2015 là hơn 200 tỷ đồng với trên 17 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cậnnghèo được vay vốn
- Thứ tư, thực hiện tốt chính sách về an sinh xã hội, trợ giúp người nghèo.
Trong giai đoạn 2011-2015, đã có trên 15.400 lượt người nghèo được cấp thẻbảo hiểm y tế, được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trên 2.270 học sinh,sinh viên được hỗ trợ miễn giảm học phí với tổng kinh phí trên 196 tỷ đồng Bêncạnh đó, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, huyện Chiêm Hóa cũng đã có trên 1.000lượt hộ nghèo được hỗ trợ và sửa chữa nhà ở với tổng kinh phí trên 11,8 tỷ đồng.Ngoài ra, huyện còn trực tiếp hỗ trợ cho 6.855 hộ gia đình về lương thực; xây dựng
5 công trình cấp nước sinh hoạt với 413 hộ gia đình được hưởng thụ tại các xã đặcbiệt khó khăn với tổng kinh phí trên 2,2 tỷ đồng
Một trong những thành công nhất trong công tác xóa đói giảm nghèo ở ChiêmHóa trong giai đoạn 2011 - 2015 đó là việc giúp đỡ các hộ gia đình chính sách, giađình có công với cách mạng là hộ nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn vươn lên thoátnghèo, ổn định cuộc sống 100% hộ gia đình chính sách nghèo đã được các cấpchính quyền huyện Chiêm Hóa giúp đỡ để vươn lên thoát nghèo bền vững Huyệnphấn đấu sẽ tiếp tục có các biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ các gia đình chính sách, quyếttâm không để các hộ chính sách rơi vào diện hộ nghèo
Kết quả đạt được: Với những nỗ lực của toàn đảng bộ và nhân dân huyện
Chiêm Hóa, trong 5 năm qua, toàn huyện đã có trên 9 nghìn hộ nghèo thoát nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 49,78% năm 2010 giảm xuống còn 18,2% năm 2015, trungbình mỗi năm giảm được 6,3% Kết quả trên là bởi Đảng bộ và chính quyền huyện
đã có những chủ trương, giải pháp đúng hướng và phù hợp nguyện vọng của nhân
Trang 29dân, qua đó giúp những gia đình khó khăn có đủ nghị lực và niềm tin phấn đấuvươn lên làm giàu cho chính mình và cho xã hội.
1.2.2.3 Kinh nghiệm của huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang
Huyện Lâm Bình tỉnh Tuyên Quang được thành lập ngày 28/01/2011 theoNghị quyết số 07-NQ/CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Na Hang vàhuyện Chiêm Hóa để thành lập huyện Lâm Bình thuộc tỉnh Tuyên Quang HuyệnLâm Bình cách trung tâm Thành phố Tuyên Quang 150 km, là huyện vùng cao,
vùng sâu, xa của tỉnh Năm 2015, huyện có trên 7.140 hộ gia đình với trên 32.200 nhân khẩu, sinh sống tại 8 xã trong huyện Huyện có trên 10 dân tộc anh em cùng
sinh sống xen kẽ ở 75 thôn, bản, trong đó dân tộc Tày chiếm trên 60% Huyện LâmBình có vị trí tiếp giáp như sau: Phía Đông giáp huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang;Phía Đông Bắc giáp huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; Phía Tây và Tây Bắc giáphuyện Vị Xuyên và huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang; Phía Nam giáp huyện ChiêmHóa, tỉnh Tuyên Quang; Phía Bắc giáp huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang
Là huyện mới thành lập, để đưa huyện mới đi vào hoạt động ổn định và pháttriển kinh tế xã hội bền vững, công tác xóa đói, giảm nghèo được huyện xác định lànhiệm vụ trọng tâm hàng đầu Ngay sau khi thành lập và đưa vào hoạt động năm
2011, Ban Chỉ đạo giảm nghèo của huyện và các xã đã đề ra nhiều giải pháp đồng
bộ, sát với điều kiện thực tế, huy động tối đa các nguồn lực và dành ưu tiên đầu tưcho các thôn bản có tỷ lệ hộ nghèo cao, tạo điều kiện cho nhân dân tiếp cận với cácchương trình, chính sách hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo
- Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của toàn xã
hội về công tác giảm nghèo, đối với người nghèo cần khơi dậy ý chí chủ động vươnlên thoát nghèo không trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước
- Thứ hai, giúp đỡ các hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn vay Trong giai đoạn
2011-2015, đã có 4.435 lượt hộ nghèo, 811 lượt hộ cận nghèo được vay vốn, vớitổng số tiền trên 130 tỷ đồng, tổng dư nợ tín dụng đối với các hộ nghèo và hộ cậnnghèo trên 116 tỷ đồng để đầu tư, thực hiện việc chuyển giao và ứng dụng khoahọc, kỹ thuật công nghệ, từng bước cơ giới hóa trong sản xuất
- Thứ ba, chú trọng công tác trang bị kiến thức và giải quyết việc làm cho
người nghèo Các cơ quan chuyên môn của huyện đã tổ chức trên 670 lớp tập huấnsản xuất, trồng trọt, chăn nuôi theo mùa vụ cho 44.000 lượt người tham gia, trong
đó có trên 25.000 lượt hộ nghèo Ngoài ra còn mở hàng trăm lớp tập huấn Chươngtrình tam nông cho nông dân chủ chốt và mở các lớp tập huấn kỹ thuật trồng trọt,chăn nuôi cho các hộ thuộc diện di dân tái định cư Bên cạnh đó, công tác giải quyết
Trang 30việc làm được quan tâm và thực hiện có hiệu quả, 5 năm qua đã tạo việc làm mớicho trên 4.700 lao động.
- Thứ tư, công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ nhân dân luôn được
coi trọng và quan tâm đầu tư Bệnh viện Đa khoa huyện Lâm Bình, Trung tâm Y tếhuyện được thành lập và đi vào hoạt động, cơ sở vật chất từng bước được đầu tư; sốlượng, chất lượng đội ngũ y, bác sỹ được nâng cao, cơ bản đáp ứng nhu cầu khámchữa bệnh của nhân dân Các chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo, cậnnghèo bao gồm cả đầu tư cơ sở vật chất cho giáo dục; thực hiện chính sách cử tuyểnđối với học sinh dân tộc thiểu số, học sinh vùng sâu, vùng xa luôn được các cấp, cácngành quan tâm và triển khai thực hiện Các chính sách an sinh xã hội, trợ giúp cácđối tượng yếu thế, các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo được quan tâm thực hiện
- Thứ năm, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể Trong giai đoạn
2011-2015, các đoàn thể từ huyện tới cơ sở đã tích cực tuyên truyền, vận động đoàn viên,hội viên và nhân dân tham gia công tác giảm nghèo; triển khai các phong trào toàndân và các cuộc vận động, cụ thể là:
+ Hằng năm, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện xây dựng kế hoạch ủng hộ
“Quỹ vì người nghèo”, hỗ trợ làm nhà ở cho các hộ bị thiên tai, hỏa hoạn và hỗ trợ
quà tết cho các hộ nghèo với tổng số tiền hằng năm trên 400 triệu đồng
+ Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện thực hiện tín chấp cho 1.653 hội viên phụ nữnghèo vay vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phát triển kinh tế hộ gia
đình; vận động ủng hộ Quỹ “Mái ấm tình thương” được 85 triệu đồng, xét hỗ trợ
cho 06 hội viên phụ nữ nghèo tại các xã làm nhà ở mới
+ Hội Nông dân huyện đã chủ động xây dựng 4 dự án hỗ trợ nông dân pháttriển kinh tế gồm: Dự án chăn nuôi cá thịt trên vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quangthực hiện tại xã Khuôn Hà; Dự án nuôi trâu vỗ béo tại xã Bình An; Dự án chăn nuôilợn thịt tại xã Lăng Can và Dự án nuôi lợn nái sinh sản tại xã Thổ Bình và Khuôn
Hà Ngoài việc thực hiện có hiệu quả các dự án, Hội Nông dân huyện đã tín chấpcác nguồn vốn ủy thác từ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngânhàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam và Quỹ hỗ trợ Nông dân củaTrung ương hội cho hơn 1.000 hộ nông dân vay trên 28 tỷ đồng để phát triển kinhtế
+ Hội Cựu chiến binh huyện vận động các chi hội xây dựng Quỹ tự lập để các
hộ hội viên phát triển sản xuất với số tiền 215 triệu đồng; thành lập 38 tổ vay vốn tổliên kết vay vốn với Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện LâmBình với tổng số tiền là 39 tỷ đồng
Trang 31Kết quả đạt được: việc thực hiện đồng bộ các giải pháp giúp huyện Lâm Bình
giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn Từ tỷ lệ hộ nghèo là 71,16% đầu năm 2011thì đến cuối năm 2015, số hộ nghèo đã giảm còn 37,6%, mức giảm trung bình là6,7%/năm
Bài học kinh nghiệm cho giảm nghèo bền vững huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Thứ nhất, trong công tác giảm nghèo, tuy Nhà nước đóng vai trò quan trọng,
nhưng phải coi đây là nhiệm vụ của xã hội, mà trước hết là của chính những ngườidân nghèo phải tự giác vươn lên Cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dụccho người dân hiểu rõ vấn đề, hiểu rõ trách nhiệm của mình tránh tình trạng trôngchờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ cộng đồng, của Nhà nước;
Thứ hai, cần xã hội hoá công tác giảm nghèo, nhằm huy động tối đa các nguồn
vốn tăng cường đầu tư cho địa phương, các vùng có điều kiện khó khăn, kinh tếchưa phát triển, hỗ trợ cho người nghèo, nhằm tạo điều kiện các địa phương, cácvùng khắc phục khó khăn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tạo tiền đề cho các hộnghèo cải thiện đời sống vươn lên tự thoát nghèo;
Thứ ba, cần quan tâm đến vấn đề giải quyết việc làm cho người nghèo Bởi chỉ
có việc làm, chỉ có lao động mới giúp người nghèo tạo ra thu nhập để tự vươn lênthoát nghèo bền vững;
Thứ tư, cần có cơ chế, chính sách và kinh phí hợp lý, nhằm phát huy hiệu quả
công tác khuyến nông, khuyến lâm tăng cường nâng cao hiểu biết của người dântrong sản xuất nông lâm nghiệp;
Thứ năm, giúp đỡ các hộ nghèo tiếp cận và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
vay Nguồn vốn vay có vai trò rất quan trọng để người nghèo có vốn đầu tư cho sảnxuất kinh doanh Tuy nhiên, khi đã tiếp cận được nguồn vốn vay thì hiệu quả sửdụng vốn là điều rất quan trọng Do đó, các cơ quan, ban ngành của huyện cần có sự
hỗ trợ kịp thời về kiến thức làm ăn để giúp người nghèo sử dụng có hiệu quả nguồnvốn vay
Trang 32CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN YÊN SƠN, TỈNH TUYÊN QUANG
2.1 Khái quát về huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên
+ Phía bắc giáp huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang)
2.1.1.2 Địa hình, địa mạo
Địa hình huyện Yên Sơn hình thành ba vùng rõ nét:
+ Vùng thượng huyện (phía đông và đông bắc) là những dãy núi đá có độ caotrung bình khoảng 600 m so với mặt biển
+ Vùng trung và hạ huyện là những dãy đồi bát úp, đất đai màu mỡ, thích hợpcho cây công nghiệp như chè, cà phê, hoa màu và chăn nuôi gia súc
+ Phía tây huyện là nơi có những cánh đồng rộng phì nhiêu như Kim Phú,
An Tường, Mỹ Bằng, Lang Quán thích hợp cho phát triển cây lương thực, câycông nghiệp và chăn nuôi Ôm lấy những cánh đồng này là dãy núi Là đồ sộ (cóđỉnh cao hơn 900m so với mặt nước biển), núi Quạt, núi Nghiêm
2.1.1.3 Khí hậu, thời tiết
- Do địa hình phức tạp nên khí hậu ở Yên Sơn cũng phân thành hai khu vựckhác biệt:
+ Phía đông mát mẻ, ôn hòa;
+ Phía tây, nhiệt độ nóng hơn 10C, số ngày nắng và lượng mưa cũng cao hơnphía đông
Trang 33- Chảy qua địa bàn Yên Sơn có bốn con sông: sông Lô, sông Gâm, sông Chảy
ở phía tây và tây bắc, sông Phó Đáy ở phía đông cùng mạng lưới suối, ngòi dày đặc.Sông suối của huyện nhiều thác ghềnh, thường có lũ trong mùa mưa, tuy gây một sốkhó khăn trong phát triển kinh tế, xã hội song cũng có những tiềm năng, giá trị vềmặt kinh tế Ngoài cung cấp nước phục vụ đời sống, sản xuất, sông suối còn cungcấp nguồn thủy sản khá phong phú, có giá trị kinh tế cao phục vụ đời sống nhândân, đồng thời là đường giao thông quan trọng giữa các vùng và tiềm năng pháttriển thuỷ điện, du lịch
2.1.1.4 Các nguồn tài nguyên
- Tài nguyên đất đai
Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện năm 2015 là 113.301,54 ha
Trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm 103.301,54 ha, chiếm 91,65% tổngdiện tích đất; đất rừng sản xuất chiếm đến 63.878,76 ha, chiếm nhiều nhất đến hơn50% tổng diện tích đất nông nghiệp Diện tích đất phi nông nghiệp chiếm8.459,15ha, chiếm 7,47% tổng diện tích đất, trong đó đất dành cho quốc phòng, anninh; đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; đất ở; đấtsông ngòi kênh rạch suối chiếm nhiều hơn cả
Bảng 2.1.a Hiện trạng sử dụng đất huyện Yên Sơn năm 2015
ĐVT: Ha
(ha)
Cơ cấu (%)
Trang 342.4 Đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp SKC 69,23 0,062.5 Đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản SKS 109,69 0,102.6 Đất phát triển hạ tầng cấp quốc gia, cấp
tỉnh, cấp huyện, cấp xã
2.7 Đất có di tích lịch sử - văn hóa DDT 10,01 0,012.8 Đất bãi thải, xử lý chất thải DRA 34,79 0,03
2.11 Đất xây dựng trụ sở cơ quan TSC 21,99 0,022.12 Đất xây dựng trụ sở của tổ chức sự
nghiệp
2.14 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa, nhà
2.17 Đất khu vui chơi, giải trí công cộng DKV 0,02 0,00001
2.19 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 1.994,72 1,762.20 Đất có mặt nước chuyên dùng MNC 92,15 0,08
(Nguồn: Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện Yên Sơn)
Trang 35Bảng 2.1.b Kế hoạch chuyển đổi mục đích sử dụng đất năm 2016
Trong năm 2017, toàn huyện Yên Sơn đã trồng mới được hơn 3.000 ha rừng,đạt 105% kế hoạch Hiện nay, phát triển kinh tế lâm nghiệp đã trở thành giải phápthiết thực giúp phần lớn nhân dân huyện Yên Sơn nâng cao đời sống, góp phần thựchiện hiệu quả công tác giảm nghèo tại địa phương
- Tài nguyên du lịch:
Là địa bàn bao quanh thành phố Tuyên Quang, huyện Yên Sơn luôn gắn bóchặt chẽ với thành phố trên nhiều phương diện và có nhiều tiềm năng phát triểnkinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng Ngoài những lợi thế về đất đai, nguồn nhânlực, khoáng sản để phát triển nông nghiệp, công nghiệp, huyện có suối nướckhoáng nóng Mỹ Lâm, những cảnh đẹp như núi Nghiêm, các di tích lịch sử cáchmạng: ATK Kim Quan, Bình Ca, Làng Ngòi - Đá Bàn, Km7, Khe Lau các đền,chùa, đình mở ra khả năng phát triển du lịch, thu hút khách tham quan khi đếnTuyên Quang
Trang 36Huyện Yên Sơn tập trung khai thác những thế mạnh về lịch sử văn hoá để pháttriển du lịch Đây chính là một hoạt động văn hoá thu hút đông đảo khách du lịchtrong và ngoài tỉnh Huyện đã chú trọng khôi phục các lễ hội như: Lễ hội đìnhGiếng Tanh, xã Kim Phú; lễ hội đình Minh Cầm, xã Đội Bình; lễ hội Đầm Mây, lễhội đền Minh Lương, xã Lang Quán
Cùng với các hoạt động văn hoá, lễ hội, các giá trị văn hoá phi vật thể cũngđược duy trì, phát triển Các làn điệu hát then, hát cọi của dân tộc Tày; hát páo dungcủa dân tộc Dao; hát sình ca, múa Cầu mùa, múa Trống sành, múa Chim Gâu củadân tộc Cao Lan đang dần được khôi phục và phát huy giá trị văn hóa
Huyện đã triển khai quy hoạch và quản lý các quy hoạch trong lĩnh vực du lịchtrên địa bàn Phối hợp với các sở, ban, ngành của tỉnh và các cơ quan có liên quan,huyện đã hoàn thành quy hoạch Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; hoàn thành quyhoạch, tổ chức xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm điều dưỡng, phục hồichức năng của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam tại Khu du lịch điều dưỡng suốikhoáng Mỹ Lâm Huyện cũng đã tổ chức khảo sát khu vực hồ Ngòi Là (xã ChânSơn), núi Là (xã Lang Quán) để quy hoạch khu du lịch sinh thái
2.1.2 Điều kiện kinh tế, văn hóa - xã hội
2.1.2.1 Tình hình phát triển kinh tế
- Sản xuất phát triển nông nghiệp:
Thực hiện chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng cây côngnghiệp và tỷ trọng chăn nuôi Dự kiến sản xuất nông nghiệp tăng trưởng giá trị sảnxuất bình quân khoảng 6,63%/năm giai đoạn 2016 - 2020
Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vùng đất thấp có điều kiện khí hậu thuận lợi sangphát triển các cây, con có hiệu quả hơn, hình thành các vùng chuyên canh tập trung, giữ
ổn định diện tích lúa nước, ngô, đậu tương, dâu tằm v.v … nhưng nâng cao giá trị sảnxuất để mang lại giá trị canh tác cao nhất trên 1 đơn vị diện tích
Quy hoạch xây dựng và thực hiện vùng thâm canh nông nghiệp công nghệ cao(vị trí vùng giữa, vùng bãi bồi) để sản xuất các mặt hàng chủ lực như: Ngô; lúa;đậu; kén tằm … thịt bò; thịt lợn; thịt gia cầm
Quy hoạch các vùng sản xuất trọng điểm và thực hiện công việc theo kế hoạchđược phê duyệt tại vùng ven thành phố Tuyên Quang như: Kim Phú; Hoàng Khai;Trung Môn; Chân Sơn, Thái Bình … đều thuộc huyện Yên Sơn
Duy trì và ổn định diện tích cây lương thực có hạt Cải tạo giống, nâng caonăng suất cây trồng Nâng diện tích thâm canh lên 70% vào cuối kỳ quy hoạch vớinăng suất lúa xuân muộn khoảng 65 tạ/ha và lúa mùa năng suất cao hơn hiện nay
Trang 37khoảng 25% đảm bảo lương thực bình quân đầu người đạt 450 kg/người/năm vàonăm 2020.
- Sản xuất phát triển lâm nghiệp.
Phát triển lâm nghiệp gắn với chế biến Quản lý, bảo vệ rừng hiện có, chủđộng sản xuất cây giống, đảm bảo đủ giống tốt trồng rừng hàng năm để dữ độ chephủ rừng Bảo tồn sự đa dạng sinh học, ngăn chặn sự diệt vong của các loài, nhómloài, quần thể động thực vật, các vùng sinh thái Bảo tồn và phát triển hệ sinh tháiquy hiếm , tính đa dạng sinh học tạo tiềm năng cho phát triển du lịch
Thực hiện giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp với hộ gia đình cá nhân, các tổchức kinh tế để làm giàu rừng, trồng rừng và khai thác hợp lý
Xây dựng cơ sở chế biến lâm sản, tìm các đầu mối tiêu thụ sản phẩm lâm sản.Nghiên cứu phát triển nguồn nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp chế biến lâm sảntiểu thủ công nghiệp như: chế biến gỗ, mây, giang đan …
Phấn đấu độ che phủ rừng đến năm 2020 là 65% trồng mới 10.000 ha rừng,khai thác trên 900.000 m3 gỗ rừng trồng làm nguyên liệu giấy và chế biến gỗ nhằmnâng cao tỷ trọng lâm nghiệp trong cơ cấu nông nghiệp
- Sản xuất phát triển công nghiệp
Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp bìnhquân đạt 9,45%/năm Nâng tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp trong cơ cấukinh tế lên 36,04% vào năm 2020
Huy động mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế, tranh thủ nguồn vốntrong và ngoài huyện vào phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và làng nghềđẩy nhanh tốc độ công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Tập trung tạo điều kiện và hỗ trợ phát triển các ngành tiểu thủ công nghiệphuyện có tiềm năng phát triển và có thị trường tiêu thụ ổn định, áp dụng công nghệmới trong sản xuât, từng bước mở rộng thị trường tiêu thụ, với mục tiêu tạo ra nhiềuviệc làm mới, thu hút lực lượng lao động dôi dư từ các khu vực nông nghiệp,khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nguyênliệu tại chỗ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong huyện, tiến tới phục vụ nhu cầu ngoàihuyện
Khuyến khích ưu tiên kêu gọi đầu tư phát triển công nghiệp nông thôn, côngnghiệp chế biến lương thực, thực phẩm, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng,công nghiệp phục vụ nông nghiệp và các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều laođộng và công nghiệp có sử dụng công nghệ tiên tiến
Đầu tư cho công tác đào tạo, đổi mới công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sảnphẩm đảm bảo hàng hóa sản xuất có đủ sức cạnh tranh trên thị trường
Trang 38Phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển nông nghiệp dịch vụ và bảo vệmôi trường.
Phát triển các cụm, điểm công nghiệp: Quy hoạch và thực hiện đầu tư xâydựng các cụm, điểm công nghiệp trên địa bàn huyện như cụm sản xuất kinh doanhLang Quán gắn với phát triển thị trấn trung tâm huyện lỵ
- Sản xuất phát triển thủy sản
Phát triển nuôi cá trên các diện tích ao, hồ, diện tích mặt nước ở các công trìnhthủy lợi, chăn nuôi cá ruộng phát triển nuôi cá lồng, đặc biệt trên sông Lô, sôngGâm và các suối nhỏ (tại các xã Kim Phú; Phú Lâm …) áp dụng tiến bộ khoa học
kỹ thuật, và chuyển dịch cơ cấu nuôi trồng các loại sản phẩm có giá trị kinh tế cao
và các loại thủy sản đặc biệt khác như: cá Chiên; cá Bỗng; cá Lăng
Đến năm 2020 diện tích nuôi trồng thủy sản đạt trên 400 ha thu hút khoảng1.000 - 1.500 lao động giải quyết việc làm, tạo thêm thu nhập cho nhân dân Xâydựng trại cá giống để cung cấp cá giống các loại, đáp ứng nhu cầu nuôi trồng thủysản của địa phương
- Thương mại, du lịch và dịch vụ
Tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động trong lĩnh vựcthương mại du lịch, dịch vụ Đầu tư nâng cấp mở rộng hệ thống chợ đáp ứng nhucầu giao lưu hàng hóa của nhân dân
Tốc độ tăng trưởng của ngành dịch vụ giai đoạn 2016 - 2020 đạt 11,44% đónggóp 33,58% vào giá trị sản xuất huyện
Mạng lưới giao thông đường bộ, đường sông tạo điều kiện thuận lợi cho việcgiao lưu kinh tế, văn hóa giữa miền núi với vùng trung du và đồng bằng Từ YênSơn có thể xuôi về Hà Nội, ngược lên Hà Giang trên quốc lộ số 2, sang TháiNguyên và Yên Bái trên quốc lộ 13A (nay là quốc lộ 37) Cũng có thể cơ động bằngđường thủy đến các tỉnh lân cận như Phú Thọ, Hà Giang tương đối thuận tiện, đặcbiệt là vận chuyển tre, nứa, gỗ về xuôi Ngoài ra, Yên Sơn còn có nhiều đường liên
xã, liên thôn, đường dân sinh nối các điểm dân cư, các vùng kinh tế với nhau
Đưa vào hoạt động 02 tuyến xe buýt: Thị trấn Sơn Dương - Đại học Tân Trào(thuộc huyện Yên Sơn) và Trung tâm huyện Yên Sơn - Thành phố Tuyên Quang -Km20 đường Tuyên Quang Hà Nội
Đến năm 2020 xây dựng trung tâm thương mại thị trấn huyện lỵ mới nơi diễn
ra các hoạt động giao dịch, buôn bán lưu thông hàng hóa và nghiên cứu đầu tư xâydựng 1 siêu thị tổng hợp ở khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm sau năm 2015 hoànchỉnh đầu tư xây dựng hệ thống chợ tại các xã, đảm bảo 100% số xã có chợ dân sinhquy mô chợ hạng III vào năm 2020
Trang 39Năm 2015, thu hút trên 190.000 lượt khách đến tham quan, doanh thu từ cácloại hình dịch vụ đạt trên 4,3 tỷ đồng Hiện huyện đang tiếp tục đẩy mạnh thu hútđầu tư xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng suối khoáng Mỹ Lâm, quy hoạch khu dulịch sinh thái, sân golf xã Nhữ Khê, khôi phục Làng văn hóa gắn với du lịch cộngcồng Giếng Tanh, xã Kim Phú, Khu di tích lịch sử Cách mạng Lào tại xã MỹBằng
2.1.2.2 Tình hình Văn hóa - Xã hội
- Công tác Văn hóa - Thông tin
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thông tin tuyên truyền được đẩy mạnh;các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, thông tin tuyên truyền diễn ra sôinổi, rộng khắp chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, của huyện và đón xuânMậu Tuất 2018 Tổ chức thành công Lễ hội Lồng Tồng, Lễ hội Chùa Hang xuânMậu Tuất 2018 Tổng kết Đề án “Tiếp tục khôi phục, bảo tồn và phát huy những giátrị tinh hoa văn hóa truyền thống các dân tộc huyện Yên Sơn giai đoạn 2011- 2015”;Hoàn thiện biểu trưng logo huyện Yên Sơn Tổ chức công bố quy hoạch khu du lịchliên hoàn Chùa Hang Huyện Yên Sơn hiện có 99 di tích lịch sử văn hoá, danh lamthắng cảnh, trong đó có 20 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 14 di tích được xếphạng cấp Quốc gia Trong những năm qua, huyện đã chú trọng công tác tôn tạo, bảotồn và phát huy các di tích lịch sử văn hoá, khôi phục các lễ hội truyền thống, giúpnhân dân hiểu và tôn thêm niềm tự hào dân tộc
- Công tác Y tế
Công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân, khám chữa bệnh theo chế
độ BHYT được thực hiện đúng quy định, năm 2015 có 62.714 lượt bệnh nhân đếnkhám bệnh tại Bệnh viện Đa khoa huyện, tăng 9,1% so với năm 2014; 10.538 lượtbệnh nhân điều trị nội trú, tăng 1,6%; 85.920 lượt người đến khám, chữa bệnh tạicác Trạm Y tế cơ sở, tăng 33,3% so với năm 2014 Huyện có thêm 01 xã đạt Bộ tiêuchí Quốc gia về y tế, nâng tổng số xã trên địa bàn huyện lên 13/24 xã, thị trấn đạt
Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 Duy trì, thực hiện tốt công tácquản lý hành nghề y, dược tư nhân, dân số, kế hoạch hóa gia đình, các Chương trìnhmục tiêu quốc gia về Y tế
- Công tác Giáo dục - Đào tạo
Công tác Giáo dục & Đào tạo tiếp tục được triển khai thực hiện có hiệu quả,Huyện đã chỉ đạo thực hiện tốt các cuộc vận động và các phong trào thi đua củangành giáo dục; 62,9% trẻ em từ 0-5 tuổi được huy động đến trường; 100% họcsinh hoàn thành chương trình Tiểu học (lớp 5); 99,73% học sinh lớp 9 được công
Trang 40nhận tốt nghiệp bậc THCS; chỉ đạo tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp THPT quốc gia trênđịa bàn đảm bảo an toàn tuyệt đối Kết quả là Khối THPT tỷ lệ tốt nghiệp đạt97,4%; hệ bổ túc THPT tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 98,82% Tiếp nhận và thực hiện cóhiệu quả các nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ trong lĩnh vực giáodục Xây dựng 02 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt 200% kế hoạch, duy trì phổ cậpgiáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi, phổ cập giáo dục THCS, hoàn thành phổ cậpTiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 trên địa bàn Hướng dẫn công tác tuyển sinh vàolớp 10 các trường THPT, tổ chức tuyển sinh vào lớp 1, lớp 6 và xét cử tuyển theoquy định Tổ chức tổng kết Đề án “Phổ cập giáo dục bậc Trung học giai đoạn 2008 -2014”; hội nghị tổng kết năm học 2014 - 2015, triển khai kế hoạch, nhiệm vụ nămhọc 2015 - 2016; khai giảng năm học 2015 - 2016 đảm bảo trang trọng, tiết kiệm.
- Công tác Lao động - Thương binh và xã hội
Các chính sách an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm chỉ đạo thực hiệnnghiêm túc đúng quy định, trong năm 2017 đã chi trả trợ cấp ưu đãi người có côngcho 20.331 lượt đối tượng với trên 34,6 tỷ đồng; trợ cấp xã hội thường xuyên cho41.756 lượt đối tượng với số tiền trên 11,7 tỷ đồng Phối hợp với các cơ quan, đơn
vị (nhận phụng dưỡng) tổ chức Lễ nhận phụng dưỡng 7 Mẹ Việt Nam Anh hùng.Dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, tiếp nhận, tổ chức thăm hỏi, động viên tặngquà Tết cho các đối tượng chính sách với tổng số 12.313 suất quà, trị giá trên 3,0 tỷđồng; trợ cấp khó khăn đột xuất kịp thời, đúng đối tượng; cấp mới 3.952 thẻ BHYTcho người nghèo, 7.676 thẻ BHYT cho người cận nghèo, 56.060 thẻ BHYT chongười dân tộc thiểu số
2.2 Thu thập dữ liệu cho nghiên cứu giảm nghèo bền vững tại huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Theo kết quả điều tra của UBND huyện về đề án giảm nghèo bền vững, sẽ tiếnhành điều tra 03 xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất huyện để tìm hiểu các nguyên nhândẫn đến nghèo, thoát nghèo và tái nghèo của các hộ nghèo trên địa bàn huyện YênSơn
2.2.1 Tình hình giảm nghèo huyện Yên Sơn giai đoạn 2012-2016
Thực hiện chương trình giảm nghèo giai đoạn 2012-2016, sau 5 năm triển khaithực hiện, công tác giảm nghèo của huyện Yên Sơn đã đạt được nhiều kết quả tíchcực, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm dần theo từng năm, nhiều hộ nghèo đã có cơ hội để tiếpcận các dịch vụ xã hội và các chính sách ưu đãi, từng bước vươn lên thoát nghèobền vững